Qua sự tìm hiểu, nghiên cứu tác giả nhận thấy chưa có công trình khoa học nào đi sâu vào phân tích, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN
VŨ VĂN DŨNG
SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRẺ EM TRONG PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH TRÊN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
VÌ TRẺ EM, ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát chương trình Truyền hình Vì trẻ em phát sóng
năm 2014 trên VTV1)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI, 2015
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN
VŨ VĂN DŨNG
SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRẺ EM TRONG PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH TRÊN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
VÌ TRẺ EM, ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát chương trình Truyền hình Vì trẻ em phát sóng
năm 2014 trên VTV1)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRÍ NHIỆM
HÀ NỘI, 2015
Trang 3CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Văn Dũng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Trí Nhiệm
- Người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn quí Thầy, Cô đang công tác tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các Nhà báo, Biên tập viên, phóng viên, bạn bè, đồng nghiệp, các cán
bộ, chuyên gia về lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã dành thời gian chỉ bảo, góp ý, trả lời phiếu khảo sát, phỏng vấn giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn gia đình tôi - những người đã luôn sát cánh động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Văn Dũng
Trang 6BTV : Biên tập viên
PT - TH : Phát thanh - Truyền hình
Luật BVCSGDTE : Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trang 7Biểu đồ số 1 Nội dung các phóng sự 51
Biểu đồ số 2 Địa bàn phản ánh của các phóng sự 51
Biểu đồ số 3 Tỷ lệ các dạng phóng sự 52
Biểu đồ số 4 Tỷ lệ người trả lời phỏng vấn đánh giá mức độ phù hợp của hình ảnh trong phóng sự 71
Biểu đồ số 5: Trình độ chuyên môn của CCVC Truyền hình Vì trẻ em 80
Biểu đồ số 6 Tỷ lệ người trả lời phỏng vấn đánh giá mức độ phù hợp về thời gian phát sóng của chương trình phân theo khu vực, giới tính và dân tộc 86
Biểu đồ số 7 Tỷ lệ người trả lời phỏng vấn đánh giá mức độ phù hợp về thời lượng phát sóng của chương trình phân theo khu vực, giới tính và dân tộc 86
Biểu đồ số 8 Tỷ lệ người trả lời phỏng vấn đánh giá mức độ phù hợp của tần suất phát sóng chương trình 87
Hình1: Ảnh trẻ em bị bạo hành 57
Hình 2: Ảnh, Nỗi buồn, đau khổ của người vợ mất chồng, những đứa trẻ mồ cô cha 57
Hình 3: Ảnh trẻ em cùng các cụ tập, biểu diễn điệu xoan cổ 58
Hình 4 Hình ảnh có bố cục chặt chẽ 60
Hình 5 Hình ảnh có bố cục chưa chặt chẽ
Hình 6 Quay chi tiết vết thương, chi tiết miệng 62
Hình 7: Ảnh quay xiên, quay từ phía sau 64
Hình 8 Ảnh quay từ trên cao xuống, quay ngược sáng 64
Hình 9 Hình ảnh quay ngược sáng 66
Hình 10 Sử dụng kỹ xảo che mặt 67
Trang 8MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRẺ EM TRONG PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH 11
1.1 Một số khái niệm liên quan 11
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em 25
1.3 Vai trò của hình ảnh trẻ em trong phóng sự Truyền hình Vì trẻ em 28
1.4 Nội dung và các dạng hình ảnh trẻ em sử dụng trong phóng sự truyền hình Vì trẻ em 31
1.5 Nguyên tắc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình Vì trẻ em 34
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRẺ EM TRONG PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH TRÊN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH VÌ TRẺ EM 46
2.1 Chương trình Truyền hình Vì trẻ em 46
2.2 Bài học kinh nghiệm qua khảo sát phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình Vì trẻ em năm 2014 49
2.3 Thành công và hạn chế 67
Chương 3: GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRẺ EM TRONG PHÓNG SỰ CỦA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH VÌ TRẺ EM 78
3.1 Giải pháp 78
3.2 Một số khuyến nghị 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 9Chương trình tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về trẻ em, cung cấp thông tin tư vấn, hướng dẫn kiến thức, kỹ năng nuôi dạy trẻ; biểu dương những tấm gương tiêu biểu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; chuyển tải thông tin hai chiều về bảo vệ chăm sóc trẻ em; lên án, phê phán những hành vi vi phạm quyền trẻ em như xâm hại, bạo lực, ngược đãi, sao nhãng trẻ em;
Truyền hình Vì trẻ em là diễn đàn về bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên sóng truyền hình quốc gia
Trong những năm qua Truyền hình Vì trẻ em đã cùng với các phương tiện thông tin đại chúng khác đóng góp tích cực vào công tác truyền thông về bảo vệ, chăm sóc trẻ em Chương trình đã đề cập đến nhiều vấn đề nóng và tạo được dấu ấn trong lòng khán giả
Trong phóng sự truyền hình thì hình ảnh giữ vai trò quan trọng để chuyển tải thông điệp đến công chúng, tạo sức hấp dẫn, thu hút công chúng Hình ảnh có vai trò miêu tả, tái hiện bức tranh hiện thực sinh động của cuộc sống Qua hình ảnh, khán giả có thể nhận biết, có được thông tin về ai, sự kiện? hiện tượng gì? nó xảy ra ở đâu? xảy ra như thế nào Hình ảnh giúp khán giả chứng kiến, giao tiếp với con người thật, sự việc thật với tâm trạng thực Chính vì vai trò, tầm quan trọng của hình ảnh trong phóng sự truyền
Trang 10hình như nêu trên, việc sử dụng hình ảnh trong phóng sự rất quan trọng, nó sẽ quyết định đến chất lượng tác phẩm và hiệu quả tác động đến công chúng
Những năm gần đây, báo chí nói chung và Truyền hình nói riêng mắc nhiều lỗi về việc sử dụng hình ảnh trẻ em
Trong phóng sự của Truyền hình vì trẻ em, hình ảnh trẻ em được sử dụng khá nhiều và rất đa dạng Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong việc sử dụng hình ảnh trẻ em, trong phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em cũng còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề cần bàn như: hình ảnh trẻ em trong phóng sự
đã hợp lý chưa? đã khắc họa, mô tả được vấn đề cần nêu chưa? có hấp dẫn, thu hút được công chúng không? có vị phạm đạo đức nghề nghiệp báo chí? có
vi phạm quyền riêng tư của trẻ em? có làm trẻ em và gia đình của trẻ tổn thương? Thực tế trong qua trình tác nghiệp ở cả khâu tiền kỳ và hậu kỳ đội ngũ Phóng viên, quay phim, biên tập viên, kỹ thuật dựng hình cũng còn nhiều lúng túng trong việc xử lý và sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự đặc biệt đối với các đề tài nóng như: Trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực, bị mua bán, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bị tự kỷ vv Làm sao để vừa đấu tranh, vừa lên án, phê phán những hành vi vi phạm quyền trẻ em nhưng vẫn bảo vệ được các em, không xâm phạm danh
dự, nhân phẩm của các em Đó là những vấn đề, những câu hỏi đặt ra trong
thực tiễn cần được lý giải Đó cũng chính là lý do, tác giả chọn đề tài “Sử
dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình Vì trẻ em, Đài Truyền hình Việt Nam (khảo sát các chương trình
Truyền hình Vì trẻ em, phát sóng năm 2014 trên kênh VTV1) làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Báo chí của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hình ảnh trong phóng sự truyền hình có liên quan đến rất nhiều yếu tố như: góc quay, ánh sáng, bố cục, cỡ cảnh, màu sắc vv Hình ảnh giữ vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải thông điệp, thông tin tới công chúng
Trang 11Những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến những nội dung nêu trên như:
- Cuốn Nghệ thuật quay phim của Anatoly Golovnhia do Ngô Kim Tạo dịch từ bản tiếng Bungari do Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sofia xuất bản năm 1978 Cuốn sách nêu lên những nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật quay phim Tác giả khảng định người quay phim phải thực hiện phần hình ảnh và đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, nghệ thuật của hình ảnh như bố cục, ánh sáng, màu sắc, cỡ cảnh Người quay phim phải tham gia vào quá trình chuẩn bị ghi hình, chuẩn bị các thiết bị, các điều kiện để tiến hành ghi hình, tham gia vào quá trình dàn dựng, sản xuất tác phẩm truyền hình
- Cuốn Nghệ thuật quay phim - Từ lý thuyết đến thực hành do Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 1993, Trần Văn Cang biên soạn và dịch thuật Cuốn sách tập trung hướng dẫn cách sử dụng máy quay phim và thực hành ghi hình
- Cuốn Cơ sở lý luận Báo chí của PGS,TS Nguyễn Văn Dững, Nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 2013 Cuốn sách cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động báo chí
- Cuốn Báo chí với trẻ em của Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS,TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, Nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 2004 Cuốn sách cung cấp những thông tin nền về trẻ em như Công ước quốc tế Quyền trẻ em, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Tâm lý lứa tuổi trẻ em; Nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trẻ em; diện mạo trẻ em trên báo chí và những vấn đề đặt ra; Từ những kỹ năng nghề nghiệp báo chí, nhà báo, cơ quan báo chí tham gia giải quyết những vấn đề trẻ
em, phương pháp tiếp cận, cách thức giải quyết các đề tài trẻ em trên báo chí
và các phương tiện thông tin đại chúng trên cơ sở quyền trẻ em
- Cuốn Giáo trình Phóng sự truyền hình của TS Nguyễn Ngọc Oanh chủ biên và Thạc sĩ Lê Kim Thanh do nhà xuất bản Đại học quốc gia thành
Trang 12phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2014 Cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về phóng sự truyền hình: Sự ra đời và phát triển của phóng sự truyền hình, Khái niệm, đặc điểm, kết cấu, các dạng phóng sự, qui trình sáng tạo tác phẩm phóng sự truyền hình Cuốn sách là tài liệu quan trọng cho các phóng viên, sinh viên trong qua trình học tập và làm việc
- Cuốn sách chuyên khảo Nhà báo với trẻ em của TS Nguyễn Ngọc Oanh Do Nhà xuất bản Thông tấn xuất bản năm 2014 Cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về kỹ năng làm báo cho trẻ em, năng khiếu báo chí, lòng yêu nghề, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng và việc sử dụng các kỹ năng làm báo cho trẻ em, những yêu cầu về giáo dục trẻ em thông qua báo chí
- Cuốn Đạo đức nghề nghiệp của Nhà báo của TS Nguyễn Thị Trường
Giang Cuốn sách đã phân tích kỹ lưỡng vai trò của Đạo đức nghề nghiệp của Nhà báo trong hoạt động báo chí; thực trạng đạo đức nghề nghiệp của Nhà báo Việt Nam hiện nay, đưa ra các giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp của các Nhà báo Việt Nam
Cuốn 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới của TS Nguyễn
Thị Trường Giang Tác giả đã công phu sưu tầm và biên dịch nhiều quy tắc đạo đức từ những nguồn khác nhau, và cuối cùng chọn 100 bản để nghiên cứu, phân tích, từ đó có những đề xuất kiến nghị của mình về vấn đề đạo đức của người làm báo Đây là cuốn sách rất bổ ích cho các nhà báo tham khảo, nghiên cứu về nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo
Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao chất lượng hình ảnh chương trình Thời sự
của Đài Truyền hình Việt Nam” của Nguyễn Việt Anh, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, bảo vệ năm 2011 Luận văn đề cập tới vấn đề hình ảnh trong tác phẩm truyền hình; tiêu chí đánh giá hình ảnh trong tác phẩm truyền hình; Theo tác giả chất lượng hình ảnh trong chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam phụ thuộc vào trình độ của quay phim, kỹ năng xử lý hình ảnh
Trang 13của phóng viên, kỹ thuật dựng, đạo diễn hình ảnh, công nghệ và thiết bị kỹ thuật; đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng hình ảnh trong chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam
Khóa luận “Hình ảnh trong tin truyền hình” (Khảo sát thể loại tin trong
các Bản tin Thời sự 19h 40' của Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang từ 15/1/đến 15/4 năm 2014), của tác giả Trần Thị Nga, khóa luận tốt nghiệp Đại học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, tháng 5/2014 Khóa luận đã phân tích và khái quát vai trò, đặc trưng của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình; chỉ ra các dạng hình ảnh; phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng hình ảnh
Trong thời gian qua, có một số công trình nghiên cứu về chương trình Truyền hình Vì trẻ em
Năm 1998 Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về phát triển thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia có đề tài nghiên cứu xã hội học về hiệu quả của Báo Thiếu nhi dân tộc, Tạp chí Vì trẻ thơ và Chương trình Truyền hình Vì trẻ em Chủ nhiệm đề tài là TS Mai Quỳnh Nam
Nghiên cứu chỉ ra một số khó khăn của chương trình như giờ phát sóng, của chương trình là thời gian các Đài địa phương phát các chương trình của địa phương nên chỉ có một số nơi xem được; đề xuất tăng cường hơn một
số nội dung về những vấn đề tiêu cực, những hành vi vi phạm quyền trẻ em
để răn đe, cảnh báo; tăng thời lượng phát sóng chương trình
Năm 2008, Viện Khoa học Dân số, Gia đình và trẻ em, Ủy ban Dân số, Gia đình và trẻ em nghiên cứu về hiệu quả của Tạp chí Gia đình và trẻ em và Chương trình Truyền hình Vì trẻ em đối với công tác tuyên truyền Công ước quốc tế quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế về chất lượng nội dung, hình thức thể hiện, tính chiến đấu, sự hấp dẫn của chương trình; những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả, sự tác động của chương trình đến người xem
Trang 14Qua sự tìm hiểu, nghiên cứu tác giả nhận thấy chưa có công trình khoa học nào đi sâu vào phân tích, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình vì trẻ em, Đài Truyền hình Việt Nam.Luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu làm rõ việc sử dụng hình ảnh trẻ
em trong phóng sự của chương trình Truyền hình Vì trẻ em có đảm bảo đúng luật Báo chí? Có vi phạm đạo đức nghề nghiệp? Có vi phạm quyền riêng tư của trẻ em? Để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tác động của chương trình, không vi phạm pháp luật, không gây tổn
thương cho trẻ em và gia đình của trẻ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong các phóng sự truyền hình trên chương trình Truyền hình Vì trẻ em; đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của chương trình truyền hình vì trẻ em, đảm bảo đúng pháp luật, không vi phạm đạo đức nghề nghiệp của Nhà báo, không gây tổn thương cho trẻ em và gia đình của
trẻ, bảo vệ trẻ em trước sự xâm hại của truyền thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phóng sự truyền hình và việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình
- Phân tích thực trạng việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của chương trình truyền hình Vì trẻ em năm 2014
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của chương trình truyền hình Vì trẻ em
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của Chương trình truyền
hình Vì trẻ em trên VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
4.2 Đối tượng Khảo sát
- Hình ảnh trẻ em trong các phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em đã phát sóng năm 2014
- Công chức, viên chức công tác trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ
em, các nhà báo, thành viên Câu lạc bộ Báo chí Vì trẻ em Đây cũng chính là các khán giả am hiểu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và nguyên tắc về bảo vệ, chăm sóc trẻ em
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian
Luận văn tập trung nghiên cứu việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em trên VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
Chương trình Truyền hình Vì trẻ em là chương trình chuyên phản ánh
về trẻ em Chương trình đã có bề quá trình hình thành và phát triển 21 năm, chương trình thuộc Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ Truyền thông là đơn vị trực tiếp sản xuất chương trình
- Về thời gian: Thời gian khảo sát, nghiên cứu được giới hạn trong
năm 2014 Tuy nhiên, để làm rõ những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, luận văn có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu các thời kỳ trước đó để so sánh khi cần thiết
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; Tư tưởng Hồ chí Minh, chủ trương, đường lối
Trang 16của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết, chương trình quốc gia về bảo vệ, chăm sóc trẻ em và về báo chí Công ước quốc tế về quyền trẻ em, luật pháp của Việt Nam về quyền trẻ em, Luật Báo chí và các văn bản qui phạm pháp luật về hoạt động báo chí
Hệ thống lý thuyết về báo chí, báo chí truyền hình, lý thuyết truyền thông, xã hội học báo chí
Luận văn vận dụng, kế thừa và phát triển các công trình khoa học của các tác giả đi trước đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các phóng sự trong chương trình truyền hình vì trẻ em có
sử dụng hình ảnh trẻ em, các kịch bản, báo cáo, nhận xét, đánh giá, các kết quả nghiên cứu trước đây về chương trình Truyền hình Vì trẻ em Các tài liệu
về báo chí và trẻ em, để khái quát, hệ thống hóa, bổ sung lý thuyết về truyền hình nói chung và việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự Truyền hình
Vì trẻ em
- Phương pháp khảo sát
Tác giả khảo sát các phóng sự đã phát sóng năm 2014 trong chương trình Truyền hình vì trẻ em Phương pháp này dùng để xác định ý tưởng nghiên cứu, phác họa bức tranh về thực trạng, xác định những vấn đề đặt ra trong thực tiễn về việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình vì trẻ em
- Phương pháp thống kê
Tác giả xem lại 52 phóng sự đã phát sóng trong chương trình Truyền hình vì trẻ em năm 2014 Sử dụng phương pháp này nhằm xác định tần số
Trang 17xuất hiện, mức độ phát triển, chất lượng, hiệu quả việc sử dụng hình ảnh trong phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Phân tích một số phóng sự trong chương trình Vì trẻ em để đưa ra nhận xét, đánh giá những thành công và hạn chế của việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em
- Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng Phương pháp này để thu nhận được những nhận xét, đánh giá của công chúng về nội dung của phóng sự và chất lượng, hiệu quả sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em có đúng nguyên tắc bảo vệ trẻ em không? có vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhà báo? có xâm phạm danh dự, nhân phẩm trẻ em? Đối tượng điều tra là các cán bộ, công chức, viên chức công tác trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em
ở Hà Nội và Bắc Ninh, các nhà báo viết về lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em, các chuyên gia của tổ chức Đây là công chúng am hiểu sâu về các nguyên tắc, các chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, vì vậy, các thông tin thu thập được từ các phiếu khảo sát sẽ có độ chính xác cao Tổng số phiếu 150 phiếu Kết quả khảo sát được xử lý bằng phần mềm Microsoft Visual FoxPro
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích của phỏng vấn sâu nhằm thu thập các ý kiến, nhận xét, đánh giá, kiến nghị của công chúng về chất lượng chương trình, chất lượng, hiệu quả việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình Vì trẻ em Tác giả thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó có: 01 phỏng vấn nguyên Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ, và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Chủ tịch Hội Bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam 01 Phó Cục trưởng, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em 11 Phỏng vấn các Nhà báo viết về lĩnh vực trẻ em 01 chuyên gia truyền thông của Liên hợp quốc Đây đều là các chuyên gia am hiểu sâu về
Trang 18lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em Các phỏng vấn đã cung cấp những thông tin rất hữu ích cho việc nghiên cứu của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm một số lý luận làm báo
truyền hình vì trẻ em, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình Khảng định hình ảnh là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng tác phẩm, phải đảm bảo nguyên tắc, luật pháp
- Giúp cho nhà báo hiểu và sử dụng đúng và có hiệu quả hình ảnh trẻ
em trong các tác phẩm truyền hình nói chung và trong phóng sự truyền hình nói riêng
- Tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo báo chí, sinh viên báo chí các trường trung cấp, cao đẳng, đại học
- Tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề nghiên cứu
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn có kết cấu
3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình
Chương 2 Thực trạng việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình Vì trẻ em
Chương 3 Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình Vì trẻ em
Trang 19sự xã hội
Trong cuốn”Phóng sự báo chí” của tác giả Đức Dũng thì: “Phóng sự là
một thể loại báo chí quan trọng, thông tin cụ thể và sinh động về con người,
sự việc, tình huống, hoàn cảnh có thật, có ý nghĩa thời sự, theo một quá trình phát sinh, phát triển, thông qua cái tôi - tức tác giả - và ngôn ngữ, giọng điệu linh hoạt, với bút pháp mô tả, tường thuật kết hợp với nghị luận” [5, tr 44]
Trong cuốn “Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật” của tác giả Dương Xuân Sơn: “Phóng sự là một thể loại báo chí, phản ánh những sự kiện, sự
việc, vấn đề đang diễn ra trong hiện thực khách quan, có liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người bằng phương pháp miêu tả, hay tự thuật, kết hợp nghị luận ở mức độ nhất định Trong phóng sự, vai trò cái tôi trần thuật - nhân chứng khách quan - rất quan trọng” [38, tr 41]
Tác giả Nguyễn Ngọc Oanh nêu trong cuốn “Giáo trình Phóng sự
truyền hình” thì “Phóng sự là một thể loại quan trọng của báo chí, mô tả các
sự kiện, sự việc, hiện tượng, con người có thật trong đời sống hiện thực một cách chân thực, gần gũi, chi tiết, khách quan, đầy đủ cả quá trình hình thành, phát triển Mục đích của phóng sự là trả lời nhiều câu hỏi phức tạp liên quan đến cuộc sống của chúng ta.” [33]
Trang 20Qua nghiên cứu các khái niệm về phòng sự của các nhà nghiên cứu, các nhà báo trong nước và nước ngoài tác giả xin nêu ra khái niệm sau:
Phóng sự là một thể loại quan trọng của báo chí, mô tả, phân tích, bình luận các sự kiện, sự việc, hiện tượng, con người có thật trong đời sống hiện thực một cách chân thực, gần gũi, chi tiết, khách quan, đầy đủ cả quá trình hình thành, phát triển Mục đích của phóng sự là trả lời nhiều câu hỏi phức tạp liên quan đến cuộc sống của chúng ta
Khi Khoa học - Công nghệ truyền hình phát triển, thời lượng, chất lượng các chương trình được nâng cao, phóng sự truyền hình cũng có nhiều đổi mới Các phóng sự truyền hình bắt đầu hình thành rõ nét các yếu tố nội dung và hình thức thể hiện, tạo ra những dấu hiệu riêng, độc lập của thể loại Các quan niệm về phóng sự truyền hình càng phong phú hơn
Theo các nhà nghiên cứu báo chí G.V Cudonhetxop, X.L Xvich,
A.La Iuropxki trong cuốn “Báo chí truyền hình”: “Phóng sự là thể loại báo
chí thông tin nhanh chóng trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình về một sự kiện nào đó mà phóng viên đã chứng kiến, can dự vào” [12] Nhìn nhận phóng sự từ góc độ phương pháp phản ánh Juean - Luc Macrtin - Lagardette
cho rằng: “Phóng sự là cuộn phim mà người ta truyền đi những hình ảnh đã
được xác định nhờ có các bố cục liên tiếp” [26] Ông cho rằng: “Phóng sự phải làm cho nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy, sờ thấy Phóng sự sử dụng cách
Trang 21viết trực tiếp, thường ở thì hiện tại, bằng cách tăng các giai thoại cụ thể, những hình ảnh, những chi tiết và những thành ngữ độc đáo” [26]
Theo R.A Borestsky, tác giả cuốn “Báo chí truyền hình” (Television Jounalism), thì : “phóng sự truyền hình thuộc nhóm thông tấn báo chí Mục
đích của nó là truyền đạt logic của sự kiện một cách nhanh chóng, mạnh mẽ
và chân thực Người phóng viên trong phóng sự của mình có vị trí tối ưu, họ vừa là nhân chứng trực tiếp, vừa là người dẫn dắt, định hướng công chúng tiếp cận sự kiện mau lẹ và hiệu quả”.[38]
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu báo chí cũng đưa ra nhiều quan niệm với những góc nhìn khác nhau về phóng sự truyền hình
Trong bài “Nhà báo nên viết phóng sự”, đăng ngày 25/7/2006, trên
“Nghề báo.com”, tác giả Minh Phương có viết: “Phóng sự truyền hình phản
ánh sự kiện bằng hình ảnh và tiếng động là chủ yếu, lời dẫn của phóng viên như một chất keo trong suốt” khâu nối các chi tiết và tư liệu báo chí thành
sự điều tra, phóng sự tài liệu
Những yếu tố cơ bản được đề cập trong các quan niệm này đều trùng lặp và giống phóng sự báo chí nói chung như: Phản ánh sự kiện trong quá trình phát sinh, phát triển, sử dụng bút pháp tả, thuật, bình và tác giả là người tham gia chứng kiến sự kiện Tuy nhiên, điểm khác biệt nổi bật giữa quan
Trang 22niệm về phóng sự truyền hình với phóng sự của các loại hình báo chí khác là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh
Phóng sự truyền hình giống phóng sự báo chí nói chung Những khác
biệt chủ yếu giữa phóng sự truyền hình với phóng sự báo in, phát thanh xuất phát từ đặc trưng của mỗi loại hình báo chí Đặc biệt là ngôn ngữ thể hiện, kỹ thuật chuyển tải và phương thức tác động của thông tin tới công chúng Chính những đặc thù đó đã đem đến những khác biệt của phóng sự truyền hình với khái niệm phóng sự của các loại hình báo chí khác
Qua nghiên cứu tìm hiểu các khái niệm của các nhà báo nước ngoài, các nhà báo trong nước và qua thực tế công việc 20 năm làm truyền hình tác giả hoàn toàn thống nhất với Khái niệm phóng sự truyền hình nêu trong cuốn giáo trình phóng sự truyền hình của TS Nguyễn Ngọc Oanh:
Phóng sự truyền hình là thể loại đặc trưng của truyền hình
Nó chuyển tải một nội dung thông tin nóng hổi, sinh động đến công chúng ở thời hiện tại Nội dung thông tin được bộc lộ theo trình tự logíc diễn biến của sự kiện, vấn đề qua dòng hình ảnh
và âm thanh của hiện thực mà phóng viên lựa chọn, sắp xếp Chính kiến, thái độ và cảm xúc của phóng viên bộc lộ rõ qua việc phân tích, cắt nghĩa, lý giải sự kiện, vấn đề đó [33, tr 2]
Trang 23Chương trình Truyền hình Vì trẻ em là chương trình truyền hình do Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông của Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em sản xuất, chuyên đề cập đến nội dung về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, được phát sóng vào 16h15 phút, ngày thứ năm hàng tuần, trên VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
1.1.4 Sử dụng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Sử dụng là đem dùng vào một công
việc như: Sử dụng gạch, ngói, vôi, cát để xây nhà: sử dụng gỗ để đóng bàn ghế, sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ” [44, tr.1405] Với khái niệm
này thì thuật ngữ”sử dụng” dùng để chỉ một hành động có chủ đích của con người “sử dụng” là một động từ chỉ về một hành vi Trong đó chủ thể tác
động lên các công cụ, sự vật, sự việc, với nhiều mục đích khác nhau Và những hành động này phải tác động lên công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục đích
Như vậy: Sử dụng là việc con người dùng một cái gì đó thực hiện một việc nào đó có mục đích Việc dùng đó là một hoạt động - một hành động có chủ đích của con người
1.1.5 Hình ảnh
Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2000, giải thích: Hình ảnh là hình của người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh, hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt
Trong triết học, hình ảnh được coi là: kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tưởng Ở trình độ tư duy: Đó là những phán đoán và suy luận Về mặt nguồn gốc hình ảnh là khách quan, về cách nhận
Trang 24thức tồn tại hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình ký hiệu khác nhau
Dưới góc độ pháp lý, căn cứ điều 31 Bộ Luật Dân sự năm 2005, hình
ảnh được hiểu là:bao gồm mọi hình thức nghệ thuật ghi lại hình dáng của con
người như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh chép và suy rộng ra là cả bức tượng của cá nhân đó hoặc các hình ảnh có được do ghi hình(quay video) Đối với mỗi loại hình nghệ thuật cũng bao gồm nhiều loại khác nhau
Hình ảnh trong truyền hình là ngôn ngữ đặc biệt, nó nói với người xem nhiều điểm và thông tin bằng nhiều cách Mỗi hình ảnh đều mang một ý nghĩa phản ứng của người xem đối với hình ảnh thông qua những gì họ thấy qua hình ảnh chuyển động, sự di chuyển hoặc hành động xảy ra trên màn ảnh của truyền hình [2] Hình ảnh không chỉ là những ấn tượng, là những gì đọng lại
trong bộ não con người mà nó là những hiện hữu cụ thể, là thông tin
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về hình ảnh, mỗi quan niệm phản ánh từng khía cạnh khác nhau với những cách trình bày, diễn tả khác nhau nhưng đều có điểm chung là cái con người nhìn thấy và có thể tạo ra
Từ những nghiên cứu trên có thể kết luận: Hình ảnh là một ngôn ngữ
đặc biệt, được con người cảm nhận, tạo ra, nhìn thấy thông qua giác quan của của mình về thế giới xung quanh Nó có thể được ghi lại trong bộ não con người hoặc được ghi lại, diễn tả bằng các thiết bị Hình ảnh có thể được lưu giữ lại thông qua các phương tiện như giấy, máy quay, máy ảnh, băng từ, thẻ nhớ và các chất liệu khác
Trong truyền hình, hình ảnh là yếu tố quan trọng có khả năng thực hiện việc phản ánh thực tế một cách sinh động và hấp dẫn cho công chúng Hình ảnh truyền hình làm nhiệm vụ khắc họa sự kiện một cách rõ nhất thông qua
các “hình ảnh then chốt” hay còn gọi là “cảnh lột tả bản chất”, những “điểm
nhấn” Hình ảnh trong truyền hình khác hình ảnh trong điện ảnh Hình ảnh
Trang 25trong truyền hình là hình ảnh mang tính thông tin, thời sự, xác thực Còn hình ảnh trong điện ảnh mang tính giải trí, được tái tạo, thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, có hư cấu, vì vậy khi làm phim truyện các nhà làm phim phải mất nhiều thời gian dựng cảnh, hóa trang, phục trang, đạo cụ v.v Trong truyền hình người quay phim, phóng viên ít có điều kiện dàn dựng hoặc không được phép dàn dựng hiện trường
Hình ảnh trong truyền hình vừa là phương tiện vừa là nội dung thể hiện
ý đồ tư tưởng của tác phẩm Hình ảnh trong truyền hình khác với hình ảnh tĩnh của các nghệ thuật tạo hình như hội họa, nhiếp ảnh Hình ảnh trong truyền hình là hình ảnh động có thực đã qua xử lý kỹ thuật, tất nhiên trong truyền hình có thể sử dụng các hình ảnh tĩnh như: ảnh, tranh, biểu đồ, con số, bảng chữ và hiện nay là hình ảnh động, hình ảnh tĩnh bằng đồ họa
Trong truyền hình các hình ảnh được chọn lọc và sắp xếp logic theo ý
đồ của tác giả tất nhiên vẫn phải đảm bảo tính trung thực, khách quan của sự kiện, hiện tượng để chuyển tải thông tin đến công chúng
Ý nghĩa của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình thể hiện ở chỗ hình ảnh đó cho xem cái gì, góc quay và động tác máy có ý nghĩa như thế nào, tác giả muốn biểu lộ ý đồ qua góc quay này Khả năng biểu hiện của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình còn thể hiện ở mối liên hệ trong các hình ảnh Qua phương pháp dựng hình (Montage), nội dung tự thân của mỗi hình ảnh phối hợp với nhau, tạo ra thông tin mới mang tính tổng thể Sự sắp xếp hình ảnh trong qua trình truyền đạt thông tin giúp con người cảm nhận được tính đa chiều, lập thể trong mỗi sự kiện, vấn đề, số phận con người Tư duy làm công chúng phát hiện được tính ẩn dụ của hình ảnh, của các hiện tượng lắp giáp và qua đó biểu hiện được mối quan hệ của sự kiện, sự vật Hình ảnh truyền hình
là có thật, hiện hữu, là sản phẩm do con người làm ra nhờ kết hợp các phương tiện kỹ thuật
Trang 26Hình ảnh truyền hình là một ngôn ngữ của truyền hình, thông qua những hình ảnh xác thực, ghi lại những cảnh tiêu biểu của hiện thực cuộc sống, với độ chính xác cao về mọi phương diện, nó cung cấp cho người xem một lượng thông tin, một giá trị tư tưởng một sự nhận định về một sự kiện, một vấn đề xảy ra, cần được thông báo, được ghi lại bằng các thiết bị phù hợp
và phát trên truyền hình
1.1.6 Trẻ em
Theo Công ước Quốc tế Quyền trẻ em Điều 1, ghi rõ: Trẻ em là người
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp của nước sở tại có qui định khác
Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, điều 1 Quy
định: Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi
Ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi của trẻ em chính thức được
đề cập trong một văn bản pháp quy sau khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11
năm 1979, trong đó quy định “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ
mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1) Đến năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em được ban hành đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dưới 16 tuổi
(Điều 1) “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười
sáu tuổi” Độ tuổi này tiếp tục được khẳng định tại Điều 1 của Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004 Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn
so với Công ước quốc tế, nhưng quy định của Việt Nam vẫn được coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ước
Trong thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em Người
ta thường sử dụng cụm từ “trẻ em”, “trẻ con” hay “trẻ thơ” “Thiếu niên nhi
Trang 27đồng”, “Thanh thiếu niên” hoặc “Thiếu niên nhi đồng” để chỉ những người ở
một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của con người
Ở góc độ khoa học, trẻ em được định nghĩa tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, như trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương lai của quốc gia, dân tộc đều tuỳ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em được xác định là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn Vì vậy, cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh trưởng, nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển thành người lớn Trong tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người
Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi Điều này có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ
em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định
Mặc dù còn có nhiều cách gọi tên hay vận dụng khác nhau nhưng
chúng ta có thể thống nhất khái niệm trẻ em như sau: “Trẻ em là một thuật
ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người” Từ cách tiếp cận này, chúng ta có thể hiểu
khái niệm về độ tuổi của trẻ em là khoảng thời gian đã tồn tại từ khi ra đời cho đến năm 16 (theo pháp luật Việt Nam) hoặc năm 18 tuổi (theo pháp luật quốc tế)
Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều khái niệm khác nhau, cũng như vận dụng độ tuổi khác nhau dẫn đến khó khăn trong công tác áp dụng pháp luật và việc thụ hưởng quyền lợi của trẻ
Hiện nay, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội) đang tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật trẻ em, xin ý kiến các chuyên gia pháp luật, nhà nghiên cứu về tâm - sinh lý lứa tuổi và đặc biệt là
Trang 28lấy ý kiến của trẻ em và người dân về việc nâng độ tuổi của trẻ em lên dưới
18 tuổi Việc quy định nâng độ tuổi của trẻ em vừa phù hợp với luật pháp quốc tế, vừa tránh được việc phải sử dụng nhiều khái niệm trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, đồng thời việc quy định độ tuổi này cũng đã phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.1.7 Sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình
Từ những khái niệm về “hình ảnh”, “trẻ em”, “sử dụng”, “Phóng sự
truyền hình”, “phóng sự truyền hình Vì trẻ em” đã được nêu và phân tích ở trên
ta có thể thấy: Sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình vì trẻ em là việc phóng viên lựa chọn sử dụng, sắp xếp các hình ảnh trẻ em và các hình ảnh
về hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo một trình tự nhất định vào phóng sự truyền hình, đề cập đến những vấn đề về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhằm để miêu tả, khắc họa, chuyển tải những thông điệp của tác phẩm, tác giả muốn gửi đến khán giả, thông qua truyền hình
Điều 31 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định
1 Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình
2 Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp
vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác
3 Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh [2]
Như vậy Điều 31 Bộ Luật Dân sự quy định quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình, quy định việc sử dung hình ảnh cá nhân và đối với trẻ em
Trang 29và nghiêm cấm sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh
Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, theo đó cá nhân được phép sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình ảnh của mình
Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân
- Đối với chính chủ có hình ảnh, có thể thấy “hình ảnh” là yếu tố tinh
thần gắn liền với bản thân chủ thể, nó có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của họ, mỗi hành vi xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân trên thực tế thường ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần của cá nhân đó, vì không chỉ xâm phạm hình ảnh thôi mà còn xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, bởi vậy việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có ý nghĩa lớn trong việc ngăn chặn kịp thời hành vi xâm phạm đến hình ảnh của
cá nhân, giúp khắc phục được một phần hậu quả về vật chất cũng như tinh thần cho chủ thể bị xâm phạm, tạo điều kiện cho cá nhân yên tâm lao động học tập và sáng tạo
- Về phía nhà nước việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh góp phần hiện thực hóa nội dung các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân, từ đó tăng cường lòng tin của nhân dân vào Nhà nước, vào quy định của pháp luật, để mọi người sống và thực hiện theo hiến pháp và pháp luật
- Việc bảo vệ hình ảnh của cá nhân còn có ý nghĩa to lớn đối với xã hội
đó là bảo đảm trật tự xã hội và giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền đối với hình ảnh của cá nhân
Trong khoản 2 Điều 38 bộ luật dân sự quy định : “Việc thu thập, công
bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi
Trang 30thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập công bố thông tin, tư liệu theo quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.” [2] Vì vậy, trong một số trường
hợp nhất định quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân có liên quan đến
bí mật đời tư như: Trường hợp hình ảnh của cá nhân là hình ảnh riêng tư, cá nhân không muốn tiết lộ thì việc công bố hình ảnh của cá nhân đó là xâm phạm tới bí mật đời tư, hoặc là hình ảnh mà cá nhân giữ kín và việc giữ kín được pháp luật tôn trọng và bảo vệ hoặc cũng có thể là hình ảnh được thể hiện chung với người khác mà cá nhân không muốn tiết lộ, công khai và hơn thế nữa những hình ảnh đó bị tiết lộ có thể gây hậu quả về vật chất, tinh thần cho
chủ thể của hình ảnh thì đây cũng được coi là “bí mật đời tư của cá nhân”
Như vậy cá nhân có quyền khởi kiện hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư nếu một chủ thể nào đó công bố những hình ảnh của cá nhân mà cá nhân thực hiện việc giữ bí mật hình ảnh đó Trong trường hợp này thì quyền
bí mật đời tư có liên hệ với quyền đối với hình ảnh của cá nhân, hành vi sử dụng trái phép hình ảnh của cá nhân ở một góc độ nào đó được xác định là hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư Trên thực tiễn hiện nay có nhiều những hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân đã xâm phạm đến quyền bí mật đời tư như: hành vi quay phim, chụp ảnh, công bố những cảnh quay hoặc những hình ảnh về đời sống riêng tư của một người mà mình đã từng quay, đã chụp được mà chưa được sự đồng ý của người được quay được chụp…
Mối quan hệ giữa quyền đối với hình ảnh của cá nhân với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Hình ảnh của cá nhân cũng là một yếu tố gắn liền với danh dự, nhân phẩm, uy tín, nó là một trong những yếu tố để nhận diện, xác định danh dự,
uy tín, vì vậy quyền đối với hình ảnh của cá nhân có liên hệ mật thiết đối với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín Sự liên hệ đó thể hiện ở chỗ
Trang 31hình ảnh của cá nhân có thể làm tăng giá trị của cá nhân hoặc có thể làm giảm sút, ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín
Tại điều 25 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” [19]
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được tiếp cận thông tin Trong hoạt động báo chí, báo chí cung cấp rất nhiều thông tin, hình ảnh mọi mặt của đời sống Các bản tin, phóng sự, chương trình, sản phẩm truyền hình tập trung chủ yếu vào hình ảnh Quyền tự do báo chí vì vậy rất dễ xung đột với quyền của cá nhân đối với hình ảnh, có thể thấy quyền của
cá nhân đối với hình ảnh của mình đã bị giới hạn bởi quyền tự do báo chí Theo khoản 3 điều 5 nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/04/2002 của chính
phủ quy định báo chí:Không được đăng hình ảnh của cá nhân mà không có
chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuận, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của tòa án, những người phạm tội trong các vụ án
đã bị tuyên án)
Bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân
Hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân
- Sử dụng hình ảnh cá nhân mà chưa được sự đồng ý của người đó hoặc người có quyền liên quan (cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó) Theo quy định tại khoản 2 điều 31 của bộ luật dân sự
năm 2005 “Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý;
trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi
Trang 32ích công cộng hoặc quy định khác” Như vậy, theo điều luật nói trên, về
nguyên tắc cá nhân tổ chức bất kỳ sử dụng hình ảnh của người khác cho mục đích bất kỳ (không phân biệt thương mại hay phi thương mại) mà chưa được phép của người đó thì được xem là hành vi vi phạm pháp luật
Trên thực tế dạng hành vi xâm phạm này diễn ra phổ biến, những chủ thể vi phạm thường sử dụng hình ảnh của người khác cho mục đích thương mại để kiếm lợi cho mình nhưng lại không xin phép chủ thể có quyền đối với hình ảnh
- Sử dụng hình ảnh cá nhân mà xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó Tại khoản 3 điều 31 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định
“Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm tới danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh” Theo như quy định này thì
việc sử dụng hình ảnh của cá nhân, mặc dù hợp pháp là có sự đồng ý của
người đó, nhưng việc sử dụng hình ảnh này lại xâm phạm tới danh dự, nhân
phẩm, uy tín của cá nhân (Điều 37 BLDS năm 2005)
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh tuy đã được pháp luật bảo hộ và quy định khá cụ thể trong BLDS năm 2005 Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau trong những năm gần đây các hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh vẫn xảy ra nhiều, khá
đa dạng, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của chủ thể bị xâm phạm hình ảnh nói riêng cũng như trật tự xã hội nói chung
Từ những phân tích về quyền đối với hình ảnh cá nhân, qui định hoạt động báo chí có thể kết luận rằng:Các nhà báo phải hiểu biết pháp luật, các nguyên tắc về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, luật Báo chí và các luật khác có liên quan, các qui định về đạo đức nghề nghiệp nhà báo Trong qua trình tác nghiệp luôn luôn tuân thủ các nguyên tắc, luật pháp, không xâm phạm, nhân phẩm, danh dự trẻ em
Trang 331.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về bảo vệ chăm sóc trẻ em
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam có quan điểm, chính sách nhất quán về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thực hiện các quyền trẻ em, luôn coi là một trong những nhiệm vụ cách mạng và chính trị cần được ưu tiên thực hiện trong chiến lược con người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đã được khẳng định xuyên suốt trong Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013
Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2013 quy định: Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em [19]
Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em vào năm 1990 mà không bảo lưu điều, khoản nào Trong suốt 25 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực trong xây dựng pháp luật trong nước hài hòa với các quy định của Công ước và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên Năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành; năm 2004, Quốc hội thông qua Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và các điều trong các Bộ Luật khác có liên quan đến trẻ em đã tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các quyền trẻ em, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo hướng tiếp cận dựa trên quyền trẻ em Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có cam kết chính trị mạnh mẽ và các biện pháp tích cực về xây dựng
Trang 34pháp luật, chính sách, chương trình quốc gia thực hiện Công ước về quyền trẻ
em Trẻ em không chỉ là tương lại mà còn là hiện tại
1.2.2 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Sau khi phê chuẩn Công ước quốc tế Quyền trẻ em, năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật BVCSVGDTE) được ban hành
Đến năm 2004 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005, Luật gồm 5 chương và 60 điều bao gồm khá đầy đủ các quyền của trẻ em, trong đó:
- Nhóm quyền được bảo vệ
Điều 14 Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm
và danh dự quy định: Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự
Khoản 2, Điều 26 Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật
Điều 40 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ
em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật
- Các biện pháp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
Điều 41: Phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, kịp thời trợ giúp giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khỏe, tinh thần và giáo dục đạo đức
Trang 35Điều 42: Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng các quyền của trẻ em (được nuôi dưỡng, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và vui chơi, giải trí ); bao gồm việc quy định thủ tục, thẩm quyền thành lập và hoạt động của các cơ sở trợ giúp trẻ em để đáp ứng nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (tư vấn, khám chữa bệnh , giáo dục đạo đức, văn hóa, dạy nghề, tổ chức việc làm ; tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng khi thiếu, mất môi trường gia đình )
Điều 51 - 58: Các biện pháp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đối với từng nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Nhóm quyền tham gia của trẻ em
Quyền tham gia của trẻ em được quy định trong Hiến pháp năm 2013: Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em (Điều 37)
Điều 20: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã quy
định: “Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của
trẻ, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm cũng như được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình”
Ngoài Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn có nhiều Bộ Luật khác như: Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Tố tụng hình sự, Luật Lao động, Luật Nuôi con nuôi, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Thanh niên, Luật Y tế, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm đều có những điều luật liên quan đến trẻ em Dưới các văn bản luật, Đảng, Chính phủ còn có rất nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác như : Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, chương trình về bảo
vệ, chăm sóc trẻ em
Hiến pháp, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và các luật khác có liên quan đến trẻ em là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước, các
Trang 36tổ chức, đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân và gia đình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em
1.3 Vai trò của hình ảnh trẻ em trong phóng sự Truyền hình Vì trẻ em
Đối với truyền hình thì hình ảnh là ngôn ngữ chủ yếu (chính ngôn), hình ảnh là cái tạo nên đặc trưng của truyền hình Không có hình ảnh thì không phải là truyền hình
1.3.1 Hình ảnh đảm nhận vai trò miêu tả,cung cấp thông tin, làm rõ chủ đề tư tưởng của tác phẩm
Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh Sự tiếp nhận nội dung thông tin qua tác phẩm chủ yếu ở phần hình ảnh Do vậy phần hình ảnh phải phản ánh đúng các thực trạng của hiện thực, các mối liên hệ của đối tượng, sự kiện thông qua những lát cắt tiêu biểu, chân thực sinh động, diễn ra trong khoảng thời gian không gian được xác định Nhờ vào những hình ảnh đó mà người xem dù không trực tiếp chứng kiến sự kiện, hiện tượng, vẫn dễ dàng nhận biết được nhân vật, sự kiện, hiện tượng đang làm gì, đang diễn ra như thế nào, đúng với nội dung mà hình ảnh chuyển tải trong tác phẩm
Về mặt cấu trúc thông tin, mỗi tác phẩm dù là hình ảnh được quay trong một thời gian ngắn hay dài thông thường bao gồm hai thành phần; đó là phần hình ảnh và phần âm thanh để làm rõ hơn cho phần hình ảnh.Hình ảnh làm nhiệm vụ cung cấp thông tin chính, thông tin cơ bản còn âm thanh làm nhiệm vụ gọi tên con người, sự kiện, sự việc tránh hiểu lầm Mặt khác nó bổ sung những thông tin mà hình ảnh không thể truyền đạt được Lời bình còn có nhiệm vụ giải thích,bình luận xây dựng mối liên hệ giữa hình ảnh và âm thanh cho chặt chẽ, giúp người xem hiểu một cách đúng nhất về hình ảnh
Hình ảnh là các chi tiết phản ánh bản chất sự kiện, hiện tượng, nó tạo được ấn tượng, kích thích sự tò mò và thôi thúc người xem tiếp tục theo dõi thông tin đó Trong truyền hình mỗi hình ảnh đều bao hàm một ý nghĩa, một
Trang 37nội dung nào đó hoặc là nguyên nhân, diễn biến hoặc là kết quả của quá trình phát triển của sự kiện trong cuộc sống Các hình ảnh liên kết với nhau để thể hiện quá trình vận động của sự kiện theo tuyến tính thời gian
Trong truyền hình, hình ảnh vừa là phương tiện vừa là nội dung thể hiện ý đồ tư tưởng của tác phẩm
Trong phóng sự Truyền hình Vì trẻ en, hình ảnh trẻ em giúp cho khán giả hiểu được tình hình trẻ em, nắm được các vấn đề, các thách thức đối với trẻ em ví dụ như hình ảnh trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em bị bỏng, bị tai nạn thương tích, bị bạo lực, bị bệnh dịch, trẻ em vui tươi, khỏe mạnh, trẻ em được bảo vệ, chăm sóc tốt
Hình ảnh trẻ em và các hình ảnh về hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em
có vai trò thông tin, miêu tả bản chất các sự kiện, hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; biểu dương các cá nhân, tập thể làm tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; phê phán, lên án các hành vi vi phạm quyền trẻ em như: xâm hại, bạo lực, bóc lột, mua bán, sao nhãng, bỏ rơi trẻ em; chuyển tải bức tranh sinh động về cuộc sống của trẻ em trên mọi miền tổ quốc, những ý kiến, mong muốn của trẻ em và người dân về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; phản ánh việc thực hiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực trẻ em tại cơ sở
Người xem có thể có được các kiến thức, kỹ năng về chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ thông qua các hình ảnh trẻ em và hình ảnh về bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ do phóng sự truyền hình Vì trẻ em đem đến
Việc sử dụng, khai thác hình ảnh trẻ em trong phóng sự trên chương trình Truyền hình Vì trẻ em của phóng viên, Ban Biên tập chương trình sẽ được phân tích kỹ trong chương sau
1.3.2 Hình ảnh tăng tính khách quan, độ tin cậy của tác phẩm
Kết quả của các nghiên cứu cho thấy rằng 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% là qua thính giác Vì vậy truyền hình
Trang 38trở thành một phương tiện truyền thông có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện, hiện tượng
Sinh sau điện ảnh, truyền hình được kế thừa kinh nghiệm của điện ảnh
về khuôn hình, cỡ cảnh, góc quay, động tác máy và nghệ thuật dựng hình (Montage)
Các cỡ cảnh chính gồm: Toàn cảnh rộng, toàn cảnh hẹp, trung cảnh rộng, trung cảnh hẹp, cận cảnh, đặc tả, Trung cảnh, cận cảnh và đặc tả là các
cỡ cảnh thường dùng trong truyền hình Với các cỡ cảnh này, truyền hình đáp ứng được nhu cầu của khán giả về sự kiện, hiện tượng, sự việc đó là gì, đang diễn ra như thế nào Qua các cỡ cảnh phóng viên có thể bộc lộ được thái độ tâm lý của nhân vật trong sự kiện đó Qua các góc quay cao thấp, chính diện, góc độ chủ quan và khách quan các tác phẩm truyền hình có thể giúp người
xem “tham gia vào sự kiện” hay “đứng trên” nhìn vào sự kiện Hình ảnh của
truyền hình là hình ảnh khách quan, chân thực được máy quay ghi lại như nguyên bản và thông tin cho công chúng
Mục đích của các cảnh trong truyền hình là thông tin thời sự và xác thực Với báo in, phát thanh thì phóng viên dùng chữ viết, lời đọc để mô tả
sự việc, sự kiện, vấn đề nhưng truyền hình thì những hình ảnh sống động, chân thực làm cho người xem thấy rõ và hiểu được sự kiện, hiện tượng, tạo cho khán giả có cảm giác như đang chứng kiến đang tham gia vào sự kiện đó
Ví dụ những hình ảnh trẻ em đi bán báo, đeo bám khách du lịch bán quà lưu niệm, hay ăn xin, hình ảnh trẻ em bị bóc lột lao động trong các xưởng may, trẻ em bị bạo lực Hình ảnh do phóng viên của chương trình trực tiếp đến hiện trường ghi hình, phỏng vấn, những hình ảnh này làm tăng tính khách quan, chính xác, tăng độ tin cậy của tác phẩm
1.3.3 Hình ảnh tăng tính hấp dẫn
Hình ảnh của truyền hình là những sự kiện, sự việc, hiện tượng những con người, những hoạt động chân thực, cụ thể, sinh động miêu tả diễn biến,
Trang 39kết quả của sự kiện, hiện tượng nào đó và chính sự chân thực, khách quan, sinh động của hình ảnh đó làm nên sự hấp dẫn người xem, khuyến khích người xem tiếp tục theo dõi tác phẩm truyền hình
1.3.4 Hình ảnh là tiếng nói của người trong cuộc
Hình ảnh của truyền hình là hình ảnh chân thực, sống động của sự kiện hiện tượng được máy quay ghi lại, được sắp xếp và đưa đến cho khán giả Khán giả được tiếp nhận thông tin chân thực, khách quan Khán giả nhìn thấy, được lắng nghe chia sẻ từ những con người thật, việc thật, trạng thái thật của
sự kiện, được thấy rõ cử chỉ, nét mặt, thái độ, tâm tư tình cảm của nhân vật Thông qua những hình ảnh về trẻ em về hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em giúp cho công chúng hiểu về tình hình trẻ em và có những nhận thức, hành vi đúng đắn góp phần tích cực trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em Vì vậy, những hình ảnh này chính là tiếng nói của người trong cuộc
1.4 Nội dung và các dạng hình ảnh trẻ em sử dụng trong phóng sự truyền hình Vì trẻ em
1.4.1 Nội dung hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình Vì trẻ em
Qua khảo sát các phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em cho thấy nội dung hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình Vì trẻ em có ba nhóm nội dung chính sau:
1.4.1.1 Hình ảnh trẻ em là đối tượng phản ánh
Trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, sao nhãng, bị bắt cóc, mua bán, bị
bỏ rơi, khuyết tật, nhiễm chất độc hóa học, ảnh hưởng bởi HIV; trẻ em bị tai nạn thương tích; trẻ em nghiện ma túy; trẻ em phải lao động trong điều kiện độc hại, nguy hiểm; trẻ em nghèo
1.4.1.2 Hình ảnh trẻ em được hưởng thụ
Là các hình ảnh trẻ em được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và thực hiện 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em: Quyền được sống; Quyền được bảo vệ;
Trang 40Quyền được chăm sóc; Quyền được tham gia, phát triển Đó là các hình ảnh
về sinh hoạt, học tập, lao động, vui chơi, thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ, tham gia các diễn đàn, các hoạt động của trẻ em;
1.4.1.3 Hình ảnh trẻ em với tư cách tham gia phản ánh
Là các hình ảnh trẻ em trả lời phỏng vấn, trẻ em tham gia vào các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; trẻ em tham gia các diễn đàn
1.4.2 Các dạng hình ảnh trẻ em được sử dụng trong phóng sự Truyền hình Vì trẻ em
Trong 52 phóng sự của Truyền hình Vì trẻ em phát sóng năm 2014 có 3 dạng hình ảnh được sử dụng: Hình ảnh tĩnh Hình ảnh động Hình ảnh tư liệu
1.4.2.1 Hình ảnh tĩnh
Là hình ảnh mà các các chi tiết ở đó ở trạng thái đứng yên, không chuyển động
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” thuật ngữ “tĩnh” như sau “Đây là trạng
thái không thay đổi của sự vật, hiện tượng, con người hoặc đó là một trạng thái đứng yên, yên lặng”
Hình ảnh trẻ em tĩnh gồm: ảnh chụp, tranh vẽ, hình ảnh đồ họa, hình ảnh trẻ em động được dừng hình
Hình ảnh tĩnh là những tư liệu quí có thể khai thác, sử dụng cho một chủ đề nào đó của một tác phẩm truyền hình Tác giả dùng hình ảnh tĩnh để minh họa cho một nội dung nào đó mà tác giả muốn thông tin cho người xem
dễ hiểu
Hiện nay ở Đài Truyền hình Việt Nam và một số Đài Truyền hình quốc
tế việc thể hiện hình ảnh trẻ em bị nhiễm HIV, trẻ em bị mua bán, bị xâm hại tình dục được thể hiện bằng hình ảnh đồ họa Các hình ảnh này được sự hỗ trợ của cộng nghệ số, thiết bị máy tính nên cũng tạo ra những hình ảnh sinh động,