1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ em trên báo in việt nam hiện nay (khảo sát các báo tuổi trẻ, nhi đồng, tạp chí gia đình và trẻ em, năm 2015)

162 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

em nhỏ yêu thích có thể kể ra gồm: Báo Nhi đồng và các ấn phẩm phụ Nhi đồng chăm học Nhi đồng cười, Hoạ mi, Măng non, Khoa học và khám phá; Báo Thiếu niên tiền phong và các ấn phẩm phụ T

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QUYỀN TRẺ EM

TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát các báo: Tuổi trẻ, Nhi đồng, tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015)

UẬN V N THẠC S ÁO CH HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QUYỀN TRẺ EM

TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát các báo: Tuổi trẻ, Nhi đồng, tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015)

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Hồ Bất Khuất - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô đang công tác tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các nhà báo, bạn bè, đồng nghiệp, các chuyên gia về lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã dành thời gian chỉ bảo, góp ý, trả lời phiếu khảo sát, trả lời phỏng vấn giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn tới các em học sinh đã nhiệt tình tham gia khảo sát

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

T c giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 5

QTE : Quyền trẻ em LHQ : Liên hợp quốc

Bộ LĐTBXH : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội BVCSTE : Bảo vệ chăm sóc trẻ em

Luật BVCSGDTE : Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em NXB : Nhà xuất bản

Trang 6

C ương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP

CẬN QUYỀN TRẺ EM TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY 12

1.1 Các khái niệm về báo chí 12

1.2 Báo chí với trẻ em 16

1.3 Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay 18

1.4 Khái niệm và quy trình ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ em 29

C ương 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QUYỀN TRẺ EM TRÊN CÁC BÁO: TUỔI TRẺ, NHI ĐỒNG, TẠP CH GI ĐÌNH VÀ TRẺ EM, N M 2015 34

2.1 Tổng quan về các cơ quan báo in trong diện khảo sát 34

2.2 Phân tích và đánh giá thực trạng ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ em trên các báo in: Tuổi trẻ, Nhi đồng và tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015 46

2.3 Kết quả khảo sát sự hiểu biết của người dân về quyền trẻ em 64

C ương 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VIỆC ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QUYỀN TRẺ EM TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY 83

3.1 Một số vấn đề đặt ra 83

3.2 Giải pháp 85

3.3 Một số khuyến nghị 91

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 T n cấp t iết của đề tài

Theo thống kê của Bộ LĐTBXH, cả nước hiện nay có khoảng 26 triệu trẻ em Đây là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ kế tục cha ông trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Nhận thức

rõ tầm quan trọng của trẻ em, Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em,

cố gắng đảm bảo các quyền của trẻ em được thực hiện một cách đầy đủ

Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về QTE vào năm 1959, tiếp đó, Đại hội đồng LHQ cũng đã thông qua Công ước về QTE ngày 20/11/1989 và Công ước bắt đầu có hiệu lực như Luật quốc tế ngày 02/09/1990 Vấn đề QTE

đã được các quốc gia đặt lên hàng đầu trong chương trình lập pháp và được đưa vào chiến lược hoặc chương trình phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm Sau gần 30 năm thực hiện, Công ước đã làm thay đổi khá nhiều nhận thức và hành động của các quốc gia về trẻ em và QTE

Công ước quốc tế về QTE đã mở đường cho việc tăng cường bảo vệ trẻ

em theo quan điểm hệ thống, bảo đảm trẻ em được bảo vệ, không bị xâm hại, xao nhãng, bạo lực, bóc lột và phân biệt đối xử Đồng thời, nó cũng trở thành kim chỉ nam, là cuốn cẩm nang không thể thiếu của các nhà báo chuyên viết

về trẻ em

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE vào ngày 20/02/1990 Điều này thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của nước ta với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các QTE

Trong đó, vai trò của báo chí đối với trẻ em ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng và mật thiết

Riêng trong lĩnh vực báo in, Việt Nam đã có hàng chục đầu báo và tạp chí dành riêng cho trẻ em hoặc viết về trẻ em Các ấn phẩm báo in được các

Trang 8

em nhỏ yêu thích có thể kể ra gồm: Báo Nhi đồng và các ấn phẩm phụ Nhi đồng chăm học Nhi đồng cười, Hoạ mi, Măng non, Khoa học và khám phá; Báo Thiếu niên tiền phong và các ấn phẩm phụ Thiếu nhi dân tộc, Tri thức tuổi hồng, Học trò cười; Báo Hoa học trò và các ấn phẩm phụ Thiên thần nhỏ, Trà sữa cho tâm hồn, báo Khăn quàng đỏ và tạp chí Mực tím, tạp chí Mặt trời nhỏ (thuộc báo Gia đình Việt Nam)…

Ngoài ra, còn có các ấn phẩm báo in viết về trẻ em cho người lớn đọc như các báo Giáo dục và Thời đại, Giáo dục TP.HCM, Tuổi trẻ, Thanh niên, Gia đình và Xã hội, Gia đình Việt Nam và tạp chí Gia đình và Trẻ em,… Cùng với sự ra đời của Công ước quốc tế về QTE, báo chí đã bước đầu tiếp cận trẻ em dựa trên quyền con người và QTE được LHQ thông qua thay

vì tiếp cận dựa theo nhu cầu Các nhà báo khi viết về trẻ em đã biết bám sát QTE, đồng thời tôn trọng tiếng nói, nguyện vọng của các em Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều cơ quan báo chí, đặc biệt là một số báo mạng điện tử chỉ đăng tin bài về trẻ em khi có các vụ việc liên quan đến trẻ em nổi lên Họ viết về các thông tin trẻ em bị xâm hại, bạo lực và bóc lột theo chiều hướng giật gân, câu khách, làm tổn thương đến tâm sinh lý và vi phạm nghiêm trọng quyền riêng tư của trẻ em

Theo Công ước quốc tế về QTE thì mọi trẻ em đều có quyền được tiếp nhận thông tin, hưởng thụ các sản phẩm báo chí và tham gia nói lên tiếng nói của mình, tuy nhiên có nhiều bài báo viết về trẻ em mang tính chủ quan và không hề phỏng vấn các em

Báo chí trẻ em là một lĩnh vực vô cùng quan trọng của báo chí Việt Nam, nhưng nó cũng rất nhạy cảm và việc tác nghiệp không đơn giản Ngoài nghiệp vụ báo chí thông thường, nhà báo khi viết về trẻ em phải nắm vững các luật liên quan đến trẻ em, tôn trọng các QTE và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng cũng như tiếng nói của các em

Trang 9

Với đề tài nghiên cứu “Ứng dụng p ƣơng p p tiếp cận QTE trên

báo in Việt Nam iện nay(Khảo sát các báo: Tuổi trẻ, Nhi Đồn và tạp chí

Gia đình và Trẻ em, năm 2015)”, tác giả luận văn hy vọng có thể phản ánh

phần nào thực trạng ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE ở Việt Nam hiện nay trên một số ấn phẩm báo in tiêu biểu có viết về đối tượng trẻ em; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị để việc ứng dụng phương pháp tiếp cận trẻ em trên các ấn phẩm báo in Việt Nam được thực hiện tốt hơn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan

2.1 Sự ra đời của Côn ước qu c tế về quyền trẻ em

Trước thế kỷ XX, tất cả các xã hội đều đơn giản coi trẻ em là tài sản riêng của các bậc cha mẹ, của mỗi gia đình Đầu thế kỷ XX, đời sống trẻ em vẫn chưa được coi là vấn đề được quan tâm của cộng đồng quốc tế Vấn đề QTE chỉ thực sự được quan tâm từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914- 1918) với sự thành lập các tổ chức cứu trợ của Anh và Thụy Điển vào năm 1919

Hiến chương về QTE được ra đời năm 1923

Ngày 26/9/1924, Hội Quốc liên thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ về QTE, Tuyên ngôn gồm 5 điểm (Tuyên ngôn này do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên Hiến chương về QTE) Kể từ đây, QTE đã trở thành một khái niệm được khẳng định và thừa nhận

Ngày 20/11/1959, LHQ thông qua bản Tuyên ngôn về QTE gồm 10 nguyên tắc, với nội dung đầy đủ và tiến bộ hơn, với tinh thần cơ bản là: “Loài người phải dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất mà mình có”

Năm 1979, LHQ nhất trí soạn thảo Công ước về QTE

Đại hội đồng LHQ thông qua Công ước về QTE vào ngày 20/11/1989

và Công ước bắt đầu có hiệu lực như Luật quốc tế vào ngày 02/09/1990

Công ước quốc tế về QTE là Công ước quốc tế đầu tiên ấn định về mặt pháp lý các QTE theo tinh thần tiến bộ và nhân đạo

Trang 10

Việt Nam phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE vào ngày 20/02/1990

2.2 Các luật đ được Việt Nam ban hành liên quan đến quyền trẻ em

Năm 1979, Việt Nam ban hành Pháp lệnh BVCSGDTE

Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật BVCSGDTE và uật này có hiệu lực thi hành từ ngày 16/8/1991 Đây là một trong những đạo luật

có khoảng thời gian kể từ khi Quốc hội thông qua, đến khi có hiệu lực thi hành ngắn nhất (4 ngày)

Ngày 15/6/2004, Quốc hội đã thông qua Luật BVCSGDTE được sửa đổi với 5 chương 60 điều, tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thúc đẩy việc thực hiện ngày càng tốt hơn những quyền cơ bản của trẻ em mà Việt Nam là một trong các quốc gia phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE sớm nhất Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế -

xã hội của đất nước ta đã có nhiều thay đổi, nhiều hiện tượng, vấn đề mới tác động đến đời sống trẻ em và việc thực hiện các QTE đòi hỏi pháp luật cần điều chỉnh

Năm 2015, Bộ LĐTBXH đã soạn thảo Dự thảo Luật BVCSGDTE sửa đổi Nội dung Dự thảo quy định các quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện các QTE; bảo vệ trẻ em; bảo đảm thực hiện các quyền được tham gia của trẻ em và trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc thực hiện các QTE

Dự thảo đã được các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương cũng như báo chí và dư luận xã hội bàn luận sôi nổi Đầu tháng 8/2015, Bộ LĐTBXH đã tổ chức Diễn đàn Trẻ em quốc gia lần thứ 4, trong đó một số nội dung dự thảo Luật đã được lấy ý kiến của trẻ em Sau khi hoàn thiện, Luật đã được trình lên Quốc hội Ngày 5/4/2016, Luật BVCSGDTE sửa đổi được phê chuẩn, lấy tên mới là Luật Trẻ em (2016) Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2017

Trang 11

Ngoài Luật Trẻ em, Đảng và Nhà nước còn thực hiện nhiều chủ trương, chính sách pháp luật khác về bảo vệ, chăm sóc trẻ em như: “Luật Phòng chống bạo lực gia đình”, các “Chương trình Hành động Quốc gia Vì trẻ em” hàng năm, Quyết định 267/QĐ/-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015”, “Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030” nhằm thực hiện nghiêm túc và hiệu quả QTE Việt Nam, góp phần tạo dựng cho trẻ em có cuộc sống tốt đẹp hơn

Cùng với Đảng và Nhà nước, các cơ quan báo chí Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng như luôn cố gắng đảm bảo mọi trẻ em đều được thực hiện quyền cũng như nghĩa

vụ của mình theo Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam quy định

2.3 Các đề tài n hiên cứu khoa học về vấn đề quyền trẻ em đ thực hiện

2.3.1 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Báo chí cho trẻ em ở nước

ta hiện nay” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS TS Nguyễn Văn Dững làm chủ nhiệm đề tài, 2007 đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về diện

mạo báo chí trẻ em ở Việt Nam hiện nay; phân tích kinh nghiệm về hoạt động báo chí trẻ em hiện nay, đưa ra các đề xuất, kiến nghị khoa học nhằm phát triển và nâng cao năng lực, hiệu quả tác động của báo chí đối với trẻ em; thống nhất nhận thức, góp phần hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn, làm cơ

sở cho việc xây dựng chính sách, đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nước ta trong tình hình và điều kiện mới

2.3.2 Luận án tiến sĩ “Kỹ năng làm báo cho trẻ em hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Oanh, năm 2009 Tác giả bước đầu hình thành khung lý

thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em, trên cơ sở ấy khảo sát, phân tích kinh nghiệm thực tiễn tác nghiệp báo chí cho trẻ em để nêu ra vấn đề, tìm kiếm giải pháp khuyến nghị cải thiện tình hình, nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí cho trẻ em ở nước ta hiện nay Tác giả nghiên cứu tính đặc

Trang 12

thù và vai trò của kỹ năng làm báo cho trẻ em trong quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí và tác động của nó đến công chúng báo chí là trẻ em Trên cơ

sở đó, đưa ra những đề xuất trong việc đào tạo kỹ năng làm báo cho trẻ em

2.3.3 Luận văn thạc sĩ “Sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình vì trẻ em, đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát chương trình Truyền hình Vì trẻ em phát sóng năm 2014 trên VTV1) năm 2015 của tác giả Vũ Văn Dũng đã đánh giá việc sử dụng hình ảnh

trẻ em trong các phóng sự truyền hình trên chương trình Truyền hình Vì trẻ em; đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng việc sử dụng hình ảnh trẻ

em trong phóng sự của chương trình truyền hình vì trẻ em, đảm bảo đúng pháp luật, không vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, không gây tổn thương cho trẻ em và gia đình của trẻ

2.3.4 Luận văn thạc sĩ “Sự tham gia của trẻ em trong các hoạt động truyền thông về quyền trẻ em” của tác giả Mai Thị Thúy An thực hiện năm

2013 Trên cơ sở làm rõ những khái niệm về truyền thông có sự tham gia,

quyền tham gia của trẻ em, luận văn khảo sát và phân tích thực trạng sự tham gia của trẻ em, cách thức triển khai dự án, tổ chức sự kiện do Save the Children Việt Nam, Child Fund Việt Nam, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam thực hiện, từ năm 2008 - 2012 tại miền Bắc; Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp góp phần thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em và tăng hiệu quả quảng bá hình ảnh cho tổ chức

2.3.5 Tham luận “Thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại Việt Nam” của nghiên cứu sinh Quách Thị Quế, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ LĐTBXH), 2015

Tham luận khẳng định, Việt Nam là một trong những quốc gia phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE từ rất sớm Đây là văn kiện quan trọng nhất

về quyền con người của trẻ em trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người, bao gồm các điều luật như: Trẻ em có quyền được lắng nghe, được tự

Trang 13

do bày tỏ quan điểm về tất cả các vấn đề có tác động đến trẻ, được tự do phát biểu, suy nghĩ, hội họp và tiếp cận thông tin, thúc đẩy lợi ích tốt nhất của trẻ

và tăng cường sự phát triển cá nhân; Có quyền tham gia bình đẳng với nhau không phân biệt; Có quyền được bảo vệ tránh khỏi bị lôi kéo, bạo lực, lạm dụng và bóc lột… Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền tham gia của trẻ

em còn có thể vận dụng trong các quyền công dân nói chung như giao dịch nhân sự, quyền nhân thân, quan hệ hôn nhân và gia đình, ngôn luận và tiếp cận thông tin, kết giao và hội họp hòa bình, tố tụng dân sự, xử lý vi phạm hành chính, tố tụng hình sự, khiếu nại tố cáo…

2.3.6 Cuốn sách “Quyền trẻ em - Quyền của chúng mình”, NXB Kim Đồng, 2013

Nhằm đẩy mạnh công tác truyền thông Công ước LHQ về QTE, góp phần thúc đẩy việc thực hiện QTE tại cộng đồng, Hội Bảo vệ QTE Việt Nam phối hợp với Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) và Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam cùng soạn thảo cuốn sách “Quyền trẻ em - Quyền của chúng mình” Cuốn sách do NXB Kim Đồng xuất bản

Cuốn sách này được chính trẻ em tham gia chuyển thể dựa trên nguyên bản Công ước quốc tế về QTE của LHQ 300 bạn nhỏ đến từ khắp nơi trên cả nước đã tham gia đóng góp ý tưởng, cùng 30 “phóng viên nhỏ” đến từ nhiều trường trung học cơ sở trên cả nước tham gia biên soạn và viết truyện minh họa cho 42 điều khoản ngắn gọn và dễ hiểu

3 Mục đ c và n iệm vụ nghiên cứu

Trang 14

- Từ đó, đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị để việc tiếp cận QTE trên các ấn phẩm báo in ngày càng hiệu quả hơn, đồng thời, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các nhà báo chuyên viết về trẻ em

3.2 Nhiệm vụ n hiên cứu

Để đạt được những mục đích nêu trên, luận văn đi vào giải quyết một

số nhiệm vụ chính sau:

- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Khảo sát và phân tích, đánh giá các bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận QTE trên các báo Tuổi trẻ, Nhi đồng và tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đ i tượng nghiên cứu

- Các bài báo sử dụng phương pháp tiếp cận QTE được đăng tải trên các báo Tuổi trẻ, Nhi đồng và tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015)

- Các luật liên quan đến QTE

- Độc giả của báo chí trẻ em, gồm cả người lớn và trẻ em

- Các phóng viên, nhà báo chuyên viết về trẻ em, những người làm việc trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian: 2015 (từ ngày 1/1/2015 - 31/12/2015)

Trang 15

Phạm vi về không gian: báo Tuổi trẻ, báo Nhi Đồng và tạp chí Gia đình

và Trẻ em cùng một số cơ quan, tổ chức xã hội có liên quan đến trẻ em

5 Cơ sở lý luận và p ƣơng p p ng iên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, công ước quốc tế và các văn kiện quốc tế về QTE, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí với trẻ em, các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn

đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Trẻ em 2016 và các luật khác liên quan đến QTE

- Dựa trên cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ sở lý luận báo chí, báo chí

học với trẻ em

- Kế thừa và tham khảo các kết quả nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực báo chí trẻ em của các tác giả đi trước

5.2 P ƣơng p p ng iên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thống kê các bài viết ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE trên các báo: Tuổi trẻ, Nhi đồng, tap chí Gia đình

và Trẻ em trong năm 2015, để từ đó phân tích và đưa ra các đánh giá về các

ưu và nhược điểm của các báo này khi ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE vào các bài viết của mình

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các phóng viên phụ trách mảng báo chí trẻ em, lãnh đạo báo Tuổi trẻ, báo Nhi Đồng và tạp chí Gia đình

và Trẻ em về quan điểm, mong đợi, cách thức thực hiện các bài viết về trẻ em dựa trên phương pháp tiếp cận QTE Phỏng vấn các cán bộ bảo vệ chăm sóc trẻ em về vấn đề thực hiện QTE ở Việt Nam hiện nay, họ mong muốn được tiếp cận những thông tin gì từ phía các cơ quan báo chí - truyền thông

Trang 16

- Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng câu hỏi Anket: Phát phiếu điều tra cho 80 trẻ em từ 8-16 tuổi xem các em muốn được đọc những thông tin gì, mong muốn báo chí viết về mình như thế nào, muốn được tham gia, cộng tác viết báo như thế nào… Phát 200 phiếu điều tra cho người lớn (trên 18 tuổi) xem sự hiểu biết của họ về QTE đến đâu, họ mong muốn được tiếp cận các bài báo viết về trẻ em dưới góc độ nào, muốn được đọc các thông tin gì về trẻ em

- Phương pháp phân tích và tổng hợp để đánh giá những kết quả nghiên cứu, qua đó đề xuất các giải pháp cần thiết

6 Điểm mới của luận văn

QTE và các vấn đề liên quan đến QTE được báo chí nhắc đến rất nhiều

và cũng đã có rất nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề này, nhưng “ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE” là một khái niệm mới, lần đầu tiên được nhắc đến trong lịch sử luận văn Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và tuyên truyền Nghiên cứu về một đề tài khoa học mới, ứng dụng một phương pháp tiếp cận

báo chí mới là điểm mới trong luận văn “Ứng dụng phương pháp tiếp cận

quyền trẻ em trên báo in Việt Nam hiện nay (Khảo sát các báo: Tuổi trẻ, Nhi

Đồng và tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015)”

7 Y ng ĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 17

Thông qua việc khảo sát các bài báo ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE trên cáo báo: Tuổi trẻ, Nhi đồng, tap chí Gia đình và Trẻ em trong năm

2015, khảo sát nhu cầu đọc của trẻ em nhằm nâng cao hiệu quả việc ứng dụng

phương pháp tiếp cận quyền trẻ em trên báo in Việt Nam hiện nay

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có

kết cấu 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận việc ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ

em trên báo in Việt Nam hiện nay

Chương 2 Thực trạng ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ em trên các báo: Tuổi trẻ, Nhi đồng, tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015

Chương 3 Một số vấn đề đặt ra, giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao việc ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ em trên báo in Việt Nam hiện nay

Trang 18

C ương 1

CƠ SỞ Ý UẬN VIỆC ỨNG ỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QUYỀN TRẺ EM TRÊN ÁO IN VIỆT N M HIỆN N Y 1.1 Các k i niệm về b o c

1.1.1 Khái niệm báo chí và báo in

Theo Từ điển tiếng Việt (GS Hoàng Phê chủ biên), báo chí là “báo và

tạp chí xuất bản định kỳ; xuất bản phẩm định kỳ (nói khái quát)” Ở đây, khái

niệm báo chí được hiểu đồng nhất với khái niệm báo in

Còn theo “Cơ sở lý luận báo chí” (GS Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), NXB

Văn hóa Thông tin, 1999): “Báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ

với các thành tố của kiến trúc thượng tầng Báo chí là một loại hình hoạt động nghề nghiệp sáng tạo, với tính chất chính trị - xã hội rõ ràng” [3, tr 9]

Trong cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường)” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010), PGS TS Nguyễn Văn

Dững viết: “Báo chí hiện đại có thể được hiểu là những ấn phẩm xuất bản

định kỳ (hoặc không định kỳ như báo mạng điện tử), được sản xuất với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo cư dân (công chúng)” [1, tr 5]

Những định nghĩa trên mang tính chất tương đối; định nghĩa một cách đầy đủ nhất về “báo chí” là định nghĩa của PGS TS Nguyễn Văn Dững trong

cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (NXB Lao động, 2013): “Báo chí được hiểu

theo nghĩa rộng bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và báo mạng điện tử - tức là những kênh truyền thông đại chúng sản xuất và quảng báo thông tin thường xuyên liên tục nhất, trên phạm vi rộng lớn nhất, định kỳ (và phi định kỳ) đều đặn và cập nhật nhất, tác động đến nhiều người nhất, đa dạng và phong phú nhất” [6, tr 102]

Trong đó, “Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu

chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và các

Trang 19

vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [15, tr 102]

Còn theo Điều 3, Chương 1, Luật Báo chí 2016 vừa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông

qua ngày 5/4/2016: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề

trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”

Cũng theo Điều 3, Chương I, Luật Báo chí 2016: “Báo in là loại hình

báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in”

1.1.2 Phân loại báo in

1.1.2.1 Báo

Trong bài viết “Vai trò của báo in Việt Nam trong thời kỳ đổi mới trong quá trình giao lưu, tiếp nhận và hội nhập văn hóa quốc tế”, PGS TS Dương

Xuân Sơn (Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội) cho biết: “Báo chí in bao

gồm báo và tạp chí là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội” [33, tr 3]

“Căn cứ vào định kỳ xuất bản, tính chất nội dung thông tin, hiện nay báo in ở nước ta có các loại: báo hàng ngày (là những tờ phát hành mỗi ngày một kỳ vào buổi sáng hoặc buổi chiều); báo nhiều kỳ trong tuần (là tờ báo phát hành khoảng từ 5 - 6 kỳ trong một tuần); báo một số kỳ trong tuần (là những tờ báo có số kỳ xuất bản từ 2 - 4 kỳ trong tuần); báo tuần (là những tờ báo xuất bản định kỳ 1 kỳ/một tuần); báo nửa tháng hay hàng tháng (chủ yếu là những

ấn phẩm phụ xuất bản giữa tháng hoặc cuối tháng của các tờ báo hằng ngày, các tờ báo nhiều kỳ, một số kỳ trong tuần hoặc tuần báo)” [1, tr 4]

1.1.2.2 Tạp chí

Trong cuốn “Xuất bản tạp chí” (bản dịch tiếng Việt) - Khoa Xuất bản,

Trang 20

Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010), các học giả Trung Quốc đưa ra khái niệm, “Tạp chí có tên gọi cố định, có đánh số thứ tự theo quyển, kỳ hoặc năm tháng, nhân bản bằng phương thức in ấn, đăng tải trên chất liệu giấy, là

xuất bản phẩm liên tục thành quyển” [5, tr 32]

Cũng trong cuốn “Xuất bản tạp chí”, theo công bố của tổ chức UNESCO, “Tất cả xuất bản phẩm có cùng một tiêu đề, xuất bản liên tục định

kỳ hoặc không định kỳ, mỗi năm ít nhất là trên 1 kỳ (1 lần), mỗi kỳ đều ghi rõ

số thứ tự và ghi rõ ngày tháng thì gọi là tạp chí” [5, tr 34]

Theo “Từ điển tiếng Việt” (NXB Văn hóa thông tin) thì: “Tạp chí là

báo đóng tập, ra có kỳ (không phải hàng ngày), có nhiều mục” [41, vần T]

Theo “Từ điển Hán Việt dành cho học sinh” (NXB Văn hóa thông tin)

thì: “Tạp chí được phân tách như sau: “Tạp: có nhiều loại trong đó chỉ sách

ghi chép các sự kiện, bài viết Tạp chí: là báo ra có kỳ hạn (nghĩa gốc là ghi chép linh tinh)” [39, vần T]

Tạp chí hàng tuần: Tên gọi khác: Tuần san Được xuất bản định kỳ vào

một ngày trong tuần

Nguyệt san: Xuất bản mỗi tháng một số

Quý san: Xuất bản mỗi quý (ba tháng) một số

Bán niên san: Xuất bản nửa năm một số

Niên san: Xuất bản mỗi năm một số Các loại niên giám thống kê thuộc

loại này

Tại Việt Nam, có nhiều loại tạp chí xuất bản định kỳ không theo hướng phân loại trên Ví dụ: bán tuần báo in 2 - 3 số mỗi tuần, bán nguyệt san in 2 -

3 kỳ mỗi tháng

Theo PGS TS Dương Xuân Sơn (Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG

Hà Nội) viết trong “Vai trò của báo in Việt Nam trong thời kỳ đổi mới trong

quá trình giao lưu, tiếp nhận và hội nhập văn hóa quốc tế: “Tạp chí là những

Trang 21

ấn phẩm định kỳ có nội dung chuyên sâu vào một hay một số vấn đề, lĩnh vực

về đời sống xã hội, khoa học, kỹ thuật… Định kỳ xuất bản của tạp chí có thể

là 1 tuần, nửa tháng, 1 tháng, 2 tháng Cũng có tạp chí xuất bản 3, 4, 5 hoặc

6 tháng/kỳ” [8, tr 4]

Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, đã xuất hiện các tạp chí điện tử (trên website), tạp chí trên sóng phát thanh và truyền hình… xuất bản định kỳ (theo giờ, khung chương trình) và liên tục

Theo Điều 3, Chương 1, Luật Báo chí 2016: Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng Tạp chí khoa học là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ để công bố kết quả nghiên cứu khoa học, thông tin về hoạt động khoa học chuyên ngành Đặc san là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí xuất bản không định kỳ theo sự kiện, chủ đề.

Như vậy, tất cả các định nghĩa trên đều chỉ ra các yếu tố cấu thành hoặc đặc điểm cơ bản của tạp chí Tham chiếu các định nghĩa trên vào tình hình

thực tế, có thể rút ra khái niệm chung về tạp chí như sau: Tạp chí là một sản

phẩm báo chí xuất bản phẩm định kỳ, có tên gọi ổn định, có kỳ hạn xuất bản trong khoảng thời gian nhất định (có thể là bán nguyệt san, ra hàng tháng, quý); cung cấp thông tin, kiến thức cho những đối tượng bạn đọc nhất định

Ta có thể phân loại tạp chí theo chức năng, theo nhiệm vụ, theo nội dung phản ánh (lĩnh vực và đối tượng phản ánh), theo hình thức thông tin và thiết kế (trình bày ấn phẩm, chương trình), theo đối tượng tiếp nhận (công chúng)…

Xét về mặt nội dung phản ánh (bao gồm cả chức năng, nhiệm vụ, nội dung thông tin và hình thức thông tin), tựu chung lại có thể chia các loại tạp chí

in truyền thống và tạp chí điện tử, tạp chí trên sóng) thành ba nhóm chính:

Nhóm tạp chí lý luận chính trị bao gồm các tạp chí như: Cộng sản, Xây dựng Đảng, Lý luận chính trị…

Trang 22

Nhóm tạp chí khoa học bao gồm các tạp chí như: Khoa học xã hội, Lao động và Xã hội, Người làm báo, Triết học, Luật học, Văn học, Toán học, Thuốc và sức khỏe…

Nhóm tạp chí giải trí - chỉ dẫn bao gồm các tạp chí như: Thời trang trẻ, Tiếp thị và gia đình, Mốt, Ô tô - xe máy Việt Nam, Kiến trúc Việt Nam, Mỹ thuật, Doanh nhân, Gia đình và Trẻ em…

1.2 Báo chí với trẻ em

Việt Nam là một quốc gia khá chú trọng đến vấn đề báo chí viết về trẻ

em Số lượng ấn phẩm báo chí và các đề tài về trẻ em khá đa dạng và sâu sắc

Có không ít báo và tạp chí giấy dành riêng cho trẻ em; nhiều chương trình phát thanh - truyền hình từ trung ương đến địa phương thông tin về đề tài trẻ

em, kể cả chương trình chuyên đề, định kỳ, thường xuyên và thông tin theo tính thời vụ, theo sự kiện thời sự; nhiều trang thông tin điện tử tổng hợp đăng tải các bài viết về trẻ em để cung cấp cho các bậc làm cha mẹ các thông tin hữu ích cũng như nâng cao sự hiểu biết, giúp họ nuôi dạy, chăm sóc và giáo dục con cái tốt hơn

1.2.1 Báo in viết về trẻ em (cho trẻ em đọc)

Báo in viết về trẻ em (cho trẻ em đọc) do người lớn thực hiện, có thể kể

tới các báo: Nhi đồng, Thiếu niên tiền phong, Mực tím, Khăn quàng đỏ, Hoa học trò… Những tờ báo này, nội dung chính viết về trẻ em nhưng phân chia theo từng độ tuổi của trẻ, Nhi đồng (dành cho học sinh cấp I), Thiếu niên tiền phong, Khăn quàng đỏ (dành cho học sinh cấp II), Hoa học trò và Mực tím (dành cho học sinh cấp III)… Có một số bài viết là của các cộng tác viên trẻ

em gửi về tòa soạn, một số bài viết là của phóng viên tòa soạn Toàn bộ việc

tổ chức sản xuất bài vở do tòa soạn trực tiếp thực hiện

1.2.2 Báo in viết về trẻ em (cho n ười lớn đọc)

Báo in viết về trẻ em cho người lớn đọc thì số lượng đầu báo/tạp chí phong phú hơn hẳn Ví dụ, có các báo Tuổi trẻ, Giáo dục và Thời đại, Giáo

Trang 23

dục TP.HCM, Phụ nữ Thủ đô, Gia đình Việt Nam, Gia đình và xã hội và tạp chí Gia đình và Trẻ em

Đặc điểm của các báo này là đối tượng độc giả chính không phải là trẻ

em và trẻ em cũng không hẳn là chuyên mục chính của các báo Trừ tạp chí Gia đình và Trẻ em có hẳn một chuyên mục lớn là Vì trẻ em và chuyên đề Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, còn lại ở các báo khác, vấn đề trẻ em được đề cập trong các mục Giáo dục, Sức khỏe hoặc Gia đình, Tổ ấm… chỉ như một chuyên mục bình thường

1.2.3 Báo in do trẻ em viết

Báo in do trẻ em viết cho chính trẻ em đọc chưa thực sự phổ biến ở Việt Nam, hiện nay chưa có một tòa soạn báo in nào do trẻ em được tổ chức thực hiện Mới chỉ có các báo Nhi đồng, Hoa học trò, Thiếu niên tiền phong, Mực tím… có sử dụng một số bài viết của cộng tác viên là trẻ em Tuy nhiên, tất cả các bài viết này đều phải qua Ban biên tập là người lớn kiểu duyệt, trẻ

em chỉ được tham gia viết bài, đưa tin chứ chưa được tham gia vào các công đoạn khác của quy trình sản xuất báo chí

Hiện nay, có Câu lạc bộ Phóng viên nhỏ của Hội Bảo vệ QTE Việt Nam là nơi tập trung khá đông đảo các “cây viết” trẻ em xuất sắc, các em ở đây sẽ tham gia viết bài cộng tác với một số cơ quan báo chí

Còn trên thế giới, ở các nước phát triển việc trẻ em tham gia làm báo không phải là điều gì mới lạ

Ở Thủ đô New Delhi, Ấn Độ, đã có riêng một tòa soạn báo dành cho trẻ em cơ nhỡ mang tên Balaknama (nghĩa là “tiếng nói trẻ em”) được thành lập từ năm 2002 do các nhà hoạt động xã hội Ấn Độ sáng lập

Những trẻ em lang thang ở New Delhi được đưa về tòa soạn để học các

kỹ năng làm báo, từ cách lấy tin như thế nào, cách biên tập, lên trang ra làm sao Những cuộc họp của Ban biên tập báo Balaknama diễn ra rất căng thẳng

và sôi nổi, các em nhỏ làm việc không khác gì những nhà báo thực thụ

Trang 24

Các chủ đề báo Balaknama thường hay đề cập xoay xung quanh các vấn đề liên quan đến trẻ em như: tảo hôn, lạm dụng tình dục và lao động trẻ em…

Nhiều em từ một người ăn xin, nhặt rác trên đường phố đã trở thành phóng viên tập sự, phóng viên và rồi là biên tập viên

Balaknama xuất bản 1 tháng 1 số, mỗi số 10.000 bản Mỗi tờ Balaknama có giá 2 Ruby, tương đương khoảng 600 đồng Việt Nam Số tiền

ít ỏi này chỉ có thể đỡ đần phần nào cho cuộc sống của các em, nhưng điều quan trọng hơn cả, Balaknama có ý nghĩa tinh thần, tạo niềm tin cho các em nhỏ lang thang, cơ nhỡ vào một tương lai tốt đẹp hơn

1.3 Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay

1.3.1 Khái niệm trẻ em

Theo Điều 1, Chương 1 của Luật Trẻ em 2016 (vừa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông

qua ngày 5/4/2016, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2017) quy định: “Trẻ

em là người dưới 16 tuổi”

Song, các tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICE), Quỹ Dân

số LHQ (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO)… đều quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi

Theo Điều 1, Phần 1 Công ước của LHQ về QTE (phê chuẩn ngày

20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 2/9/1990) thì: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ

trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Trong các văn kiện quốc tế khác như: Tuyên bố của Hội quốc liên về QTE (năm 1924), Tuyên bố của LHQ về QTE (năm 1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1968), Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (năm 1976)… đều khẳng định việc áp dụng độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tùy thuộc vào luật pháp của mỗi nước

Trang 25

Quy định độ tuổi trẻ em của Việt Nam thấp hơn so với Công ước quốc tế, nhưng quy định này vẫn được coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ước

Tóm lại, trẻ em là người dưới 16 tuổi (theo pháp luật Việt Nam) hoặc

là người dưới 18 tuổi (theo pháp luật quốc tế) và là một nhóm xã hội đặc thù

có các quyền được ghi trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế mà Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội phải thực hiện Trẻ em vừa là đối tượng phản ảnh, đồng thời là một nhóm công chúng của báo chí truyền thông

1.3.2 Khái niệm quyền

Quyền là những đòi hỏi cơ bản và chính đáng của một con người phải được hưởng hoặc có thể được làm

Theo “Phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người dành cho cán bộ LHQ tại Việt Nam”: Quyền là mối quan hệ giữa một cá nhân (hoặc một nhóm các cá nhân) được yêu cầu chính đáng đối với một cá nhân (hoặc một nhóm cá nhân) khác có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm liên quan tới yêu cầu

đó Trong mối quan hệ này, cá nhân đầu tiên là bên có quyền (hoặc chủ thể của quyền) và cá nhân thứ hai là bên có trách nhiệm (hay khách thể của quyền) Quyền bao gồm quyền đạo đức, quyền theo hợp đồng, quyền theo quy định của pháp luật, cũng như quyền con người

Quyền con người hay còn được gọi là nhân quyền (tiếng Anh: human rights), ở góc độ khái quát nhất, theo LHQ, có thể hiểu là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Theo Văn phòng Cao ủy LHQ,

“quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các

cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người”

Trang 26

Còn theo bài viết “Một số so sánh quyền con người với quyền công dân” của PGS TS Nguyễn Thanh Tuấn, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; TS Vũ Công Giao, Đại học quốc gia Hà Nội đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 23/1/2013 thì: “Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”

1.3.3 Khái niệm quyền trẻ em

QTE là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em QTE là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện QTE chính là biện pháp nhằm đảm bảo cho trẻ em không những là người tiếp thu thụ động tình thương hay lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của quyền

Trước thế kỷ XX, tất cả các xã hội đều đơn giản coi trẻ em là tài sản riêng của các bậc cha mẹ, của mỗi gia đình Đầu thế kỷ XX, đời sống trẻ em vẫn chưa được coi là vấn đề được quan tâm của cộng đồng quốc tế Vấn đề QTE chỉ thực

sự được quan tâm từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) với sự thành lập các Tổ chức cứu trợ của Anh và Thuỵ Điển vào năm 1919

Hiến chương về QTE được ra đời năm 1923

Ngày 26/9/1924, Hội Quốc liên thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ về QTE, Tuyên ngôn gồm 5 điểm (Tuyên ngôn này do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên Hiến chương về QTE ) Kể từ đây, QTE đã trở thành một khái niệm được khẳng định và thừa nhận

36 năm sau, vào ngày 20/11/1959, LHQ thông qua bản Tuyên ngôn về QTE gồm 10 nguyên tắc, với nội dung đầy đủ và tiến bộ hơn, với tinh thần cơ bản là: “Loài người phải dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất mà mình có”

Năm 1979, LHQ nhất trí soạn thảo Công ước về QTE

Trang 27

Sau 10 năm soạn thảo, sửa đổi tích cực, Công ước về QTE được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 20/11/1989, được mở cho các nước ký vào ngày 26/01/1990 và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990

Công ước quốc tế về QTE là Công ước quốc tế đầu tiên ấn định về mặt pháp lý các QTE theo tinh thần tiến bộ, nhân đạo

Công ước là văn bản luật quốc tế biểu hiện sự thỏa thuận của các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trong quan hệ quốc tế, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại Không giống như Tuyên ngôn là lời kêu gọi, lời hiệu triệu, không phải là văn bản pháp luật, nên không có giá trị về mặt pháp lý, không bắt buộc các quốc gia phải thực hiện Các quốc gia đã phê chuẩn hay gia nhập công ước phải cam kết thực hiện

1.3.4 Tuyên b của Liên hợp qu c về quyền trẻ em

Tuyên bố của LHQ về QTE (1959) đưa ra 10 nguyên tắc chính để đảm bảo trẻ em có được tuổi thơ hạnh phúc và được hưởng các quyền sau đây:

Nguyên tắc 1:

Trẻ em phải được hưởng tất cả các quyền được nêu ra trong Tuyên bố này Tất cả trẻ em, không có ngoại lệ nào, đều được hưởng những quyền này, không có sự phân biệt về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quốc tịch hoặc thành phần xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc các tình trạng khác dù của trẻ hay gia đình trẻ

Nguyên tắc 2:

Trẻ phải được chăm sóc đặc biệt, phải có cơ hội hoặc được tạo điều kiện, bằng luật hoặc các biện pháp khác, để giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội một cách bình thường và lành mạnh và trong những điều kiện tự do và tôn trọng nhân phẩm Trong việc soạn thảo các bộ

Trang 28

luật vì mục đích này, những quyền lợi tốt nhất của trẻ phải được xem xét một

mẹ của trẻ Xã hội và chính quyền có nhiệm vụ phải chăm sóc đặc biệt cho trẻ không có gia đình và cho những trẻ không có các phương tiện hỗ trợ đầy đủ Nhà nước được yêu cầu hỗ trợ hoặc trả tiền cho việc giúp đỡ những trẻ em trong các gia đình đông con

Nguyên tắc 7:

Trẻ em có quyền được hưởng giáo dục miễn phí và bắt buộc, ít nhất là bậc tiểu học Trẻ sẽ được nhận một nền giáo dục có thể phát huy nền văn hóa chung của mình, và giúp trẻ trên cơ sở có cơ hội bình đẳng phát triển khả

Trang 29

năng của mình, các nhận thức của mình, và ý thức trách nhiệm về đạo đức và

xã hội, và trở thành một thành viên có ích của xã hội

Tất cả vì trẻ em sẽ là nguyên tắc chỉ đạo cho những người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn trẻ: trách nhiệm đó trước hết là thuộc bố mẹ trẻ Trẻ sẽ phải có đủ cơ hội để vui chơi và giải trí, được định hướng theo cùng những mục đích giáo dục: xã hội và chính quyền phải cố gắng phát huy quyền này của trẻ

Nguyên tắc 10:

Trẻ em sẽ được bảo vệ khỏi những tập tục có thể tạo ra mọi hình thức phân biệt chủng tộc và tôn giáo Trẻ sẽ được nuôi dưỡng trong tinh thần hiểu biết, vị tha, hữu nghị giữa các dân tộc, hòa bình và tình anh em hữu ái và với một nhận thức đầy đủ rằng sức lực và tài năng của trẻ sẽ được cống hiến để phục vụ cho đồng bào mình

1.3.5 Côn ước của Liên hợp qu c về quyền trẻ em

Công ước của LHQ về QTE (phê chuẩn ngày 20/11/1989, có hiệu lực

từ ngày 2//9/1990) gồm 54 điều với gần 6.000 từ, chia làm 3 phần:

Trang 30

- P ần 1: 41 điều (Điều 1 đến Điều 41), với các nội dung: Định nghĩa

trẻ em; Các nguyên tắc chung; Các quyền cơ bản

- P ần 2: 4 điều (Điều 42 đến Điều 45) với các nội dung: Nhiệm vụ

truyền thông; Hệ thống giám sát, chỉ đạo

- P ần 3: 9 điều (Điều 46 đến Điều 54) với các nội dung về

vấn đề pháp lý

Nội dung Công ƣớc nói tới 4 nhóm quyền của trẻ em, bao gồm:

+ Quyền được sống còn

+ Quyền được phát triển

+ Quyền được bảo vệ

+ Quyền được tham gia

Trong đó:

1 Nhóm quyền đƣợc sống còn, bao gồm:

- Quyền được sống

- Quyền có họ tên, quốc tịch

- Quyền được biết cha mẹ và được cha mẹ chăm sóc

- Quyền được bảo đảm đến mức tối đa có thể được để sống còn và phát triển

2 Nhóm quyền đƣợc phát triển, bao gồm:

- Quyền được chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh

- Quyền được học hành, giáo dục, phát triển tài năng

- Quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi

- Quyền được tự do tín ngưỡng, tôn giáo

- Quyền được thu nhận nhiều nguồn thông tin, tư liệu có lợi về xã hội, văn hóa cho trẻ em

- Quyền được có mức sống đủ

Trang 31

3 Nhóm quyền đƣợc bảo vệ, bao gồm:

- Quyền được giữ gìn bản sắc dân tộc

- Quyền không bị buộc cách ly cha mẹ trái với ý kiến của cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ

- Quyền không chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tư

- Quyền được hưởng an toàn xã hội gồm bảo trợ xã hội và các biện pháp cần thiết khác

- Quyền được bảo vệ chống lại mọi hình thức lạm dụng, bóc lột về tình dục,

về kinh tế, bị bắt cóc, mua bán, phải lao động có hại cho sự phát triển của trẻ

- Quyền được bảo vệ chống lại việc sử sụng ma túy hay bị lôi kéo vào việc sản xuất, buôn bán ma túy

- Quyền được bảo vệ khỏi sự tra tấn, đối xử, trừng phạt độc ác, bị tước quyền tự do bất hợp pháp

- Quyền được bảo vệ không phải tham gia chiến sự khi chưa đủ 15 tuổi

4 Nhóm quyền đƣợc tham gia, bao gồm:

- Quyền được hình thành quan điểm riêng và tự do phát triển những quan điểm đó về các vấn đề có tác động đến trẻ em

- Quyền tự do bày tỏ ý kiến (không trái với pháp luật)

- Quyền tự do kết giao, hội họp tụ tập một cách hòa bình

Với nội dung trên, Công ước quốc tế về QTE được coi là văn kiện pháp

lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về QTE trong thời điểm hiện nay Ngoài

ra, còn có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến QTE được ban hành Đây là thành quả sau gần một thế kỷ đấu tranh liên tục của nhân loại nhằm cải thiện

Trang 32

nghiêm túc các QTE và luôn coi đây là một trong những nhiệm vụ cách mạng, chính trị cần được ưu tiên thực hiện trong chiến lược phát triển con người, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều này đã được khẳng định xuyên suốt trong Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 và 2016

Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

năm 2013 quy định: Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm QTE

1.3.7 Luật Trẻ em

Năm 1991, Luật BVCSGDTE được ban hành; năm 2004, Quốc hội thông qua Luật BVCSGDTE sửa đổi; năm 2016, Luật Trẻ em được chính thức ra đời và cùng các điều trong các bộ luật khác như Luật Phổ cập Giáo dục tiểu học, Luật Quốc tịch, Luật Hộ tịch, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật

Cư trú, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Người khuyết tật, Luật Trợ giúp pháp lý, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới có liên quan đến trẻ em đã tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các QTE, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo hướng tiếp cận dựa trên QTE

Luật Trẻ em năm 2016, được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 5/4/2016 (thay thế Luật BVCSGDTE năm 2004) và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/06/2017, gồm 7 chương, 106 điều và có những nội dung mới cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về tên gọi, tên Luật BVCSGDTE năm 2004 được đổi thành

Luật Trẻ em Việc thay đổi này đã phản ánh đầy đủ hơn nội dung và phạm vi của Luật về đối tượng đặc thù được quy định trong Luật

Thứ hai, về khái niệm, nguyên tắc thực hiện QTE và những hành vi bị

nghiêm cấm, Luật giải thích rõ hơn về 11 thuật ngữ trong Luật Trẻ em, bao

Trang 33

gồm bảo vệ trẻ em, phát triển toàn diện của trẻ em, chăm sóc thay thế; người chăm sóc trẻ em; xâm hại trẻ em, bạo lực trẻ em, bóc lột trẻ em; xâm hại tình dục trẻ em; bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; giám sát việc thực hiện QTE theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em

Ngoài các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được nêu trong Luật năm 2004, Luật Trẻ em quy định thêm các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em bị tổn hại nghiệm trọng về thể chất và tinh thần do bạo lực; trẻ em

bị bóc lột; trẻ em bị mua bán; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ hoặc không có người chăm sóc

Luật cũng quy định về việc lồng ghép vấn đề trẻ em khi xây dựng pháp luật, chính sách được quy định thành một nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, đồng thời cụ thể hóa thành trách nhiệm của các

cơ quan có liên quan thuộc Quốc hội, Chính phủ

Thứ ba, về các quyền và bổn phận của trẻ em, Luật quy định 25 nhóm

quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột lao động, không bị bạo lực, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt; quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý

vi phạm hành chính; quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang; quyền được đảm bảo an sinh xã hội; quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tin nan Ngoài ra, kế thừa Luật năm

2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới Trẻ em

có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em

Trang 34

Thứ tư, về việc bảo đảm thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật

quy định các chính sách cơ bản của Nhà nước để bảo đảm trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch và thông tin, truyền thông cho trẻ em Đây là căn cứ quan trọng để Nhà nước ban hành các chính sách cụ thể thực hiện đầy đủ các QTE phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

và giải quyết các vấn đề có liên quan đến trẻ em phát sinh trong thực tế

Thứ năm, các biện pháp bảo vệ trẻ em được quy định cụ thể từ phòng

ngừa, hỗ trợ đến can thiệp cùng với trách nhiệm thực hiện của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để bảo đảm trẻ em được an tòn, được hỗ trợ và cạn thiệp kịp thời khi có nguy cơ hoặc đang bị xâm hại Luật cũng quy định cụ thể các loại hình, điều kiện hoạt động, thẩm quyền thành lập, cấp đăng ký, đình chỉ, chấm dứt hoạt động đối với cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em Ngoài

ra, Luật còn quy định việc áp dụng các hình thức chăm sóc thay thế đối với trẻ em nhăm bảo đảm trẻ em được sống trong môi trường gia đình và được chăm sóc thay thế khi bị mất môi trường gia đình hoặc không thể cùng cha đẻ,

mẹ đẻ để vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em

Vấn đề bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính, Luật trẻ em quy định mang tính hệ thống hóa các nguyên tắc, biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên trong quá trình tố tụng và xử lý

vi phạm hành chính được quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành

Thứ sáu, về quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em, Luật

quy định phạm vi, hình thức trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em và các biện pháp bảo đảm sự tham gia của trẻ em trong gia đình cũng như bảo đảm

sự tham gia của trẻ em trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Đặc biệt, Luật Trẻ em quy định rõ tổ chức đại diện tiếng nói, nguyên vọng của trẻ em là Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và cũng là tổ chức giám sát việc thực hiện QTE theo ý kiến, nguyên vọng của trẻ em

Trang 35

Thứ bảy, về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình,

cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, Luật Trẻ em quy định cụ thể trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục trong việc bảo đảm thực hiện QTE Luật còn quy định rõ hơn về việc tổ chức phối hợp liên ngành giữa các cơ quan, tổ chức, giữa các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề trẻ em, thực hiện QTE

Tóm lại, Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam đã quy định khá đầy đủ, chi tiết và nhân văn, đảm bảo cho mọi trẻ em được thực thi các quyền của mình Nhiều điều khoản quy định tại Luật này tương ứng với các điều khoản được quy định tại Công ước quốc tế về QTE của LHQ

1.4 i niệm p ƣơng p p tiếp cận quyền

1.4.1 Phươn pháp tiếp cận quyền

Theo tài liệu dành cho cán bộ LHQ thì phương tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người là phương pháp tiếp cận trong đó dành sự quan tâm như nhau giữa một bên là nội dung hoạt động và bên kia là cách thức thực hiện các hoạt động đó Phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người khác biệt ở chỗ không chỉ quan tâm tới việc đạt được mục tiêu mà còn quan tâm thích đáng tới

quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó

Còn theo PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng (chủ biên) nhận định trong

cuốn “Giáo trình Báo chí điều tra”, NXB Lý luận chính trị, 2015: “Tiếp

cận dựa trên quyền là phương pháp báo chí truyền thông áp dụng quy định pháp lý - chuẩn mực đạo đức - trách nhiệm xã hội của nhà báo điều tra với các tiêu chuẩn phổ quát, mang tính toàn cầu” [16, tr 97] “Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người đã được ứng dụng ở nhiều tổ chức quốc

tế và các quốc gia Từ năm 2000 tới nay, trong khuôn khổ của dự án hợp tác “Báo chí với trẻ em”, Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 36

đã bước đầu nghiên cứu kỹ năng viết báo tiếp cận quyền con người , ứng dụng trong đào tạo hàng nghìn lượt nhà báo, nhà truyền thông viết về đề tài trẻ em” [9, tr 98]

Trên tạp chí Lý luận và truyền thông, số tháng 2/2016, PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng viết “Ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền con người có khả năng đem đến những chuẩn mực toàn cầu khi làm báo hiện đại Đây là một trong những điều kiện mang tính nền tảng để nhà báo hiểu sâu về luật quốc tế

và quốc gia về nhân quyền để ứng dụng vào nghề nghiệp một cách hiệu quả”

Điều này chứng tỏ, ứng dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền khi viết về các chủ thể là một phương pháp báo chí đúng đắn, khách quan và khoa học, cần được nhân rộng và thực hiện một cách triệt để nâng cao chất lượng các bài báo

1.4.2 Phươn pháp tiếp cận quyền trẻ em

Theo TS Nguyễn Ngọc Oanh trong cuốn “Nhà báo với trẻ em - Kiến

thức và kỹ năng (sách chuyên khảo)”, NXB Thông tấn, 2015: “Vấn đề nhận

thức về trẻ em chưa được tiếp cận một cách đầy đủ Cách tiếp cận trẻ em dựa trên nhu cầu khiến cho nhiều cơ quan có cách nghĩ: Làm được đến đâu hay đến đó Cần phải thay đổi nhận thức và tiếp cận vấn đề trẻ em dựa trên QTE Nghĩa là trẻ em có quyền được tiếp nhận thông tin, hưởng thụ các sản phẩm báo chí và tham gia nói lên tiếng nói của mình” [15, tr 173]

Công ước quốc tế về QTE do Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 20/11/1989 là một văn kiện quyền con người được nhiều nước phê chuẩn nhất trên thế giới Công ước quy định: trẻ em (dưới 18 tuổi), không phân biệt giới tính, nguồn gốc, tôn giáo, bị khuyết tật hay không đều cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt vì trẻ em thường dễ bị tổn thương nhất Khi phê chuẩn Công ước quốc tế QTE, có nghĩa là Chính phủ các nước đồng ý thực hiện những cam kết này

Trang 37

Kể từ khi phê chuẩn Công ước, Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi và ban hành một số luật và chính sách để thực hiện Công ước ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề truyền thông về QTE trên báo chí, vấn đề tiếp cận trẻ em dựa trên quyền của trẻ em trên báo chí nói chung và báo in nói riêng còn chưa thực sự hiệu quả

Phân tích thực trạng hoạt động báo chí với trẻ em trên các báo in ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy, các bài viết vẫn chủ yếu tiếp cận trẻ em dựa theo nhu cầu chứ chưa chuyển sang tiếp cận dựa trên QTE Các nhà báo chưa thông tin đầy đủ cho trẻ em về mọi lĩnh vực của đời sống theo các quyền của trẻ em đã được quy định trong Công ước quốc tế về QTE

“Những hiểu biết và ứng dụng QTE phải được thực hiện theo những yêu cầu và nguyên tắc xác định của phương thức tiếp cận QTE, chẳng hạn như chọn góc độ khi phân tích sự kiện, đưa hình ảnh trẻ em, cách đặt tiêu đề, hay viết lời dẫn…” - TS Nguyễn Ngọc Oanh khẳng định

Tóm lại, ứng dụng phương pháp tiếp cận quyền trẻ em trên báo chí nghĩa là trong các bài viết của mình, phóng viên phải tôn trọng các quyền của trẻ em, sẵn sàng lên tiếng bảo vệ trẻ em khi một trong các quyền của trẻ em bị

vi phạm; trẻ em có quyền được tiếp nhận thông tin, hưởng thụ các sản phẩm báo chí và tham gia nói lên tiếng nói của mình

1.4.3 Sự khác biệt giữa phươn pháp tiếp cận quyền và phươn pháp tiếp cận nhu cầu

Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền là phương pháp tiếp cận trong đó dành sự quan tâm như nhau giữa một bên là nội dung hoạt động và bên kia là cách thức thực hiện các hoạt động đó Phương pháp này chú trọng quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó Đây là một phương pháp tiếp cận nhân văn và khoa học

“Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền là phương pháp tiếp cận, giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở pháp lý và đạo đức về các quyền con người,

Trang 38

trong đó tập trung vào thúc đẩy mối quan hệ giữa những chủ thể chịu trách nhiệm đáp ứng quyền với chủ thể mang quyền Phương pháp tiếp cận quyền con người khẳng định nguyên tắc: mọi cá nhân, tổ chức, quốc gia đều phải tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền

Khác với phương pháp tiếp cận dựa trên nhu cầu (xác định các nhu cầu cơ bản của người hưởng lợi và sự hỗ trợ các sáng kiến nhằm cải thiện việc cung cấp các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của các cá nhân, nhóm người yếu thế…), phương pháp tiếp cận dựa trên quyền lựa chọn các quyền cần được đáp ứng, xác định rõ và tác động nhằm tăng cường năng lực “đòi quyền” của chủ thể mang quyền, chỉ rõ và quy trách nhiệm cụ thể cho các chủ thể chịu trách nhiệm đáp ứng quyền” [16, tr 99] - Theo “Giáo trình Báo

chí điều tra”, NXB Lý luận chính trị, 2015

1.4.4 Quy trình ứng dụn phươn pháp tiếp cận QTE trên báo chí

Ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE trên báo chí nhằm đảm bảo các QTE được thực hiện một cách đầy đủ Trẻ em được tôn trọng và bình đẳng như mọi đối tượng báo chí khác

Do đó, nhà báo và các cơ quan báo chí bằng các bài viết phải có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các QTE và phát hiện các vi phạm về QTE Muốn làm được điều này, các phóng viên phải nắm rõ các luật liên quan đến QTE như Công ước quốc tế về QTE, Luật Trẻ em và các luật liên quan khác, đồng thời tuân thủ đạo đức nghề nghiệp nhà báo

Khi viết về trẻ em, phóng viên phải xuất phát từ mục tiêu cao nhất là bảo đảm các QTE được thực hiện một cách đầy đủ nhất, cần đăng tải đầy đủ, chân thật ý kiến, nguyện vọng của các em, chỉ đăng lời phát biểu cũng như các hình ảnh về trẻ em khi được các em đồng ý

Các phóng viên báo chí nói chung và báo in nói riêng khi viết về trẻ em nếu vận dụng phương pháp tiếp cận QTE một cách khoa học thì các bài viết

sẽ khách quan, chân thực, gần gũi với trẻ em hơn và giàu tính nhân văn hơn

Trang 39

Tiểu kết Chươn 1

Trong chương đầu tiên này, tác giả đã đưa ra một số khái niệm, lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu như: báo chí, báo in và đặc điểm của báo in, báo và tạp chí, trẻ em, quyền, QTE, Tuyên bố của LHQ về QTE, Công ước quốc tế về QTE, những quan điểm, luật pháp, chính sách, của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, báo chí với trẻ em, phương pháp tiếp cận dựa trên quyền, phương pháp tiếp cận QTE Đây là những kiến thức cơ bản, kiến thức nền để tác giả làm cơ sở khảo sát, đánh giá về chất lượng, hiệu quả việc “Ứng dụng phương pháp tiếp cận QTE trên báo in Việt Nam hiện nay, khảo sát các báo: Tuổi trẻ, Nhi đồng, và tạp chí Gia đình và Trẻ em, năm 2015” trong chương tiếp theo

Một trong những nội dung quan trọng nhất của chương này là đưa ra được các vấn đề liên quan giữa báo chí và trẻ em, phương pháp tiếp cận và QTE trên báo in Việt Nam Đây là kim chỉ nam cung cấp các kiến thức căn bản và cần thiết cho những nhà báo hoạt động trong lĩnh vực trẻ em

“Trẻ em, do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực cần có sự bảo vệ

và chăm sóc đặc biệt… Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ điều tốt đẹp nhất” Do đó, báo chí nói chung và báo in nói riêng có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tiếp cận và khai thác các đề tài viết về trẻ em

Trang 40

C ương 2 THỰC TRẠNG ỨNG ỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QUYỀN TRẺ EMTRÊN CÁC ÁO: TUỔI TRẺ, NHI ĐỒNG, TẠP CH

GI ĐÌNH VÀ TRẺ EM, N M 2015 2.1 Tổng quan về c c cơ quan b o in trong diện k ảo s t

2.1.1 Báo Tuổi trẻ

Báo Tuổi trẻ TP.HCM (mọi người thường quen gọi là báo Tuổi trẻ) là

cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh TP.HCM

Hiện tại, Báo Tuổi trẻ đã phát triển thành một tổ hợp truyền thông đa phương tiện, gồm các ấn bản: nhật báo Tuổi trẻ, tuần báo Tuổi trẻ Cuối tuần, bán nguyệt san Tuổi trẻ Cười và Tuổi trẻ Online, báo điện tử tiếng Anh Tuoi Tre News, Truyền hình Tuổi trẻ

2.1.1.1 Các cột mốc phát triển

Báo Tuổi trẻ ra đời chính thức ngày 2/9/1975 - Ngày Quốc khánh đầu tiên của người dân Sài Gòn sau khi giải phóng, thống nhất đất nước Số báo Tuổi trẻ đầu tiên phát hành với số lượng khoảng 5.000 bản/tuần Khi đó, Tuổi trẻ phát hành tuần 1 số

Trụ sở đầu tiên của báo Tuổi trẻ tại 55 Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TP.HCM) Tiền thân của tờ báo này bắt đầu từ những tờ truyền đơn và bản tin in roneo của sinh viên, học sinh Sài Gòn trong phong trào kháng chiến chống Mỹ

Đến tháng 7/1981, Tuổi trẻ phát hành 2 kỳ/tuần (vào thứ tư và thứ bảy) với số lượng 30.000 bản/kỳ

Ngày 10/8/1982, Tuổi trẻ tăng lên 3 kỳ/tuần (thứ ba, thứ năm, thứ bảy) Ngày 16/1/1983, Tuổi trẻ Chủ nhật ra đời với số lượng phát hành khoảng 20.000 tờ mỗi kỳ 7 năm sau, Tuổi trẻ Chủ nhật đạt kỷ lục 131.000 tờ trong năm 1990

Ngày đăng: 24/11/2021, 13:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w