1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) đề tài hãy sử dụng phương pháp nghiên cứu trong tâm bệnh học để mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ từ đó đề xuất hướng tác động phù hợp đối với trẻ

44 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hãy sử dụng phương pháp nghiên cứu trong tâm bệnh học để mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ từ đó đề xuất hướng tác động phù hợp đối với trẻ
Người hướng dẫn Th.S. Lại Thị Thu Hường
Trường học Trường đại học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Tâm Bệnh Học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 98,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (5)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (6)
  • 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu (6)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (6)
    • 3.2. Khách thể nghiên cứu (6)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (6)
  • 5. Giới hạn nghiên cứu (6)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (6)
  • 7. Cấu trúc bài tiểu luận (6)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÂM LÍ TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ (8)
    • 1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề (8)
    • 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài (9)
      • 1.2.1. Thuật ngữ trẻ CPTTT (9)
      • 1.2.2. Những cách nhìn nhận về CPTTT (10)
        • 1.2.2.1. Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ (10)
        • 1.2.2.2. Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội (11)
        • 1.2.2.3. Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây ra CPTTT (11)
        • 1.2.2.4. Khái niệm CPTTT theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối nhiễu tâm thần (12)
        • 1.2.2.5. Khái niệm CPTTT theo Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) năm 1992 (12)
    • 1.3. Phân loại mức độ CPTTT (14)
      • 1.3.1. Trẻ CPTTT mức độ nhẹ (14)
      • 1.3.2. Trẻ CPTTT ở mức trung bình (14)
      • 1.3.3. Trẻ CPTTT mức độ nặng (15)
      • 1.3.4. Trẻ CPTTT mức rất nặng (16)
    • 1.4. Nguyên nhân gây CPTTT (16)
      • 1.4.1. Nguyên nhân trước khi sinh (16)
      • 1.4.2. Những nguyên nhân trong khi sinh (17)
      • 1.4.3. Những nguyên nhân sau khi sinh (17)
      • 1.4.4. Các nguyên nhân môi trường (18)
    • 1.5. Một số vấn đề thể chất và tâm thần liên quan đến CPTTT (18)
      • 1.5.1. Những dạng khuyết tật thường xảy ra đồng thời với CPTTT (18)
        • 1.5.1.1. Khiếm thính (18)
        • 1.5.1.2. Khiếm thị (18)
        • 1.5.1.3. Khó khăn về vận động (18)
      • 1.5.2. Những bệnh thường thấy ở trẻ CPTTT (19)
        • 1.5.2.1. Bại não (19)
        • 1.5.2.2. Động kinh (20)
      • 1.5.3. Các dạng rối loạn tâm thần thường xảy ra với CPTTT (20)
        • 1.5.3.1. Tự kỷ (20)
        • 1.5.3.2. Rối loạn quá hiếu động/giảm chú ý (23)
    • 1.6. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT (23)
      • 1.6.1. Đặc trưng của trẻ CPTTT trong những năm đầu tiên (23)
      • 1.6.2. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT (25)
        • 1.6.2.1. Đặc điểm cảm giác, tri giác (25)
        • 1.6.2.2. Đặc điểm chú ý (28)
        • 1.6.2.3. Đặc điểm trí nhớ (28)
        • 1.6.2.4. Đặc điểm tư duy (29)
        • 1.6.2.5. Đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp (30)
        • 1.6.2.6. Đặc điểm tình cảm (32)
        • 1.6.2.7. Đặc điểm tính cách (33)
        • 1.6.2.8. Đặc điểm hành vi (33)
        • 1.6.2.9. Nhu cầu của trẻ CPTTT (33)
  • Chương II. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU CHO TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ (34)
    • 2.1. Thực trạng chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ (34)
    • 2.2. Hướng tác động đối với trẻ CPTTT (36)
      • 2.2.1. Các hướng tác động theo phân loại trẻ CPTTT (36)
        • 2.2.2.1. Những nguyên tắc giáo dục cơ bản đối với trẻ CPTTT (37)
        • 2.2.2.2. Những yêu cầu cần có của chương trình dạy trẻ CPTTT (37)
        • 2.2.2.3. Các phương pháp giáo dục trẻ CPTTT (37)
    • 2.3. Can thiệp cho trẻ CPTTT trên các phương diện đặc điểm tâm lý (38)
      • 2.3.1. Về cảm giác, tri giác (38)
      • 2.3.2. Về chú ý (38)
      • 2.3.3. Về trí nhớ (38)
      • 2.3.4. Về tư duy (39)
      • 2.3.5. Về ngôn ngữ (39)
      • 2.3.6. Tình cảm (40)
      • 2.3.7. Về tính cách (40)
      • 2.3.8. Về hành vi (41)
      • 2.3.9. Nhu cầu (41)
    • 2.4. Những việc phụ huynh và giáo viên cần làm trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ CPTTT (41)
      • 2.4.1. Đối với phụ huynh (41)
      • 2.4.2. Đối với giáo viên (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (44)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng mô tả chân dung tâm lý của trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ đã chỉ ra nhu cầu cần thiết về các biện pháp trị liệu hiệu quả Đề xuất một số phương pháp can thiệp phù hợp nhằm hỗ trợ sự phát triển của trẻ tại trường mầm non, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc trẻ em.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp trị liệu phù hợp hiệu quả cho trẻ châm phát triển trí tuệ của giáo viên ở trường mầm non.

Khách thể nghiên cứu

Quá trình mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

- Nghiên cứu thực trạng tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

- Đề xuất môt số biện pháp trị liệu phù hợp hiệu quả cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ở trường mầm non.

Giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ và đề tài đã đề ra, tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu như nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn và thống kê toán học trong lĩnh vực giáo dục.

Cấu trúc bài tiểu luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

Chương 2: Thực trạng và một số biện pháp trị liệu phù hợp cho trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÂM LÍ TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ

Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trước thế kỷ 19, không có quan điểm khoa học nào về sự chậm phát triển trí tuệ Tuy nhiên, từ khi Itard xuất bản cuốn sách "Del'education d'un homme sauvage" vào năm 1801, xã hội đã chú trọng hơn đến việc cải thiện tình trạng của trẻ chậm phát triển trí tuệ Itard tin rằng giáo dục có thể giúp khắc phục phần nào sự chậm phát triển này Học trò của ông, Seguin, đã mở những ngôi trường đầu tiên cho trẻ chậm phát triển trí tuệ tại Mỹ, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc quan tâm đến sự phát triển của trẻ em này.

Phong trào hướng về sự phát triển đã trải qua một thời kỳ thụt lùi vào cuối thế kỷ

Những phát hiện trong ngành thần kinh học cho thấy tình trạng chậm phát triển trí tuệ thường liên quan đến tổn thương thuỳ não, dẫn đến quan niệm rằng việc điều trị cho những người này là vô ích Lý thuyết này đã gây ra những tác động tiêu cực, khiến nhiều người chậm phát triển trí tuệ sống tách biệt trong các trung tâm cư trú lớn Tuy nhiên, từ những năm 1970, quan điểm về chậm phát triển trí tuệ đã thay đổi, nhấn mạnh đến phẩm chất con người và nhu cầu xã hội của họ Người ta bắt đầu khuyến khích những người chậm phát triển trí tuệ sống trong môi trường bình thường, đánh dấu thời kỳ của sự bình thường hoá và hội nhập.

Quan điểm xã hội về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (CPTTT) ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục cho nhóm trẻ này, thể hiện qua cảm xúc, tư tưởng và thái độ của cộng đồng Quan điểm này có thể được bộc lộ qua chính sách giáo dục của các trường học và chính sách của chính phủ Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về trẻ CPTTT thông qua các văn bản pháp luật và việc phê chuẩn các công ước quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc 1989 về quyền trẻ em, được thông qua vào ngày 28 tháng 2 năm 1990.

Trong Công ước này, chúng ta có thể thấy tuyên bố sau:

Trẻ khuyết tật có quyền được nhận sự chăm sóc đặc biệt, giáo dục và đào tạo để phát triển khả năng tự lập, tham gia vào cuộc sống đầy đủ và hòa nhập xã hội, đồng thời đạt được mức sống xứng đáng và phù hợp với đạo đức.

Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em nhấn mạnh quyền tự chủ và hòa nhập xã hội của trẻ khuyết tật, bao gồm cả trẻ có khuyết tật trí tuệ hoặc thể chất Giáo dục được coi là một quyền cơ bản của tất cả trẻ em, và trẻ khuyết tật cũng cần được tiếp cận giáo dục Để đảm bảo quyền này được thực hiện, trẻ khuyết tật cần được nhìn nhận là có khả năng phát triển và học tập Theo lý thuyết phát triển động, trẻ có khuyết tật trí tuệ trải qua các giai đoạn phát triển tương tự như trẻ bình thường, mặc dù thời gian cho mỗi giai đoạn có thể kéo dài hơn và quá trình phát triển có thể dừng lại sớm hơn.

Cần lưu ý rằng có những khuyết tật bẩm sinh hoặc mắc phải có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ Lý thuyết phát triển động nhấn mạnh việc thiết kế các chương trình giáo dục cho trẻ CPTTT, dựa trên nguyên tắc rằng trẻ có thể học hỏi và phát triển thông qua việc thể hiện hành vi mới hoặc mở rộng những hành vi hiện có, bất chấp những giới hạn mà chúng gặp phải.

Các khái niệm cơ bản của đề tài

Trước đây ở nước ta, đặc biệt là ở phía Bắc những trẻ CPTTT thường được gọi là

“trẻ chậm khôn”, thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em (NT) của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Thuật ngữ “chậm phát triển tâm thần” hay “Mental Retardation” trong tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong nhiều tài liệu Hiệp hội chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) cùng với các tác giả của cuốn Sổ tay thống kê – chẩn đoán những rối nhiễu tâm thần IV (DSM - IV) cũng áp dụng thuật ngữ này.

Hiện nay, xu hướng sử dụng các thuật ngữ ít mang tính kì thị hơn cho trẻ em khuyết tật đang gia tăng, như trẻ ngoại lệ, trẻ có khó khăn về học tập, trẻ có khuyết tật phát triển và trẻ có nhu cầu đặc biệt Những thuật ngữ này được áp dụng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cụm từ như “chậm phát triển trí tuệ” hay “chậm phát triển tâm thần”, vì chúng có thể khiến cha mẹ cảm thấy buồn, trẻ dễ bị bạn bè trêu chọc và giáo viên ít tin tưởng vào khả năng học tập của trẻ.

Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều lý giải hợp lý về các khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, một số thuật ngữ như “trẻ giảm khả năng” lại quá mơ hồ và không cụ thể.

“trẻ giảm khả năng” không chỉ có trẻ CPTTT mà còn có các trẻ khuyết tật khác.

Nhiều người chưa từng tiếp xúc với người khuyết tật thường có quan niệm sai lầm rằng họ là những cá thể khác biệt Thực tế, người khuyết tật vẫn sống hòa nhập trong xã hội với những người bình thường Việc phân loại người khuyết tật chỉ là một công việc mang tính chuyên môn và không nên tạo ra ranh giới ngăn cách giữa họ và cộng đồng.

Người CPTTT và người không CPTTT có nhiều điểm tương đồng về suy nghĩ, cảm xúc và nguyện vọng Tuy nhiên, việc cho rằng họ hoàn toàn giống nhau là một quan điểm cực đoan Mặc dù có sự tương đồng, người CPTTT vẫn có những khác biệt nhất định so với phần lớn mọi người, điều này cần được nghiên cứu và giải thích kỹ lưỡng.

Trong nhóm người CPTTT, cần thận trọng và không nên kết luận đơn giản rằng tất cả đều giống nhau, vì thực tế, họ có sự khác biệt về mức độ CPTTT.

Trên thế giới hiện nay có hai thuật ngữ được sử dụng phổ biến là“Metal

Retaration” do Hiệp hội chậm phát triển trí tuệ Mỹ lựa chọn và “Intelectual

Disability” do tổ chức nghiên cứu khoa học quốc tế về CPTTT (IASSID) lựa chọn.

1.2.2 Những cách nhìn nhận về CPTTT

1.2.2.1 Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ

Afred Simon và Theodore Simon, hai tác giả người Pháp, đã phát minh ra trắc nghiệm trí tuệ vào đầu thế kỷ XX nhằm phân biệt trẻ em học kém bình thường và trẻ em học kém do các vấn đề tâm lý Trắc nghiệm này nhanh chóng thu hút sự chú ý của các nhà tâm lý học Mỹ và trở thành nền tảng cho nhiều trắc nghiệm trí tuệ khác.

Kể từ khi trắc nghiệm trí tuệ được giới thiệu, các chuyên gia đã đồng thuận sử dụng phương pháp này để xác định Chỉ số Phát triển Trí tuệ (CPTTT) Họ cho rằng những cá nhân có chỉ số trí tuệ dưới 70 được xem là thuộc nhóm CPTTT.

Sử dụng trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán CPTTT mang lại nhiều lợi ích như tính khách quan, độ tin cậy cao và dễ thực hiện, đặc biệt trong việc đánh giá và phân loại nhanh Tuy nhiên, phương pháp này cũng tồn tại một số hạn chế nhất định.

- Chỉ số trí tuệ không phải là đơn vị đo lường duy nhất về tiềm năng trí tuệ của con người.

Kết quả chẩn đoán từ trắc nghiệm trí tuệ không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác khả năng thích ứng của cá nhân trong thực tế Nhiều trẻ em có chỉ số trí tuệ thấp vẫn có thể thích ứng dễ dàng với môi trường xung quanh.

Nhược điểm chính khi áp dụng phương pháp trắc nghiệm trí tuệ để xác định trẻ CPTTT là hiệu quả thấp đối với trẻ em nghèo và trẻ em từ các nền văn hóa khác nhau Do đó, để có được đánh giá chính xác và toàn diện, cần xem xét các yếu tố như nguồn gốc văn hóa, hoàn cảnh địa lý, và tình hình kinh tế - xã hội.

1.2.2.2 Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội

Theo Benda – người có quan điểm dựa trên khả năng thích ứng của cá nhân:

“Một người CPTTT là người không có khả năng điều khiển bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng”.

Khái niệm này cho rằng những người CPTTT sẽ không đạt được cuộc sống độc lập trong quá trình phát triển và trưởng thành Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng tồn tại một số nhược điểm.

Một cá nhân có thể được xem là có khó khăn trong học tập (CPTTT) trong một môi trường nhất định nhưng lại không gặp vấn đề tương tự ở môi trường khác Chẳng hạn, một người có thể cảm thấy học Toán hay Tiếng Việt khó khăn, nhưng lại thích nghi tốt khi sống ở nông thôn hoặc làm công việc đồng áng.

Việc xác định trẻ chưa thích ứng là một thách thức, do các chuyên gia vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về khái niệm trẻ thích ứng Hiện tại, nhiều chuyên gia đang phát triển các thang đo thích ứng, bao gồm cả các trắc nghiệm trí tuệ, nhằm đánh giá khả năng này.

Khả năng thích ứng kém không chỉ xuất phát từ CPTTT mà còn do nhiều nguyên nhân khác, dẫn đến những thiếu hụt về hành vi thích ứng Chẳng hạn, sự hụt hẫng về tình cảm có thể tác động tiêu cực đến khả năng độc lập của nhiều người.

1.2.2.3 Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây ra CPTTT

Theo quan điểm dựa vào nguyên nhân gây ra CPTTT, Luria cho rằng: “Trẻ

Phân loại mức độ CPTTT

Theo bảng phân loại DSM – IV có 4 mức độ CPTTT như sau:

1 CPTTT mức độ nhẹ: chỉ số IQ từ 50 – 55 đến xấp xỉ 70

2 CPTTT mức độ trung bình: chỉ số IQ từ 35 – 40 đến 50 – 55

3 CPTTT mức độ nặng: chỉ số IQ từ 20 -25 đến 35 – 40.

4 CPTTT mức độ rất nặng: chỉ số IQ dưới 20 – 25.

1.3.1 Trẻ CPTTT mức độ nhẹ

Trẻ CPTTT mức độ nhẹ có thể đạt tuổi trí tuệ từ 7 – 12 (IQ từ 50 – 55 đến khoảng

Theo Piaget, giai đoạn thao tác cụ thể là thời kỳ mà trẻ em giải quyết vấn đề thông qua tư duy logic, mặc dù chưa thể tư duy một cách trừu tượng Giai đoạn này diễn ra trước khi trẻ đến trường.

Trẻ em từ 0 đến 5 tuổi phát triển kỹ năng giao tiếp và xã hội, mặc dù có thể gặp một số khuyết tật nhỏ trong vận động cảm giác Đến cuối thời kỳ thanh thiếu niên, chúng có khả năng đạt được kỹ năng học tập tương đương với lớp 6 và cần được dạy các môn cơ bản tại trường Trẻ CPTTT nhẹ có thể thể hiện bản thân qua việc chọn bạn bè, cách ăn mặc và tham gia các hoạt động giải trí Khi trưởng thành, họ thường đạt được kỹ năng xã hội và nghề nghiệp tối thiểu để tự hỗ trợ bản thân, nhưng vẫn cần sự giám sát và hỗ trợ, đặc biệt khi đối mặt với áp lực kinh tế hoặc tình cảm Với sự trợ giúp phù hợp, người lớn CPTTT có thể sống độc lập trong cộng đồng hoặc tại những nơi có giám sát.

1.3.2 Trẻ CPTTT ở mức trung bình

Trẻ CPTTT ở mức trung bình có thể đạt tuổi trí tuệ từ 4 – 7 với IQ từ 35 - 55, theo Piaget, ở giai đoạn tiền tư duy logic Chúng xây dựng khái niệm dựa vào kinh nghiệm và chủ yếu quan tâm đến trải nghiệm trực tiếp Trẻ thường giải quyết vấn đề bằng nguyên tắc thử và sai và có kỹ năng giao tiếp trong những năm đầu đời Khi lớn lên, trẻ có khả năng đưa ra quyết định nhưng cần sự hỗ trợ từ người lớn, thông qua việc chỉ cho chúng các lựa chọn và cùng nhau khám phá kết quả Người lớn nên cởi mở với ý kiến của trẻ và sẵn sàng điều chỉnh nguyên tắc để đáp ứng nhu cầu của chúng Quan trọng là trẻ cảm thấy có quyền hạn hơn trong cuộc sống và có thể thu được kết quả từ việc dạy và hướng dẫn các kỹ năng nghề và xã hội.

Trẻ em có thể chịu trách nhiệm với các nhiệm vụ cụ thể và trải nghiệm niềm vui khi thành công cũng như nỗi thất bại Nỗi thất bại có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của chúng Trẻ CPTTT trung bình có khả năng học đi lại độc lập trong những nơi quen thuộc Trong giai đoạn thanh thiếu niên, việc nhận thức về các quy tắc xã hội có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến mối quan hệ bạn bè Khi trưởng thành, nhiều trẻ có thể thực hiện các công việc đơn giản dưới sự giám sát tại các xưởng làm việc hoặc trong các hoạt động lao động chung như lắp ráp và đóng gói Chúng thích nghi tốt với cuộc sống cộng đồng, thường ở những nơi có sự giám sát.

1.3.3 Trẻ CPTTT mức độ nặng

Trẻ CPTTT mức độ nặng sẽ đạt tuổi trí tuệ giữa 2 và 4 (IQ từ 20 – 25 đến 35 –

Theo lý thuyết của Piaget, trẻ em CPTTT nặng ở giai đoạn tiền thao tác thường phát triển ngôn ngữ rất hạn chế, giao tiếp đơn giản và tư duy liên kết dựa trên trình tự hành động đã được dạy Chúng quen với những chuỗi hành động cụ thể và có thể gặp khó khăn khi có sự gián đoạn trong chuỗi đó, dẫn đến cảm giác hoảng sợ khi đối diện với tình huống mới Trẻ CPTTT nặng có thể phát triển tốt trong môi trường có tổ chức và quy tắc ổn định, nhưng cần tránh sự đơn điệu để không gây cứng nhắc Sự đa dạng trong trải nghiệm giúp trẻ mở rộng hiểu biết Mặc dù trẻ có thể phân biệt bản thân với người khác, nhưng chúng vẫn giữ thái độ coi bản thân là trung tâm và gặp khó khăn trong việc đặt mình vào vị trí của người khác Trẻ có thể được huấn luyện các kỹ năng tự chăm sóc cơ bản và tiếp thu một cách hạn chế từ các môn học tiền học đường Khi lớn lên, chúng có thể thực hiện những kỹ năng đơn giản trong môi trường giám sát chặt chẽ và thích nghi tốt với cuộc sống cộng đồng, trừ khi có những khuyết tật cần chăm sóc đặc biệt.

1.3.4 Trẻ CPTTT mức rất nặng

Trẻ em mắc chứng chậm phát triển trí tuệ (CPTTT) mức rất nặng thường có chỉ số IQ dưới 20-25 và đạt tuổi trí tuệ từ 0 đến 2 tuổi Hầu hết các trẻ này đều gặp vấn đề về thần kinh, dẫn đến những khuyết tật nghiêm trọng trong vận động, nghe và nhìn, và nhiều trẻ còn bị động kinh Theo lý thuyết của Piaget, sự phát triển của trẻ ở giai đoạn cảm giác – vận động cho thấy nhận thức của trẻ chỉ dựa vào những trải nghiệm cảm giác trực tiếp Trẻ dần hình thành khả năng liên kết các kinh nghiệm thông qua sự lặp lại, như liên hệ giữa sự xuất hiện của người chăm sóc và việc được cho ăn Trẻ CPTTT rất nặng có xu hướng khám phá môi trường thông qua các trò chơi phối hợp và trò chơi thể hiện chức năng, như chơi với đồ vật bằng cách sờ, ném hoặc lái xe đồ chơi Sự phát triển nhận thức về sự tồn tại của đồ vật sẽ diễn ra khi trẻ trưởng thành hơn Đặc biệt, trẻ phụ thuộc vào sự giúp đỡ và tương tác của người khác trong quá trình phát triển, và môi trường có tổ chức cao với sự giám sát liên tục sẽ hỗ trợ tối đa cho sự phát triển của trẻ.

Sự phát triển vận động, kỹ năng giao tiếp và khả năng tự lập của trẻ có thể được nâng cao thông qua hướng dẫn và luyện tập phù hợp Một số trẻ có thể hoàn thành các nhiệm vụ đơn giản trong môi trường được giám sát chặt chẽ.

Nguyên nhân gây CPTTT

1.4.1 Nguyên nhân trước khi sinh

Những yếu tố nội sinh:

Lỗi nhiễm sắc thể là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các hội chứng như Down, Turner và Cri-du-chat, dẫn đến các rối loạn phát triển thể chất và trí tuệ Những trẻ em mắc các hội chứng này thường có thể nhận diện được những rối loạn bên ngoài bằng mắt thường.

- Lỗi gen: Hội chứng PKU, san filippo, chứng xơ cứng dạng củ, gẫy nhiễm sắc thể, Rett, William Beuren, Angelman, Prader Willy.

- Rối loạn nhiều yếu tố: nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch màng não, tật đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp.

Các yếu tố ngoại sinh:

- Do lây nhiễm khi bà mẹ mang thai: Sởi Rubella – sởi Đức, nhiễm toxoplasma vi-rút cự bào, giang mai, HIV,…

Nhiễm độc có thể xảy ra do bà mẹ sử dụng một số loại y dược như thuốc chống động kinh, rượu, chụp tia X, chất độc màu da cam thế hệ thứ hai và kháng thể RH.

- Do suy dinh dưỡng ở người mẹ, thiếu I - ốt trong thức ăn hoặc nước uống.

1.4.2 Những nguyên nhân trong khi sinh

- Thiếu oxy ở trẻ: do sinh quá lâu, do nhau thai, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh.

- Tổn thương trong lúc sinh: tổn thương não do mẹ đẻ khó hoặc do dụng cụ y tế hỗ trợ khi sinh (do dùng forceps để kéo đầu trẻ).

- Viêm nhiễm: Vi rút Herpes, giang mai.

- Đẻ non hoặc thiếu trọng lượng: thời gian mang thai của bà mẹ đủ nhưng trọng lượng của đứa trẻ lại thiếu.

1.4.3 Những nguyên nhân sau khi sinh

- Viêm nhiễm: viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thủy đậu, viêm phổi.

- Tổn thương não: do chấn thương ở đầu, do ngạt hoặc tổn thương do các bệnh u não hay do tác động của chỉnh trị: phẫu thuật, dùng tia phóng xạ,…

- Nhiễm độc: chẳng hạn như nhiễm độc chì.

- Suy dinh dưỡng, bị lạm dụng, kích thích dưới ngưỡng hoặc bị bỏ rơi.

Một số hội chứng như rối loạn nhiễm sắc thể, lây nhiễm hoặc tổn thương có tính ổn định, không lây lan hoặc phát triển.

Một số hội chứng phát triển có thể gây ra hiện tượng dị biến trong quá trình phát triển của trẻ, dẫn đến việc sự phát triển này bị ngưng lại hoặc suy giảm Điều này thường xảy ra do các rối loạn chuyển hóa bẩm sinh như PKU, San Filippo và Rett.

+ Những vấn đề khác chẳng hạn như động kinh và liệt cứng có thể làm cho tật của trẻ nặng thêm.

1.4.4 Các nguyên nhân môi trường

Phát hiện nguyên nhân gây tật CPTTT là một nhiệm vụ khó khăn, vì CPTTT thường xuất phát từ sự tác động phức tạp của nhiều yếu tố khác nhau.

- Những yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đứa trẻ là:

Thiếu chăm sóc y tế và thể chất đầy đủ, bao gồm dinh dưỡng kém và suy dinh dưỡng, có thể dẫn đến suy giảm chức năng não Ngoài ra, việc không tiêm phòng đầy đủ cũng góp phần làm tăng nguy cơ sức khỏe.

Thiếu hụt về tâm lý xã hội có thể xuất phát từ việc thiếu sự chăm sóc nhạy cảm, không nhận được khuyến khích cần thiết, hoặc gặp phải các khiếm khuyết về giác quan Ngoài ra, việc bị kích thích quá mạnh, bị bỏ rơi hay lạm dụng cũng góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng này.

+ Trong gia đình việc sử dụng ngôn ngữ bị hạn chế, sử dụng những câu ngắn hoặc những câu có vốn từ vựng bị giới hạn.

+ Ít có cơ hội đến trường.

Cuộc sống của trẻ em bị áp đặt và định đoạt bởi người khác, khiến cho trẻ không thể tự kiểm soát cuộc sống của mình Sự thiếu tự tin này dẫn đến việc học tập kém tại trường.

Một số vấn đề thể chất và tâm thần liên quan đến CPTTT

1.5.1 Những dạng khuyết tật thường xảy ra đồng thời với CPTTT

Trẻ khiếm thính là những trẻ gặp khó khăn trong việc nghe hoặc bị điếc, và tình trạng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Nguyên nhân trước sinh bao gồm các bệnh truyền nhiễm như Rubella và giang mai, cũng như việc sử dụng thuốc gây hại cho sự phát triển của tai bào thai Trong khi sinh, thiếu oxy và việc sử dụng dụng cụ y tế như forceps có thể gây ra khiếm thính Ngoài ra, các vấn đề sức khỏe và tai nạn sau khi sinh cũng có thể dẫn đến tình trạng này.

Trẻ khiếm thị là những trẻ có thị lực kém hoặc bị mù, với mức độ sắc nét thị lực từ 5% đến 30% khi có kính Thị lực bình thường thường dao động từ 30% đến 100%, trong khi mức độ mù được xác định là thị lực dưới 5%.

Khiếm thị thường xuất phát từ nhiều vấn đề về mắt, bao gồm khúc xạ như viễn thị và cận thị, đục thủy tinh thể, lác, giật cầu mắt, tổn thương võng mạc, teo dây thần kinh thị giác, tổn thương não, và kích thước mắt nhỏ hơn bình thường.

1.5.1.3 Khó khăn về vận động

Trẻ em gặp khó khăn về vận động thường biểu hiện qua việc yếu cơ tay, chân, lưng hoặc cổ, hoặc do đau đớn khiến trẻ không thể cử động Đối với trẻ lớn, những khó khăn này có thể dẫn đến việc không thể cầm nắm đồ vật, cúi xuống nhặt đồ hoặc đi bộ một quãng đường ngắn như 10 mét.

Các dạng tật vận động:

- Bàn chân khoèo Nguyên nhân:

- Do bệnh: bại liệt, bại não, viêm khớp, viêm cơ, bệnh xương.

- Do tai nạn: chấn thương, sang chấn sau sinh.

- Trẻ nằm ngửa những không giơ được hai tay lên.

- Trẻ không thể giữ vật nhỏ trong tay, không thể đưa một vật vào miệng.

- Trẻ không thể dùng hai tay để nắm giữ đồ vật.

- Trẻ không thể lật từ ngửa sang sấp và ngược lại.

- Trẻ không tự ngồi một mình, ngồi hay bị ngã.

- Trẻ không thể tự uống được bằng cốc.

- Trẻ không nhặt được vật nhỏ.

- Trẻ không tự bò, không tự đứng.

- Trẻ không thể tự ăn.

- Trẻ không biết cởi quần áo.

- Trẻ không thể tự bỏ vật vào hộp và tự lấy ra.

- Trẻ không thể xếp đồ vật lại với nhau và tách ra.

- Trẻ không thể tự đi và chạy một mình.

- Trẻ không xuống cầu thang và không có khả năng leo trèo.

- Trẻ không có khả năng nhảy, không đá bóng được.

1.5.2 Những bệnh thường thấy ở trẻ CPTTT

Bại não là một tình trạng gây tàn tật ở trẻ em, xuất phát từ tổn thương não bộ Tình trạng này có thể xảy ra trước khi sinh, trong quá trình sinh hoặc trong những năm đầu đời, kéo dài đến 5 tuổi.

Ở tuổi 15, trẻ có thể gặp phải dạng tật ảnh hưởng đến tư thế tự nhiên và hoạt động bình thường Tình trạng này có thể biểu hiện qua cơ thể mềm nhũn, co cứng toàn thân hoặc vận động không tự chủ.

Bại não là một tình trạng không tiến triển, với tổn thương não xảy ra chỉ một lần và không gia tăng theo thời gian Mặc dù bại não không thể chữa khỏi, nhưng trẻ em mắc chứng này sẽ phải sống chung với tật suốt đời Đặc biệt, bại não không lây lan và không phải do tuổi tác gây ra.

1.5.2.2 Động kinh Động kinh là cơn mất ý thức ngắn, định hình, đột ngột có khuynh hướng tái phát theo chu kỳ, khi lên cơn có thể không kiểm soát được.

Cơn động kinh ở trẻ em có thể xảy ra bất cứ lúc nào, ngay cả khi đang ngủ, với các biểu hiện như ngã xuống, co giật chân tay nhịp nhàng, mắt trợn ngược, sùi bọt mép và rối loạn đại tiểu tiện Trong những trường hợp nặng, trẻ có thể rơi vào trạng thái hôn mê.

Khoảng 20% người mắc động kinh do tổn thương ở thùy não, được gọi là “động kinh có triệu chứng” Trong khi đó, 80% còn lại không có tổn thương não và thường có thể hoạt động bình thường, được phân loại là “động kinh nguyên phát”.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các kích thích gây ra cơn động kinh thường liên quan đến thiếu ngủ, kiệt sức, stress, và xúc động mạnh sau khi tập thể dục Ngoài ra, hiện tượng kinh nguyệt, hít thở mạnh, thay đổi nhiệt độ, tiếng ồn, và các luồng ánh sáng thay đổi cũng là những yếu tố quan trọng cần lưu ý.

Khoảng 0.5 – 1% dân cư, tức là cứ 150 người thì có 1 người mắc bệnh động kinh Trong số những người bị chấn thương sọ não (CPTTT), có đến 30% bị động kinh, và cứ 20 người mắc động kinh thì có một người bị CPTTT.

1.5.3 Các dạng rối loạn tâm thần thường xảy ra với CPTTT

Leo Kanner, nhà tâm thần học tại bệnh viện John Hopkins ở Baltimore, đã lần đầu tiên nhận dạng tự kỷ vào năm 1943 qua mô tả về một đứa trẻ 11 tuổi với những đặc điểm như khó khăn trong việc phát triển quan hệ xã hội, chậm nói, và hành vi lặp lại Ông gọi tình trạng này là sự tự kỷ thời kỳ ấu nhi, với nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "auto", có nghĩa là tự mình, phản ánh sự tự kiềm hãm của trẻ Đến nay, chúng ta đã hiểu thêm về rối loạn này, thường được gọi là sự tự kỷ thời kỳ ấu nhi, tự kỷ thời kỳ trẻ thơ hoặc tự kỷ Kanner.

* Tiêu chí chuẩn đoán rối loạn tự kỷ

Trong cuốn “Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV” đã đưa ra những tiêu chí chẩn đoán rối loạn tự kỷ như sau:

A Một tập hợp gồm sáu hoặc nhiều hơn các tiêu chí (1), (2), (3) và trong đó có ít nhất hai tiêu chí từ nhóm (1) và một tiêu chí từ nhóm (2) và (3).

Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện qua hai biểu hiện chính: Thứ nhất, người gặp khó khăn có thể giảm khả năng sử dụng hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như ánh mắt, nét mặt, tư thế cơ thể và cử chỉ để tạo liên hệ xã hội Thứ hai, họ có thể thiếu khả năng xây dựng mối quan hệ phù hợp với bạn đồng trang lứa, không tự nhiên chia sẻ niềm vui, sở thích hay thành tích với người khác, và thiếu sự trao đổi tình cảm xã hội.

Giảm khả năng định tính trong giao tiếp có thể biểu hiện qua một số dấu hiệu, bao gồm chậm phát triển kỹ năng nói hoặc không có mong muốn bù đắp bằng các hình thức giao tiếp khác như cử chỉ, điệu bộ Đối với những cá nhân có khả năng nói, họ có thể gặp khó khăn trong việc thiết lập và duy trì đối thoại Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ trùng lặp hoặc khác thường cũng là một biểu hiện Cuối cùng, thiếu sự đa dạng trong hoạt động chơi và các trò chơi đóng vai có chủ ý, cũng như thiếu hoạt động bắt chước xã hội phù hợp với mức độ phát triển, là những dấu hiệu quan trọng cần lưu ý.

Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT

1.6.1 Đặc trưng của trẻ CPTTT trong những năm đầu tiên

Trong những năm đầu đời, trẻ em chậm phát triển tâm thần thường biểu hiện những dấu hiệu cảm xúc bất thường, như dễ bị kích thích hoặc trở nên thụ động Chúng gặp khó khăn trong việc phát triển hứng thú và động cơ cho các hoạt động xã hội Ngoài ra, nhiều trẻ còn có rối loạn trong phát triển thể chất, bao gồm biến dạng hình dáng hộp sọ và kích thước tay chân, cũng như gặp khó khăn trong khả năng vận động và cấu âm.

Chứng thiểu năng trí tuệ không gây ra sự suy yếu tiến triển trong não bộ, và tác động của các yếu tố có hại thường đã ngừng lại Trẻ em mắc chứng này vẫn có thể phát triển theo quy luật tâm lý, nhưng sự phát triển đó có những đặc điểm riêng, do loại rối loạn này gây ra Thuật ngữ "thiểu năng trí tuệ" được nhà tâm lý học người Đức E Krepelin giới thiệu vào thế kỷ 19.

Cơ cấu tâm bệnh lý của rối loạn thiểu năng trí tuệ đặc trưng bởi sự phát triển tâm lý và trí tuệ có tính tổng hợp và cấp bậc Thiểu năng trí tuệ được chia thành hai loại: dạng biến chứng và dạng không biến chứng Dạng biến chứng là sự kết hợp giữa não bộ kém phát triển và tổn thương não, dẫn đến những thiếu sót trí tuệ đi kèm với rối loạn bệnh não và bệnh thần kinh Những chức năng não bộ như lời nói, logic, hình dung không gian, khả năng tính toán, đọc và viết có thể bị ảnh hưởng rõ rệt hơn trong trường hợp này.

CPTTT, theo Vygotsky, là những dấu hiệu cơ bản phản ánh tổn thương bên trong não, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và phát triển tâm lý của trẻ Những dấu hiệu chính của chậm khôn bao gồm tính ỳ bệnh lý trong quá trình thần kinh, suy yếu chức năng khép kín của vỏ đại não, và sự gia tăng kích thích quá mức.

Rối loạn phát triển trí tuệ thường liên quan đến những yếu tố tiêu cực như sự thiếu ham muốn tìm hiểu và khả năng học tập chậm chạp của trẻ, dẫn đến việc trẻ tiếp thu kiến thức mới một cách khó khăn.

Những rối loạn phát triển ở trẻ em có thể bắt đầu từ những ngày đầu đời, dẫn đến việc chậm phát triển khả năng đứng và vận động không chỉ trong năm đầu mà còn tiếp tục ở năm thứ hai Trẻ em này thường thiếu hứng thú với môi trường xung quanh, không có phản ứng với các tác nhân kích thích và không thể hình thành tình cảm với người lớn hay đồ vật, đồng thời cũng không phát triển giao tiếp cử chỉ Hơn nữa, trẻ chưa thể phân biệt giữa người quen và người lạ, không biết cầm nắm đồ vật, điều này ảnh hưởng đến khả năng tri giác và nhận thức về kích thước, trọng lượng, hình dáng của đồ vật Sự thiếu hụt trong khả năng cầm nắm cũng liên quan đến việc trẻ không phát triển sự phối hợp giữa mắt và chuyển động.

Sự phát triển tri giác của trẻ chậm khôn trong năm đầu diễn ra rất chậm chạp Tình trạng trì trệ này không phải là một rối loạn bẩm sinh, mà là hệ quả của những rối loạn khác.

Giai đoạn đầu của trẻ mẫu giáo chứng kiến những bước tiến trong việc nắm vững các thao tác không chuyên, nhưng điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tâm lý tổng thể Ví dụ, trẻ có thể kéo đồ chơi lại gần miệng nhưng không thực hiện các hoạt động khám phá như gõ hay nâng lên để xem xét, dẫn đến việc thiếu tương tác và phát triển kỹ năng cần thiết.

Trẻ em mắc chứng rối loạn phát triển vận động (CPTTT) thường không thể duy trì hoạt động với đồ vật tự phát trong thời gian dài Sự hứng thú đối với đồ vật ở trẻ vẫn còn thấp và chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn.

Trẻ em có chứng rối loạn phát triển ngôn ngữ thường không thể trả lời các câu hỏi như “Đây là cái gì?”, “Ở đâu?”, hay “Như thế nào?” Nếu không có sự can thiệp và hỗ trợ đúng cách, trẻ từ 3 đến 4 tuổi sẽ gặp khó khăn trong việc hiểu các hoạt động và hình thức ứng xử xã hội cơ bản.

Trẻ em CPTTT ở lứa tuổi mầm non thiếu sự điều chỉnh chuyên môn, dẫn đến việc bỏ qua hai giai đoạn phát triển tâm lý quan trọng: phát triển hoạt động với đồ vật và giao tiếp với người khác Chúng ít tương tác với người lớn và bạn bè cùng trang lứa, không tham gia vào các trò chơi đóng vai hay hoạt động cần sự hợp tác Hoạt động giao tiếp diễn ra chậm chạp, đặc biệt là trong mối quan hệ gắn bó mẹ - con, khiến nhu cầu gắn bó của trẻ với mẹ không được thể hiện rõ ràng Sự biến đổi trong quá trình phát triển gây rối loạn tâm lý, dẫn đến khó khăn trong cảm xúc, học tập và giao tiếp của trẻ.

Trẻ CPTTT thường phát triển bình thường, mặc dù có thể gặp một số rối loạn như chậm nắm vững hành động với đồ vật và phát triển ngôn ngữ cũng như nhận thức không đồng đều Tuy nhiên, nếu tổ chức môi trường giáo dục đúng cách và kịp thời, nhiều vấn đề phát triển có thể được điều chỉnh và thậm chí ngăn chặn ngay từ đầu.

1.6.2 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT

1.6.2.1 Đặc điểm cảm giác, tri giác

Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu quá trình tri giác của trẻ CPTTT và đã chỉ ra 3 đặc điểm sau:

- Tốc độ của sự tri giác chậm chạp, khối lượng tri giác hạn chế:

Một nghiên cứu đã được thực hiện với hai nhóm trẻ em, bao gồm trẻ bình thường và trẻ có khó khăn phát triển, để kiểm tra khả năng nhận biết hình ảnh Hai bộ tranh với 25 đối tượng khác nhau như chó, mèo, gà, lợn đã được sử dụng, yêu cầu các em nhận diện các bức tranh trong một khoảng thời gian nhất định Kết quả cho thấy sự khác biệt trong khả năng nhận biết giữa hai nhóm trẻ.

Nhóm Thời Số lượng đối tượng Số lượng đối gian nhận biết lần thứ nhất tượng nhận biết

Nhóm trẻ bình thường 20 giây 57 95

Trắc nghiệm thứ 2 yêu cầu trẻ quan sát phong cảnh thiên nhiên, con người và phương tiện giao thông, cho thấy trẻ CPTTT chỉ nhận biết được 30% so với trẻ bình thường Kết quả này cho thấy khả năng nhìn nhận sự vật động của trẻ CPTTT kém hơn đáng kể, khiến các em gặp khó khăn trong việc nhận diện sự thay đổi xung quanh và ít đưa ra nhận xét Sự tri giác hẹp và nghèo nàn đã cản trở khả năng định lượng của trẻ trong những tình huống mới lạ, gây khó khăn trong việc xem xét mối quan hệ giữa các đối tượng.

Trẻ em có chứng CPTTT thường tri giác các đối tượng chậm hơn so với trẻ bình thường, với khả năng nhận diện chỉ đạt khoảng 40% so với trẻ không có vấn đề này Điều này cho thấy sự phát triển tri giác thị giác của trẻ CPTTT rất hạn chế, khiến các em gặp khó khăn trong việc phân biệt và bắt chước các hình dạng Trong khi trẻ bình thường có thể nhanh chóng nhận ra đối tượng chỉ bằng một cái liếc mắt, trẻ CPTTT cần phải nhìn kỹ và chi tiết hơn, thậm chí có thể không nhận biết được đối tượng ngay cả khi có sự hỗ trợ từ người lớn Sự tri giác của trẻ CPTTT tuy có tồn tại nhưng nghèo nàn và hạn chế trong phạm vi hẹp, điều này gây khó khăn cho việc định hướng của trẻ trong môi trường mới và làm chậm tốc độ học tập của các em so với bạn bè.

- Khó khăn trong việc phân biệt hóa:

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU CHO TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ

Ngày đăng: 20/09/2023, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w