i SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ CẤP THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KỲ THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY MÔN: L
Trang 1i
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
MÔN LỊCH SỬ CẤP THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KỲ THI
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY
MÔN: LỊCH SỬ
Nghệ An, năm 2023
Trang 2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT CHUYÊN PHAN BỘI CHÂU
………… o0o…………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ CẤP THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KỲ THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY
Lĩnh vực : LỊCH SỬ
Tổ bộ môn : SỬ - ĐỊA - GDCD Tên tác giả : BÙI THỊ BÍCH HẬU Năm thực hiện : 2022 - 2023
Số điện thoại : 0988 690 868
Vinh, tháng 02 năm 2023
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tính mới của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cấu trúc đề tài 2
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 Kỳ thi Đánh giá năng lực và môn Lịch sử trong kỳ thi Đánh giá năng lực hiện nay trong các trường Đại học 3
1.1 Cơ sở lí luận 1.1.1 Những nét chính về kỳ thi Đánh giá năng lực 3
1.1.1.1 Vai trò của Kỳ thi Đánh giá năng lực 3
1.1.1.2 Phân biệt thi Đánh giá năng lực và thi tốt nghiệp THPT 3
1.1.1.3 Các trường tổ chức kỳ thi Đánh giá năng lực hiện nay 4
1.1.1.4 Cấu trúc của đề thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học hiện nay 5
1.1.1.5 Thời điểm thi Đánh giá năng lực 6
1.1.1.6 Cách tính điểm kỳ thi Đánh giá năng lực 6
1.1.2 Môn Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực 6
1.1.2.1 Các trường có phần Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực 6
1.1.2.2 Cấu trúc phần Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực 7
1.1.2.3 Các dạng câu hỏi Lịch sử thường gặp trong bài thi Đánh giá năng lực 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1 Thực trạng thi Đánh giá năng lực hiện nay 9
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng 11
1.2.3 Những khó khăn của giáo viên và học sinh trong dạy học môn Lịch sử thi Đánh giá năng lực 11
Chương 2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử cấp THPT đáp ứng yêu cầu của kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học
Trang 4hiện nay 12 2.1 Nâng cao chất lượng xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử tiếp cận kì thi Đánh giá năng lực 12
2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 12 2.1.2 Nắm vững quy trình soạn bài trắc nghiệm khách quan 13 2.1.3 Những lưu ý trong xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 14
2.2 Các dạng đề thi trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử tiếp cận Kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học hiện nay 15
2.2.1 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan yêu cầu thí sinh lựa chọn câu trả lời đúng 16 2.2.2 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan yêu cầu thí sinh lựa chọn câu trả lời đúng nhất 16 2.2.3 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan yêu cầu thí sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án (A, B, C, D) đã cho 17 2.2.4 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm phát huy năng lực thực hành lịch sử 17 2.2.5 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm phát huy năng lực khai thác và đọc hiểu tư liệu lịch sử 19
2.3 Nâng cao chất lượng xây dựng đề thi tự luận môn Lịch sử tiếp cận
kỳ thi Đánh giá năng lực của một số trường Đại học hiện nay 26
2.3.1 Định hướng trong việc xây dựng đề thi tự luận môn Lịch sử kỳ thi Đánh giá năng lực 26 2.3.2 Một số giải pháp xây dựng đề tự luận môn Lịch sử cho kỳ thi Đánh giá năng lực 28 2.3.3 Qui trình xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận môn Lịch sử trong kỳ thi Đánh giá năng lực 29 2.3.4 Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận môn Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực 30 2.3.5 Xây dựng một số đề tự luận môn Lịch sử minh hoạ kì thi Đánh giá năng lực 30
2.4 Hướng dẫn học sinh ôn thi nâng cao chất lượng môn Lịch sử trong
kỳ thi Đánh giá năng lực 32
2.4.1 Hướng dẫn học sinh các bước ôn thi môn Lịch sử của Kỳ thi Đánh giá năng lực 32
Trang 52.4.2 Hướng dẫn học sinh kĩ năng trong quá trình làm bài thi môn Lịch sử
của kỳ thi ĐGNL 33
Chương 3.Thực nghiệm sư phạm 34
3.1 Mục đích thực nghiệm 34
3.2 Đối tượng thực nghiệm 34
3.3 Phương pháp thực nghiệm 34
3.4 Kết quả xử lý thực nghiệm 35
KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CỦA ĐỀ TÀI 36
PHẦN III KẾT LUẬN .'40
1 Đóng góp của đề tài 41
1.1.Tính mới của đề tài 40
1.2.Tính khoa học 40
1.3.Tính khả thi khi ứng dụng thực tiễn 40
2 Kiến nghị, đề xuất 40
2.1 Với các cấp quản lí giáo dục 40
2.2 Với giáo viên 41
2.3 Với học sinh 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 44
Phụ lục 1 Phiếu điều tra về nhu cầu tìm hiểu kỳ thi ĐGNL và cách dạy học môn Lịch sử cấp THPT trong kỳ thi ĐGNL hiện nay
Phụ lục 2 Bảng khảo sát
Phụ lục 3 Xây dựng đề thi môn Lịch sử theo cấu trúc kỳ thi ĐGNL của Đại học Quốc gia Hà Nội
Phụ lục 4 Xây dựng đề thi môn Lịch sử theo cấu trúc kỳ thi ĐGNL của Đại học Quốc gia TP HCM
Phụ lục 5 Xây dựng đề thi môn Lịch sử theo cấu trúc kỳ thi ĐGNL của Đại học sư phạm Hà Nội
Phụ lục 6 Xây dựng đề thi môn Lịch sử theo cấu trúc kỳ thi ĐGNL của Bộ Công an
Trang 6DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/Ký hiệu Cụm từ đầy đủ
Trang 7PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Đối với kỳ thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo không chỉ dừng lại với hình thức thi các khối thi truyền thống mà đã mở rộng thêm nhiều các hình thức thi mới, trong đó có thi Đánh giá năng lực (ĐGNL)
Thi ĐGNL là một kỳ thi được thiết kế để đánh giá khả năng của một cá nhân trong một lĩnh vực nhất định hoặc trên một loạt các kỹ năng Kỳ thi này thường được
sử dụng trong quá trình tuyển dụng để đánh giá năng lực của ứng viên hoặc trong quá trình đào tạo và phát triển để đo lường sự tiến bộ của học viên Thi ĐGNL có thể bao gồm nhiều loại câu hỏi và định dạng khác nhau bao gồm các bài kiểm tra trắc nghiệm, bài tập thực hành, bài luận, phỏng vấn và nhiều hình thức khác Một số khi kỳ thi đánh giá năng lực phổ biến nhất về ngôn ngữ bao gồm TOEFL, HSK, TOPIC
Hiện nay tại Việt Nam kỳ thi ĐGNL chính là bài kiểm tra cơ bản để đánh giá năng lực của các thí sinh trước khi bước vào đại học Đây là hình thức thi do các trường đại học tổ chức riêng và dùng kết quả để xét tuyển Bài thi ĐGNL không hoàn toàn dựa trên lý thuyết mà còn bao gồm kiến thức xã hội và suy luận logic Về hình thức kỳ thi ĐGNL được thiết kế chủ yếu dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan với nội dung tích hợp các kiến thức và tư duy như cung cấp số liệu, dữ liệu và các công thức cơ bản đánh giá khả năng suy luận và giải quyết vấn đề
Trong kỳ thi tuyển sinh đại học, kỳ thi ĐGNL sẽ phản ánh đúng năng lực và kiến thức của thí sinh qua các môn học và hiểu biết xã hội Bài thi giúp kiểm tra cũng như đánh giá được trình độ cơ bản của thí sinh như sử dụng ngôn ngữ, tư duy logic, phân tích dữ liệu và giải quyết vấn đề Mục tiêu của kỳ thi ĐGNL đó là kết quả của kỳ thi sẽ là một kênh xét tuyển độc lập, không phụ thuộc vào kết quả thi tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia và kết quả học bạ, giúp thí sinh tăng tối đa cơ hội vào đại học, đa dạng hóa các hình thức tuyển sinh hướng nghiệp cho học sinh trên nền tảng kiến thức và năng lực cơ bản, kiểm tra kiến thức tự nhiên xã hội, tư duy, kỹ năng cũng như thái độ của học sinh
Tuy nhiên, đối với học sinh, thi ĐGNL quá nhiều điều mới mẻ, đặc biệt là các thí sinh không sinh sống tại vùng đồng bằng hoặc trung tâm Điều này tạo nên một
số khó khăn nhất định trong việc tiếp nhận thông tin và ôn luyện kiến thức để tham gia kỳ thi Về phía giáo viên, trong đó có giáo viên dạy Lịch sử, vì chưa thật sự quan tâm tìm hiểu và chủ yếu chưa từng trải qua kỳ thi Đánh giá năng lực nên rất lúng túng cả trong giảng dạy và thiết kế đề ôn tập cho học sinh, tư vấn kinh nghiệm cho học sinh
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử cấp THPT đáp ứng yêu cầu của
kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học hiện nay để nghiên cứu và thực
hiện
Trang 82 Tính mới của đề tài
Các đề tài sáng kiến kinh nghiệm về dạy học môn Lịch sử trong những năm qua chủ yếu tập trung vào những giải pháp về kĩ thuật và phương pháp dạy học, ôn tập củng cố kiến thức cho học sinh; chưa có đề tài sáng kiến về giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử cấp THPT đáp ứng yêu cầu của kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học hiện nay
Đề tài của chúng tôi đề ra một số giải pháp trong dạy học môn Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực:
- Đề xuất một số giải pháp trong việc xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử tiếp cận kì thi ĐGNL
- Đề xuất một số giải pháp trong việc xây dựng đề thi tự luận môn Lịch sử tiếp cận kì thi ĐGNL
- Đề xuất một số biện pháp hướng dẫn học sinh ôn thi nâng cao chất lượng môn Lịch sử trong kỳ thi ĐGNL
- Xây dựng một số đề thi minh họa theo hướng tiếp cận đề thi ĐGNL để ôn thi tuyển sinh vào Đại học
Trên cơ sở những giải pháp của đề tài, giáo viên có thể vận dụng, phát triển trong quá trình dạy học, ôn tập, tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các khối 11, 12 tại trường THPT chuyên Phan Bội Châu và 1 số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu về kỳ thi ĐGNL; tài liệu về kiểm tra đánh giá; Chương trình lịch sử phổ thông 2018…, phân tích, chọn lọc sau đó hệ thống hóa thành lí luận cho đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm: Điều tra, khảo sát và xử lý thông tin - Phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử
5 Cấu trúc đề tài
Đề tài được cấu trúc gồm 4 phần với các nội dung cụ thể như sau:
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Phần IV: PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 Kỳ thi Đánh giá năng lực và môn Lịch sử trong kỳ thi Đánh giá
năng lực hiện nay trong các trường Đại học 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Những nét chính về kỳ thi Đánh giá năng lực
1.1.1.1 Vai trò của Kỳ thi Đánh giá năng lực
- Thi ĐGNL ở nước ta hiện nay gồm có nhiều mục đích như: đánh giá năng lực học sinh THPT để phân loại sau khi tốt nghiệp THPT; tư vấn cho hoạt động dạy và học, đảm bảo chất lượng giáo dục; dự báo chất lượng nhân lực phổ thông; phục vụ công tác tuyển sinh và dự báo kết quả học tập bậc đại học; hướng nghiệp cho học sinh… Trong đó, thi ĐGNL là kì thi do các trường Đại học tự tổ chức thi riêng và là
một trong 5 hình thức để xét tuyển chủ yếu vào Đại học (bao gồm trường tổ chức thi
và các trường sử dụng kết quả đó để xét tuyển) do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định Thi ĐGNL ngày càng được mở rộng và quan tâm do kết quả việc đánh giá học sinh qua hình thức này được đánh giá tốt và phản ánh đúng năng lực của học sinh
1.1.1.2 Phân biệt thi Đánh giá năng lực và thi tốt nghiệp THPT
- Kỳ thi ĐGNL là kỳ thi hoàn toàn độc lập với kỳ thi tốt nghiệp THPT và gồm
nhiều điểm khác sau đây:
Trang 10Tiêu chí Thi tốt nghiệp THPT Thi Đánh giá năng lực
Mục đích thi - Xét tốt nghiệp THPT
- Xét tuyển ĐH - CĐ - Xét tuyển ĐH-CĐ
Môn thi 3 môn bắt buộc Toán, Văn,
Ngoại ngữ cùng hai bài tổ hợp là KHTN (Vật lý, Hóa học, Sinh học) hoặc KHXH (Lịch sử, Địa lý, GDCD; với thí sinh học chương trình giáo dục phổ thông; hoặc Lịch sử, Địa lý đối với thí sinh học chương trình GDTX)
Bài thi ĐGNL thường gồm 3 phần (lấy ví dụ trường Đại học Quốc gia Hà Nội):
Phần 1 Tư duy định lượng (Toán, thống kê và xử lý số liệu)
1 Phần 2 Tư duy định tính (Văn học, Ngôn ngữ)
Phần 3 Khoa học (KHTN – KHXH)
Phụ trách đề thi Bộ GD&ĐT Trường Đại học
Hình thức thi Trên giấy Trên máy tính hoặc trên giấy
Số lượng kỳ thi 1 đợt duy nhất - ĐHQG-HCM: 2 đợt
- ĐHQGHN: 8 đợt
- Dù là hai kỳ thi độc lập với nhau nhưng học sinh vẫn phải tham dự kỳ thi THPTQG để xét tốt nghiệp THPT vì ngoài điều kiện có điểm chuẩn ĐGNL đạt yêu cầu trúng tuyển thì học sinh vẫn cần đảm bảo đỗ tốt nghiệp THPT
1.1.1.3 Các trường tổ chức kỳ thi Đánh giá năng lực hiện nay
- Hiện nay, ở Việt Nam kì thi ĐGNL có 6 trường Đại học tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM là hai trường đầu tiên tổ chức, sau đó
có thêm các trường như Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học sư phạm TP HCM, trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Bộ Công an
- Trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP HCM là hai trường Đại học có sức ảnh hưởng lớn nên kết quả hai kì thi này được rất nhiều trường Đại học khác sử dụng để xét tuyển Theo thống kê đến đầu tháng 3 năm 2023, có 71 trường đại học sử dụng kết quả điểm bài thi ĐGNL của Đại học Quốc gia Hà Nội (HSA) để xét tuyển; có 81 trường Đại học sử dụng kết quả thi ĐGNL của Đại học
Trang 11Quốc gia TP HCM để xét tuyển, gồm có các trường thuộc các lĩnh vực khác nhau như sư phạm, kinh tế, công nghệ, kiến trúc, y tế
- Ngoài ra, có 32 trường Đại học sử dụng kết quả thi ĐGNL của Đại học Bách khoa Hà Nội để xét tuyển; 8 trường thuộc ngành công an dùng kết quả kỳ thi ĐGNL của Bộ Công an để xét tuyển;
1.1.1.4 Cấu trúc của đề thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học hiện nay
* Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học quốc gia TP HCM là hai trường Đại học
có sức ảnh hưởng lớn nên chúng tôi nghiên cứu đề thi của 2 trường này và nhận thấy:
Phần Đại học Quốc Gia Hà Nội Đại học Quốc gia TP HCM
1
Tổng số câu: 150 câu
Thời gian làm bài thi: 195 phút
Hình thức thi trắc nghiệm trên máy
tính
Tổng số câu: 120 câu Thời gian làm bài: 150 phút
Hình thức thi trắc nghiệm trên giấy
2
Phần 1 - Tư duy định lượng (50 câu
- 75 phút): Gồm các môn toán học,
thống kê và xử lý số liệu
Phần 1 - Ngôn ngữ (40 câu): Tiếng
Việt, Tiếng Anh
3
Phần 2 - Tư duy định tính (50 câu
- 60 phút): Môn Văn học + Ngôn
* Kỳ thi Đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Các thí sinh lựa chọn và thực hiện 2, 3 hoặc 4 bài thi ĐGNL (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí) nhằm sử dụng kết quả thi để đăng kí xét tuyển vào các ngành đào tạo của Trường
- Mỗi bài thi đánh giá năng lực của Trường ĐHSP Hà Nội đều có phần trắc nghiệm và phần tự luận Để đảm bảo quá trình thi công bằng, khách quan, ban đề thi
đã trộn ngẫu nhiên thứ tự các câu hỏi trắc nghiệm khách quan cũng như thứ tự các phương án lựa chọn (A, B, C, D), tạo thành 04 mã đề/bài thi Tuy nhiên nội dung các câu hỏi trắc nghiệm và đáp án đúng tương ứng là giống nhau đối với mọi mã đề Câu hỏi tự luận luôn ở cuối bài thi và như nhau đối với mọi mã đề/bài thi
Trang 12* Kỳ thi Đánh giá năng lực của Bộ Công an
- Kể từ năm 2022 Bộ Công an có nhiều điểm mới trong tuyển sinh Nổi bật là phương pháp xét tuyển kết hợp giữa điểm thi THPT Quốc gia (chiếm 40% tổng điểm) và kết quả kỳ thi ĐGNL của Bộ Công an tổ chức (chiếm 60% tổng điểm)
- Theo cấu trúc, bài thi ĐGNL của Bộ Công an có 2 phần, thí sinh hoàn thiện 2 phần của bài thi trong thời gian 180 phút (trong 1 buổi) gồm 2 phần Trắc nghiệm (KHTN, KHXH) và Tự luận (Toán, Ngữ văn)
* Kỳ thi Đánh giá năng lực của Đại học Bách khoa Hà Nội
- Bao gồm 4 bài thi là: Toán (90 phút); Đọc hiểu (30 phút); Tiếng Anh (60 phút)
và Khoa học tự nhiên (Lý - Hoá - Sinh), 90 phút
* Kỳ thi Đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm TP HCM
- Mục đích: Đánh giá năng lực chuyên biệt của thí sinh, phù hợp với tính chất của ngành học
- Thí sinh tham gia 06 bài thi cụ thể các môn như sau: Toán, Lý, Hoá, Sinh, Văn và Tiếng Anh
1.1.1.5 Thời điểm thi Đánh giá năng lực
- Kì thi ĐGNL tổ chức nhiều đợt trong năm Ví dụ: Đại học quốc gia Hà Nội
sẽ tổ chức với 8 lần thi, Đại học quốc gia HCM tổ chức 2 lần thi, thường bắt đầu từ tháng 2 tới cuối tháng 7 hoặc tháng 8 hàng năm
1.1.1.6 Cách tính điểm kỳ thi Đánh giá năng lực
Mỗi trường Đại học tổ chức thi ĐGNL sẽ có cách tính điểm riêng Ví dụ:
+ Trường Đại học Quốc gia TP.HCM: thang điểm tổng là 1200 gồm 120 câu
hỏi Điểm xét tuyển = Tổng điểm 3 phần thi + Điểm ưu tiên (nếu có) Cách tính điểm đánh giá năng lực theo thang điểm 30 của Đại học Quốc gia TP.HCM với công thức quy đổi: “Điểm quy đổi = Điểm thi đánh giá năng lực x 30/1200”
+ Trường Đại học Quốc gia Hà Nội: Điểm tối đa của toàn bài thi là 150 điểm
dựa trên tổng số câu trả lời chính xác của thí sinh Điểm xét tuyển = Điểm thi phần
Tư duy định lượng + Điểm thi phần Tư duy định tính + Điểm thi phần
KHTN/KHXH Cách tính điểm đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội theo thang điểm 30 có công thức là: “Điểm quy đổi = Điểm thi đánh giá năng lực x 30/150”
1.1.2 Môn Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực
1.1.2.1 Các trường có phần môn Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực
Gồm 4 trường Đại học là Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia TP HCM; Đại học Sư phạm Hà Nội và các trường đại học của Bộ Công an
Trang 131.1.2.2 Cấu trúc phần Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực
* Số câu:
- Trường Đại học Quốc gia Hà Nội: gồm 10 câu (từ câu 101 – 110)
- Trường Đại học Quốc gia TPHCM: gồm 10 câu (từ câu 87- 90 và từ câu 115
– 120)
- Trường Đại học Công an: gồm có 10 câu trắc nghiệm (từ câu 26 đến câu 35)
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: gồm 2 phần Trắc nghiệm (28 câu, 7 điểm)
và Tự luận (3 điểm) Thời gian làm bài: 60 phút
- Hai trường Đại học còn lại là Đại học Sư phạm TPHCM và Đại học Bách
khoa Hà Nội không có bài thi liên quan đến môn Lịch sử
* Nội dung kiến thức thi: Có 70% - 80% kiến thức được lấy từ nội dung lớp 12; 20%- 30% kiến thức được lấy từ nội dung lớp 11 Cụ thể như sau:
Chương trình lịch sử lớp 11:
Phần 1: Lịch sử thế giới từ cuối thế kỉ XIX đến 1945
- Những sự kiện lớn của Lịch sử thế giới từ cuối XIX đến năm 1918 có tác động trực tiếp đến lịch sử Việt Nam
- Các nước Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh (từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1918): Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh
- Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918)
- Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)
- Các nước tư bản chủ nghĩa giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939): Đức, Mỹ, Nhật Bản
- Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939): Trung Quốc, Ấn Độ, khu vực Đông Nam Á – Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 -1945)
- Ôn tập nội dung cơ bản của lịch sử thế giới (1918 – 1945)
Phần 2: Lịch sử Việt Nam (1858 - 1918)
- Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của tư bản phương Tây
- Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884)
- Phong trào yêu nước chống Pháp theo khuynh hướng phong kiến (1885 – 1896)
- Phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam (từ đầu thế kỉ XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất)
Trang 14Chương trình lịch sử lớp 12:
Phần 1: Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000
– Những sự kiện lớn của lịch sử thế giới (từ năm 1917) có tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Quốc tế Cộng sản, Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933
– Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 – 1949)
– Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 – 1991) Liên bang Nga (1991 – 2000) – Khu vực Đông Bắc Á
– Khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ
– Các nước châu Phi và khu vực Mĩ Latinh
– Các trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới (Mĩ, Tây Âu và Nhật Bản)
- Quan hệ quốc tế trong và sau thời kì Chiến tranh lạnh
– Cách mạng khoa học – công nghệ và xu thế toàn cầu hoá nửa sau thế kỉ XX – Nội dung tổng kết lịch sử thế giới hiện đại (1945 – 2000)
Phần 2: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000
– Thời kì 1919 – 1930: Phong trào đấu tranh dân tộc dân chủ
+ Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam (1919 – 1925)
+ Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam (1925 – 1930)
- Thời kì 1930 – 1945: Đảng lãnh đạo cuộc vận động giải phóng dân tộc
+ Phong trào cách mạng 1930 – 1935
+ Phong trào dân chủ (1936 – 1939)
+ Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
– Thời kì 1945 – 1954: Đảng lãnh đạo vừa kháng chiến, vừa kiến quốc + Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (từ sau ngày 02/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946)
+ Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950)
+ Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953)
+ Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954) – Thời kì 1954 – 1975: Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng
Trang 15+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc
Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 – 1965)
+ Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)
+ Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam
+ Khôi phục, phát triển kinh tế – xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 – 1975)
– Thời kì 1975 – 2000: Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước xây dựng và bảo tệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN)
+ Việt Nam trong năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước năm 1975
+ Việt Nam xây dựng CNXH và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (1976 – 1986) + Đất nước trên đường đổi mới đi lên CNXH (1986 – 2000)
+ Tổng kết nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam (1919 – 2000)
* Mức độ đề thi Đánh giá năng lực: Đề thi được phân hóa và đánh giá theo 4
cấp độ: cấp độ nhận biết – thông hiểu – vận dụng – vận dụng cao Bài thi ĐGNL mang tính thực tế, kiến thức không chỉ nằm trong sách giáo khoa mà còn mang tính vận dụng cao
1.1.2.3 Các dạng câu hỏi phần Lịch sử thường gặp trong bài thi Đánh giá năng lực
Qua tìm hiểu đề thi ĐGNL của các trường Đại học trong những năm gần đây chúng tôi thấy phần câu hỏi Lịch sử thường tập trung 2 hình thức sau đây:
- Hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
+ Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh lựa chọn câu trả lời đúng
+ Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh lựa chọn câu trả lời đúng nhất
+ Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án (A, B,
C, D) đã cho
+ Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh phải có năng lực thực hành lịch sử: kết nối đúng hoặc sắp xếp đúng trật tự (thứ tự) logic của các sự kiện, hiện tượng lịch sử + Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh phải có năng lực khai thác và đọc hiểu một đoạn tư liệu
- Hình thức câu hỏi tự luận: (chỉ duy nhất trường ĐHSP Hà Nội tổ chức)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng thi Đánh giá năng lực hiện nay
Trang 16Hiện nay, số lượng học sinh đăng ký thi ĐGNL ngày càng nhiều và tăng mạnh, lấy trường Đại học Quốc gia THHCM làm ví dụ qua biểu đồ sau:
Nguyên nhân về việc lượng đăng ký dự thi ĐGNL ngày càng tăng trước hết là
do các trường Đại học có một số thay đổi, trong đó có việc tăng thêm các địa điểm thi tạo thuận lợi cho thí sinh tham gia kỳ thi này (ví dụ năm 2023, Đại học Quốc gia
Hà Nội tổ chức 16 cụm thi ở 8 tỉnh thành ; Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức 47 cụm thi ở 21 tỉnh thành; ); thí sinh có thể đăng ký dự thi đầy đủ các đợt
Điều quan trọng là kỳ thi ĐGNL tiếp tục được phát triển theo hướng ổn định
và bền vững Hơn nữa, số trường đại học, cao đẳng sử dụng kết quả kỳ thi này ngày càng tăng và nhiều trường tăng chỉ tiêu xét tuyển bằng điểm thi đánh giá năng lực Mối tương quan giữa những bạn trúng tuyển phương thức này có kết quả học tập ở bậc đại học cao hơn phương thức xét điểm thi THPT
Về phía học sinh: khi tham dự kỳ thi này thí sinh không căng thẳng như ôn tập kiến thức thi tốt nghiệp THPT vì bài thi không hoàn toàn dựa trên lý thuyết mà còn
có kiến thức xã hội và suy luận logic Thí sinh tham gia kỳ thi ĐGNL cũng khá nhẹ nhàng về mặt thời gian, trả lời 120 câu hỏi trắc nghiệm trong 150 phút (trường Đại học Quốc gia TPHCM) và 150 câu trong 195 phút (trường Đại học Quốc gia Hà Nội) Nhận thấy việc tham gia kỳ thi này có thêm nhiều cơ hội vào đại học nên thí sinh thi ngày càng đông
Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều thí sinh đăng ký dự thi chỉ mang tính chất “thi cho biết” mà chưa có sự chuẩn bị kĩ về kiến thức, thông tin nên kết quả không cao
Về phía giáo viên ở các trường phổ thông ít nhiều chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ trong dạy học theo hướng ĐGNL Trong đó có nhiều giáo viên dạy Lịch sử còn mơ
hồ về kỳ thi này, thậm chí có giáo viên còn chủ quan cho rằng nếu có thi thì môn Lịch sử chỉ chiếm số lượng ít trong đề thi nên cũng không ảnh hưởng đến kết quả
Đó là thực trạng cần phải thay đổi
Trang 171.2.2 Nguyên nhân của thực trạng
Nhiều trường THPT chưa thực sự coi trọng chuyển biến trong kiểm tra, đánh giá theo hướng thi ĐGNL mà chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ thi tốt nghiệp và tuyển sinh các khối truyền thống
Nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên môn Lịch sử chưa thực sự quan tâm, thậm chí là mơ hồ đến kỳ thi ĐGNL cũng như cấu trúc, dạng đề, mức độ, kiến thức của đề thi môn Lịch sử trong đề thi
Học sinh dự thi ĐGNL chủ yếu tự đăng ký, tự ôn luyện mà không thông báo với Nhà trường nên trường vừa khó quản lý, vừa ít có sự trợ giúp trong quá trình
ôn tập và dự thi cho học sinh Có nhiều em đăng ký rồi lại bỏ vì thấy khó, ít có năng lực thi đến cùng
Đề thi ĐGNL rộng, thuộc nhiều môn học khác nhau nên muốn thi tốt yêu cầu học sinh phải quyết liệt ngay từ đầu Tuy nhiên, trên thực tế nhiều học sinh đang học
tủ, học lệch theo khối truyền thống
Những năm gần đây, mặc dù đề thi Lịch sử đã có sự thay đổi khi chú ý phát triển năng lực, rèn kĩ năng thực hành của học sinh, tránh hỏi những câu hỏi yêu cầu học sinh ghi nhớ máy móc Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được hết yêu cầu của các kỳ thi, nhất là thi ĐGNL
Phần thi môn Lịch sử trong kỳ thi ĐGNL mặc dù chỉ chiếm 10 câu (là chủ yếu) nhưng trải dài từ lịch sử lớp 11 đến lớp 12 cũng gây rất nhiều khó khăn cho học sinh
1.2.3 Những khó khăn của giáo viên và học sinh trong dạy học môn Lịch sử thi Đánh giá năng lực:
Qua khảo sát ở phụ lục 1, chúng tôi nhận thấy giáo viên và học sinh trong quá
trình dạy học và ôn thi môn Lịch sử trong đề thi ĐGNL có nhiều khó khăn như:
- Chưa thực sự nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường về dạy học, ôn thi ĐGNL
- Do học sinh tự đăng ký và ôn thi tự phát nên giáo viên khó quản lý, tư vấn, giúp đỡ, rèn luyện cho học sinh nhất là cung cấp đề thi, cách ôn thi, kĩ năng trong quá trình làm bài thi ĐGNL
- Đề thi TNKQ môn Lịch sử của kỳ thi ĐGNL so với đề Tốt nghiệp THPT Quốc gia có nhiều điểm mới và khác lạ nên giáo viên rất lúng túng trong nguyên tắc xây dựng câu hỏi, qui trình soạn đề thi, những yêu cầu khi ra đề TNKQ
- Một số dạng đề TNKQ khó, độ phủ kiến thức rộng, đòi hỏi năng lực nhất định của người giáo viên, kĩ năng khai thác tài liệu tham khảo, xây dựng đề thi
- Trong các trường thi ĐGNL hiện nay, số trường có phần thi Lịch sử tự luận
là quá ít (chỉ có duy nhất trường ĐHSP Hà Nội), đề thi cũng có cấu trúc mới nên cũng gây nhiều khó khăn cho học sinh và giáo viên Giáo viên thật sự lúng túng trong giải pháp xây dựng đề thi, qui trình xây dựng đề thi, những yêu cầu xây dựng
Trang 18đề thi và nhất là ít đề minh hoạ để tham khảo và làm quen
Từ thực trạng trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử cấp THPT đáp ứng yêu cầu của kỳ thi ĐGNL của các trường Đại học hiện nay
Chương 2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử
cấp THPT đáp ứng yêu cầu của kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường
Đại học hiện nay 2.1 Nâng cao chất lượng xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử tiếp cận kì thi Đánh giá năng lực
2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Có ba nguyên tắc cơ bản viết câu trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử mà giáo viên cần lưu ý:
Nguyên tắc 1 Câu hỏi/ bài tập kiểm tra đánh giá chỉ nên tập trung hoàn toàn
vào yêu cầu cần đạt
Đây là một nguyên tắc rất căn bản, cần đặc biệt lưu ý tuân thủ khi viết câu hỏi kiểm tra đánh giá Việc thiết kế câu hỏi đế đánh giá những nội dung kiến thức hay
kĩ năng nhỏ, không căn bản chi làm chúng ta mất thời gian mà không đạt được hiệu quả đánh giá Vì vậy, cần chú ý giới hạn câu hỏi tập trung vào những mục tiêu dạy học quan trọng
Nguyên tắc 2 Thiết kế câu hói/ bài tập kiểm tra đánh giá như thế nào để thông
qua đó người học thể hiện được những kiến thức, kĩ năng hay biểu hiện năng lực phù hợp vói mục tiêu dạy học
Để đảm bảo nguyên tắc này, người giáo viên cần biết rõ mình đang chuẩn bị đánh giá mục tiêu dạy học nào Nếu người học trả lời đúng câu hỏi/ làm đúng bài tập, có nghĩa là các em đã đạt được mục tiêu đầu ra Nếu các em làm sai/ trả lời sai, thì kết quả bài làm của người học cũng phải cung cấp thông tin cho người dạy biết người học đó còn chưa đạt mục tiêu dạy học ở điểm nào Nguyên tắc này giúp người dạy tránh được tình trạng đôi khi thiết kế những câu hỏi/ bài tập yêu cầu người học thể hiện cả những nét năng lực không cần thiết như đoán mò, sợ hãi, hay đặc biệt là khai thác sự khôn ngoan khi làm bài thi Sự khôn ngoan khi làm bài thi là một thuật ngữ chỉ khả năng sử dụng những chiến thuật làm bài thi của thí sinh, tận dụng những dấu hiệu gợi ý câu trả lời có thế xuất hiện trên những câu hỏi kém chất lượng, và tận dụng kinh nghiệm thi của bản thân để cải thiện điểm số cao hơn so với năng lực thật của mình Những nét năng lực này làm ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả đánh giá, hay nói cách khác là ảnh hưởng tới độ giá trị của câu hỏi/ bài tập Dựa trên kết quả đánh giá bằng những câu hỏi kém chất lưọng này, người dạy có thể mắc sai lầm khi kết luận một người học chưa đạt mục tiêu của bài học, trong khi thực tế
Trang 19người học thực sự có năng lực; và ngược lại, người học kém lại được coi là đã đạt được mục tiêu học tập đã đề ra
Nguyên tắc 3 Mỗi câu hỏi/ bài tập cần được diễn đạt trong sáng và chính xác
sao cho không cản trở người học thể hiện kiến thức, kĩ năng hoặc năng lực cần đánh giá
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo người dạy không thiết kế những câu hỏi có lối hành văn hoặc diễn đạt thiếu chính xác dẫn tới câu hỏi trở nên tối nghĩa hoặc khó hiểu, hậu quả là người học có năng lực nhưng lại không làm được bài; hoặc những vấn đề đơn giản như sử dụng từ không phù hợp, hướng dẫn làm bài có diễn đạt không tốt, hình vẽ minh họa không rõ ràng cũng có thể làm cho người học có học lực tốt
và làm chủ kiến thức nhưng lại trả lời sai
2.1.2 Nắm vững quy trình soạn bài trắc nghiệm khách quan
Bước 1 Xác định mục đích bài trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm có thể được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau:
- Thăm dò khả năng, năng lực riêng biệt của các học sinh trong một nhóm (Trắc nghiệm khả năng)
- Xác định những mặt mạnh, yếu trong một nhóm học sinh ở một lĩnh vực học tập nhất định (Trắc nghiệm chẩn đoán)
- Đánh giá mức độ kiến thức, kỹ năng thải độ học sinh đạt được trong một phần xác định của chương trình học tập (Trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập)
Nội dung và hình thức của mội bài trắc nghiệm phụ thuộc vào mục đích sử dụng nó Một bài trắc nghiệm chẩn đoán trình độ học sinh trước khi học một phần chương trình môn học sẽ khác với một bài trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập cuối năm về môn đó Bài trắc nghiệm xác định những học sinh mới ôn thi ĐGNL sẽ khác với bài trắc nghiệm phân loại trình độ học sinh khá giỏi trong thi ĐGNL
Đề thi môn Lịch sử trong kỳ thi ĐGNL tập trung vào 4 nhóm năng lực sau đây:
- Năng lực nhận, tài liệu đã lĩnh hội trước đó trên cơ sở tiếp xúc lại với nó
- Năng lực tái hiện tài liệu học tập hoặc các mặt riêng lẻ của nó mà không cần tiếp xúc lại với tài liệu nghĩa là chỉ dựa vào trí nhớ
- Năng lực giải quyết các nhiệm vụ cụ thể, thu nhận thông tin mới đối với bản chất bằng cách độc lập cải tổ tài liệu trong những hoàn cảnh quen thuộc hay chưa quen thuộc trong khuôn khổ cái đã học
- Năng lực tự cải tổ, xây dựng tài liệu đã học vào việc giải quyết những nhiệm
vụ trong hoàn cảnh mới Hoạt động này đã mang tính chất mềm dẻo, linh hoạt
Bước 2 Xác định cấu trúc nội dung (ma trận đề) bài trắc nghiệm khách quan
Trang 20Giáo viên cần phác thảo cấu trúc nội dung bài trắc nghiệm bằng cách dự kiến
số lượng, loại hình câu trắc nghiệm phân phối cho từng chủ đề kiến thức trong nội dung bài TNKQ
Bộ câu hỏi thông dụng nhất là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Các loại câu hỏi điển hình dành cho học sinh thi Tốt nghiệp THPT quốc gia chỉ duy nhất một
ý đúng, nhưng các câu hỏi của thi ĐGNL thường nội dung của câu hỏi có thể phức tạp hơn, chẳng hạn như câu hỏi để lấy những câu trả lời có hệ thống, hoặc những câu trả lời trực tiếp Khi chọn thang đo, cần xác định loại câu trả lời sẽ cho phép học sinh thể hiện được đúng với trình độ của mình
Bước 3 Soạn thảo các câu trắc nghiệm khách quan
Đối với những bài TNKQ do giáo viên tự biên soạn thì đây là khâu khó khăn nhất và mất rất nhiều thời gian, nhất là đối với giáo viên chưa có kinh nghiệm
- Khi biên soạn cần bám vào cấu trúc bài trắc nghiệm đã xác định để soạn thảo các câu hỏi Điều quan trọng nhất là các câu TNKQ soạn thảo ra phải có khả năng phát hiện, đo được và đánh giá được những điều cần tìm kiếm qua trắc nghiệm Nhiều giáo viên chưa có kinh nghiệm thường bị rơi vào cái bẫy chỉ đo những gì dễ
đo hơn là đo cái gì cần đo, viết những câu trắc nghiệm nào dễ viết hơn là viết những câu quan trọng cần viết Khuynh hướng hình thức này sẽ đem lại những thông tin ít
Bước 4 Trình bày bài trắc nghiệm khách quan
Bài trắc nghiệm có thể được in ra dưới 2 hình thức:
+ Bài trắc nghiệm cho phép học sinh trả lời ngay trên đó bằng cách điền vào chỗ trống hoặc đánh dấu vào câu mà mình lựa chọn Hình thức này có ưu điểm là tránh làm cho học sinh nhầm lẫn khi trả lời mỗi câu hỏi nhưng có nhược điểm là mỗi bài trắc nghiệm in ra chỉ sử dụng được một lần nên không tiết kiệm
+ Bài trắc nghiệm có phần để thi và phiếu làm bài riêng Học sinh trả lời vào phiếu bài làm và không được phép ghi bất kỳ một dấu hiệu nào trên các bài in các câu trắc nghiệm để có thể dùng được nhiều lần Bài làm của học sinh thực hiện độc lập trên một phiếu nhỏ cho việc chấm bằng tay hoặc bằng máy
2.1.3 Những lưu ý trong xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trang 21Thứ nhất Sử dụng cấu trúc đơn giản, từ ngữ chính xác
Nguyên tắc đầu tiên khi thiết kế câu hỏi trắc nghiệm đó chính là phải sử dụng cấu trúc câu đơn giản, từ ngữ chính xác Bởi nếu như giáo viên sử dụng cấu trúc dài dòng, từ ngữ khó hiểu học viên không hiểu câu hỏi là ý nghĩa là gì Dẫn đến tình trạng học sinh trả lời đáp án sai, bài kiểm tra không đánh giá đúng được năng lực của người học
Thứ hai Đáp án nên cùng chung độ dài
Nếu như giáo viên đang sử dụng những đáp án chỉ có 7 chữ, đột nhiên lại sử dụng đáp án dài hơn 10 chữ sẽ khiến cho học sinh chú ý tới đáp án đó và bỏ qua đáp
án còn lại Thêm nữa, nếu như người giáo viên sử dụng những đáp án có độ dài - ngắn lệch nhau cũng ảnh hưởng tới tính thẩm mỹ
Thứ ba Các đáp án phân tâm gần giống đáp án đúng
Sử dụng những đáp án câu hỏi trắc nghiệm không liên quan gì tới nhau là một sai lầm khiến rất nhiều người mắc phải khi số hóa nội dung bài giảng Bởi nó khiến cho người học dễ dàng nhận ra đó là đáp án sai, sau đó dùng phương pháp loại trừ chọn đáp án đúng Giáo viên nên sử dụng những đáp án phân tâm cao gần giống với đáp án đúng hay đáp án mà người học dễ mắc sai lầm trong quá trình tính toán Bởi điều này sẽ giúp cho người soạn đề kiểm tra kiến thức học sinh kỹ càng nhất có thể
Thứ tư Tránh lạm dụng các câu hỏi mẹo
Những câu hỏi mẹo sẽ tạo nên tính bất ngờ và thử thách cho bộ câu hỏi trắc nghiệm Tuy nhiên, nếu như giáo viên lạm dụng sử dụng quá nhiều những câu hỏi trắc nghiệm sẽ khiến cho bài giảng trở nên rối rắm, khiến học sinh phân tâm tốn thời gian hơn
Thứ năm Không nên đưa vào một câu trắc nghiệm nhiều thông tin, nhất là những thông tin không thuộc cùng một loại kiến thức
Đừng cố tăng mức độ khó các câu trắc nghiệm bằng cách làm cho nội dung của
nó thêm phức tạp, diễn đạt rườm rà quanh co Tránh cung cấp những thông tin đầu mối, dẫn tới câu trả lời Tránh những câu dẫn rập khuôn sách giáo khoa, khuyến khích học sinh học vẹt để dễ tìm ra câu trả lời đúng Trong cùng một bài trắc nghiệm, tránh tình trạng một câu nào đó lại cung cấp thông tin giúp cho việc trả lời đúng một câu khác
Thứ sáu Đề phòng những câu thừa giả thiết hoặc có nhiều phương án trả lời đúng
Việc đưa quá nhiều giả thiết làm câu hỏi nặng nề, rườm rà, học sinh mất tập trung sẽ làm sai hoặc mất quá nhiều thời gian Còn nếu 1 câu hỏi mà có nhiều phương
án trả lời đúng thì câu hỏi đó không đạt yêu cầu, gây tranh cãi
2.2 Các dạng đề thi trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử tiếp cận Kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học hiện nay
Trang 222.2.1 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan yêu cầu thí sinh lựa chọn câu trả lời đúng
- Cấu tạo của câu hỏi trắc nghiệm khách quan này sẽ gồm 2 phần:
+ Phần 1: Câu phát biểu căn bản gọi là câu dẫn hoặc câu hỏi (STEM)
+ Phần 2: Có 4 phương án (OPTIONS) để thí sinh lựa chọn, nhưng chỉ có một phương án đúng Các phương án còn lại là gây nhiễu (DISTACTERS)
- Chức năng chính của câu đề dẫn:
+ Đặt câu hỏi
+ Đưa ra yêu cầu hay mệnh lệnh cho học sinh thực hiện
+ Đặt ra tình huống hay vấn đề cho học sinh giải quyết
- Yêu cầu cơ bản khi viết câu dẫn là phải giúp học sinh biết và hiểu rõ:
+ Câu hỏi cần phải trả lời là gì?
+ Yêu cầu cần thực hiện là gì?
+ Vấn đề cần giải quyết là gì?
- Các phương án gây nhiễu có liên quan với đề dẫn và nội dung ý trả lời đúng, không “dị biệt” với phương án đúng (vì dễ bị “lộ”) Điều này đòi hỏi học sinh phải học nghiêm túc, đọc kĩ câu hỏi trước khi khoanh đáp án
- Loại câu hỏi này đã trở nên quen thuộc và thông dụng hiện nay
Ví dụ 1: Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng toàn diện vào giữa thế kỉ XIX, Nhật Bản đã
A tiến hành những cải cách tiến bộ
B nhờ sự giúp đỡ của các nước phương Tây
C thiết lập chế độ Mạc phủ mới
D duy trì nền quân chủ chuyên chế
Ví dụ 2: Thực dân Pháp lấy cớ gì để đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất (1873)?
A Khai thác tài nguyên khoáng sản
B Giải quyết “vụ Đuy – puy”
C Lôi kéo một số tín đồ Công giáo lầm lạc
D Nhà Nguyễn không thi hành Hiệp ước 1862
2.2.2 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan yêu cầu thí sinh lựa chọn câu trả lời đúng nhất
- Với loại câu hỏi này, lưu ý giáo viên phải xây dựng 4 phương án gây nhiễu (A, B, C, D) có thể có nhiều phương án đúng, nhưng chỉ có một phương án đúng nhất, đầy đủ nhất, bao trùm, quan trọng nhất, quyết định nhất
Trang 23Ví dụ 1: Các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh (1941 – 1945) ở Việt Nam được
thành lập theo lứa tuổi, nghề nghiệp đều được gọi là "Hội Cứu quốc”, vì muốn
A nhắc nhở người dân chống lại âm mưu “chia để trị” của đế quốc Mĩ
B nhân dân thực hiện đúng chủ trương và sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản
C nhắc nhở người dân nhớ nhiệm vụ chính là cứu nước, giải phóng dân tộc
D người dân nhớ về bài học lịch sử “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”
Ví dụ 2: Đâu là ý nghĩa của phong trào “vô sản hoá” do Hội Việt Nam Cách
mạng thanh niên phát động (1928)?
A Truyền bá lí luận cách mạng, thúc đẩy phong trào công nhân phát triển
B Phong trào công nhân bắt đầu chuyển từ tự phát sang tự giác
C Làm cho khuynh hướng dân chủ tư sản chiếm ưu thế hoàn toàn
D Chính thức xác lập quyền lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân
2.2.3 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan yêu cầu thí sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án (A, B, C, D) đã cho
- Câu hỏi được kiểm tra, đánh giá ở các mức độ khác nhau, yêu cầu học sinh không hiểu sai về các sự kiện, hiện tượng lịch sử
- Các cụm từ thường được sử dụng trong dạng câu hỏi này là không đúng, ngoại trừ, không phải, không chính xác và được in đậm từ phủ định
Ví dụ 1: Hoạt động nào dưới đây không phải do Phan Bội Châu khởi xướng ?
A Thành lập Hội Duy tân
B Lãnh đạo phong trào Đông du
C Phát động phong trào Duy tân ở Trung Kì
D Thành lập Việt Nam Quang phục hội
Ví dụ 2: Ý nào dưới đây phản ánh không chính xác về ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam?
A Đây là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao
B Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh cho “Mĩ cút”, đánh cho “ngụy nhào”
C Là kết quả cuộc đấu tranh kiên cường của quân dân hai miền đất nước
D Mĩ phải công nhận quyền dân tộc cơ bản và rút hết quân về nước
2.2.4 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm phát huy năng lực thực hành lịch sử
- So với đề thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia thì đây là một dạng đề mới Ở dạng câu hỏi này, giáo viên sẽ cho sẵn các dữ liệu, nhưng bị đảo lộn trật tự, nhiệm vụ của
Trang 24thí sinh phải kết nối lại hoặc sắp xếp đúng trật tự (thứ tự) logic của các sự kiện, hiện tượng lịch sử
- Xây dựng một số đề minh hoạ:
+ Đề thi yêu cầu thí sinh sắp xếp đúng tiến trình của sự kiện/ vấn đề lịch sử:
Ví dụ 1: Cho các dữ kiện lịch sử sau, hãy sắp xếp đúng trật tự về những hành
động của thực dân Pháp ở Việt Nam từ giữa thế kỉ XIX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất:
1) Tiến hành bình định Việt Nam;
2) Sử dụng vũ lực để xâm lược Việt Nam;
3) Tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất;
4) Thăm dò, ráo riết các hoạt động chuẩn bị xâm lược
A 4-1-3-2 B 4-2-3-1 C 4-1-2-3 D 4-2-1-3
Ví dụ 2: Hãy sắp xếp các dữ liệu lịch sử sau theo đúng trình tự thời gian diễn
biến Chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947:
1- Quân ta phục kích và thắng lớn ở Khe Lau;
2-Pháp huy động 12.000 quân và hầu hết các máy bay ở Đông Dương tiến công lên Việt Bắc;
3- Quân ta chủ động bao vây và tiến công, buộc địch phải rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã;
4- Đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc
A 3, 2, 1, 4 B 2, 3, 1, 4 C 1, 2, 3, 4 D 2, 3, 4, 1
+ Đề thi yêu cầu thí sinh nối thông tin chính xác giữa hai nhóm sự kiện lịch sử:
Ví dụ 1: Cho bảng dữ liệu sau:
1) 9/3/1945 a) Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh 2)15/8 1945 b) Quân lệnh số 1 được ban bố
3)13/8/1945 c) Đại hội Quốc dân Tần Trào
Chọn đáp án đúng khi nối thời gian phù hợp với sự kiện lịch sử
A 1-a, 2-b, 3-c, 4 - d B 1-b, 2-c, 3-a, 4-b
C 1-d, 2-a, 3 - b, 4 - c D 1-b,2-c,3-d,4-a
Trang 25Ví dụ 2: Dựa vào nội dung trong bảng dưới đây, hãy chọn đáp án đúng về người
lãnh đạo (cột bên trái) và các cuộc khởi nghĩa tương ứng (cột bên phải) trong phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở Việt Nam
1 Phan Đình Phùng a Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)
2 Nguyễn Thiện Thuật b Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892)
3 Phạm Bành, Đinh Công Tráng c Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887)
4 Hoàng Hoa Thám d Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896)
A 1.d; 2.b; 3.c; 4.a B 1.b; 2.d; 3.c; 4.a
C 1.d; 2.a; 3.c; 4.b D 1.d; 2.c; 3b; 4.a
2.2.5 Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm phát huy năng lực khai thác
và đọc hiểu tư liệu lịch sử
- Đây là một dạng câu hỏi phân biệt rõ năng lực và phân hoá được thí sinh nên trong đề thi ĐGNL các trường Đại học rất hay sử dụng
- Câu hỏi sẽ đưa ra 1 đoạn tư liệu, kênh hình, bảng số liệu liên quan trực tiếp đến một sự kiện, hiện tượng lịch sử quan trọng (có trong sách giáo khoa hoặc ngoài sách giáo khoa) Đoạn tư liệu là căn cứ định hướng cho các em tư duy, suy luận để đưa ra quyết định lựa chọn So với đề thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia thì đây là một dạng đề mới và khó
Ví dụ:
+ Đề minh hoạ ĐGNL trường ĐHQG TPHCM năm 2022:
Trang 26+ Đề minh hoạ ĐGNL của trường ĐHQG Hà Nội năm 2022:
Trang 27- Yêu cầu:
+ Để ra được loại đề này, yêu cầu Giáo viên phải sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau: có thể sử dụng 1 đoạn trích ở SGK và các tư liệu lịch sử tham khảo khác
+ Phải trích dẫn nguồn tư liệu
+ Mỗi tư liệu sẽ áp dụng từ 2- 3 câu hỏi
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi phải nhằm phát huy năng lực khai thác tư liệu lịch
sử và năng lực đọc hiểu văn bản lịch sử đảm bảo các mức độ khi sử dụng tư liệu, thường là mức độ Nhận biết: 1 câu; Thông hiểu: 1 câu; Vận dụng/ Vận dụng cao: 1 câu
- Sau đây là 1 số đề minh hoạ:
+ Đề thi có nguồn trích dẫn tư liệu từ Sách giáo khoa của NXB Giáo dục:
Ví dụ 1: Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi
từ câu 115 đến câu 117:
Trang 28Liên Xô là nước chịu tổn thất nặng nề nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai: khoảng 27 triệu người chết, 1710 thành phố, hơn 7 vạn làng mạc, gần 32000 xí nghiệp bị tàn phá nặng nề
Với tinh thần tự lực tự cường, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm khôi phục kinh tế (1946 – 1950) trong vòng 4 năm 3 tháng
Công nghiệp được phục hồi vào năm 1947 Đến năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp tăng 73% so với mức trước chiến tranh (kế hoạch dự kiến là 48%), hơn
6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây dựng mới đi vào hoạt động Sản xuất nông nghiệp năm 1950 đã đạt được mức trước chiến tranh
Khoa học - kĩ thuật phát triển nhanh chóng Năm 1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ
Từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70, Liên Xô tiếp tục xây dựng chủ nghĩa
xã hội Trong thời gian này, Liên Xô đã thực hiện nhiều kế hoạch dài hạn nhằm tiếp tục xảy dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội Các kế hoạch này về cơ bản đều hoàn thành với nhiều thành tựu to lớn
Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ), một số ngành công nghiệp có sản lượng cao vào loại nhất thế giới như dầu mỏ, than, thép v.v… Liên Xô đi đầu trong công nghiệp vũ trụ, công nghiệp điện hạt nhân
Về khoa học - kĩ thuật: Năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công
vệ tinh nhân tạo Năm 1961, Liên Xô đã phóng con tàu vũ trụ đưa nhà du hành vũ trụ I Gagarin bay vòng quanh Trái Đất, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người
Về xã hội: Đất nước Liên Xô cũng có nhiều biến đổi Tỉ lệ công nhân chiếm hơn 55% số người lao động trong cả nước Trình độ học vấn của người dân không ngừng được nâng cao
Về đối ngoại: Liên Xô thực hiện chính sách bảo vệ hoà bình thế giới, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa
(Nguồn: SGK Lịch sử 12, trang 10 – 11)
Câu 115: Yếu tố quyết định thành công của Liên Xô trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1946 - 1950) là
A nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai
B tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân Liên Xô
C có lãnh thổ rộng lớn, giàu tài nguyên thiên nhiên
D hợp tác có hiệu quả với các nước Đông Âu
Câu 116: Năm 1961, diễn ra sự kiện gì mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người?
A Phạm Tuân (Việt Nam) trở thành người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ
Trang 29B Dương Lợi Vĩ (Trung Quốc) trở thành người đầu tiên bay vào không gian
C Amstrong (Mĩ) trở thành người đầu tiên đi bộ trên Mặt Trăng
D Gagarin (Liên Xô) trở thành người đầu tiên bay vòng quanh Trái Đất Câu 117: Nhận định nào dưới đây về chính sách đối ngoại của Liên Xô từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX là đúng?
A Trung lập, tích cực B Liên minh chặt chẽ với Mĩ
C Tích cực, tiến bộ D Hòa bình, trung lập
Ví dụ 2: Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi
từ câu 118 đến câu 120:
Sau khi được phục hồi, từ năm 1952 đến năm 1960, kinh tế Nhật Bản có bước
phát triển nhanh, nhất là từ năm 1960 đến năm 1973, thường được gọi là giai đoạn phát triển “thần kì"
Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của Nhật Bản từ năm 1960 đến năm
1969 là 10,8%; từ năm 1970 đến năm 1973, tuy có giảm đi nhung vẫn đạt bình quân 7,8%, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác Năm 1968, kinh tế Nhật Bản đã vượt Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Italia và Canađa, vươn lên đứng thứ hai trong thế giới tư bản (sau Mĩ)
Từ đầu những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh
tế - tài chính lớn của thế giới (cùng với Mĩ và Tây Âu)
Nhật Bản rất coi trọng giáo dục và khoa học - kĩ thuật, luôn tìm cách đẩy nhanh
sự phát triển bằng cách mua bằng phát minh sáng chế Tính đến năm 1968, Nhật Bản
đã mua bằng phát minh của nước ngoài trị giá tới 6 tỉ USD Khoa học – kĩ thuật và công nghệ Nhật Bản chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất ứng dụng dân dụng, đạt được nhiều thành tựu lớn
Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một siêu cường kinh tế (sau Mī) là do một số yếu tố sau: 1 Ở Nhật Bản, con người được coi là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu; 2 Vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước; 3 Các công ti Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm lực và sức cạnh tranh cao; 4 Nhật Bản biết áp dụng các thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm; 5 Chi phí cho quốc phòng của Nhật Bản thấp (không vượt quá 1% GDP), nên có điều kiện tập trung vốn đầu
tư cho kinh tế; 6 Nhật Bản đã tận dụng tốt các yếu tố bên ngoài để phát triển, như nguồn viện trợ của Mĩ, các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên (1950 - 1953) và Việt Nam (1954 - 1975) để làm giàu v.v
(Nguồn: SGK Lịch sử 12, trang 54 – 55)
Câu 118: Ý nào không phải là biểu hiện sự phát triển “thần kì” của kinh tế
Nhật Bản trong giai đoạn 1960-1973?
Trang 30A Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm luôn đạt hai con số, xấp xỉ 11%
B Vươn lên thành siêu cường tài chính số một, là chủ nợ lớn nhất thế giới
C Năm 1968, kinh tế Nhật Bản vượt qua Anh, Pháp, Đức, Italia và Canađa
D Năm 1968, Nhật Bản trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới tư bản
Câu 119: Từ năm 1952 đến năm 1973, khoa học - kĩ thuật và công nghệ của
Nhật Bản chủ yếu tập trung vào lĩnh vực
A chinh phục vũ trụ B công nghiệp quốc phòng
C sản xuất ứng dụng dân dụng D khoa học cơ bản
Câu 120: Bài học quan trọng từ sự phát triển “thần kì” của Nhật Bản sau Chiến
tranh thế giới thứ hai mà Việt Nam có thể vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước hiện nay là
A luôn luôn nhận các nguồn viện trợ từ bên ngoài để phát triển
B hạn chế ngân sách quốc phòng để tập trung phát triển kinh tế
C áp dụng thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại vào sản xuất
D tăng cường vai trò quản lý điều tiết của các công ty độc quyền
Ví dụ 3: Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 109 đến 110:
Từ ngày 11 đến ngày 19 – 2 – 1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở xã Vinh Quang (Chiêm Hoá - Tuyên Quang)
Đại hội thông qua hai bản báo cáo quan trọng :
Báo cáo chính trị, do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, đã tổng kết kinh nghiệm
đấu tranh của Đảng qua các chặng đường lịch sử đấu tranh oanh liệt kể từ ngày ra đời, khẳng định đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng
Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam, do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày,
nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một Đảng Mác - Lênin riêng, có cương lĩnh phù hợp với đặc điểm phát triển của từng dân tộc
Ở Việt Nam, Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên mới
là Đảng Lao động Việt Nam, tiếp tục đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Đại hội Đảng thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới quyết định xuất bản báo Nhân dân - cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng
Trang 31(Nguồn: SGK Lịch sử 12, ban Cơ bản, trang 140)
Câu 109: Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2 năm 1951) quyết
định đổi tên Đảng thành
A Đảng Cộng sản Đông Dương B Đảng Cộng sản Việt Nam
C Đảng Lao động Việt Nam D Đông Dương cộng sản Đảng
Câu 110: Bước phát triển của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng
2-1951) so với Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941) thể hiện ở chỗ
A tăng cường sức mạnh của đảng cầm quyền
B thực hiện cải cách ruộng đất cho nông dân
C đề cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc
D tập hợp lực lượng trong mặt trận Liên Việt
+ Đề thi có nguồn trích dẫn tư liệu từ tài liệu tham khảo:
Ví dụ 1: Dựa vào biểu đồ Sản lượng than trung bình theo từng thời kì (từ 1919
– 1943) ở Việt Nam để trả lời câu hỏi sau:
<Nguyễn Văn Khánh, Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa
(1858-1945), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000, trang 104>
Nhận xét nào sau đây đúng về sản lượng khai thác than trung bình theo từng thời kì ở Việt Nam?
A Sản lượng khai thác than ở Việt Nam tăng liên tục từ năm 1919 – 1939
B Sản lượng khai thác than ở Việt Nam tăng liên tục từ năm 1919 – 1943
Trang 32D Trong thập niên 30 (XX), sản lượng khai thác than có sự suy giảm
Ví dụ 2: Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời câu hỏi sau đây:
Bảng số lượng quân đưa từ miền Bắc vào miền Nam giai đoạn 1959 - 1975:
Năm Số quân (Người)
(Hồ Khang, Miền Bắc, hậu phương lớn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước, https://nhandan.com.vn)
Miền Bắc viện trợ quân số nhiều nhất cho miền Nam Việt Nam khi Mĩ đang thực hiện chiến lược chiến tranh nào?
A “Chiến tranh cục bộ” B “Việt Nam hoá chiến tranh”
C « Chiến tranh đặc biệt » D « Chiến tranh đơn phương »
Ví dụ 3: Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 109 đến 110:
Thế kỉ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển
lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ về dân số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế, …
Trong một vài thập kỉ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có những bước tiến mới Khu vực Đông Nam
Á, châu Á - Thái Bình Dương sau khủng hoảng tài chính - kinh tế có khả năng phát triển năng động nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định
Trang 33Những nét mới ấy trong tình hình thế giới và khu vực có tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta Trước mắt nhân dân ta có cả cơ hội lớn và thách thức lớn
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
NXB CTQG, H., 2001, trang 64 - 65)
Câu 109: Ảnh hưởng của chủ nghĩa li khai, chủ nghĩa khủng bố đến xu thế phát
triển của thế giới ngày nay là
A Tạo ra cuộc chạy đua kinh tế mới trên thế giới
B Góp phần tạo nên xu thế « đơn cực » trong quan hệ quốc tế
C Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá phát triển mạnh mẽ
D Tình hình an ninh thế giới chứa đựng nhiều bất ổn
Câu 110: Thách thức đặt ra cho Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay
là gì?
A Sự vơi cạn tài nguyên thiên nhiên
B Sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế
C Sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế
D Sự lũng đoạn của các công ty đa quốc gia
2.3 Nâng cao chất lượng xây dựng đề thi tự luận môn Lịch sử tiếp cận Kỳ thi Đánh giá năng lực của một số trường Đại học hiện nay
Trong số các trường Đại học tổ chức thi ĐGNL thì hiện nay chỉ có trường
ĐHSP Hà Nội có đề thi riêng từng môn Trong đó môn Lịch sử có cả phần thi trắc
nghiệm (28 câu, 7,0 điểm) và phần thi tự luận (3,0 điểm)
2.3.1 Định hướng trong việc xây dựng đề thi tự luận môn Lịch sử kỳ thi Đánh giá năng lực
Phân tích đề thi tự luận của trường ĐHSP Hà Nội mấy năm gần đây, chúng tôi đưa ra định hướng trong việc xây dựng đề thi tự luận như sau:
- Phần câu dẫn: dùng 1 đoạn tư liệu lịch sử, tranh ảnh lịch sử
- Phần câu hỏi: chia thành nhiều câu hỏi nhỏ, thí sinh viết câu trả lời tương đối ngắn gọn theo yêu cầu
- Mức độ đề thi: bao gồm 4 câu thuộc 4 mức độ: NB, TH, VD, VDC
+ Nội dung kiến thức thi: Hiện nay tập trung chủ yếu phần Lịch sử lớp 12
Ví dụ: Đề thi minh hoạ của trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2023:
Trang 342.3.2 Một số giải pháp xây dựng đề tự luận môn Lịch sử cho kỳ thi Đánh giá năng lực
- Giáo viên cần có ý thức nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, nhất là sưu tầm và khai thác nhiều tài liệu tham khảo để có “vốn” trong chọn câu dẫn (cung cấp dữ liệu)
- Định hướng được đáp án của các câu hỏi, yêu cầu đơn giản, ngắn gọn, súc tích nhưng phải đủ ý
- Bám sát dữ liệu đã cung cấp để đặt 4 câu hỏi theo 4 mức độ tư duy:
+ Dạng câu hỏi tái hiện (nhận biết): Câu hỏi này thường yêu cầu HS nhớ lại
những kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới Mặc dù là những câu hỏi, bài tập
dễ, đơn giản nhưng là cơ sở để khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức Nó giúp học sinh củng cố, hiểu sâu hơn kiến thức cũ, làm cơ sở cho việc tiếp nhận kiến thức mới, không bị gián đoạn trong nhận thức
+ Dạng câu hỏi, bài tập yêu cầu lí giải vấn đề (thông hiểu) : Câu hỏi này thường
yêu cầu HS lí giải được một vấn đề lịch sử nào đó hoặc lí giải mối quan hệ giữa các
sự kiện khác nhau trong cùng một chủ đề
+ Dạng hỏi, bài tập yêu cầu phân tích và khái quát hoá (vận dụng): Loại câu
hỏi này nhằm làm cho học sinh tiếp thu tốt kiến thức trình bày, hiểu được tính lôgíc, bản chất của sự kiện lịch sử Trong việc sử dụng loại câu hỏi này, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử Câu hỏi nêu ra thường liên quan đến các sự kiện cơ bản đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp của nhiều hiện tượng, để tìm ra tính lôgic, bản chất của sự kiện
+ Dạng câu hỏi tìm tòi, phát hiện (vận dụng cao):
Loại câu hỏi này nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh khi giải quyết các nhiệm vụ học tập phức tạp Trong trường hợp này, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh huy động những kiến thức cần thiết đã thu nhận được trong quá trình học tập,
Trang 35trong hoạt động thực tiễn (quan sát, nhận xét ) để so sánh, đối chiếu các sự kiện lịch sử bằng suy đoán lôgic và tự tìm ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra Câu hỏi, bài tập tìm tòi phát hiện bao gồm một chuỗi các câu hỏi lần lượt tìm hiểu các vấn đề nhỏ, bộ phận có liên quan đến nhau, hợp thành vấn đề lớn cơ bản Việc giải quyết các câu hỏi nhỏ có tinh gợi ý, bổ trợ sẽ dẫn đến việc giải quyết vấn đề chính
Loại câu hỏi này thường được sử dụng ở đối tượng học sinh khá giỏi, có khả năng tư duy lô gic, phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử để rút ra kết luận từ đó lí giải nguyên nhân, ý nghĩa, đặc điểm các sự kiện, nhân vật lịch sử
2.3.3 Qui trình xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận môn Lịch sử trong kỳ thi Đánh giá năng lực
Bước 1 Xác định chủ đề/ nội dung
Chọn chủ đề để mô tả các mức độ nhận thức và định hướng năng lực được hình thành của chủ đề đó Chủ đề được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông Trong sách giáo khoa, nội dung của chủ đề được thể hiện là chương Một chương có thể là một bài hoặc một số bài Trong nguồn tài liệu tham khảo khác thì phải dùng đoạn trích dẫn ở trong giai đoạn lịch sử nào
Bước 2 Mô tả các mức độ nhận thức cần đạt theo định hướng đáp ứng năng lực được hình thành trong chủ đề/ nội dung
- Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình giáo thông hiện hành
- Mô tả các mức độ nhận thức cần đạt được và định hướng năng lực được hình thành trong chủ đề
Vận dụng
(Mô tả yêu cầu cần đạt)
Vận dụng cao
(Mô tả yêu cầu cần đạt)
- Định hướng năng lực hình thành của chủ đề: Ví dụ sự kiện, hiện tượng; năng lực so sánh, phân tích, đánh giá, vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề, liên
hệ thực tế
* Lưu ý: Khi mô tả các chuẩn cần đánh giá ở mỗi cấp độ tư duy:
+ Chuẩn được chọn để đánh giá có vai trò quan trọng trong chương trình môn học Có thời lượng qui định trong phân phối chương trình
+ Mỗi nội dung, bài, mục đều có những chuẩn đại diện để đánh giá
+ Số lượng chuẩn cần dánh giá cần phải được cân đối cho phù hợp với khung chương trình đã định
Trang 36+ Trong một chuẩn có thể được đánh giá ở nhiều cấp độ khác nhau
Bước 3 Xây dựng câu hỏi cho từng mức độ nhận thức và năng lực
- Trên cơ sở các mức độ nhận thức cần đạt được và định hướng năng lực được hình thành trong chủ đề tiến hành biên soạn câu hỏi bài tập theo bảng đã mô tả
- Một chuẩn có thể ra nhiều câu hỏi khác nhau dưới những hình thức câu hỏi khác nhau
- Một chuẩn có thể ra nhiều câu hỏi khác nhau dưới những câu hỏi khác nhau
- Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, chú ý đến kĩ thuật biên soạn câu hỏi bài tập
Bước 4 Chỉnh sửa lại câu hỏi/bài tập
Đây là khâu kiểm tra cuối cùng trước khi hoàn thiện đề thi Trong quá trình này cần lưu ý lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, cân chỉnh các mức độ nhận thức theo đề minh hoạ ĐGNL
2.3.4 Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận môn Lịch sử trong đề thi Đánh giá năng lực
+ Câu hỏi, bài tập phải đánh giá được những nội dung cơ bản của chương trình; + Câu hỏi, bài tập phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày
và số điểm tương ứng;
+ Câu hỏi phải thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
+ Từ ngữ, cấu trúc của câu phải rõ ràng, ngôn ngữ trong sáng và dễ hiểu đối với mọi HS;
+ Yêu cầu của câu phải phù hợp với trình độ và nhận thức của HS;
+ Câu hỏi, bài tập phải nêu rõ các vấn đề: mục đích kiểm tra, thời gian làm bài, các tiêu chỉ cần đạt:
Nhận biết (bậc 1): Với các động từ nêu, liệt kê, trình bày, khái quát, kể tên Thông hiểu (bậc 2): Với các động từ giải thích, phân biệt, tại sao, vì giải, vì
sao nói sao, hãy lí giải
Vận dụng (bậc 3): Với các động từ so sánh, phân tích, bình luận, nhận xét, vận
dụng,
Vận dụng cao (bậc 4): Với các động từ: phát biểu ý kiến, đánh giá
2.3.5 Xây dựng một số đề tự luận môn Lịch sử minh hoạ kì thi Đánh giá năng lực
Ví dụ 1/ Cho đoạn tư liệu:
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn:
Trang 37“ Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa ! Không ! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước ”
(Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục, trang 131) Dựa vào đoạn tư liệu trên và những kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946, hãy:
1 Cho biết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
được ra đời trong hoàn cảnh nào?
2 Em có nhận xét gì về chủ trương “không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân
tộc” của Hồ Chủ tịch?
3 Từ đoạn tư liệu trên, hãy nêu một số bài học kinh nghiệm được rút ra trong công cuộc đấu tranh và xây dựng tổ quốc Việt Nam hiện nay
Ví dụ 2/ Cho đoạn tư liệu:
“Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn
cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc
Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh
để chống Nhật Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”