1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng stress và một số yếu tố ảnh hưởng ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng bệnh viện da liễu trung ương năm 2020

147 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng stress và một số yếu tố ảnh hưởng ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020
Tác giả Thái Thu Hằng
Người hướng dẫn TS. Phạm Tiến Nam
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nhằm tìm hiểu thực trạng và tìm ra giải pháp giảm thiểu stress ở điều dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện, nghiên cứu “Thực trạng stress và một số yế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI THU HẰNG

THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Ở ĐIỀU DƯỠNG LÀM VIỆC TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, 2021 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI THU HẰNG

THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Ở ĐIỀU DƯỠNG LÀM VIỆC TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG

BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành đề cương luận văn thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Nhà trường, giảng viên, cơ quan công tác, gia đình và người thân

Để đạt được kết quả hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại Học, các thầy cô giáo Trường Đại Học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong khóa học Đặc biệt, xin cho tôi gửi lời tri ân sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn của tôi, TS.Phạm Tiến Nam – Trưởng

bộ môn Công tác Xã hội, Trường Đại học Y tế Công cộng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này Kiến thức về học thuật, sự tận tình trong giảng dạy, hướng dẫn của các thầy, cô đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, một tầm nhìn mới, sự tự tin trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin dành tình cảm đặc biệt và sự biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo Bệnh viện Da liễu Trung ương, các chuyên gia và đồng nghiệp tại Bệnh viện đã dành cho tôi những tình cảm, sự hỗ trợ toàn diện, quí báu giúp tôi triển khai thành công nghiên cứu này

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Mặc dù đã rất cố gắng tuy nhiên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những mặt hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của các chuyên gia để tôi rút kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu sau này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

HỌC VIÊN

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v

TÓM TẮT vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan 5

1.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng 8

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến stress ở điều dưỡng 15

1.4 Một số thang đo đánh giá mức độ căng thẳng 20

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 22

1.6 Khung lý thuyết 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Thiết kế nghiên cứu 25

2.4 Cỡ mẫu 26

2.5 Phương pháp chọn mẫu 26

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.7 Các biến số nghiên cứu 29

2.8 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá 30

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 30

2.10 Đạo đức của nghiên cứu 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 33

3.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020 37

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020 40

HUPH

Trang 5

Chương 4: BÀN LUẬN 74

4.1 Thực trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020 74

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020 77

4.3 Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 88

KẾT LUẬN 90

KHUYẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 97

PHỤ LỤC 1: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 97

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHÁT VẤN ĐIỀU DƯỠNG TẠI BV DA LIỄU TW 106

PHỤ LỤC 3: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU ĐIỀU DƯỠNG 115

PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO BỆNH VIỆN 117

PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM LÃNH ĐẠO CÁC PHÒNG CHỨC NĂNG 120

PHỤ LỤC 6: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM LÃNH ĐẠO CÁC KHOA LÂM SÀNG 123

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DASS Depression Anxiety and Stress Scales

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ENSS Expanded Nursing Stress Scale

PSS – 10 Perceived Stress Scale – 10

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1: Một số thông tin về hoạt động chuyên môn trong 5 năm (2015-2019) của

Bệnh viện Da liễu Trung ương 23

Bảng 3.1: Một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng 33

Bảng 3.2: Một số đặc điểm về việc làm của điều dưỡng 33

Bảng 3.3: Một số hành vi liên quan đến sức khỏe của điều dưỡng 35

Bảng 3.4: Một số đặc điểm về tình hình sức khỏe của điều dưỡng 36

Bảng 3.5: Tỷ lệ điều dưỡng có các biểu hiện căng thẳng (n=154) 37

Biểu đồ 3.1: Tình hình mắc stress của điều dưỡng (n=154) 38

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ điều dưỡng mắc stress theo từng mức độ (n=154) 39

Bảng 3.6: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với tình trạng stress của điều dưỡng 40

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với với mức độ stress của điều dưỡng 41

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số đặc điểm việc làm với tình trạng stress của điều dưỡng 42

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa một số đặc điểm việc làm với với mức độ stress của điều dưỡng 44

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa một số hành vi liên quan đến sức khỏe và tình trạng stress của điều dưỡng 45

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số hành vi liên quan đến sức khỏe và mức độ stress của điều dưỡng 45

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa tình hình sức khỏe và tình trạng stress của điều dưỡng 47

Bảng 3.13: Mối liên quan giữa tình hình sức khỏe và mức độ stress của điều dưỡng 47 Bảng 3.14: Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình với tình trạng stress của điều dưỡng 48

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình với mức độ stress của điều dưỡng 50

HUPH

Trang 8

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa đặc thù vị trí công việc với tình trạng stress của điều

Bảng 3.20: Mối liên quan giữa mức độ phù hợp của công việc với tình trạng stress

của điều dưỡng 59

Bảng 3.21: Mối liên quan giữa mức độ phù hợp của công việc với mức độ stress của

điều dưỡng 60

Bảng 3.22: Mối liên quan giữa điều kiện cơ sở vật chất tại nơi làm việc với tình

trạng stress của điều dưỡng 61

Bảng 3.23: Mối liên quan giữa điều kiện cơ sở vật chất tại nơi làm việc với mức độ

stress của điều dưỡng 64

Bảng 3.24: Mối liên quan giữa tình trạng công bằng và ổn định trong công việc với

tình trạng stress của điều dưỡng 65

Bảng 3.25: Mối liên quan giữa tình trạng công bằng và ổn định trong công việc với

mức độ stress của điều dưỡng 67

Bảng 3.26: Mối liên quan giữa các các mối quan hệ với tình trạng stress của điều

dưỡng 68

Bảng 3.27: Mối liên quan giữa các các mối quan hệ với mức độ stress của điều

dưỡng 69

Bảng 3.28: Mối liên quan giữa thu nhập và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp với

tình trạng stress của điều dưỡng 70

Bảng 3.29: Mối liên quan giữa thu nhập và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp với mức độ stress của điều dưỡng 71

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT

Nhằm tìm hiểu thực trạng và tìm ra giải pháp giảm thiểu stress ở điều dưỡng,

góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện, nghiên cứu “Thực trạng stress và một số yếu tố ảnh hưởng ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020” được tiến hành với 2 mục tiêu:

1_Mô tả thực trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện

Da liễu Trung ương năm 2020; 2_Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020

Nghiên cứ u mô tả cắ t ngang kết hợp đi ̣nh lượng và đi ̣nh tính được tiến hành trong tháng 08/2020 Thông tin định lượng được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền với

sự tham gia của toàn bộ 154 điều dưỡng đang làm việc tại Bệnh viện Thông tin định tính được tiến hành sau khi có kết quả nghiên cứu định lượng bằng việc phỏng vấn sâu với Lãnh đạo Bệnh viện, phỏng vấn sâu nhân viên y tế với các mức độ stress khác nhau (5 cuộc) và 2 cuộc thảo luận với đại diện Phòng chức năng và đại diện Lãnh đạo các Khoa lâm sàng Tình trạng stress trong nghiên cứu được xác định bằng Thang đo DASS 21

Kết quả cho thấy tỷ lệ stress của điều dưỡng là 51,9% Tỷ lệ điều dưỡng mắc stress theo các mức độ nhẹ - vừa – nặng – rất nặng lần lượt là 19,5%, 25,9%, 5,2%

và 1,3% Toàn bộ 154 điều dưỡng được khảo sát đều phản ánh gặp ít nhất 1 biểu hiện stress trong tuần qua Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng và mức độ stress ở điều dưỡng bao gồm các yếu tố cá nhân, gia đình, nghề nghiệp và xã hội

Có 12 yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng stress của điều dưỡng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p≤0,05 và 10 yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng stress của điều dưỡng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p≤0,001 Có 14 yếu tố ảnh hưởng tới mức độ stress của điều dưỡng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p≤0,05 Các kết quả định tính cũng cho thấy nhiều yếu tố làm gia tăng tình trạng và mức độ stress ở điều dưỡng như yếu tố giới (nữ giới), những người đã có gia đình, phải chăm con nhỏ, đặc thù nghề nghiệp tồn tại nhiều yếu tố nguy cơ gây hại đến sức khoẻ, đặc biệt là lây nhiễm các bệnh về da, khối lượng công việc quá tải và áp lực

về đánh giá, nhận xét của lãnh đạo và khách hàng,…

HUPH

Trang 10

Nghiên cứu khuyến nghị Bệnh viện tầm soát nhằm phát hiện các điều dưỡng

có dấu hiệu của stress để có biện pháp hỗ trợ nhằm giảm stress cho họ Các điều dưỡng có xác định stress trong nghiên cứu cần được khám bác sỹ chuyên khoa tâm thần kinh, được can thiệp điều trị kịp thời Bên cạnh đó, các hoạt động đoàn thể, phòng chống dịch, kế hoạch đào tạo cũng cần được tăng cường và cụ thể hóa Bản thân đội ngũ điều dưỡng của BV cũng cần tự rèn luyện kỹ năng ứng xử và giao tiếp, chủ động phản ánh ý kiến, tâm tư nguyện vọng đối với các cấp lãnh đạo của bệnh viện

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe tâm thần (SKTT) đang là vấn đề sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống ở nhiều nhóm tuổi, trong đó, căng thẳng (stress) là một dấu hiệu thường được quan tâm đo lường trong cộng đồng Stress được định nghĩa là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng (1) Đây là yếu tố gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều áp lực (2,3) Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã chỉ ra, các nhân viên y tế (NVYT) làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần

so với các ngành nghề khác (4,5,6) Trong đó, điều dưỡng là một trong những nghề đứng đầu danh sách có nguy cơ stress (5,7,8)

Trên thế giới, tỷ lệ stress ở điều dưỡng có sự khác nhau giữa các quốc gia, khu vực Một nghiên cứu tại Canada năm 2006 cho biết, 75% điều dưỡng viên nói rằng căng thẳng của họ là khá khắc nghiệt và không thỏa mãn với cuộc sống 65% điều dưỡng trong một nghiên cứu khác ở Mỹ cho biết những điều kiện làm việc ở bệnh viện (BV) hiện nay khắc nghiệt đối với họ; gần một nửa muốn bỏ nghề (9) Tại Việt Nam, tỷ lệ điều dưỡng bị stress nghề nghiệp tại Việt Nam qua các nghiên cứu dao động từ 41,9% đến 46% (7,8,10) Đặc biệt, có sự khác biệt về tỉ lệ stress giữa các BV thuộc 3 tuyến Trung ương (TW), tỉnh và huyện (11) Số điều dưỡng bị stress ở tuyến TW cao nhất, tiếp đến là tuyến tỉnh và thấp nhất là tuyến huyện Các yếu tố gây stress cho điều dưỡng bao gồm việc thường xuyên gặp phải các phản ứng của người bệnh và người nhà người bệnh, thâm niên công tác, thời gian làm việc quá nhiều, công việc nhiều áp lực, làm việc trong điều kiện thiếu thốn máy móc, trang thiết bị, đông người, ồn ào, tiếp xúc nhiều mầm bệnh, dễ bị thương tích, thu nhập chưa thỏa đáng và công việc ít có cơ hội thăng tiến… (12) Không chỉ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với cá nhân điều dưỡng, stress còn gián tiếp gây ra một số hành vi không tốt ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bệnh, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị, chăm sóc người bệnh và hình ảnh của BV

HUPH

Trang 12

Để đảm bảo sức khỏe cho NVYT nói chung và điều dưỡng viên nói riêng, cần phòng ngừa stress một cách hiệu quả thông qua các biện pháp dự phòng, kiểm soát Tuy nhiên, những yếu tố gây stress luôn đa dạng và đan xen phức tạp Sự đo lường stress rất khó khăn bởi vì nó còn đang được tiếp tục nghiên cứu (13) Các triệu chứng đặc trưng của stress đều là các triệu chứng khó xác định như mệt mỏi, rối loạn tiêu hoá, khó ngủ Ngành Y tế lại đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn như lượng bệnh đông, nhu cầu chăm sóc, sử dụng dịch vụ tiên tiến cao, khối lượng công việc lớn Muốn giải quyết vấn đề, cần phải có sự kết hợp nhiều yếu tố Đặc biệt, cần khảo sát tình hình thực tế và phát hiện các nhân viên đã

bị tác động của stress tại cơ quan để có các biện pháp hỗ trợ cụ thể Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, việc lựa chọn đối tượng ưu tiên để tiến hành nghiên cứu cũng là vấn đề cần quan tâm Theo Báo cáo Tổng quan quốc gia về Nhân lực y tế Việt Nam năm 2018, điều dưỡng là chức danh nghề nghiệp có số lượng nhân lực lớn nhất trong hệ thống y tế công, chiếm tỷ lệ 23% Trong đó, đa phần là các điều dưỡng trình độ trung cấp (chiếm 86%) (14) Với đặc thù công việc vất vả và bận rộn cả ngày, thường xuyên tiếp xúc với các bệnh nhân, áp lực căng thẳng, mệt mỏi với điều dưỡng viên là không thể tránh khỏi Đây là đối tượng cần được ưu tiên trong việc xác định tình trạng stress cũng như có các biện pháp hỗ trợ, dự phòng

BV Da liễu TW là BV tuyến TW trực thuộc Bộ Y tế, là cơ sở chuyên khoa đầu ngành về da liễu Trong những năm qua, nhờ những nỗ lực mang tính tập thể,

BV luôn là lựa chọn hàng đầu của người bệnh khi có nhu cầu và được chỉ định điều trị các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu Tuy nhiên, theo đánh giá của chính BV, số lượng NVYT hiện có tại BV chưa đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ của người bệnh, do vậy BV thường xuyên quá tải Tính đến ngày 31 tháng 12 năm

2020, toàn BV có 381 cán bộ, nhân viên Trong đó, điều dưỡng chiếm số lượng đông nhất với 154 người (15) Trung bình mỗi ngày tại Khoa Khám bệnh mỗi điều dưỡng phải tiếp đón vài chục đến vài trăm bệnh nhân, tại các khoa điều trị nội trú mỗi điều dưỡng viên phải phục vụ 20 - 30 bệnh nhân/ngày (15) Bên cạnh đó, kỹ năng ứng phó với công việc của đa số NVYT và điều dưỡng viên nhìn chung còn hạn chế khiến đối tượng này càng có nguy cơ stress trong quá trình làm việc (16)

HUPH

Trang 13

Nhằm tìm hiểu thực trạng và tìm ra giải pháp giảm thiểu stress ở điều dưỡng viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại BV, học viên tiến hành

nghiên cứu “Thực trạng stress và một số yếu tố ảnh hưởng ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020”

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020

HUPH

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan

1.1.1 Căng thẳng (stress)

Khái niêm căng thẳng (stress): có nhiều khái niệm về stress được sử dụng

trong các tài liệu trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, năm 1914, W.B.Cannon lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về y sinh học Tuy nhiên, người có công lớn trong việc đưa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là H.Selye (nhà sinh lý học người Canada) (8) Theo H.Selye, “stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng” Về sau, trong các nghiên cứu của mình, H.Selye nhấn mạnh: Stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý (1) Từ phát hiện của H.Selye, rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về stress Nhà tâm lý học Richard Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu và đòi hỏi

từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và

xã hội mà họ có thể huy động được Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu dưới những định nghĩa khác nhau Sau này, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa, stress là sự phản ứng thông qua thể chất, tinh thần, hoặc tình

cảm của cơ thể con người với các tác nhân gây ra căng thẳng từ bên ngoài Stress có

thể biểu hiện trên cả 3 mặt: thể chất, tình cảm hay tinh thần Và ở mỗi một cấp độ biểu hiện, stress đem đến cho con người những hậu quả khác nhau (17)

Các nhà khoa học Việt Nam cũng có những ý kiến riêng về stress Theo Tô Như Khuê, stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu

do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó (18,19) Định nghĩa này đã nêu được vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress Các nhà tâm lý khác như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn đã nêu được thành phần quan trọng của stress đó là xúc cảm và một số

nguyên nhân cơ bản gây ra stress ở con người, khi cho rằng: “stress là những xúc

HUPH

Trang 16

cảm nảy sinh trong những tình huống nguy hiểm, hẫng hụt, hay trong những tình huống phải chịu đựng những nặng nhọc về thể chất và tinh thần hoặc trong những điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu” (19) Theo Nguyễn Thành Khải, “dưới góc độ của tâm lý học có thể hiểu stress là trạng thái căng thẳng

về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống”

Như vậy, có thể thấy stress được hiểu dưới rất nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Stress vừa được xem như là những nguyên nhân, hậu quả vừa có thể là cách đáp ứng của chủ thể trước những yêu cầu nảy sinh trong cuộc sống, lao động Stress không chỉ được khai thác ở góc độ y học, sinh học, tâm lý học mà nó còn được xem xét, phân tích dưới góc độ của các khoa học liên ngành

Biểu hiện của căng thẳng (stress): Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy

nhiên, stress có những biểu hiện đặc trưng Các nghiên cứu đã chỉ ra, có 3 nhóm biểu hiện do căng thẳng gây ra bao gồm: các rối nhiễu tâm lý, các rối loạn sinh lý và các lệch lạc ứng xử (13)

 Những rối nhiễu tâm lý do căng thẳng: lo hãi, cảm giác hụt hẫng, quá nhạy cảm trong cảm xúc, giảm hiệu quả trong giao tiếp, cảm giác bị xa lãnh ghét bỏ, mất tập trung, mất tính tự chủ,…

 Những rối loạn sinh lý: tăng nhịp tim và huyết áp, bệnh đường tiêu hóa (loét dạ dày, tá tràng,…), sự mệt mỏi về thể chất, các triệu chứng hô hấp, đau đầu, đau mỏi cơ, xương,…

 Các triệu chứng ứng xử: chần chừ, né tránh công việc, lạm dụng rượu, ma túy,…, ăn mất ngon và giảm trọng lượng đột ngột, các quan hệ gia đình và bạn bè xấu đi, tự sát và mưu toan tự sát,…

Ảnh hưởng của căng thẳng (stress): Căng thẳng gây hậu quả cả về mặt thể

Trang 17

adrenalin, gây co mạch máu dẫn đến thiếu ôxy ở tim và thành mạch, thiếu ôxy ở các

tổ chức

 Tăng catecholamim trong những điều kiện nhất định gây tình trạng thiếu ôxy tổ chức, loạn dưỡng và hoại tử cơ tim, thành mạch Stress có thể gây ra nhiều căn bệnh:

 Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ, trầm cảm

 Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực

 Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày - tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng

dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng

 Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, giao hợp đau

 Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết

 Bệnh cơ khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, máy mắt, chuột rút, run rẩy

 Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay bệnh truyền nhiễm

1.1.2 Điều dưỡng và vai trò, chức năng của điều dưỡng

Các khái niệm về điều dưỡng được phát triển gắn liền với quá trình phát triển, trình độ và vị trí xã hội của ngành Điều dưỡng ở từng thời kỳ lịch sử, ở từng quốc gia Theo Hội điều dưỡng thế giới năm 1973, Điều dưỡng là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày Chức năng nghề nghiệp cơ bản

HUPH

Trang 18

của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khoẻ của bệnh nhân hoặc người khoẻ, cũng như làm cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân

có thể thực hiện được nếu như họ có đủ sức khoẻ, ý chí và kiến thức, giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt Trong khi đó, theo Hội điều dưỡng Mỹ, Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ, cung cấp các dịch vụ chăm sóc, đóng góp vào việc phục hồi và nâng cao sức khoẻ Để phản ánh đầy đủ bản chất nghề nghiệp, phạm vi hành nghề, vị trí của Ngành điều dưỡng trong chăm sóc sức khoẻ, Hội điều dưỡng Mỹ năm 1980 cho rằng: Điều dưỡng là chuẩn đoán và điều trị những phản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có khả năng xảy ra

Từ đó đã đưa ra quy trình điều dưỡng mà hiện nay đang được áp dụng trong giảng dạy, thực hành điều dưỡng ở nhiều nước

Tại Việt Nam, năm 2005, Hội nghị toàn quốc chuyên ngành điều dưỡng Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: Điều dưỡng là khoa học chăm sóc bệnh nhân, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị tại BV và quá trình phục hồi sức khỏe sau điều trị để người bệnh đạt tới chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn Cùng với đó, các văn bản quy phạm phát luật cũng được ban hành, sửa đổi theo từng thời kỳ nhằm cụ thể hóa chức danh nghề nghiệp của “Điều dưỡng” trong các đơn vị y tế công lập Hiện nay, mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng được quy định tại Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm

2015 do Bộ Y tế và Bộ Nội vụ ban hành Trong đó, “Điều dưỡng” là tên gọi nghề nghiệp của viên chức chuyên môn y tế thực hiện chăm sóc người bệnh, sơ cứu, cấp cứu, phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị tại cơ sở y tế, truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cộng đồng… Cũng theo Thông tư, chức danh điều dưỡng tại các cơ sở y tế công lập được xếp theo 3 hạng là điều dưỡng hạng II, điều dưỡng hạng III và điều dưỡng hạng IV (21)

1.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng

1.2.1 Trên thế giới

Hiện nay, stress, đặc biệt là mối liên quan giữa stress do tâm lý nghề nghiệp

và sức khoẻ đang là vấn đề lớn Theo một cuộc điều tra ở châu Âu thì hơn 60% người lao động đã từng có trên 50% thời gian làm việc với cường độ lớn, một trong

HUPH

Trang 19

những yếu tố gây stress nghề nghiệp Cũng theo kết quả này, y tế là ngành có tỷ lệ hiện mắc stress cao nhất, đặc biệt là trong nhóm điều dưỡng (5,6) Một số kết quả nghiên cứu khác trên thế giới cũng chỉ ra, NVYT, đặc biệt là điều dưỡng là những đối tượng có nguy cơ bị stress cao, tuy nhiên, tùy từng đặc thù công việc, tùy từng quốc gia, khu vực, tỷ lệ và mức độ stress có sự khác nhau giữa các nhóm NVYT

NVYT, đặc biệt NVYT thuộc hệ điều trị làm việc trong điều kiện có nguy cơ stress cao Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các NVYT làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác Các nghiên cứu của Linn LS năm 1985 và Agius RM năm 1996 cho thấy

có tới 25% các bác sĩ lâm sàng bị stress, trầm cảm, lo âu và kiệt sức Nghiên cứu của Khan Md Moizuddin năm 2013 thực hiện trên 100 bác sỹ nội trú ở Ấn Độ để đánh giá và so sánh tình trạng stress giữa các bác sỹ của khoa lâm sàng và cận lâm sàng cũng cho kết quả: các bác sĩ lâm sàng có tỷ lệ stress là 38%, cao hơn nhóm cận lâm sàng (16%) Theo nghiên cứu của Shams và El-Masry năm 2013, tỉ lệ stress trên đối tượng NVYT chuyên ngành gây mê hồi sức thâm chí lên tới là 69,4% (22) Các yếu tố tiêu cực về công việc bao gồm gánh nặng công việc, tổ chức lao động kém, mâu thuẫn nhóm và phải chăm sóc các bệnh nhân nặng, tiếp xúc hàng ngày với người chết và các vấn đề tử vong, những phản ứng thái quá từ các gia đình bệnh nhân,… được đa số các nghiên cứu này cảnh báo là nguy cơ gây ra stress đối với NVYT Quan trọng hơn, đã có những bằng chứng chứng minh sự liên quan giữa stress đối với tình trạng sức khỏe của NVYT Các bệnh liên quan đến stress đã được báo cáo là một mối nguy hiểm nghiêm trọng cho sức khỏe của NVYT Trong nửa đầu những năm 1990, y tá, nữ hộ sinh đứng đầu bảng xếp hạng cho các vụ tự tử của

nữ ở Vương quốc Anh (năm 1995) (23)

Trong số các chức danh nghề nghiệp của NVYT, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã minh chứng được mức độ stress cao của nghề điều dưỡng và đây là một trong những nghề có tỷ lệ stress cao hơn hẳn so với NVYT khác (5,7,8) Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah năm 2011 sử dụng thang đo DASS – 21 (Depression Anxiety and Stress Scales – 21) để đánh giá tình trạng stress trên 110 điều dưỡng tại một BV tại Kuala Lumpur cho thấy tỷ lệ stress là 23,6%, trong đó mức độ nhẹ là

HUPH

Trang 20

13,6%, vừa là 5,5%, nặng là 0,9% và rất nặng là 3,6% Nghiên cứu chỉ ra, sự mệt mỏi ở điều dưỡng liên quan rõ rệt tới thời gian làm việc khi thay đổi từ 8h làm việc

và 12h làm việc/ca (24) Ở các khoa điều trị nội trú, kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa căng thẳng tại nơi làm việc và chất lượng giấc ngủ kém Những phát hiện này cho thấy cần thiết phải có các chính sách bổ sung, quy định và chuẩn

bị phù hợp cho các điều dưỡng khi thay đổi môi trường lao động, thay đổi công việc… (25)

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại các Khoa chăm sóc tích cực của Trung tâm chăm sóc sức khỏe Serbia năm 2012 với mục đích tìm hiểu và giải thích nguyên nhân gây ra stress, đánh giá mức độ stress của điều dưỡng tại các Khoa chăm sóc tích cực và đánh giá mối liên quan giữa nhận thức về stress và tâm lý, các triệu chứng lâm sàng hoặc biểu hiện bệnh của các điều dưỡng Cỡ mẫu của nghiên cứu là 1000 điều dưỡng và thang đo Expanded Nursing Stress Scale (ENSS) được

sử dụng để tiến hành nghiên cứu Tỷ lệ điều dưỡng các Khoa chăm sóc tích cực đánh giá môi trường làm việc liên quan đến thể chất và tâm lý dẫn đến stress cao nhất, trong khi các tình huống liên quan đến môi trường làm việc xã hội là ít căng thẳng hơn Yếu tố đặc điểm của những người tham gia (tuổi tác, tình trạng hôn nhân

và trình độ học vấn) có ảnh hưởng nhất định đến nhận thức về sự căng thẳng trong công việc (26)

Nghiên cứu được công bố năm 2013 của Theme Filha và cộng sự thực hiện trong năm 2010 tại thành phố Campo Grande sử dụng thang đo DASS 21 để nghiên cứu trên 134 nhân viên điều dưỡng (điều dưỡng, kỹ thuật viên và trợ lý điều dưỡng) thông qua phỏng vấn dựa vào bộ câu hỏi gửi phong bì đến các đối tượng nghiên cứu cho thấy: tình trạng stress cao trong số nam (32,5%), nhân viên trẻ tuổi (dưới 35 tuổi) (43,4%) chiếm đa số (27)

Năm 2014, nghiên cứu của các tác giả RK Mehta và IK Singh tại một BV tại Nepal trên tổng số 50 nhân viên điều đưỡng cũng bằng thang đo ENSS cho thấy: 56% số điều đưỡng có biểu hiện của stress ở mức trung bình, theo sau là mức nhẹ với 34%, 6% số điều đưỡng stress ở mức rất nặng và chỉ có một số lượng rất ít (4%)

số điều đưỡng trả lời hầu như không gặp stress trong công việc của họ (28)

HUPH

Trang 21

Nghiên cứu của Teris Cheung và Paul S.F Yip về tình trạng trầm cảm, lo âu

và căng thẳng của điều dưỡng tại các BV ở Đài Loan năm 2015 trên 850 điều dưỡng, sử dụng thang đo căng thẳng, lo âu, trầm cảm DASS21 cho thấy tỷ lệ căng thẳng ở điều dưỡng là 41,1% Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận, điều dưỡng có nguy

cơ căng thẳng hơn so với dân số nói chung của địa phương (29)

Một nghiên cứu cắt ngang khác được tiến hành năm 2016 của Tadesse Dagget, Ashagre Molla và Tefera Belachew nhằm tìm hiển về căng thẳng liên quan đến công việc của các y tá đang làm việc tại các BV công khu vực Jimma, phía Tây Nam Ethiopia cho thấy: Khi đối mặt với những trường hợp người bệnh đang hấp hối và không qua khỏi là lúc các y tá chịu mức độ stress cao nhất (62,9%), tiếp theo

là sự không chắc chắn trong việc phối hợp điều trị, chăm sóc bệnh nhân (57,7%) và đối diện khối lượng công việc vượt quá khả năng của họ (57,6 %) (30)

Trong bối cảnh quá tải BV do nhu cầu sử dụng dịch vụ cao của người bệnh, nguy cơ tai nạn lao động, bệnh truyền nhiễm, áp lực từ người nhà người bệnh và dư luận xã hội trước những sự kiện y tế trong vài năm gần đây ngày càng có xu hướng gia tăng dự kiến tiếp tục đặt người điều dưỡng trước nguy cơ cao bị stress tâm lý và các hậu quả do stress mang lại (31)

1.2.2 Tại Việt Nam

Các nghiên cứu về stress trong nước đã chỉ ra, tình trạng này có thể xảy ra ở nhiều nhóm đối tượng khác nhau Nghiên cứu của tác giả Trịnh Hồng Lân và cộng

sự năm 2010 đánh giá tình trạng stress và một số yếu tố liên quan trên đối tượng là

1009 công nhân may công nghiệp thuộc 3 công ty đóng tại tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ công nhân có biểu hiện stress dưới nhiều mức độ khác nhau là 71% (32) Cũng trong năm 2010, nghiên cứu của tác giả Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh trên 182 sinh viên y tế công cộng của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sinh viên bị stress bệnh lý chiếm tỉ lệ khá cao với 24,2%, trong đó có 2,8% sinh viên bị stress bệnh lý nặng Ngoài ra, một

số đối tượng thuộc các ngành nghề khác cũng có khả năng stress như công nhân nhà máy da giày, giáo viên mầm non, v.v… (33,34)

HUPH

Trang 22

Đặc biệt, rất nhiều nghiên cứu cho thấy, NVYT là một trong những đối tượng có khả năng mắc stress Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hà năm 2006 trên 811 NVYT chỉ ra 48,6% NVYT có biểu hiện stress, trong đó 10,7% NVYT có điểm stress ở mức cao, 37,9% NVYT có điểm stress ở mức trung bình và 51,4% NVYT có điểm stress ở mức thấp (10) Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự năm 2008 tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đánh giá tình trạng stress

và các yếu tố liên quan ở NVYT hiện đang làm việc tại các cơ sở y tế Huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai cũng chỉ ra, khoảng 27% NVYT có stress ở mức thường xuyên (35) Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy năm 2011 đánh giá trạng thái stress trên đối tượng NVYT khối lâm sàng tại BV Ung bướu Hà Nội cho thấy, 36,9% NVYT

có biểu hiện stress, 41,5% biểu hiện lo âu và 15,3% có biểu hiện trầm cảm (36) Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết năm 2013 về tình trạng stress, lo âu trầm cảm của NVYT khối lâm sàng tại BV đa khoa Thành phố Vinh, BV đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan cho thấy tỷ lệ stress của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) chung là 20,4% (37)

Nếu xét theo chức danh nghề nghiệp, theo tác giả Nguyễn Thu Hà, nhóm bác

sĩ có biểu hiện stress ở mức độ cao nhất (12,9%), cao hơn so với nhóm y tá và hộ lý (10) Cũng theo tác giả này, tỷ lệ stress ở NVYT chuyên ngành tâm thần là tương đối cao (66,7%) so với các ngành nghề khác (38) Trong một nghiên cứu khác của Phạm Minh Khuê và Hoàng Thị Giang trên NVYT tại BV đa khoa Kiến An - Hải Phòng năm 2011, tỉ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên đối tượng NVYT tại BV có những sự khác biệt như sau: Tỉ lệ này cao hơn ở nam so với nữ (nam 13,64%; nữ 3,9%), tỉ lệ nghịch với độ tuổi và thâm niên công tác (nhóm cán bộ thâm niên dưới

1 năm 21,43%, nhóm cán bộ trên 50 tuổi 1,82%), phân bố không đều và tập trung ở

1 số khoa phòng (sản 5,26%; nội 6,38%; ngoại 7,32%; dược 8,7%; hồi sức, chẩn đoán hình ảnh, đông y 14,29%; cao nhất là khoa gây mê 19,05%) và nhóm công việc chuyên môn (điều dưỡng 3,82%; dược tá 13,3%; bác sĩ 14,86%; kĩ thuật viên X-Quang 40%) (10)

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy, tỷ lệ stress ở điều dưỡng có khả năng cao hơn so với các NVYT khác Theo Viện Y học lao động và vệ sinh môi

HUPH

Trang 23

trường, nghề điều dưỡng hiện là một trong những nghề đứng đầu trong danh sách những nghề dễ stress nhất Khảo sát tại Khoa hồi sức cấp cứu, Viện Y học lao động

và vệ sinh môi trường đã thu được con số gần 23% điều dưỡng đang có điểm stress

ở mức cao, 42% điều dưỡng có điểm stress ở mức trung bình và hơn 20% số điều dưỡng thì đã than phiền rằng họ đang thường xuyên gặp những biểu hiện đau đầu, cảm giác lo âu, căng thẳng tinh thần và giấc ngủ bất thường… (1)

Nghiên cứu của Lê Thành Tài và cộng sự năm 2008 tại BV đa khoa TW Cần Thơ, BV đa khoa thành phố Cần Thơ và BV đa khoa Châu Thành - Hậu Giang cho thấy 45,2% điều dưỡng bị stress ở mức cao, 42,8% điều dưỡng bị stress ở mức trung bình Trong đó, tỷ lệ điều dưỡng stress cao nhất là tại BV đa khoa TW Cần Thơ với 53,1% (39)

Nghiên cứu của tác giả Mai Hòa Nhung năm 2014 về tình trạng stress và một

số yếu tô liên quan ở điều dưỡng lâm sàng tại BV Giao thông vận tải TW sử dụng thang đo DASS 2l và được thực hiện trên 147 ĐDV cho kết quả: Tỷ lệ stress của điều dưỡng ở BV Giao thông vận tải TW là 40,8%; trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 22,4%, 13,6%, 3,4% và 1,4% (40)

Một nghiên cứu khác của tác giả Ngô Thị Kiều My về tình trạng stress của

370 điều dưỡng và hộ sinh BV Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014 cũng sử dụng thang

đo DASS 21 cho kết quả thấp hơn Theo nghiên cứu này, tỷ lệ điều đưỡng và hộ sinh có biểu hiện stress là 18,1% Trong đó, mức độ nhẹ là 9,7%, mức độ vừa là 5,7% và mức độ nặng là 2,7% Tính riêng trên từng đối tượng, tỷ lệ điều đưỡng bị stress là 20,2% và hộ sinh là 15,4% (7)

Năm 2015, các tác giả Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương tiếp tục sử dụng thang đo DASS 21 khi tiến hành nghiên cứu tại BV Hữu nghị Việt Đức Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ stress của điều dưỡng tại BV Việt Đức vào khoảng dưới 20% (18,5%) Tỷ lệ căng thẳng ở mức độ nhẹ là 9%, mức vừa là 7%, mức nặng và rất nặng là 2,5% (31)

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên về “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều dưỡng viên lâm sàng BV Đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015”; Kết quả nghiên cứu: 483 điều dưỡng viên lâm sàng có tỷ lệ bị căng

HUPH

Trang 24

thẳng tại BV Đa khoa tỉnh Bình Định là 18% Trong số 87 trường hợp bị căng thẳng thì số ít các trường hợp căng thẳng nặng (12,6%) và rất nặng (5,7%), đa số là bị căng thẳng nhẹ (50,6%) và vừa (31,0% ) (13)

Nghiên cứu của tác giả Bạch Nguyên Ngọc về “Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng BV đa khoa tỉnh Gia Lai năm 2015” có 250 điều dưỡng tham gia nghiên cứu trong đó tỷ lệ điều dưỡng không có biểu hiện stress là 74,8%: có biểu hiện stress là 25,2% Trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là (10,4%, 8,8%, 6%), không có mức độ rất nặng (41)

Nghiên cứu của tác giả Trinh Xuân Quang và Tạ Văn Trầm về “Tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng các khoa lâm sàng và một số yếu tố liên quan tại

BV đa khoa trung tâm Tiền Giang năm 2018” cho thấy, tỷ lệ stress của điều dưỡng tại khoa lâm sàng của BV Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 là 21,5%; trong

đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 12,6%, 5,4%, 3,2% và 0,3% (43)

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bạch Ngọc và cộng sự năm 2019 mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu ở nhân viên điều dưỡng khối nội tại BV Trung ương Quân đội 108 cho kết quả, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu bị stress, trầm cảm và lo âu tương ứng là 19,6%, 24,5% và 43,2%, trong

đó, đối tượng bị stress, trầm cảm và lo âu ở mức nặng và rất nặng tương ứng là 4,4%, 2,9% và 11% (44) Như vậy có thể thấy, ở Việt Nam đã có tương đối nhiều các nghiên cứu về tình trạng stress của điều dưỡng, đặc biệt là điều dưỡng khối lâm sàng, là nhóm đối tượng có thời gian tiếp xúc, trao đổi và chăm sóc nhiều tới bệnh nhân Các nghiên cứu đều sử dựng thang đo DASS – 21 để xác định tỷ lệ điều dưỡng có biểu hiện stress Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu chỉ tiến hành trên quy mô một đơn vị với những đặc điểm đặc thù Những đặc điểm trên khiến các nghiên cứu này không có khả năng suy rộng trong các đơn vị khác trong ngành Y

tế, dẫn tới việc khó áp dụng những khuyến nghị trong các nghiên cứu này cho các đơn vị khác

HUPH

Trang 25

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến stress ở điều dưỡng

Tình trạng stress của NVYT nói chung và điều dưỡng nói riêng có thể do nhiều yếu tố tác động và chi phối Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhóm yếu tố chính ảnh hưởng tới tình trạng này bao gồm: các yếu tố cá nhân, các yếu tố thuộc về gia đình, các yếu tố thuộc về môi trường, công việc và các yếu tố xã hội, chính sách

1.3.1 Các yếu tố cá nhân

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam chỉ ra, một số yếu tố cá nhân có ảnh hưởng tới tình trạng stress của điều dưỡng bao gồm: tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe thể chất, thâm niên công tác hay tình trạng sử dụng đồ uống có cồn

Theo tác giả Milutinovic và cộng sự, có mối liên quan có ý nghĩa thông kê của tình trạng stress với các yếu tố tuổi, tình trạng hôn nhân và trình độ học vấn của điều dưỡng Trong cùng một điều kiện môi trường (môi trường có nguy cơ gây ra tử vong và quá tải với công việc), những điều đưỡng đã kết hôn có biểu hiện stress ở mức cao hơn so với những điều dưỡng đã ly hôn hoặc độc thân Về tuổi, nghiên cứu chỉ ra, điều dưỡng trong nhóm tuổi từ 30 – 39 có nguy cơ stress ở mức cao so hơn với nhóm “gặp vấn đề với đồng nghiệp” và nhóm “gặp vấn đề với người giám sát”

so với những đồng nghiệp trẻ tuổi hơn Ngoài ra, những người có trình độ học vẫn thấp hơn thì có nguy cơ mắc stress cao hơn so với những người có trình độ học vẫn cao hơn (26)

Theo tác giả Ngô Thị Kiều My và cộng sự qua nghiên cứu tại BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng vào năm 2014, tình trạng sức khỏe của bản thân điều dưỡng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng stress của họ Những điều dưỡng cảm thấy sức khỏe của bản thân không tốt cỏ khả năng bị stress gấp 2,64 lần so với những điều dưỡng cảm thấy họ có sức khỏe tốt (7) Tác giả Nguyễn Văn Tuyên trong nghiên cứu thực hiện tại BV Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2015 cũng chỉ ra rằng, điều đưỡng có tình trạng sức khỏe không tốt có nguy cơ stress cao gấp 3,2 lần những đối tượng có sức khỏe tốt (13)

Trong khi đó, theo Lê Thành Tài và cộng sự, thâm niên công tác và stress ở điều dưỡng cũng có mối liên quan với nhau (39) Một nghiên cứu mới đây của Viện

HUPH

Trang 26

Y học và môi trường trên 257 bác sĩ, y tá, hộ lý (tuổi trung bình 37) có tuổi nghề trung bình trên 15 năm cũng cho thấy 8,4% NVYT có điểm stress ở mức cao, 33% mức trung bình và 58,6% ở mức thấp Ngoài ra, nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huyền tại BV Đa khoa Đồng Tháp đã tìm ra tình trạng uống rượu của điều dưỡng

có liên quan với tình trạng stress của họ Theo đó, những người uống rượu, bia thì

có nguy mắc stress cao hơn nhóm không uống rượu bia (45)

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra, tình trạng stress của điều dưỡng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân như việc tự lên kế hoạch, sắp xếp công việc của bản thân, tình trạng làm việc quá sức, không có thời gian để nghỉ ngơi đầy đủ hoặc do điều dưỡng thiếu kiến thức và ứng phó kém khi xảy ra stress Cụ thể, những điều dưỡng sắp xếp công việc chưa hợp lý, lịch làm việc nghiêm ngặt và không linh hoạt, giờ làm việc dài và không tuân theo tiêu chuẩn hoặc giờ làm việc không cụ thể, không có khung cố định có nguy cơ cao bị stress (46) Những điều dưỡng không có thời gian để nghỉ ngơi đầy đủ do phải đảm đương một khối lượng công việc quá lớn, không đủ thời gian tái tạo sức lao động có khả năng cao bị ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý, gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc chăm sóc, điều trị bệnh nhân (39,47)

1.3.3 Các yếu tố môi trường, công việc

Kết quả từ một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy, các yếu

tố đến từ đặc thù công việc và môi trường làm việc chiếm một tỷ trọng đáng kể trong số các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress của NVYT nói chung và điều dưỡng nói riêng Các yếu tố này làm tăng nguy cơ mắc stress và giảm hiệu suất làm việc của họ

HUPH

Trang 27

Năm 2007, nghiên cứu của tác giả Abd Rahim Damit thực hiện tại Brunei cho thấy, các nguồn gây căng thẳng thường gặp liên quan đến việc NVYT không chắc chắn với các quyết định về tình trạng bệnh trong quá trình điều trị bệnh nhân, việc phải ứng phó với bệnh nhân và gia đình của họ, tình trạng quá tải công việc, sự chuẩn bị không đầy đủ, mối xung đột với đồng nghiệp, người giám sát (31)

Năm 2008, nghiên cứu của Lê Thành Tài và cộng sự tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy có sự khác biệt về tỉ lệ stress giữa các BV thuộc 3 tuyến

TW, tỉnh và huyện Số điều dưỡng bị stress ở tuyến TW cao nhất, tiếp đến là tuyến tỉnh và thấp nhất là tuyến huyện Các yếu tố gây stress cho điều dưỡng bao gồm thường gặp phản ứng của bệnh nhân và người nhà, thâm niên công tác, làm việc quá nhiều giờ, công việc nhiều áp lực, làm việc trong điều kiện thiếu thốn máy móc, trang thiết bị, đông người, ồn ào, tiếp xúc nhiều mầm bệnh, dễ bị thương tích, thu nhập chưa thỏa đáng và công việc ít có cơ hội thăng tiến… Có đến 72% nghĩ đến khối lượng công việc quá nhiều Hơn 50% nghĩ đến thời gian nghỉ ngơi không hợp

lý, không được huấn luyện chuyên môn đầy đủ, áp lực đến hạn cuối phải hoàn thành công việc Hơn 30% nghĩ đến đặc điểm công việc phải giải thích với nhiều đối tượng, thiếu trang thiết bị, quá nóng… (39)

Một nghiên cứu khác vào năm 2012 của D Milutinovic và cộng sự thực hiện tại Serbia cho kết quả như sau: điều đưỡng đánh giá “tử vong và nguy cơ tử vong ở người bệnh” là yếu tố gây ra stress lớn nhất cho họ Trong khi đó, nhóm “gặp phải vấn đề với đồng nghiệp” được coi là yếu tố gây stress ít nhất đối với điều dưỡng trong số các yếu tố công việc được đưa ra Ngoài ra, kết quả phân tích trên tất cả 57 nội dung chỉ ra rằng, tất cả những yếu tố có thể đe dọa đến sức khỏe và sự an toàn của điều dưỡng đều gây ra tình trạng stress với họ (26)

Cùng sử dụng thang đo ENSS giống như hai nghiên cứu nêu trên, năm 2013, nghiên cứu của tác giả Lam Leung Chun thực hiện tại các BV công của Hồng Kong cho thấy, 3 nhóm yếu tô gây ra stress nhiều nhất cho điều đưỡng trong 9 nhóm yếu

tố trong thang đo ENSS là sự giám sát, sự không chắc chắn về việc điều trị và quá tải công việc Cụ thể, trong nhóm giám sát, người điều dưỡng thường xuyên cảm thấy stress nhất với nội dung “Phải chịu trách nhiệm cho những điều mà tôi không

HUPH

Trang 28

thể kiểm soát được”, còn cảm thấy ít bị stress nhất với việc “thiếu sự hỗ trợ từ nhà quản lý chăm sóc sức khỏe” Với sự không chắc chắn trong điều trị, người điều đưỡng gặp phải tình trạng stress nhiều nhất với việc “sợ rằng sẽ mắc lỗi khi điều trị cho người bệnh”; ít stress nhất với việc “không giải thích gì cho người bệnh hoặc người nhà của họ về tình trạng của người bệnh và cách điều trị” Yếu tố quan trọng tiếp theo đó chính là sự quá tải công việc Trong đó, “không đủ nhân viên để làm công việc của một khoa” là nội dung gây stress nhiều nhất cho điều đưỡng, còn ít gây ra stress nhất là nội dung “sự đòi hỏi, yêu cầu của hệ thống phân loại người bệnh” (48)

Ngoài ra, một số yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến tình trạng stress của các điều dưỡng được đề cập trong nghiên cứu của tác giả Bạch Nguyên Ngọc năm 2015 tại BV đa khoa tỉnh Gia Lai bao gồm: nội dung công việc, môi trường làm việc, sự động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp Cụ thể, những điều đưỡng là hợp đồng ngắn hạn dễ có biểu hiện stress cao gấp 2,81 lần so với những đối tượng làm hợp đồng dài hạn (hoặc đã là biên chế) Các đối tượng làm việc ở nơi có nhiệt độ khoa phòng quá nóng hay quá lạnh có nguy cơ mắc stress gấp 2,00 lần nhóm còn lại Ngoài ra, những điều đưỡng cảm thấy thu nhập không phù hợp so với mức lao động có nguy cơ bị stress gấp 2,14 lần nhóm cảm thấy mức thu nhập phù hợp với công sức lao động mà họ phải bỏ ra (1)

Trong khi đó, kết quả phân tích hồi quy đa biến của tác giả Mai Hòa Nhung trong nghiên cứu năm 2014 với các điều dưỡng tại BV Giao thông vận tải TW cho thấy các yếu tô thuộc nhóm nghề nghiệp là: tiếp xúc với tác nhân độc hại trong quá trình làm việc, mối quan hệ với cấp trên, số buổi trực và mức độ ổn định với công việc có mối liên quan có ý nghĩa thông kê với tình trạng mắc stress (40)

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại BV đa khoa tỉnh Bình Định của tác giả Nguyễn Văn Tuyên, năm 2015 cho thấy các yếu tố nghề nghiệp như: bộ phận làm việc, làm thêm việc ngoài chức năng, sự tôn trọng của người bệnh cũng có liên quan với tình trạng stress mà điều đưỡng viên gặp phải Cụ thể, điều dưỡng làm việc tại khối khoa nội, ngoại mắc stress cao gấp 2,00 lần các điều dưỡng ở các khoa khác; điều đưỡng phải làm thêm việc ngoài chức năng, nhiệm vụ có nguy cơ mắc

HUPH

Trang 29

stress gấp 2,20 lần nhóm không phải làm thêm việc khác Thậm chí, những người cảm thấy trong quá trình làm việc không được bệnh nhân tôn trọng cũng có nguy cơ mắc stress gấp 2,30 lần những điều dưỡng còn lại (13)

Ngoài ra, một số yếu tố khác thuộc về công việc và môi trường làm việc có ảnh hưởng đến tình trạng stress của điều dưỡng hoặc NVYT như làm việc với những người bị “stress” (47); công việc có độ nguy hiểm cao (làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, nhất là ở các khoa lây, tiếp xúc với hóa chất độc hai) (24,47); công việc vất vả, trực đêm nhiều (24,49); Môi trường làm việc ồn ào, quá đông người, quá nóng, không thoáng khí (24),… cũng đã được đề cập đến trong các nghiên cứu, báo cáo, y văn Những kết quả nghiên cứu này đặt ra vấn đề cho những người làm quản lý trong BV về việc làm sao để giảm bớt các yếu tố nguy cơ

từ đặc thù công việc đến tình trạng stress đối với NVYT trong đó có điều dưỡng

1.3.4 Các yếu tố xã hội, chính sách

1.3.4.1 Yếu tố xã hội

Các yếu tố xã hội được đề cập đến chủ yếu là mối quan hệ giữa đối tượng và các bên liên quan như mối quan hệ với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, mối quan

hệ với đồng nghiệp trong đó có mối quan hệ với lãnh đạo

 Mối quan hệ với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân: làm việc với những

người bị stress: Thất vọng và tức giận phát sinh từ bệnh tật và đau đớn, các vấn đề

của tuổi già, rối loạn tâm thần, lạm dụng rượu và chất gây nghiện có thể ảnh hưởng đến bạo lực qua lời nói hoặc hành động NVYT luôn được xếp nhóm dẫn đầu trong tình huống này (47,50)

 Mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp: đồng nghiệp nhấn mạnh vấn đề hòa hợp giữa các cá nhân trong tổ chức, ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động Mối quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của người lao động Nếu người lao động có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp thì sẽ gia tăng sự gắn kết với tổ chức Điều dưỡng có mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp có nguy

cơ căng thẳng cao gấp nhiều lần những điều dưỡng khác (51)

 Mối quan hệ không tốt với lãnh đạo: lãnh đạo được định nghĩa là hành vi của một cá nhân bao gồm sự tự nhận thức, xử lý công bằng, minh bạch trong các

HUPH

Trang 30

mối quan hệ và đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức (52) Người lao động gắn kết với

tổ chức khi được các nhà lãnh đạo truyền cảm hứng, khi công việc của họ được coi

là quan trọng và có ý nghĩa Điều dưỡng đã từng có mâu thuẫn với cấp trên có nguy

cơ căng thẳng cao gấp 3,3 lần (51)

1.3.4.2 Yếu tố chính sách

 Thu nhập chưa thỏa đáng: thu nhập thấp, không tương xứng với công sức lao động, áp lực công việc và khối lượng công việc phải hoàn thành (50)

 Cơ hội thăng tiến: ít có cơ hội thăng tiến trong công việc (51)

1.4 Một số thang đo đánh giá mức độ căng thẳng

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để đánh giá mức độ của các vấn đề SKTT, trong đó có mức độ stress Một số bộ công cụ được

sử dụng nhiều trong các nghiên cứu khoa học như thang đo đánh giá stress, lo âu và trầm cảm của Lovibond (DASS – 42, DASS – 21), bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress - Perceived stress scale – 10 (PSS – 10), hay thang đo đánh giá stress ở điều dưỡng ENSS

1.4.1 Bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress (PSS – 10)

Thang đo PSS – 10 của Cohen bao gồm 10 câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress trên đối tượng là sinh viên trong vòng 30 ngày trở về trước Các câu hỏi gồm nhiều lựa chọn với 5 mức: không bao giờ, hầu như không bao giờ, thỉnh thoảng, khá thường xuyên và rất thường xuyên

Mức độ stress được đánh giá dựa vào tổng điểm của các câu hỏi Mức điểm càng cao thì mức độ stress càng cao Thang đo này được dùng cho đối tượng có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên (53)

1.4.2 Thang đo ENSS

Thang đo ENSS là một phiên bản mở rộng và cập nhật của thang đo NSS (Nưrsing Stress Scale) được phát triển bởi Gray-Toft và Andcrson (1981) NSS là công cụ đầu tiên để đánh giá stress trong công việc của điều đưỡng mà không phải stress trong công việc nói chung Thang đo NSS có 34 mục, 4 điểm nhằm đánh giá các nguồn chính của stress trong những tình huống chăm sóc bệnh nhân (54)

HUPH

Trang 31

Thang đo ENSS đã được chuẩn hóa và sử dụng trong các nghiên cứu về stress ở một số nước trên thế giới và Châu Á, tuy nhiên ít được sử dụng tại Việt Nam Thang đo ENSS bao gồm 9 mục với 57 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 5 phương án chọn từ 0 là “không ở trong hoàn cảnh đỏ”, 1 là “không bao giờ gây căng thẳng” đến 4 là “cực kỳ gây căng thẳng" Thang đo này cũng được sử đụng để đánh giá các yếu tố gây ra stress của điều dưỡng

Thang đo bao gồm 9 yếu tố cụ thể gồm: (1) Yếu tố tử vong và nguy cơ tử vong; (2) Xung đột với bác sỹ; (3) Sự chuẩn bị không đầy đủ; (4) Những vấn đề với đồng nghiệp; (5) Những vấn đề với người giám sát; (6) Quá tải công việc; (7) Không chắc chắn liên quan đến xử trí; (8) Người bệnh và người nhà của họ và (9)

Sự phân biệt đối xử

1.4.3 Thang đo DASS

Một trong những thang đo thường được sử dụng để phát hiện các vấn đề về SKTT là thang đo DASS Năm 1995, Lovibond B H và Lovibond P F tại khoa tâm

lý học Đại bọc New South Wales, Australia đã kây dựng nên thang đo đánh giá stress, lo âu và trầm cảm ký hiệu là DASS – 42 Đến năm 1997, thang đo này có phiên bản rút gọn là DASS – 21

Kể từ khi được giới thiệu vào năm 1995, DASS và mẫu ngắn DASS-21 của

nó đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở người lớn Phân tích dữ liệu giữa những người trưởng thành sử dụng biện pháp này mang lại kết quả nhất quán về các thuộc tính tâm lý của nó Nó đã được chứng minh là đáng tin cậy và hợp lệ với cấu trúc ba yếu tố Tính phù hợp của các tiểu mục trong mỗi phần ở cả 2 phiên bản DASS – 42 và DASS – 21 đều cao (55) Đặc biệt, ở Việt Nam, thang đo DASS – 21 đã được chuẩn hóa trên đối tượng là những phụ nữ ở miền Bắc với hệ số Cronbach’s Alpha khá cao (56)

DASS – 21 gồm 21 nhận định chia thành 3 nhóm stress, lo âu, trầm cảm

Mỗi nhóm gồm 7 nhận định Điểm cho mỗi nhận định là từ 0 đến 3 Cụ thể:

 0 Điều nầy hoàn toàn không xảy ra cho Tôi

1 Xảy ra cho tôi một phần nào, hay thỉnh thoảng

 2 Thường xảy ra cho Tôi, hay nhiều lần

HUPH

Trang 32

3 Rất thường xảy ra, hay hầu hết lúc nào cũng có

Sau khi trả lời và cho điểm hết 21 câu hỏi, tổng điểm 21 câu hỏi sẽ được cộng lai và được đánh giá như sau:

 Thang đo DASS – 21 là thang đo được dịch sang tiếng Việt, đã được xem xét bởi một nhóm các chuyên gia y tế , đã được chuẩn hóa và đáng tin cậy

 Có những bằng chứng chỉ ra rằng DASS – 21 có thể sử dụng trong cả lâm sàng và cộng đồng như ở các quốc gia nói tiếng Anh như Anh, Úc, Hoa Kỳ, Canada Cả hai phiên bản tiếng Anh và không phải tiếng Anh đều có tính nhất quán cao

 Tính khách quan: Kết quả đo của trắc nghiệm không phụ thuộc vào mối quan hệ riêng tư giữa nhà lâm sàng và nghiệm thể

 Độ tin cậy: Trắc nghiệm đo cho những kết quả giống nhau qua nhiều lần thực hiện trên cùng một nghiệm thể

 Tính quy chuẩn: Cách tiến hành xử lý kết quả, các bước thực hiện, các cách cho điểm và kết luận đều được quy định chặt chẽ

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

BV Da liễu TW là BV tuyến TW trực thuộc Bộ Y tế, là cơ sở chuyên khoa đầu ngành về da liễu Các chức năng chính của BV bao gồm: Nghiên cứu mô hình bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng các bệnh chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu, Đào tạo cán bộ, công tác khám, chữa

HUPH

Trang 33

bệnh và phục hồi chức năng, Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, Săn sóc da, Chỉ đạo tuyến, Hợp tác quốc tế…

Tính đến hết năm 2020, BV có tất cả 12 phòng chức năng, 6 khoa lâm sàng

và 4 khoa cận lâm sàng Các khoa lâm sàng đảm nhiệm chức năng trực tiếp khám chữa bệnh tại BV gồm có: Khoa Khám bệnh; Khoa Phẫu thuật thẩm mỹ và phục hồi chức năng; Khoa Laser và săn sóc da; Khoa Điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em; Khoa Điều trị bệnh da nam giới và Khoa nghiên cứu ứng dụng công nghệ tế bào gốc

Bảng 1.1: Một số thông tin về hoạt động chuyên môn trong 5 năm (2015-2019)

của Bệnh viện Da liễu Trung ương

Công suất sử dụng giường (%)

- Theo giường kế hoạch

- Theo giường thực kê

Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp – BV Da liễu TW năm 2020

Trong những năm qua, nhờ những nỗ lực mang tính tập thể, BV luôn là lựa chọn hàng đầu của người bệnh khi có nhu cầu và được chỉ định điều trị các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu Tuy nhiên, theo đánh giá của chính

BV, số lượng NVYT hiện có tại BV chưa đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ của người bệnh, do vậy BV thường xuyên quá tải Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, toàn

BV có 381 cán bộ, nhân viên Trong đó, điều dưỡng chiếm số lượng đông nhất với

HUPH

Trang 34

154 người (15) Trung bình mỗi ngày tại Khoa Khám bệnh mỗi điều dưỡng phải tiếp đón vài chục đến vài trăm bệnh nhân, tại các khoa điều trị nội trú mỗi điều dưỡng viên phải phục vụ 20 - 30 bệnh nhân/ngày (15) Bên cạnh đó, kỹ năng ứng phó với công việc của đa số NVYT và điều dưỡng viên nhìn chung còn hạn chế khiến đối tượng này càng có nguy cơ stress trong quá trình làm việc (16)

1.6 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa xây dựng trên việc tổng quan một số nghiên cứu đã tiến hành liên quan tới chủ đề của các tác giả Trịnh Xuân Quang, Nguyễn Bạch Ngọc, Dương Thành Hiệp và các tiêu chí xác định tình trạng stress theo bộ câu hỏi DASS – 21 (43,44,57)

Thực trạng stress ở điều dưỡng được mô tả bằng các biểu hiện của stress, tình trạng có – không mắc stress ở điều dưỡng và 4 mức độ (nhẹ, vừa, nặng và rất nặng) của stress ở điều dưỡng Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến stress ở điều dưỡng gồm có các yếu tố cá nhân (điều dưỡng), các yếu tố nghề nghiệp, các yếu tố gia đình và các yếu tố môi trường, xã hội

Stress ở Điều dưỡng làm việc tại BV Da liễu TW

- Biểu hiện của stress

thâm niên công tác,

tham gia công tác

- Nội dung công việc

- Nguy cơ lây nhiễm, tổn thương

- Sự phù hợp của công việc

- Áp lực công việc

- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị

- Tính chất ổn định của công việc

- Cơ hội thăng tiến

HUPH

Trang 35

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Với cấu phần nghiên cứu định lượng

Điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng của BV Da liễu TW

 Tiêu chuẩn loại trừ:

 Không phải là điều dưỡng làm việc trực tiếp tại các khoa lâm sàng

 Không có mặt tại BV trong thời gian tiến hành thu thập số liệu vì các lý

do như nghỉ ốm, nghỉ chế độ thai sản, đi đào tạo dài hạn,…

2.1.2 Với cấu phần nghiên cứu định tính

 Điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng BV Da liễu TW được xác định là có biểu hiện stress qua phiếu hỏi định lượng

 Lãnh đạo BV

 Lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Điều dưỡng, Phòng Quản lý chất lượng của BV

 Lãnh đạo 6 Khoa lâm sàng của BV

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu:

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 09/2019 đến tháng 07/2021 Trong đó, thời gian thu thập số liệu triển khai trong tháng 08/2020

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: BV Da liễu TW

2.3 Thiết kế nghiên cứu

 Mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính

 Nghiên cứu định lượng được tiến hành nhằm mô tả thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng BV

Da liễu TW

 Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi có kết quả của nghiên cứu định lượng Các kết quả nghiên cứu định tính được sử dụng để bổ trợ cho nghiên cứu định lượng và làm rõ cho mục tiêu 2 - phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến

HUPH

Trang 36

stress ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng BV Da liễu TW năm 2020, đặc biệt là các yếu tố thuộc nhóm yếu tố nghề nghiệp

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Với cấu phần nghiên cứu định lượng: toàn bộ 154 điều dưỡng tại các khoa

lâm sàng BV

2.4.2 Với cấu phần nghiên cứu định tính

2.4.2.1 Phỏng vấn sâu: 6 cuộc phỏng vấn sâu (PVS), bao gồm:

 01 cuộc PVS với Lãnh đạo BV

05 cuộc PVS với điều dưỡng được xác định là không có và có biểu hiện

stress qua phiếu hỏi định lượng bao gồm:

 01 cuộc với điều dưỡng không bị stress

 01 cuộc với điều dưỡng được xác định stress nhẹ

 01 cuộc với điều dưỡng được xác định stress vừa

 01 cuộc với điều dưỡng được xác định stress nặng

 01 cuộc với điều dưỡng được xác định stress rất nặng

2.4.1.2 Thảo luận nhóm: 2 cuộc thảo luận nhóm (TLN), bao gồm:

01 cuộc TLN với đại diện Phòng chức năng: 4 người

 01 cuộc TLN với đại diện Lãnh đạo các Khoa lâm sàng: 6 người

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Với cấu phần nghiên cứu định lượng

Chọn mẫu toàn bộ 154 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng BV

2.5.2 Với cấu phần nghiên cứu định tính: chọn mẫu chủ đích

2.5.2.1 Phỏng vấn sâu

PVS Lãnh đạo BV: chọn mẫu chủ đích Đối tượng tham gia PVS là Phó

Giám đốc BV phụ trách điều dưỡng

 PVS điều dưỡng có biểu hiện stress qua phiếu hỏi định lượng: chọn mẫu ngẫu nhiên Sau khi có kết quả nghiên cứu định lượng, xác định được đối tượng ở các nhóm không bị stress - stress nhẹ - stress vừa - stress nặng - stress rất nặng, nghiên cứu chọn ngẫu nhiên mỗi nhóm 1 điều dưỡng tham gia PVS

2.5.2.2 Thảo luận nhóm

HUPH

Trang 37

 TLN với đại diện các Phòng chức năng: chọn mẫu chủ đích Đối tượng tham gia TLN bao gồm Phó Trưởng Phòng Tổ chức cán bộ, Phó Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp, Trưởng Phòng Điều dưỡng, Phó Trưởng Phòng Quản lý chất lượng

 TLN với lãnh đạo các Khoa lâm sàng: chọn mẫu chủ đích Đối tượng tham gia TLN là Trưởng hoặc Phó Trưởng các Khoa

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Với cấu phần nghiên cứu định lượng

 Công cụ nghiên cứu: Phiếu phát vấn khảo sát thực trạng stress và một số yếu tố ảnh hưởng ở điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng BV Da liễu TW năm

2020

 Cách thức thu thập thông tin:

 Sau khi thực hiện các thủ tục liên quan tới đạo đức nghiên cứu bao gồm việc xin phép thực hiện nghiên cứu, thông báo triển khai nghiên cứu tới các ĐTNC, nghiên cứu viên (NCV) liên hệ trực tiếp với điều dưỡng qua danh sách điều dưỡng của các Khoa để lên lịch hẹn khảo sát

 Cuộc khảo sát diễn ra vào cuối giờ làm việc theo ca của điều dưỡng tại Phòng Hành chính của các Khoa lâm sàng

 Các điều dưỡng được phát phiếu khảo sát và trực tiếp thực hiện phiếu khảo sát

 Trước khi điều dưỡng thực hiện phiếu hỏi, NCV hướng dẫn qua cách thức thực hiện phiếu Trong quá trình điều dưỡng thực hiện phiếu hỏi, khi có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến nội dung câu hỏi và đáp án, điều dưỡng trao đổi công khai và NCV giải đáp chung cho tất cả các đối tượng có mặt

 Sau khi kết thúc toàn bộ phiếu hỏi lần 1, NCV rà soát lại phiếu hỏi, đề nghị ĐTNC rà soát lại những câu hỏi chưa có đáp án để trả lời bổ sung nếu do ĐTNC quên hoặc bỏ sót

HUPH

Trang 38

 Sau khi ĐTNC đã chắc chắn không bỏ sót câu hỏi nào, NCV kết thúc cuộc khảo sát và ghi rõ các thông tin liên quan tới kết quả cuộc khảo sát, thời điểm kết thúc khảo sát vào thông tin phiếu hỏi

 Kết quả cuối cùng của phiếu khảo sát được ghi nhận sau khi NCV đã thực hiện những thao tác trên Không bổ sung thông tin sau khi đã ghi thời gian kết thúc phỏng vấn

2.6.2 Nghiên cứu định tính

2.6.2.1 Phỏng vấn sâu

 Công cụ nghiên cứu:

Hướng dẫn PVS Lãnh đạo BV (Phụ lục 3)

 Hướng dẫn PVS điều dưỡng các khoa lâm sàng đang làm việc tại BV

Da liễu TW được xác định là có biểu hiện stress (Phụ lục 2)

 Cách thức tiến hành:

 NCV liên hệ với các ĐTNC giới thiệu về nghiên cứu và mục đích của cuộc phỏng vấn, khi ĐTNC đồng ý tham gia thì hai bên sắp xếp thời gian và địa điểm phỏng vấn phù hợp, đảm bảo cuộc phỏng vấn diễn ra chỉ có sự tham dự của ĐTNC và 2 NCV thực hiện cuộc phỏng vấn

 Cuộc PVS Lãnh đạo BV diễn ra tại phòng làm việc của đối tượng Trong khi đó, các cuộc PVS điều dưỡng diễn ra tại Phòng Điều dưỡng của BV

 Cuộc PVS do 2 NCV tiến hành, một người điều hành cuộc phỏng vấn (là tác giả luận văn) theo bản hướng dẫn PVS đã được chuẩn bị sẵn, một người làm thư ký (là cộng tác viên kiêm cán bộ Phòng Điều dưỡng của BV) Thời gian cuộc mỗi phỏng vấn khoảng 45 phút

2.6.1.2 Thảo luận nhóm

 Công cụ nghiên cứu:

Hướng dẫn TLN với đại diện các Phòng chức năng (Phụ lục 4)

Hướng dẫn TLN với đại diện Lãnh đạo các Khoa lâm sàng (Phụ lục 5)

 Cách thức tiến hành:

HUPH

Trang 39

 NCV liên hệ với các ĐTNC giới thiệu về nghiên cứu và mục đích của cuộc thảo luận, khi ĐTNC đồng ý tham gia thì hai bên sẽ sắp xếp thời gian và địa điểm phù hợp, đảm bảo cuộc thảo luận có sự tham gia của đầy đủ các đối tượng liên quan

 Các cuộc TLN trong nghiên cứu bao gồm lãnh đạo các Khoa/Phòng thuộc BV nên được tiến hành tại phòng họp giao ban của BV

 Cuộc TLN do 2 NCV tiến hành, một người điều hành cuộc thảo luận (là tác giả luận văn) theo bản hướng dẫn TLN đã được chuẩn bị sẵn, một người làm thư ký (là cộng tác viên kiêm cán bộ Phòng Điều dưỡng của BV) Thời gian mỗi cuộc thảo luận kéo dài khoảng 60 phút

2.7 Các biến số nghiên cứu

Biến số nghiên cứu được xây dựng để trả lời các mục tiêu nghiên cứu (chi tiết xem tại Phụ lục 1)

Biến số nghiên cứu của nghiên cứu định lượng gồm 2 nhóm chính, bao

gồm:

 Các biến số mô tả thực trạng stress đối với điều dưỡng ở BV: 8 biến số

 Các biến số mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng, bao gồm:

 Các yếu tố cá nhân của điều dưỡng: 12 biến số

 Các yếu tố gia đình của điều dưỡng: 6 biến số

 Các yếu tố nghề nghiệp của điều dưỡng: 35 biến số

 Các yếu tố môi trường xã hội: 4 biến số

Các nội dung chính của nghiên cứu định tính bao gồm:

 Đánh giá về thực trạng và mức độ ảnh hưởng của stress đối với điều dưỡng

 Các biểu hiện và mức độ của stress

 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng, trong

đó tập trung vào phân tích các yếu tố nghề nghiệp và xã hội có ảnh hưởng đến tình trạng stress ở điều dưỡng bao gồm:

HUPH

Trang 40

 Đặc thù vị trí công việc

 Khối lượng công việc

 Mức độ phù hợp của công việc

 Điều kiện cơ sở vật chất nơi làm việc

 Tình trạng công bằng và ổn định trong công việc

 Mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp

 Thu nhập và cơ hội thăng tiến

2.8 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá

Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS – 21 để xác định tình trạng và mức độ stress của ĐTNC

Có 7 câu hỏi tương ứng với 7 nhận định về các biểu hiện của stress theo thang đo DASS 21 được sử dụng trong phiếu phát vấn (từ B1 đến B7) Mỗi nhận

định có 4 phương án lựa chọn A, B, C, D tương ứng với điểm số từ 0 đến 3 Cụ thể:

A: Điều này hoàn toàn không xảy ra cho “Tôi” = 0 điểm

B: Xảy ra cho “Tôi” một phần nào, hay thỉnh thoảng = 1 điểm

C: Thường xảy ra cho “Tôi”, hay nhiều lần =2 điểm

D: Rất thường xảy ra, hay hầu hết lúc nào cũng có = 3 điểm

Điểm số thu được nhân 2 Tổng điểm thu được đối với 1 ĐTNC tối thiểu là 0 điểm và tối đa là 42

Những người có tổng điểm từ 10 trở lên được xác định là có stress nghề nghiệp Các mức độ stress cụ thể bao gồm:

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w