1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Cây ăn trái (Nghề: Bảo vệ thực vật - Cao đẳng): Phần 1 - Trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp

61 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Cây ăn trái (Nghề: Bảo vệ thực vật - Cao đẳng): Phần 1 - Trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp
Người hướng dẫn ThS. Trịnh Xuân Việt
Trường học Trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Cây ăn trái này giúp cho người học những kiến thức về đặc tính thực vật của cây trồng, kỹ thuật trồng và chăm sóc, xử lý ra hoa đậu trái của cây xoài, nhãn, cam quýt. Áp dụng khoa học tiến bộ vào sản xuất góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 1 giáo trình.

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP

GIÁO TRÌNH

MÔ ĐUN: CÂY ĂN TRÁI NGÀNH, NGHỀ: BẢO VỆ THỰC VẬT TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG

(Ban hành kèm theo Quyết định Số:…./QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày… tháng… năm

2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp)

Đồng Tháp, năm 2017

Trang 2

i

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

ii

LỜI GIỚI THIỆU

Đồng bằng sông Cửu Long, một vùng đất giàu tiềm năng thích hợp cho việc phát triển ngành trồng cây ăn trái Có những vùng phù sa, nước ngọt quanh năm và cây trái bốn mùa tươi tốt Có thể nói Đồng bằng sông Cửu Long chẳng những là vùng đất sản xuất cây trái quanh năm, cung cấp lượng trái cây khổng lồ cho thị trường trong nước và một phần cho xuất khẩu

Trong nền nông nghiệp hiện đại, để phù hợp yêu cầu sản xuất trái cây chất lượng cao, vai trò khoa học kỹ thuật không thể thiếu và cũng không thể thiếu được sự đóng góp của các nhà khoa học phối hợp cùng nhà nông cải thiện lề lối canh tác lạc hậu, ứng dụng thành tựu mới trong khoa học phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp

Để phục vụ cho yêu cầu giảng dạy, giáo trình "Cây ăn trái" được thực hiện gồm 5 bài như: (1) Mở đầu; (2) Thiết kế và xây dựng vườn, vườn ươm; (3) Cây nhãn; (4) Cây xoài; (5) Cây Cam, quýt Đây là mô đun nằm trong khung bắt buộc của

chương trình đào tạo ngành Bảo vệ thực vật và Khoa học cây trồng

Giáo trình được biên soạn nhằm phục vụ cho việc giảng dạy trình độ cao đẳng ngành, nghề Bảo Vệ Thực Vật tại trường CĐCĐ Đồng Tháp Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của anh chị em đồng nghiệp và bạn đọc để chúng tôi bổ sung, chỉnh sửa cho giáo trình ngày càng hoàn thiện, góp phần vào sự nghiệp đào tạo nghề Bảo vệ thực vật trong tỉnh được tốt hơn

Xin bày tỏ lòng biết ơn với Lãnh đạo trường CĐCĐ Đồng Tháp, Hội Đồng thẩm định đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để hoàn chỉnh giáo trình Cảm ơn các tác giả biên soạn những tài liệu tôi tham khảo và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, cung cấp nhiều tài liệu để tôi hoàn thành giáo trình này

Đồng Tháp, ngày 26 tháng 5 năm 2017

Chủ biên

ThS Trịnh Xuân Việt

Trang 4

iii

MỤC LỤC

Trang

CONTENTS

LỜI GIỚI THIỆU ii

BÀI 1: MỞ ĐẦU 1

1 Giới thiệu Đồng Bằng Sông Cửu Long và việc trồng cây ăn trái 1

2 Phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá 2

3 Chiến lược trồng cây ăn trái ở Đồng bằng sông Cửu Long 3

4 Vấn đề trồng nuôi xen trong vườn cây ăn trái 4

BÀI 2 : THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG VƯỜN, VƯỜN ƯƠM 6

1 Điều tra cơ bản, chọn vùng canh tác 6

1.1 Địa hình 7

1.2 Khí hậu 7

1.3 Đất đai 7

1.4 Thuỷ lợi 7

1.5 Thực bì 7

1.6 Nguồn phân bón 7

1.7 Khả năng kết hợp trong sản xuất 7

1.8 Kinh tế và xã hội 7

2 Thiết kế vườn 8

2.1 Xây dựng bờ bao, cống bọng 16

2.2 Trồng cây chắn gió 17

2.3 Khoảng cách trồng 17

2.4 Trồng và nuôi xen trong vườn 18

3 Mục đích thành lập vườn ươm 18

5 Bố trí các khu vực trong vườn ươm 18

6 Gieo trồng và chăm sóc cây con 19

6.1 Cây trồng hột 19

6.2 Cây tháp 20

6.3 Cành giâm 20

Trang 5

iv

6.4 Cành chiết 20

BÀI 3: CÂY NHÃN 22

1 Giá trị và nguồn gốc phân bố 22

1.1 Giá trị dinh dưỡng 22

1.2 Nguồn gốc phân bổ 23

2 Đặc tính thực vật 23

2.1 Thân 23

2.2 Lá 24

2.3 Hoa 24

2.4 Trái 25

2.5 Hột 26

3 Nhu cầu sinh thái 26

3.1 Nhiệt độ 26

3.2 Nước 27

3.3 Đất đai 27

3.4 Ánh sáng 27

4 Giống 27

4.1 Nhãn Xuồng Cơm Vàng 27

4.2 Nhãn Tiêu Da Bò 28

4.3 Nhãn Edor 29

4.4 Nhãn Long 30

4.5 Nhãn Giồng 30

5 Kỹ thuật trồng 30

5.1 Mùa vụ 30

5.2 Chuẩn bị đất 30

5.3 Cách đặt cây con 31

5.4 Chăm sóc 31

5.5 Bón phân 33

5.6 Xử lý ra hoa 34

6 Các yếu tố ảnh hưởng lên sự ra hoa 38

7 Sâu bệnh hại 39

Trang 6

v

7.1 Côn trùng gây hại 39

7.2 Bệnh gây hại 42

8 Thực hành 48

8.1 Tỉa cành tạo tán cho cây 48

8.2 Nhận dạng và đánh giá phẩm chất một số loại trái nhãn 48

BÀI 4: CÂY XOÀI 50

1 Giá trị, nguồn gốc, phân nhóm và giống trồng 50

1.1 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng 50

1.2 Nguồn gốc và phân bố 51

1.3 Phân nhóm 51

1.4 Giống trồng 52

2 Đặc điểm hình thái 57

2.1 Rễ 57

2.2 Thân 57

2.3 Lá 57

2.4 Hoa 58

2.5 Trái 59

3 Đất đai và khí hậu 60

3.1 Khí hậu 60

3.2 Đất 61

3.3 Nước 63

4 Kỹ thuật canh tác 63

4.1 Nhân giống 63

4.2 Thời vụ trồng 64

4.3 Làm đất 64

4.4 Khoảng cách trồng 64

4.5 Tưới nước 64

4.6 Tỉa cành, tạo tán 64

4.7 Bón phân 65

4.8 Xử lý ra hoa 66

Kích thích ra hoa 71

Trang 7

vi

5 Sâu bệnh 77

5.1 Sâu hại 78

5.2 Bệnh hại 85

6 Bao trái 90

7 Thu hoạch và tồn trữ 91

7.1 Thu hoạch 91

7.3 Bảo quản 93

8 Thực hành 94

8.1 Nhận dạng và đánh giá phẩm chất một số loại trái xoài 94

8.2 Kỹ thuật trồng cây xoài, chăm sóc, bón phân 94

BÀI 5: CÂY CAM, QUÝT 97

1 Giá trị, nguồn gốc, phân nhóm và giống trồng 97

1.1 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng 97

1.2 Nguồn gốc và phân bố 98

1.3 Phân loại 99

1.4 Một số giống trồng trên thế giới 100

1.5 Các giống được trồng nhiều ở ĐBSCL 101

2 Đặc điểm sinh học và thực vật 105

2.1 Rễ 105

2.2 Thân, cành 105

2.3 Lá 106

2.4 Hoa 106

2.5 Trái 107

2.6 Hột 108

3 Khí hậu và đất đai 109

3.1 Khí hậu 109

3.2 Nước 111

3.3 Đất 111

3.4 Chất dinh dưỡng 112

4 Kỹ thuật canh tác 117

4.1 Chuẩn bị đất trồng 117

Trang 8

vii

4.2 Kích thước mương liếp 117

4.3 Nhân giống 117

4.4 Kỹ thuật trồng 120

4.5 Chăm sóc 122

5 Sâu bệnh hại cam quýt 126

5.1 Côn trùng 126

5.2 Bệnh 134

6 Thu hoạch và tồn trữ 139

6.1 Thu hoạch 139

6.2 Kỹ thuật treo trái 139

6.3 Phương pháp tạo màu vàng vỏ trái 139

6.4 Tồn trữ 140

7 Thực hành 140

7.1 Nhận dạng và đánh giá phẩm chất một số loại trái cây có múi 140

7.2 Trồng chăm sóc và chiết, ghép cây 141

Trang 9

viii

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

Tên mô đun: Cây ăn trái

Mã mô đun: CNN439

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:

- Vị trí: Đây là một trong những mô đun kỹ năng quan trọng của nghề Bảo vệ thực vật và nghề Khoa học cây trồng Được bố trí sau khi sinh viên đã học xong các môn chung và các môn cơ sở

- Tính chất: Mô đun này giúp cho sinh viên hiểu được các loại cây ăn trái của ĐBSCL, biết được kỹ thuật nhân giống và trồng, chăm sóc bón phân cho cây Yêu cầu sinh viên cần phải đảm bảo đủ số giờ lý thuyết và thực hành

- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: Giáo trình này giúp cho người học những kiến thức về đặc tính thực vật của cây trồng, kỹ thuật trồng và chăm sóc, xử lý ra hoa đậu trái của cây xoài, nhãn, cam quýt Áp dụng khoa học tiến bộ vào sản xuất góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao

Mục tiêu của mô đun:

- Về kiến thức:

+ Hiểu được chiến lược phát triển vườn cây ăn trái ở ĐBSCL

+ Biết được kỹ thuật thiết kế một vườn cây ăn trái lý tưởng có khoa học

và đạt hiệu quả kinh tế

+ Trình bày được đặc tính hình thái, nông học, và kỹ thuật trồng chăm sóc cây nhãn, xoài, cam quýt

+ Biết kỹ thuật tỉa cành tạo tán, chiết, ghép, tháp và giâm cành cây ăn trái

Trang 10

ix

+ Quy hoạch được vườn cây ăn trái, áp dụng được các khoa học kỹ thuật vào sản xuất

+ Biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác hiện đại vào trong sản xuất

để tăng năng suất và phẩm chất trái cây

+ Trung thực, có ý thức kỷ luật cao, sẵn sàng đảm nhiệm các công việc được giao;

+ Có ý thức học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn;

+ Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức tạp trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm;

+ Đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm

Nội dung của mô đun:

Số TT Tên bài trong

mô đun

Thời gian (giờ)

Tổng số Lý thuyết

Thực hành, thínghiệm, thảo luận, bài tập

Kiểm tra (định

ký)/Ôn thi

và thi kết thúc mô đun

1

Bài 1: Mở đầu

1 Giới thiệu Đồng Bằng

Sông Cửu Long và việc

trồng cây ăn trái

2 Phát triển nông nghiệp

nông thôn theo hướng

công nghiệp hoá, hiện

đại hoá, hợp tác hoá

3 Chiến lược trồng cây

ăn trái ở Đồng bằng sông

Cửu Long

4 Vấn đề trồng nuôi

xen trong vườn cây ăn

Trang 11

x

trái

2

Bài 2: Thiết kế và xây

dựng vườn, Vườn ươm

1 Điều tra cơ bản, chọn

Trang 13

1 Giới thiệu Đồng Bằng Sông Cửu Long và việc trồng cây ăn trái

Đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích gần 4 triệu ha, vùng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 24 đến 270C, tổng nhiệt lượng cả năm là 9.700-10.0000C Các yếu tố như ánh nắng, gió, ẩm độ không khí, bức xạ mặt trời, mang tính ổn định, thuận lợi cho sản xuất cây ăn trái trên bình diện rộng với tổng diện tích trồng cây ăn trái là 175.670 ha, chiếm 50,7% diện tích cây ăn trái của cả nước Điều nầy nói lên tầm quan trọng của ngành trồng cây ăn trái nhiệt đới ở Đồng bằng sông Cửu Long

Việc phát triển kinh tế vườn góp phần đáng kể trong việc nâng cao vai trò sản xuất nông sản hàng hóa, đa dạng hóa sản xuất Nhìn chung, cây trái vùng sông nước Nam bộ quanh năm tươi tốt, chủng loại phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, một phần cho xuất khẩu Được thiên nhiên ưu đãi

về khí hậu cho riêng vùng nhiệt đới, cộng với tiềm năng giống cây ăn trái chấp cánh cho sản xuất trái cây nhiệt đới bước dài khi Việt Nam ta hội nhập cùng các nước trong khu vực

Bên cạnh một số thuận lợi trên, việc canh tác còn nhiều vấn đề bất cập, tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đến tận từng người dân do sản xuất còn manh mún, lẻ tẻ, quy mô nông trại chưa đủ lớn, hợp tác xã nông nghiệp chưa nhiều,

Trang 14

2

mạng lưới phân phối chưa đi vào công nghiệp hóa, việc áp dụng cơ giới hóa còn nhiều khó khăn Giải quyết được những bất cập trên thì hàng nông sản của ta mới có thể cạnh tranh cùng các nước trong khu vực

Mục tiêu phát triển cho xuất khẩu và tiêu thụ trái cây nội địa cần tạo nên những vùng chuyên canh cây trái đặc sản cho riêng từng vùng đất, thích hợp từng chủng cây với sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ khoa học nông nghiệp từ khâu chọn đất, giống, kỹ thuật canh tác, thu hoạch, vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ

2 Phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá

Cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn Chủ trương đẩy nhanh việc thoát lũ và ngọt hóa ở ĐBSCL, đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ sinh học, ưu tiên phát triển cây trồng, vật nuôi có quy mô phát triển tương đối lớn và thị trường ổn định, hết sức chú trọng phát triển công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đất

Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Tăng tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn Ưu đãi, khuyến khích hơn nữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, phát triển kinh tế, tạo việc làm ở nông thôn, kể cả các dự án ở quy mô hộ gia đình Tổ chức các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản theo hướng gắn kết các đơn vị cung cấp nguyên liệu sản xuất, chế biến và tiêu thụ Tăng nhanh trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp và nông thôn Nhà nước hỗ trợ điều kiện để đẩy mạnh sản xuất và sử dụng sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp, nhất là các thiết bị vừa

và nhỏ có sức cạnh tranh với sản phẩm của nước ngoài Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, bao gồm cả bồi dưỡng kỹ năng lao động, đào tạo kỹ thuật viên

và hình thành đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi ở nông thôn

Giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản Thực hiện cơ chế lưu thông thật sự thông thoáng trên thị trường trong nước Củng cố hệ thống thương nghiệp Nhà nước trên địa bàn nông thôn, đặc biệt coi trọng phát triển các hình thức liên kết giữa thương nghiệp Nhà nước với hợp tác xã, nông dân và lực lượng thương nghiệp nhỏ, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường nông thôn gây thiệt hại đến lợi ích nông dân Tạo cho được một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đánh thuế xuất khẩu cao đối với hàng xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô mà trong nước đã có

Trang 15

3

năng lực chế biến Cho nhập khẩu miễn thuế hoặc thuế suất thấp các loại nguyên, vật liệu phục vụ công nghiệp nông thôn mà trong nước chưa sản xuất được hoặc còn thiếu Xây dựng quỹ bảo hiểm sản xuất dưới nhiều hình thức Nhà nước có chính sách cho nông dân nghèo vay tiền vào đầu vụ thu hoạch để không phải bán nông sản ở thời điểm bất lợi về giá Phát triển các loại hình kinh doanh kết hợp công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu theo phương thức ký kết hợp đồng dài hạn với nông dân

Phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các

cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa Tiếp tục phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ, kể

cả kinh tế tiểu chủ

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tập trung làm dịch vụ (điện, nước, kỹ thuật tài chính ngân hàng, thương mại, vận tải, ), công nghiệp chế biến và chuyển giao

kỹ thuật cho nông dân; trên cơ sở đó phát triển thêm một số cơ sở quốc doanh nông lâm nghiệp ở miền núi, vùng sâu, vùng xa

Phát triển các hình thức hợp tác xã giữa các doanh nghiệp nhà nước với các hợp tác xã và các hộ nông dân Xây dựng các Hiệp hội ngành nghề hoạt động theo cơ chế dân chủ, tự quản; trong đó có cơ sở quốc doanh trong Hiệp hội

3 Chiến lược trồng cây ăn trái ở Đồng bằng sông Cửu Long

Diện tích trồng cây ăn trái ở ĐBSCL ngày càng mở rộng, các chủng loại cây ăn trái ngày một phong phú, loại bỏ dần giống kém chất lượng thay vào đó những giống mới triển vọng với ưu thế lai tạo nên trái cây nhiệt đới giàu về số lượng, ngon về chất lượng, mẫu mã đẹp, màu sắc bắt mắt, Để theo kịp hàng nông sản của các nước như Thái Lan, Malaysia, thì nông dân ta gấp rút trang

bị cho mình những kiến thức sâu về kỹ thuật canh tác cũng như không ngừng học tập, mạnh dạn thay đổi tư duy, lề lối canh tác còn lạc hậu, manh mún, sáng tạo, tìm giống mới thay vào giống cây kém hiệu quả,

Trong thời gian qua, nông dân đã từng bước bắt nhịp được nhu cầu xã hội nhưng trong sản xuất vẫn còn nhiều bất cập Nhìn vào thị trường trái cây của ta, trái cây Thái Lan từng bước lấn sân không những về chủng loại (Sầu riêng cơm vàng hột lép, bòn bon, xoài ăn sống, chôm chôm, ) mà còn lấn sân về chất lượng (Cơm dầy, thịt ngọt, hợp khẩu vị, ), mùa vụ (mùa vụ kéo dài, ) Riêng

về trái cây nhiệt đới được trồng ở ĐBSCL chúng ta có giống bưởi Năm Roi, xoài Cát Hòa Lộc là loại trái cây ngon nhất mà khó có chủng loại bưởi, xoài giống khác sánh kịp

Trang 16

4

Vai trò trái cây hiện nay rất cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của toàn xã hội, ở bất cứ nơi đâu và bất kỳ thời điểm nào Thành phần dinh dưỡng có trong trái cây chiếm vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn của mọi người, vì thế chúng ta cần phải có chiến lược để sản xuất trái cây chất lượng đáp ứng thị trường trong và ngoài nước

Tuy nhiên, trái cây của ta chưa ổn định về chất lượng cũng như nguồn sạch bệnh, khó đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi ở những thị trường khó tính như Nhật Bản, Úc, Mỹ, cho nên: (a) Biện pháp sản xuất trái cây sạch bệnh hay còn gọi là trái cây hữu cơ phải được đặc biệt quan tâm; (b) Bảo quản sau thu hoạch bằng công nghệ sạch, đây là vấn đề còn mới đối với nông dân ta, cần phổ biến

và nhân rộng; (c) Nguồn giống, bao gồm những vấn đề như thời vụ, phẩm chất bên trong, hình thức bên ngoài, không lưu tồn thuốc bảo vệ thực vật, ; (d) Sản phẩm mang tính cạnh tranh về giá cả như giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng chất lượng, tăng năng suất, ; (e) Đáp ứng yêu cầu trên qui mô rộng, thời gian thu hoạch, điều khiển tiến trình chín, ; (f) Chú trọng bao bì, mẫu mã, quy cách đóng gói theo chuẩn quốc tế, ; (g) Công nghệ chế biến, sản xuất nước quả đóng hộp, xấy khô trái cây, Để đáp ứng những yêu cầu trên cần định hướng quy hoạch vùng chuyên canh trồng cây ăn trái đặc sản, xây dựng hợp tác xã kiểu mới theo cung cách hợp tác xã ở các nước như Mỹ, Châu Âu, xây dựng kho lạnh, chuẩn bị phương tiện giao thông thuận lợi

4 Vấn đề trồng nuôi xen trong vườn cây ăn trái

Ngoài ra để tăng thu nhập thêm cho nhà vườn, việc phát triển kinh tế vườn, ngoài việc trồng cây ăn trái đặc sản còn chú trọng việc phát triển mô hình trồng xen, kết hợp giữa trồng trọt với trồng trọt, trồng trọt với chăn nuôi, trồng trọt với thuỷ sản,

Mô hình VACB là mô hình sản xuất thâm canh phù hợp sinh thái vườn Trong đó công nghệ Biogas (B) lên men chất thải tạo ra khí đốt và phân hữu cơ, làm tăng thêm tính ưu việt của mô hình liên hoàn khép kín vườn-ao-chuồng mang tính bền vững, hiệu quả kinh tế cao cũng như không làm ô nhiễm môi trường và nguồn nước

Mô hình trồng trọt kết hợp với trồng trọt

Việc trồng cây đa niên với cây đa niên như các vườn dừa được trồng thêm chuối, ca cao, vườn cao su được trồng thêm cây ca cao, cà phê; Trồng cây đa niên với cây hàng niên thể hiện qua mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây hàng niên xen giữa cây trồng lâu năm, cây chắn gió bên ngoài và cây hàng niên bên trong

Trang 17

5

Trong mô hình xen canh, trồng xen với chuối (cây ăn trái khai thác nhanh) là loại cây trồng xen chiếm tỉ lệ cao nhất vì dễ trồng, trồng một lần nhưng thu nhiều lần, ít tốn công lao động, chi phí đầu tư rất thấp và việc tiêu thụ sản phẩm dễ dàng Kế đến là đậu xanh, đậu nành, các loại bầu, bí, mướp, dưa leo, khổ qua

Mô hình trồng trọt kết hợp với thuỷ sản

Trong vườn có nuôi xen thì loại thủy sản thường được chú ý nhiều là tôm Càng Xanh do có hiệu quả kinh tế cao, kế đến là cá Mè Vinh do dễ tiêu thụ, dễ chăm sóc… Việc nuôi xen cũng đã được thực hiện trên nhiều loại vườn cây ăn trái Mặc dù chưa được đầu tư tốt về mặt thâm canh nhưng hiệu quả kinh tế của việc nuôi xen khá cao Do đó, trong thời gian 2-3 năm đầu lập vườn, nếu chú ý khai thác thêm nguồn lợi thuỷ sản nầy sẽ giúp nhà vườn rút ngắn thời gian hoàn vốn xây dựng vườn

Việc nuôi xen trong vườn cây ăn trái thường chỉ tiến hành được một vụ trong năm Do nhà vườn có tập quán bồi mô, bồi liếp vào mùa nắng và kết hợp

vệ sinh mương ao nên cá thường được nuôi vào đầu mùa mưa

Mô hình trồng trọt kết hợp với chăn nuôi

Tác động qua lại giữa trồng trọt và chăn nuôi trong canh tác vườn đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng nguồn phụ phẩm do chăn nuôi mang lại, nguồn phân hữu cơ từ việc chăn nuôi heo, gà, vịt, bò, giúp ích cho việc cải tạo đất, đồng thời tạo ra sản phẩm trái cây sạch hay trái cây hữu cơ, một yêu cầu đòi hỏi mang tính chiến lược và lâu dài cho xuất khẩu

Cần nghiên cứu hệ thống canh tác như thế nào để tác động và quản lý hệ thống sản xuất nông nghiệp mang tính bền vững và cho hiệu quả kinh tế cao

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Cho biết ý nghĩa của việc trồng xen trong vườn cây ăn trái?

2 Diện tích trồng cây ăn trái hiện nay ở Đồng bằng sông cửu long như thế nào? Trong tương lai sẽ ra sao?

3 Chính sách phát triển Vườn cây trái ở Đồng bằng sông cửu long như thế nào?

4 Thị trường trái cây của Việt Nam gặp khó khăn nào?

Trang 18

1 Điều tra cơ bản, chọn vùng canh tác

Trước tiên phải điều tra cơ bản để đánh giá khả năng thích nghi của vùng với một hay nhiều đối tượng cây ăn trái nào đó, đồng thời cũng để làm cơ sở xây dựng qui trình kỹ thuật thiết kế xây dựng vườn và kỹ thuật canh tác

Trang 19

7

1.1 Địa hình

Cần xem xét một số vấn đề như địa hình có thuận lợi cho việc tưới tiêu và

cơ giới hóa không; Khoảng cách từ nơi lập vườn đến thị trường tiêu thụ, giao thông có thuận tiện không; Qui mô diện tích có đủ lớn để cung cấp lượng nông sản hàng hóa tối thiểu và có khả năng mở rộng diện tích khi cần phát triển không,

1.2 Khí hậu

Thu thập số liệu bình quân hàng năm về nhiệt độ, vũ lượng, thời kỳ mưa

tập trung trong năm Lượng bốc hơi, ẩm độ đất, ẩm độ không khí và các nét đặc trưng của thời tiết trong vùng đó (nếu có) như gió xoáy, mưa đá, khô hạn, hoặc sương muối, lạnh kéo dài,

1.3 Đất đai

Điều tra độ dầy tầng canh tác, loại đá mẹ, độ sâu mực thủy cấp, Phân tích các đặc tính lý, hóa để có cơ sở đánh giá độ phì nhiêu của đất

1.4 Thuỷ lợi

Điều tra nguồn nước và trữ lượng, khả năng khai thác, lượng phù sa trong

nước, nước ô nhiễm (chất lượng nước) Dự kiến nguồn nước cho sinh hoạt và canh tác

1.5 Thực bì

Khảo sát những loại cây được trồng và mọc hoang Lưu ý những loại cây

chỉ thị đất, cây có thể sử dụng làm gốc ghép, làm giàn, giá đỡ hoặc làm phân xanh

1.6 Nguồn phân bón

Tìm hiểu nguồn phân bón trong khu vực lập vườn (phân vô cơ, hữu cơ ) Tập quán sử dụng phân của nhân dân địa phương

1.7 Khả năng kết hợp trong sản xuất

Điều tra tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, nuôi ong

1.8 Kinh tế và xã hội

Tình hình dân cư, nguồn lao động Thị trường tiêu thụ sản phẩm, khả

năng vận chuyển, khả năng xây dựng các cơ sở sản xuất, nhà máy chế biến, tìm hiểu thị trường trong nước và thị trường ở nước ngoài hiện nay, dự đoán kênh tiêu thụ sắp tới

Trang 20

8

2 Thiết kế vườn

Khi thiết kế vườn với qui mô lớn cần lưu ý các điểm: (a) đất tốt dành riêng cho trồng trọt, (b) ưu tiên phát triển các lô gần nguồn nước, thuận tiện cho việc cơ giới hóa, chú ý tưới, tiêu nước dễ dàng, chống xói mòn đất, (c) mạng lưới thủy lợi nên kết hợp với giao thông thuận tiện, (d) tùy theo yêu cầu sinh thái của từng loại cây mà thiết kế lô, líp trồng thích hợp và (đ) hệ thống hành chính, kho tàng, nơi chế biến, bảo quản phải bố trí hợp lý, tránh làm mất thời gian trong sản xuất

Đặc điểm chung cần lưu ý trong xây dựng vườn cây ăn trái ở ĐBSCL

*Khí hậu: Khí hậu ĐBSCL thích hợp cho hầu hết các giống cây ăn trái

nhiệt đới phát triển quanh năm Nhiệt độ bình quân 270C, chênh lệch nhiệt độ của tháng lạnh nhất và tháng nóng nhất không quá 50C Vũ lượng mưa cao nhưng không phân bố đều trong năm, nên phải có hệ thống kênh mương dẫn nước tưới trong mùa nắng và tiêu nước trong mùa mưa Ẩm độ cao quanh năm thuận lợi cho sâu bệnh phát triển, cần phải xén tỉa cho vườn cây thông thoáng để giảm mật số sâu bệnh Đồng Bằng Sông Cửu Long ít gió bão, không phải xây dựng cây chắn gió

*Địa hình và cao độ đất: Địa hình và cao độ có ảnh hưởng đến chiều sâu

mực thủy cấp và khả năng thoát thủy, đây là yếu tố rất quan trọng trong vấn đề đào mương lên líp trồng cây ăn trái ở ĐBSCL Với diện là 3.955.550 ha, trong

đó ba nhóm đất có địa hình tương đối cao khả năng thoát thủy tốt, trồng cây ăn trái không cần lên líp như nhóm đất núi ở Tịnh Biên, Tri Tôn, Hà Tiên; nhóm đất phù sa cổ dọc theo biên giới Việt Nam và Campuchia; và nhóm đất Cát giồng chạy song song bờ biển Đông ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng Trong ba nhóm đất nầy chiếm diện tích không quá 2% Những nhóm đất còn lại như đất phù sa, đất phèn, đất mặn, đất phèn mặn và đất than bùn có địa hình thấp, bằng phẳng, thoát thủy kém, cao độ biến động từ 0-2 m, phần lớn không quá 1 m so với mực nước biển

Mực thủy cấp rất gần mặt đất ngay cả trong mùa nắng, trung bình từ

50-80 cm Trong mùa mưa, hầu hết các nhóm đất nầy đều bị ngập, khi trồng cây ăn trái cần đào mương, lên líp nhằm nâng cao mặt đất, làm dầy tầng canh tác và giúp đất thoát thủy tốt

*Tầng phèn trong đất: Độ sâu xuất hiện tầng phèn quyết định chiều sâu

của mương và cách lên líp ở ĐBSCL Có 2 loại là tầng phèn tiềm tàng và tầng phèn hoạt động

Tầng phèn tiềm tàng Tùy theo loại đất mà tầng phèn tiềm tàng có ở

những độ sâu khác nhau trong đất Tầng đất nầy luôn ở trạng thái khử do bị bảo

Trang 21

9

hòa nước quanh năm, mềm nhão, có màu xám xanh hay xám đen, hàm lượng SO42- hòa tan từ 0,8 -3,5%, Al3+ từ 5-135 cmol kg-1, Fe2+ từ 12-525 cmol kg-1 Không nên lấy đất ở tầng phèn tiềm tàng làm líp trồng cây ăn trái, vì khi đất khô rất chua, có trị số pH <3,5 và chứa nhiều độc chất Al và Fe

Tầng phèn hoạt động Tương tự như tầng phèn tiềm tàng, tùy theo loại

đất mà có thể gặp tầng phèn hoạt động ở bất kỳ độ sâu nào trong đất Tầng phèn hoạt động là tầng phèn tiềm tàng bị oxy hóa, do mực thủy cấp trong đất bị hạ xuống Đất thuần thục hoặc bán thuần thục Tầng đất nầy có chứa những đốm phèn Jarosite màu vàng rơm, nên rất dễ nhận diện ngoài đồng Đất rất chua và chứa nhiều độc chất hòa tan như SO42- từ 0,08-2,3%, Al3+ từ 8-1.200 cmol kg-1,

Fe2+ từ 73-215 cmol kg-1, không nên dùng loại đất nầy để làm líp trồng cây ăn trái Nếu cần sử dụng để làm líp thì nên tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật được trình bày ở phần sau

Đất có tầng phèn ở độ sâu trong vòng 1,5 m được gọi là đất phèn Đất phèn chiếm 40% tổng diện tích đất ở ĐBSCL, phần lớn tập trung ở 3 vùng là Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên - Hà Tiên và Bán Đảo Cà Mau Khi đào mương chỉ nên đào sâu đến tầng phèn mà thôi

*Nước: Độ sâu ngập lũ hàng năm cũng như chất lượng nước (nước mặn)

là những yếu tố quyết định kích thước mương, líp

Ngập lũ Hàng năm vào mùa mưa, lũ từ thượng nguồn sông Cửu Long

đổ về kết hợp với mưa tại chỗ đã làm nước sông dâng cao gây ngập lũ Ngập sâu nhất là vùng giáp biên giới Campuchia thuộc các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và Long An, ngập trên 1 m (Hình 2.2)

Trồng cây ăn trái phải lên líp rất cao, nên không thích hợp Càng về phía

hạ nguồn thì độ sâu ngập giảm dần, lên líp cao hơn đỉnh lũ là trồng được cây ăn trái Tuy nhiên có những năm lũ lớn, đỉnh lũ cao hơn bình thường gây úng ngập vườn cây ăn trái, nên cần có đê bao chống lũ Làm đê bao chống lũ riêng lẻ từng vườn không hiệu quả kinh tế bằng làm đê bao cho từng vùng cây ăn trái rộng lớn

và dùng máy bơm nước ra, giữ mực nước trong mương vườn luôn cách mặt líp ít nhất là 0,6 m

Trang 22

10

Hình 2.2: Bản đồ độ sâu ngập trong mùa lũ ở ĐBSCL

Sông rạch bị nhiễm mặn trong mùa nắng Vùng đất ven biển bị nhiễm

mặn trong mùa nắng thì không bị ảnh hưởng lũ Yếu tố hạn chế để lập vườn cây

ăn trái là thiếu nước ngọt để tưới trong mùa nắng, như ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau (Hình 2.3) Vườn cây ăn trái phải có đê bao ngăn mặn, líp và mương rộng để trữ nước ngọt tưới trong mùa nắng Tuy nhiên cũng còn tùy thuộc vào vũ lượng và thời gian mưa Vùng đất phía biển Tây của các tỉnh Kiên Giang và Cà Mau có vũ lượng mưa cao, trên 2.000 ly/năm

và kéo dài khoảng 7 tháng nên thuận lợi để trữ nước trong mương vườn hơn vùng đất bên biển Đông

Hình 2.3: Bản đồ thời gian kênh rạch bị mặn trong mùa nắng ở ĐBSCL

Trang 23

11

Thiết kế mương liếp

*Hiện trạng mương liếp vườn cây ở ĐBSCL: Theo kết quả điều tra ở các

tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp và An Giang của Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Cần Thơ thì hầu hết nông dân áp dụng kỹ thuật đào mương lên liếp theo lối thông thường (Hình 2.4), tức

là lấy lớp đất mặt làm chân liếp và lớp đất sâu làm mặt liếp Sau đó phơi đất khoảng 3-6 tháng rồi tiến hành trồng Có thể trồng chuối trước, sau đó trồng xen cây ăn trái vào rồi đốn bỏ chuối Ở những nơi trũng thấp, người ta chuyên chở đất mặt ruộng từ nơi khác tới làm đất mặt liếp rồi trồng ngay

Tùy theo địa hình và mục đích sử dụng mà chiều rộng mặt mương biến động từ 2,2-7 m (Bảng 2.3) Để tránh sụt lở bờ mương, đáy mương nhỏ hơn mặt mương từ 1,1- 2,1 lần Chiều sâu mương thay đổi từ 1-1,6 m Tỉ lệ mương chiếm trung bình là 33,7% tổng diện tích vườn (Bảng 2.4), như vậy diện tích đất sử dụng trồng cây ăn trái chiếm 66,3% Có hai vấn đề lớn cần đặt ra trong việc đào mương lên liếp của nông dân ĐBSCL là kỹ thuật đào mương để có liếp tốt và làm sao cho liếp không bị úng ngập

Trang 24

12

Điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL có các yếu tố giới hạn đối với các loại cây lâu năm như: Đất thường thấp, mực thủy cấp thường trực cao, dễ bị ngập úng trong mùa mưa; Độ dầy tầng canh tác mỏng, thường có tầng phèn hay tầng sinh phèn ở dưới; Vũ lượng phân phối không đều trong năm, dễ gây ngập úng trong mùa mưa, thiếu nước trong mùa nắng Do đó việc đào mương, lên liếp nhằm mục đích: nâng cao tầng canh tác, tránh ngập úng; mương cung cấp nước tưới trong mùa khô, thoát nước trong mùa mưa, giúp rửa phèn, mặn, các chất độc,

và làm đường vận chuyển, kết hợp nuôi trồng thuỷ sản trong vườn

Bảng 2.1: Kích thước líp vườn cây ăn trái của nông dân ở ĐBSCL

Loại cây Bề rộng mặt liếp Bề rộng đáy liếp Chiều cao liếp Tỉ lệ (m) (m) (m) đáy/mặt) Bưởi 5,8-7,0 6,8-9,0 0,3-0,4 1,2-1,3 Cam Mật 5,7-7,1 7,1-8,7 0,0-0,3 1,1-1,2 Cam Sành 5,3-9,0 6,2-10 0,0-0,3 1,2-1,3 Quýt Tiều 5,0-6,9 6,3-7,9 -0,1-0,5 1,1-1,3 Quýt Xiêm 5,1-6,5 6,3-8,1 0,2 1,1-1,2 Chanh 6,6-7,4 8,0-8,5 -0,2-0,3 1,1-1,2

Ổi 7,2-7,5 7,9-9,0 0,2-0,4 1,1-1,3 Táo 4,4-6,0 6,4-8,0 0,0-0,3 1,3 Xa-bô 5,0-7,7 6,0-8,9 -0,1-0,4 1,2-1,3 Chôm chôm 6,2-6,6 7,7-7,9 -0,3-0,2 1,2 Nhãn 6,2-6,8 7,8-10,0 -0,2-0,4 1,1-1,2 Xoài 7,5-7,6 9,4-10,4 0,2-0,4 1,4 Biến động 4,4-9 6,0-10,4 -0,3-0,5 1,1-1,4

Trang 25

Chiều sâu mương

Tỉ lệ (mặt/đáy) (m) (m) (m)

Bưởi 2,5-3,1 1,5-1,9 1,0-1,4 1,6-1,9 Cam Mật 2,6-3,5 1,6-2,1 1,1 1,6-1,7 Cam Sành 2,8-5,0 1,7-4,0 1,0-1,5 1,1-1,8 Quýt Tiều 2,2-4,0 1,1-2,5 1,0-1,5 1,7-2,0 Quýt Xiêm 2,4-3,8 1,2-2,3 1,0-1,3 1,5-2,0 Chanh 2,5-3,3 1,5-2,0 1,0-1,1 1,7

Ổi 2,3-3,3 1,3-2,1 1,1-1,5 1,6-1,8 Táo 3,6-4,0 2,0-2,3 1,0-1,4 2,0

Xa-bô 2,3-2,7 1,0-1,7 1,0-1,6 1,6-2,1 Chôm chôm 2,8-3,0 1,6-1,8 1,0-1,1 1,6-1,9 Nhãn 2,8-4,6 1,7-2,9 1,0-1,2 1,6-1,7 Xoài 4,0-7,0 2,2-7,0 1,0-1,4 1,4

Biến động 2,0-7,0 1,0-7,0 1,0-1,6 1,1-2,1

Bảng 2.4: Tỷ lệ sử dụng mương liếp của nông dân ở ĐBSCL

Loại cây Rộng líp/ Tỷ lệ sử dụng Tỷ lệ sử dụng rộng mương mương (%) líp (%)

*Kích thước mương: Kích thước mương thường được quyết định tùy theo

các yếu tố như địa hình cao hay thấp, độ sâu của tầng sinh phèn, giống cây trồng

và chế độ nuôi, trồng xen trong vườn Bề mặt và chiều sâu của mương thường phụ thuộc chặt vào chiều cao của líp Tỉ lệ mương/líp thường là 1/2 Chiều sâu mương từ 1-1,5 m tùy địa hình, tầng sinh phèn, Vách bên của mương (cũng

Trang 26

14

như mặt bên của líp) luôn luôn phải có độ nghiêng (tà ly) khoảng 30-45 độ để tránh sụt lở Tỷ lệ mương chiếm khoảng 30-35%

*Kích thước líp:

Liếp đơn Ở những vùng đất có độ dầy tầng canh tác mỏng, đỉnh lũ cao,

đất có phèn thì có thể thiết kế liếp đơn để trồng một hàng, giúp rửa phèn nhanh,

dễ bố trí độ cao líp Liếp có thể rộng 4-5m

Liếp đôi Ở những vùng đất có độ dầy tầng canh tác khá, đỉnh lũ vừa

phải, đất tốt thì liếp đôi thường được thiết kế Liếp đôi được dùng trồng 2 hàng,

có khi 3 hàng (dạng tam giác, chữ ngũ) Chiều rộng liếp thay đổi tùy loại cây, từ 6-12 m Trong trường hợp muốn thoát nước nhanh trong mùa mưa, có thể xẻ các mương phèn nhỏ trên liếp Khi sử dụng liếp đôi cần phải bảo đảm độ bằng của mặt liếp để tránh cho các hàng trồng giữa liếp bị thiếu nước trong mùa khô hay liếp bị ngập úng trong mùa mưa

Nói chung, chiều cao liếp tùy thuộc vào đỉnh lũ trong năm, tuy nhiên chiều cao liếp thích hợp cho hầu hết cây ăn trái ở ĐBSCL là cách mực nước cao nhất trong năm khoảng 30 cm

*Hướng liếp: Cần xây dựng hướng liếp song song hay thẳng góc với bờ

bao, để dễ dàng điều tiết nước trong vườn Đối với các loại cây ưa trảng, nên bố trí liếp theo hướng Bắc-Nam để nhận được nhiều ánh sáng, ngược lại bố trí liếp theo hướng Đông-Tây cho những loại cây thích bóng râm Cũng cần lưu ý là bố trí hướng liếp song song với hướng gió để vườn cây được thông thoáng, khô ráo

và ít sâu bệnh

*Kỹ thuật lên liếp:

Lên liếp theo lối cuốn chiếu Trong những vùng có lớp đất mặt tốt và

lớp đất dưới không xấu lắm thì kỹ thuật lên liếp theo lối "cuốn chiếu" được áp dụng (Hình 2.4) Đào lớp đất mặt mương để làm chân liếp, sau đó trải lớp đất sâu làm mặt liếp Cách làm nầy đỡ tốn chi phí, tuy nhiên sau đó cần lên mô bằng đất tốt, cũ (dùng đất mặt ruộng, bãi sông, bùn mương phơi khô hay đất vườn cũ)

để trồng, tránh gây ngộ độc cây con Có thể trồng một vài vụ chuối, cây phân xanh trước khi trồng cây trồng chính

Lên liếp theo lối kê đất Ở những vùng có lớp đất mặt mỏng, lớp đất

dưới không tốt, có phèn thì có thể lên liếp theo lối kê đất Đào lớp đất mặt ở mương thứ nhất đưa qua liếp thứ nhất bên trái, sau đó đưa lớp sâu của mương thứ nhất trải lên làm chân liếp thứ hai bên phải, tiếp đến lấy lớp đất mặt ở mương thứ hai trải lên làm mặt liếp thứ hai Lấy lớp đất sâu của mương thứ hai

Trang 27

Lên liếp theo băng Đào lớp đất mặt ở mương trải dài thành một băng ở

giữa chạy dọc theo liếp, sau đó đào lớp đất sâu của mương ốp vào hai bên băng Cây được trồng ngay trên băng giữa líp Cần lưu ý đắp lớp đất ở hai bên băng luôn luôn thấp hơn mặt băng, để có thể rửa được các độc chất khi mưa, không thấm vào băng (Hình 2.6)

Hình 2.6: Lên líp theo băng

Lên liếp đắp mô Trong trường hợp đắp thành mô thì lớp đất mặt được

tập trung đắp thành các mô để trồng cây ngay sau khi thiết kế (kích thước, khoảng cách tùy theo loại cây trồng), phần đất xấu của mương được đắp vào phần còn lại của liếp và thấp hơn mặt mô (Hình 2.7)

Hình 2.7: Lên liếp theo lối đắp mô

Trang 28

16

Điểm quan trọng cần lưu ý khi đào mương lên liếp là không nên đào mương sâu quá tầng sinh phèn (lớp đất sét màu xám xanh) vì sẽ đưa phèn lên mặt gây độc cho cây

2.1 Xây dựng bờ bao, cống bọng

*Bờ bao: Việc xây dựng bờ bao quanh vườn rất quan trọng trong điều

kiện ở ĐBSCL vì (a) là đường giao thông vận chuyển trong vườn, (b) là nơi xây dựng cống đầu mối để điều tiết nước, (c) nơi trồng các hàng cây chắn gió và (d) hạn chế ngập lũ trong mùa mưa

Mặt bờ bao thường rộng để kết hợp trồng cây chắn gió, chiều cao bờ bao được tính theo mức đỉnh lũ cao nhất trong năm Song song với bờ bao là các mương bờ bao, nên thiết kế rộng và sâu hơn mương vườn để có thể rút hết nước

ra khỏi vườn khi cần thiết

* Cống bọng: Tùy theo diện tích vườn lớn hay nhỏ mà thiết kế có một hay

nhiều cống chính gọi là cống đầu mối, cống đầu mối đưa nước vào cho toàn cả khu vực, nên thường đặt ở đê bao và đối diện với nguồn nước chính, để lấy nước vào hay thoát nước ra được nhanh, dựa vào sự lên xuống của thuỷ triều

Kích thước của cống thường thay đổi theo diện tích vườn Nên chọn đường kính cống thích hợp để trong khoảng thời gian nước rong, lượng nước vào vườn đủ theo ý muốn Vị trí đặt cống cao hay thấp tùy vào lượng nước cần giữ lại trong các mương vườn, sau khi đã xả hết nước Có thể thiết kế một nắp treo ở đầu miệng cống, phía trong bờ bao, để khi nước rong thì tự mở đem nước

Cốn g

Cốn g

M

ư ơ

n

g

v ư

Trang 29

2.2 Trồng cây chắn gió

Khi thiết kế vườn với diện tích lớn nơi bằng phẳng, có gió bão thường xuyên, cần phải trồng cây chắn gió, có tác dụng giảm tốc độ gió, giảm lượng bốc hơi, điều tiết nhiệt độ, giữ ẩm trong mùa khô Ngoài ra đai rừng chắn gió còn tạo được điều kiện cho khí hậu ổn định, cho côn trùng thụ phấn trong mùa hoa nở

* Chọn cây chắn gió: Cây chắn gió phải thích nghi tốt với khí hậu địa

phương, cành lá dai chắc, sinh trưởng khoẻ, tán dầy ít làm ảnh hưởng đến cây trồng chính Nếu kết hợp được để thụ phấn cho cây trồng chính thì càng tốt, hoặc dùng làm phân xanh Các loại cây thường được dùng làm cây chắn gió gồm có: phi lao, bạch đàn, muồng xiêm, tre, mù u, so đũa hoặc các loại cây ăn trái như chanh, xoài, mít, dừa, tre

* Hiệu quả chắn gió: Khoảng cách mà trong đó tốc độ gió giảm xuống

thường bằng 15-20 lần chiều cao cây dùng làm đai rừng Đai rừng được trồng thành 2-3 hàng, khoảng cách cây thay đổi tùy theo yêu cầu chắn gió nhiều hay ít, trung bình từ 1-1,5 m, khoảng cách hàng 2-2,5 m

* Hướng chắn gió: Cây chắn gió thường được bố trí thẳng góc với hướng

gió có hại, nếu hướng gió không ổn định thì bố trí xiên góc 30 độ Nếu gió nhiều, thường xuyên thì trong các lô, líp trồng có thể bố trí thêm cây chắn gió phụ, hướng thẳng góc với cây chắn gió chính, song song với các hàng cây ăn trái

và chỉ nên trồng 1-2 hàng

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, ít khi có gió bão lớn, nhưng thỉnh thoảng cũng có những cơn lốc thường xảy ra trong mùa mưa hay bị ảnh hưởng bởi những trận bão lớn thổi qua miền Trung và miền Bắc Do đó, chung quanh vườn nên có những hàng cây lớn chắn gió bảo vệ cho vườn cây bớt đổ ngã, giúp điều hòa nhiệt độ trong khu vực vườn Cây chắn gió được trồng dọc trên bờ bao để vừa có tác dụng chắn gió, vừa làm vững chắc thêm bờ bao

2.3 Khoảng cách trồng

Khoảng cách trồng thay đổi tùy loại cây, cần bố trí thích hợp cho sự sinh

trưởng, phát triển lâu dài Có thể trồng dầy trong giai đoạn đầu nhưng sau đó phải tỉa bỏ bớt khi cây giao tán để giữ khoảng cách thích hợp Cần kết hợp khoảng cách trồng với kiểu trồng thích hợp

Trang 30

2.4 Trồng và nuôi xen trong vườn

Một hệ thống vườn, ao, chuồng (V.A.C) hợp lý, sẽ đem lại hiệu quả kinh

tế cao vì đã sử dụng một cách triệt để đất đai (cả mặt nước) về diện tích lẫn tiềm năng dinh dưỡng và ánh sáng; đa dạng hoá sản phẩm, giúp ổn định thu nhập khi giá cả thị trường biến động; sử dụng công lao động một cách có hiệu quả Ngoài việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, nên bố trí thêm việc nuôi ong giữa các tán cây để tăng cường thụ phấn cho hoa

3 Mục đích thành lập vườn ươm

Vì cây ăn trái là cây đa niên nên trong giai đoạn đầu cây con cần được chăm sóc tốt mới bảo đảm được sự sinh trưởng và phát triển lâu dài, cho năng suất cao, phẩm chất tốt Do đó, việc thành lập vườn ươm theo đúng tiêu chuẩn

có mục đích cung cấp cây con tốt, thuần giống và đạt yêu cầu về chất lượng cũng như số lượng Khâu quan trọng là kiến thức cơ bản, kinh nghiệm chọn giống, vấn đề sản xuất cây giống Vườn ươm là nơi tiếp thu thành tựu mới trong khoa học, đồng thời ứng dụng và nhân rộng những thành tựu nầy

4 Chọn địa điểm thành lập vườn ươm

Những vấn đề cần lưu ý khi chọn địa điểm thành lập vườn ươm như (a) đất có thành phần sa cấu nhẹ, bằng phẳng, giàu chất mùn, khoáng chất, giữ và thoát nước tốt, tầng canh tác dầy khoảng 30-50 cm, có độ pH từ 5,5 đến 6,5; (b) Vườn ươm gần nguồn nước, thuận lợi việc giao thông nhưng cần xa đường lớn

để tránh ồn, ô nhiễm, không bị mất và lẫn giống do người qua lại; (c) Vườn cần

có ánh sáng đầy đủ, không khí trong lành, tránh hướng gió có hại và làm rào chắn gió và (d) vườn ươm nên bố trí gần vườn sản xuất

5 Bố trí các khu vực trong vườn ươm

Vườn ươm có thể được bố trí gồm các khu vực như sau:

Khu cây con: khu vực này dùng gieo hột giống để lấy cây con đem

trồng, làm gốc tháp và giâm cành Thiết kế nhiều luống trồng, luống rộng trung bình từ 1,5-2,0 m, cao 15-20 cm, có độ dốc khoảng 15 độ Giữa hai luống trồng nên chừa lối đi lại rộng khoảng 50 cm, để chăm sóc và dễ dàng thực hiện thao tác tháp Trong khu vực nầy có thể xây dựng bồn giâm để giâm cành

Ngày đăng: 06/08/2022, 11:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm