1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si nguyen cam tu 20230331110113 e 1721

79 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Thập Chứng Cứ Của Kiểm Sát Viên Trong Giai Đoạn Truy Tố Từ Thực Tiễn Viện Kiểm Sát Nhân Dân Quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Cẩm Tú
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đức Hạnh
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 791,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài (9)
  • 2. Tình hình nghiên cứu đề tài (10)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài (12)
    • 3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài (12)
    • 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài (13)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (13)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài (13)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài (13)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài (13)
    • 5.1. Phương pháp luận của đề tài (13)
    • 5.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài (13)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (14)
    • 6.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài (14)
    • 6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài (14)
  • 7. Bố cục của luận văn (14)
  • Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ (15)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong (15)
      • 1.1.1. Khái niệm thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố (15)
      • 1.1.2. Đặc điểm của thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố (23)
      • 1.1.3. Ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố (25)
    • 1.2. Nguyên tắc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố (27)
  • Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (64)
    • 2.1. Quy định về thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố (40)
    • 2.2. Thực trạng việc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố tại viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông (49)
      • 2.2.1. Một số yếu tố ảnh hưởng, tác động đến hoạt động thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố tại viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông (49)
      • 2.2.2. Những kết quả đạt được trong hoạt động thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố (52)
      • 2.2.3. Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thu thập chứng cứ (55)
      • 2.2.4. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đối với việc thu thập chứng cứ (61)
  • Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ (0)
    • 3.1. Yêu cầu đối với việc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn (64)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong (67)
      • 3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thu thập chứng cứ (67)
      • 3.2.3. Tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát và hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Ngành kiểm sát (73)

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sự gia tăng và diễn biến phức tạp của tội phạm trong xã hội hiện nay đã khiến công tác phòng chống tội phạm trở thành nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước chú trọng Kể từ khi pháp điển hóa Bộ luật Tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh tội phạm đã thuộc về các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tố tụng.

VKS nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, tham gia tất cả các giai đoạn tố tụng với trách nhiệm buộc tội và tranh tụng KSV là chủ thể chính thu thập chứng cứ, đặc biệt trong giai đoạn truy tố, nơi VKS kiểm tra và đánh giá chứng cứ để quyết định việc truy tố các bị can ra Tòa án Nếu chưa đủ chứng cứ, KSV có thể tự thu thập thêm thông qua các biện pháp điều tra theo luật định Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không phải lúc nào KSV cũng thu thập và củng cố chứng cứ đầy đủ, ảnh hưởng đến quyết định tố tụng và sự chính xác, khách quan trong giải quyết vụ án.

Trong những năm qua, việc thực hiện Nghị Quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là trong việc cải cách thu thập chứng cứ, bao gồm vai trò của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn truy tố Tuy nhiên, vẫn tồn tại những vấn đề về chất lượng thực hiện, như việc KSV có thể tự thu thập chứng cứ nhưng lại trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian tố tụng và lãng phí nguồn lực Điều này không chỉ làm giảm lòng tin của người dân vào các cơ quan tư pháp mà còn gây khó khăn cho quá trình xét xử, khi Tòa án phải trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung do thiếu chứng cứ.

Mặc dù quy định về thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn truy tố đã được nêu rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vẫn còn nhiều điểm cần được làm rõ và phân tích sâu hơn Điều này sẽ giúp KSV dễ dàng nắm bắt và tổ chức thực hiện, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động trong quá trình thực hành quyền công tố (THQCT) ở giai đoạn truy tố Nghiên cứu thực tiễn tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, sẽ có khả năng ứng dụng cao và mang lại hiệu quả tích cực.

Học viên đã quyết định chọn đề tài “Thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” cho luận văn thạc sĩ luật học của mình dựa trên những lý do quan trọng.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là việc sử dụng chứng cứ đã thu thập để làm sáng tỏ sự thật khách quan liên quan đến hành vi phạm tội, giúp giải quyết vụ án một cách chính xác Việc thu thập chứng cứ phản ánh nhận thức của con người, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều Do đó, hoạt động này là nội dung quan trọng được nhiều nhà khoa học và luật gia nghiên cứu Tác giả đã tham khảo các công trình khoa học để có cơ sở lý luận cho đề tài Luận văn.

Tác giả Đỗ Văn Đương năm 2006 với tác phẩm “Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự”, do nhà xuất bản Tư pháp phát hành;

Tác giả Trần Quang Tiệp đã cho ra mắt tác phẩm “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, được phát hành bởi nhà xuất bản Chính trị quốc gia tại Hà Nội.

Tác giả Trần Duy Đức đã trình bày tác phẩm “Thu thập, đánh giá chứng cứ trong luật tố tụng hình sự” dựa trên số liệu thực tiễn tại Đắk Lắk, trong luận văn Thạc sĩ Luật học của mình tại Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, năm 2015.

Tác giả Nguyễn Minh Ngọc đã thực hiện nghiên cứu về “Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự” dưới dạng Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia.

Tác giả Vương Văn Bép đã nghiên cứu đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" trong luận án Tiến sĩ Luật học tại Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội vào năm 2014.

Khoa Tội phạm học và Điều tra tội phạm Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm

2016 có “Đề tài khoa học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá chứng cứ trong điều tra các vụ án hình sự”;

Tác giả Nguyễn Đức Hạnh đã có nhiều bài viết tiêu biểu trên các tạp chí khoa học, bao gồm “Mối quan hệ giữa dữ liệu điện tử và các nguồn chứng cứ khác trong tố tụng hình sự” trên Tạp chí khoa học Kiểm sát số 02 năm 2019, “Quản lý và xử lý vật chứng là động vật hoang dã trong các vụ án hình sự” trên Tạp chí Tòa án số 23 năm 2019, và “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thực nghiệm điều tra” trên Tạp chí Kiểm sát số 08 năm 2014.

Trên các tạp chí khoa học pháp lý, có nhiều bài viết quan trọng như “Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung chế định viện kiểm sát rút quyết định truy tố trong Bộ luật tố tụng hình sự” của Hồ Đức Anh (Tạp chí Kiểm sát số 19, năm 2008) và “Những bất cập trong các quy định về việc Viện kiểm sát thay đổi quyết định truy tố” của cùng tác giả (Tạp chí Kiểm sát số 7, năm 2009) Ngoài ra, cuốn sách “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Nguyễn Hải Phong (Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2014) cũng đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này.

Cuốn sách “Những điểm mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” do PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia vào năm 2015, cung cấp một phân tích tổng quát về các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Tác phẩm này tập trung vào nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng hình sự, đồng thời so sánh với các quy định trong các văn bản pháp luật trước đó Cuốn sách cũng bình luận về những điểm mới đáng chú ý của Bộ luật năm 2015 liên quan đến vấn đề này.

Cuốn "Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động" của VKSND tối cao đã khái quát quá trình phát triển của VKSND và phân tích công tác THQCT, đánh giá thực trạng hoạt động từ khi ngành kiểm sát được thành lập đến năm 2015, chỉ ra hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng công tác này Mặc dù có nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ án hình sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố tại VKSND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra kiến nghị và giải pháp nâng cao khả năng ứng dụng và chất lượng hoạt động này.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp luận của đề tài

Phương pháp luận nghiên cứu đề tài dựa trên duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phản ánh quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm.

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, so sánh, tổng hợp và thống kê để giải quyết vấn đề Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn các Kiểm sát viên (KSV) để thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố, từ đó làm cơ sở cho các nhận định và đánh giá.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài

Nghiên cứu trong Luận văn này đóng góp vào việc bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về quy trình thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn truy tố, từ đó làm sâu sắc hơn hiểu biết về vấn đề này.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Các giải pháp mà luận văn đề xuất mang lại ý nghĩa thiết thực trong việc giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn truy tố.

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng dạy, nghiên cứu và học tập của cán bộ, sinh viên, học viên, đặc biệt trong lĩnh vực thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên (KSV), với trọng tâm là giai đoạn truy tố.

Bố cục của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố

Chương 2 trình bày quy định pháp luật và thực tiễn thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố tại Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Chương 3 đề xuất yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ

Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong

1.1.1 Khái niệm thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố Chứng cứ là cái thực tích hay hiện trạng có thể bằng cứ vào mà chứng thực được Chứng cứ cũng có thể hiểu là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là thật Để xem xét một vấn đề, hiện tượng thuộc lĩnh vực nào đó là có thật hay không, có đúng hay không? đều phải dựa trên những căn cứ nhất định, căn cứ dùng để chứng minh các vấn đề của vụ án hình sự thường được gọi là chứng cứ Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, để đưa ra các quyết định hoặc bản án các cơ quan THTT đều phải căn cứ vào các chứng cứ chứng minh về tội phạm và những tình tiết khác có liên quan tới vụ án Giải quyết vụ án hình sự chính là việc chứng minh làm rõ, tái hiện lại diễn biến của sự việc đã xảy ra, bằng việc thu thập các chứng cứ tài liệu, thông qua đó giải quyết hậu quả của hành vi tội phạm gây ra Muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan, để có cơ sở kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy ra thì cơ quan THTT và người THTT phải có những tài liệu, chứng cứ để chứng minh, qua đó sẽ đưa đến nhận thức đúng đắn mang tính khách quan về sự việc phạm tội và con người phạm tội

Chủ nghĩa duy vật biện chứng thiết lập một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, yêu cầu xuất phát từ thực tế khách quan và phát huy tính năng động chủ quan Để đạt được kết luận đúng đắn trong việc giải quyết vụ án hình sự, cần dựa vào chứng cứ khách quan và hợp pháp, tránh những suy đoán chủ quan có thể dẫn đến oan sai Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan qua quá trình từ trực quan đến tư duy trừu tượng, từ chưa biết đến biết nhiều, và mọi hoạt động đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan.

Các hành vi phạm tội để lại dấu vết trong thế giới khách quan, như công cụ, phương tiện thực hiện, vết máu, dấu vân tay trên thi thể nạn nhân, và vết dao đâm trên cơ thể người bị hại Việc thu thập và sắp xếp hệ thống các dấu vết này giúp phân tích tổng hợp, đưa ra kết luận chính xác và nhận thức đúng đắn về bản chất sự việc, từ đó đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự được chính xác, đúng người, đúng tội.

Chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm và làm rõ sự thật của vụ án Định nghĩa về chứng cứ có sự khác biệt tùy thuộc vào bản chất giai cấp của mỗi Nhà nước và phương pháp luận nhận thức Chứng cứ được xác định trong vụ án là cơ sở để những người tham gia tố tụng hình sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, chứng cứ trở thành đối tượng nghiên cứu quan trọng trong nhiều môn khoa học pháp lý chuyên ngành Nhiều ngành luật quy định chứng cứ như một chế định, là cơ sở cho các hoạt động pháp lý, dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa của nó.

Vấn đề chứng cứ trong khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm của các luật gia tư sản nhấn mạnh sự tương đồng giữa chứng cứ tố tụng và chứng cứ thông thường Chứng cứ tố tụng bao gồm các sự kiện và hiện tượng trong đời sống, cũng như hành vi của con người Khi những yếu tố này được đưa vào quy trình tố tụng và trở thành công cụ để xác định các tình tiết mà cơ quan xét xử và điều tra quan tâm, chúng sẽ được coi là chứng cứ tố tụng.

Theo TS Đỗ Văn Đương, chứng cứ là thông tin xác thực liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo quy trình pháp luật quy định Những thông tin này được các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền sử dụng để xác định sự thật khách quan của vụ án.

Có nhiều quan điểm khác nhau về chứng cứ Dựa trên học thuyết duy vật biện chứng và kinh nghiệm trong đấu tranh chống tội phạm, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về chứng cứ.

Chứng cứ là những yếu tố có thật, được thu thập theo quy trình pháp lý do Bộ luật quy định, nhằm giúp Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án xác định hành vi phạm tội, người thực hiện và các tình tiết cần thiết để giải quyết vụ án một cách chính xác Định nghĩa này thể hiện tính khái quát cao, tuân thủ các quy luật khách quan trong nhận thức, đồng thời nêu rõ các thuộc tính và đặc điểm của chứng cứ, làm cơ sở cho việc chứng minh tội phạm.

Chứng cứ là thông tin phản ánh sự vật, hiện tượng có thật, không thể tách rời khỏi một sự vật cụ thể Việc xem xét từng thuộc tính của chứng cứ cần phải được thực hiện trong mối liên hệ với các thuộc tính khác và trong bối cảnh tổng thể.

Về mặt lý luận, chứng cứ có những thuộc tính sau:

Tính khách quan của chứng cứ là yếu tố quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khách quan là những gì tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức con người Chứng cứ phải là thông tin có thật, tồn tại độc lập với nhận thức chủ quan Các dấu vết của tội phạm, dù ở dạng vật chất hay trong trí nhớ, đều phản ánh sự thật khách quan Tội phạm, với tính chất tiêu cực, tác động đến thế giới khách quan thông qua hành vi của người phạm tội, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Việc thu thập dấu vết tội phạm không chỉ là cần thiết mà còn mang tính khách quan, giúp chứng minh sự thật của vụ án và các sự kiện đã xảy ra.

Tính khách quan của chứng cứ là yếu tố quyết định để đảm bảo kết luận chính xác trong vụ án hình sự, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm Chứng cứ cần tồn tại độc lập, không bị ảnh hưởng bởi ý thức chủ quan của con người Những người tham gia tố tụng cần nhận thức đúng đắn về thực tế khách quan để tránh suy diễn cá nhân trong việc thu thập chứng cứ Việc giải quyết vụ án phải dựa trên thông tin thực tế, tôn trọng sự thật và tránh thái độ chủ quan, nóng vội Thực tiễn cho thấy nhiều vi phạm nghiêm trọng liên quan đến quyền lợi hợp pháp của công dân xuất phát từ việc thiếu tôn trọng tính khách quan và định kiến chủ quan trong xác định chứng cứ.

Thứ hai, tính liên quan

Chứng cứ trong vụ án hình sự chỉ được coi là hợp lệ khi nó liên quan đến các vấn đề mà cơ quan điều tra và người tham gia cần biết nhưng chưa rõ Đối tượng chứng minh bao gồm việc xác định có hành vi phạm tội hay không, thời gian, địa điểm, và các tình tiết liên quan, cũng như xác định ai là người thực hiện hành vi, có lỗi hay không, và động cơ phạm tội Ngoài ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo, cùng với đặc điểm nhân thân của họ cũng cần được xem xét Tính liên quan của chứng cứ thể hiện mối quan hệ khách quan giữa chứng cứ và vấn đề cần chứng minh, tức là sự kết nối giữa sự kiện và đối tượng chứng minh.

Khi sử dụng thông tin làm căn cứ cho quan điểm và lập luận, thông tin đó phải liên quan đến vấn đề cần chứng minh và phải có thật Nếu thông tin có thật nhưng không liên quan, thì lập luận sẽ thiếu chính xác và không có sức thuyết phục.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan THTT cần thu thập nhiều tài liệu khác nhau để đảm bảo không bỏ sót thông tin quan trọng Việc đánh giá tổng hợp các tài liệu đã thu thập sẽ giúp xác định tài liệu nào có liên quan đến vụ án và loại bỏ những tài liệu không cần thiết.

Cơ sở lý luận của thuộc tính có liên quan của chứng cứ dựa trên nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng, yêu cầu các cơ quan như CQĐT, VKS và Tòa án phải xem xét toàn diện các mối quan hệ liên quan đến vụ án Việc xác định tính liên quan của chứng cứ phụ thuộc vào nhận thức của người THTT về diễn biến khách quan của vụ án và chỉ được đánh giá đúng khi áp dụng các quy luật khách quan Cần tránh áp đặt tính liên quan bằng sự suy luận chủ quan, thiếu căn cứ khoa học, nhằm ngăn chặn việc thu thập tài liệu không cần thiết hoặc bỏ sót tài liệu quan trọng.

Nguyên tắc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố

Nguyên tắc là các tư tưởng chủ đạo mà các chủ thể phải tuân theo trong quá trình thực hiện hoạt động Hoạt động thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên quan trọng trong quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự Trong mọi giai đoạn tố tụng, việc thu thập chứng cứ phải tuân theo các nguyên tắc chung để đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ Điều này là cần thiết để chứng minh tội phạm và người phạm tội, từ đó giúp giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời.

Nguyên tắc đầu tiên trong thu thập chứng cứ là phải tiến hành nhanh chóng và kịp thời Để giải quyết vụ án hình sự và xác định sự thật khách quan, các cơ quan THTT cần có đầy đủ thông tin và tài liệu về tội phạm Tuy nhiên, họ không phải là những người chứng kiến sự việc, do đó việc phát hiện, thu thập và đánh giá chứng cứ là cách duy nhất để làm rõ bản chất vụ án Hoạt động này giúp các cơ quan THTT có cái nhìn toàn diện về hành vi phạm tội trong quá khứ, từ đó thực hiện quyền buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Mọi giai đoạn tố tụng đều phụ thuộc vào chứng cứ, cho thấy vai trò quan trọng của nó trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, tội phạm thường tìm cách che giấu hoặc làm hỏng chứng cứ để thoát tội, vì vậy việc thu thập chứng cứ cần được thực hiện khẩn trương Nhiều chứng cứ quan trọng như mẫu máu hay bộ phận cơ thể dễ hỏng, do đó cần thu thập nhanh chóng để đảm bảo tính chính xác của vụ án Nếu chứng cứ không còn nguyên vẹn, việc làm sáng tỏ bản chất vụ án sẽ trở nên khó khăn.

Nguyên tắc thứ hai trong thu thập chứng cứ yêu cầu tính khách quan, toàn diện và đầy đủ Tính khách quan là thuộc tính cơ bản của chứng cứ, đảm bảo tài liệu và đồ vật thu thập được có giá trị chứng minh Theo BLTTHS năm 2015, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu họ áp dụng biện pháp hợp pháp để xác định sự thật một cách khách quan và toàn diện Cơ quan này không chỉ tập trung vào chứng cứ buộc tội mà còn phải thu thập chứng cứ gỡ tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Chỉ khi thu thập chứng cứ được thực hiện một cách khách quan và đầy đủ, mới có thể tái hiện chính xác sự việc phạm tội, từ đó giải quyết vụ án một cách công bằng, đúng người đúng tội, tránh oan sai cho người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.

Nguyên tắc thứ ba trong hoạt động thu thập chứng cứ yêu cầu việc thu thập phải tuân thủ quy định của pháp luật, nghiêm cấm các biện pháp trái pháp luật Theo Khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2015, cơ quan có thẩm quyền được phép thu thập chứng cứ theo quy định của luật Để được coi là chứng cứ hợp pháp, tài liệu và đồ vật phải được thu thập từ các nguồn hợp pháp và theo các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định, như nêu trong định nghĩa tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 Chỉ khi hoạt động thu thập chứng cứ diễn ra đúng trình tự và thủ tục pháp luật thì tài liệu, đồ vật mới có giá trị chứng minh.

Xã hội phát triển kéo theo tội phạm gia tăng với tính chất và mức độ nguy hiểm cao Nhiều vụ án hình sự phức tạp với đồng phạm liên kết tinh vi và sử dụng phương tiện hiện đại đã gây khó khăn cho việc điều tra Để giải quyết vụ án một cách chính xác và khách quan, việc thu thập chứng cứ, đặc biệt trong giai đoạn truy tố, phải tuân thủ nguyên tắc thu thập chứng cứ Hoạt động này cần diễn ra nhanh chóng, kịp thời, khách quan và đầy đủ, theo đúng trình tự pháp luật quy định.

1.3 Nội dung thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố

Hoạt động thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn truy tố tương tự như trong các giai đoạn tố tụng khác, bao gồm phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ Mục tiêu là đảm bảo chứng cứ có giá trị chứng minh đầy đủ và hiệu quả sử dụng Các khâu trong quá trình thu thập chứng cứ có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau; mỗi khâu là tiền đề cho khâu tiếp theo Thiếu một trong các khâu này sẽ làm giảm hiệu quả của việc thu thập chứng cứ.

Phát hiện chứng cứ là quá trình tìm kiếm các sự vật, hiện tượng và tài liệu chứa thông tin quan trọng để làm rõ các vấn đề trong vụ án Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việc thu thập chứng cứ, vì chỉ khi phát hiện ra chứng cứ, người ta mới có thể thu thập được Để phát hiện chứng cứ, cần đánh giá và xem xét các thông tin có giá trị chứng minh cho các sự kiện và tình tiết cần làm sáng tỏ Tuy nhiên, việc đánh giá này chỉ mang tính chất sơ bộ, và quyết định cuối cùng về việc có phải là chứng cứ hay không thuộc về Hội đồng xét xử.

Tài liệu phát hiện cần được ghi nhận theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để có thể sử dụng làm chứng cứ chứng minh tội phạm Ghi nhận chứng cứ là hoạt động mô tả và sao chép các đặc tính của đối tượng mang thông tin chứng cứ vào các nguồn chứng cứ hợp pháp Mỗi loại tài liệu được ghi nhận bằng hình thức pháp lý phù hợp, giúp lưu giữ thông tin có giá trị chứng cứ để sử dụng nhiều lần trong quá trình chứng minh và đảm bảo tích lũy cho đến khi làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án.

Sau khi phát hiện và ghi nhận tài liệu, bước tiếp theo là thu giữ chứng cứ Thu giữ chứng cứ là quá trình tách biệt các đối tượng nguyên mẫu (dấu vết, đồ vật) mang thông tin chứng cứ ra khỏi môi trường xung quanh, không phải là sao chép hay lựa chọn thông tin Mục đích của việc thu giữ chứng cứ là để sử dụng trong việc chứng minh trong vụ án hình sự, và đây được coi là một biện pháp hiệu quả để đảm bảo công tác điều tra, truy tố và xét xử.

Quá trình phát hiện và thu giữ chứng cứ cần gắn liền với việc bảo quản để giữ nguyên vẹn tình trạng của chứng cứ, tránh mất mát, biến dạng hay thay đổi Mục đích của việc bảo quản không chỉ là bảo vệ giá trị chứng minh mà còn đảm bảo giá trị vật chất, kinh tế và văn hóa của chứng cứ Thực chất, bảo quản chứng cứ là bảo vệ các nguồn chứng cứ đã được ghi nhận trong hồ sơ vụ án.

Hoạt động thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn truy tố là quá trình phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự VKS có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật và dữ liệu điện tử để làm sáng tỏ vụ án Ngoài ra, các bên tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức và cá nhân cũng có thể cung cấp chứng cứ và tài liệu liên quan đến vụ án cho VKS.

Trong giai đoạn truy tố, Viện Kiểm sát có quyền thu thập chứng cứ trực tiếp bằng cách thực hiện một số biện pháp điều tra, bao gồm việc hỏi cung bị can và lấy lời khai từ những người tham gia tố tụng.

Trước khi tiến hành hỏi cung và lấy lời khai, Kiểm sát viên (KSV) cần xác định rõ mục đích của việc này, liệu để giải quyết mâu thuẫn hay kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ tính khách quan trong lời khai Việc này giúp KSV có phương pháp nghiên cứu hồ sơ phù hợp với từng tình huống cụ thể Đồng thời, cần chú ý đến đặc điểm nhân thân của bị can và những người tham gia tố tụng khác trước khi thực hiện hỏi cung.

KSV cần lập kế hoạch cho việc hỏi cung và lấy lời khai, sau đó báo cáo cho lãnh đạo đơn vị và lãnh đạo Viện để xem xét và quyết định Quá trình này phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật liên quan về căn cứ, thẩm quyền, trình tự và thủ tục Sau khi hoàn tất việc hỏi cung và lấy lời khai, KSV sẽ nghiên cứu, đánh giá kết quả và báo cáo lại cho lãnh đạo đơn vị và lãnh đạo Viện.

Trước khi bắt đầu lấy lời khai, KSV cần yêu cầu bị can và những người tham gia tố tụng khác tự khai về các tình tiết liên quan đến vụ án Việc này rất quan trọng vì có thể phát hiện ra những tình tiết mới, quan trọng mà hồ sơ vụ án chưa có Đồng thời, điều này cũng giúp KSV kiểm tra thái độ khai báo của họ để định hình chiến thuật lấy cung phù hợp.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ

Ngày đăng: 22/07/2023, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm