i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài: “ Các động từ tình thái" toan, định, dám, muốn" trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” là đề tài do chính tôi thực hiện, không có sự trùng lặp
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
CÁC ĐỘNG TỪ "TOAN, ĐỊNH, DÁM, MUỐN" TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thuận
HẢI PHÒNG - 2017
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “ Các động từ tình thái" toan, định, dám,
muốn" trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” là đề tài do chính tôi
thực hiện, không có sự trùng lặp với bất kì đề tài của tác giả khác Nếu sai tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hải Phòng, ngày 02 tháng 5 năm 2017
Học viên
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Đây là kết quả nghiên cứu khoa học của tôi sau hai năm Cao học Để
có được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với TS Nguyễn
Thị Thuận, người đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi từ những
bước đầu khó khăn cho đến khi hoàn thành công việc nghiên cứu của mình
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, cô cũng là người giúp đỡ và động viên tôi
về mọi mặt
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các quý thầy cô
Trường Đại học Hải Phòng, các GS- TS Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển
học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong những năm qua đã tận tình
giảng dạy cho chúng tôi
Người viết cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Hải
Phòng và Phòng Quản lý sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập và làm luận văn
Xin cảm ơn gia đình, anh chị em đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Hải Phòng, ngày 02 tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 4MỤCLỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Về tình thái 8
1.1.1.Về khái niệm tình thái 8
1.1.2.Về việc phân loại tình thái 12
1.1.3.Các phương tiện biểu thị tình thái 13
1.2 Về động từ tình thái 16
1.2.1.Việc phân định các động từ tình thái 16
1.2.2.Cách hiểu về động từ tình thái 16
1.3 Hành động nói 19
1.3.1 Khái niệm hành động nói 19
1.3.2 Phân loại các hành động nói 20
1.4 Vài nét về tiểu sử, sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Công Hoan 22
1.4.1 Cuộc đời Nguyễn Công Hoan 22
1.4.2 Sơ lược về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan 22
1.5 Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA CÁC ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI "TOAN, ĐỊNH, DÁM, MUỐN" TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN 26
2.1 Khả năng kết hợp trước của các động từ tình thái "toan, định, dám, muốn" 26
2.1.1.Động từ tình thái toan 28
2.1.2 Động từ tình thái định 29
Trang 52.13 Động từ tình thái dám 30
2.1.4 Động từ tình thái muốn 31
2.2 Khả năng kết hợp của cá động từ tình thái "toan, định, dám, muốn" với động từ đứng sau 31
2.2.1.Kết hợp với nội động từ 34
2.2.2 Kết hợp với ngoại động từ 37
2.3 Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3: HÀNH ĐỘNG NÓI ĐƯỢC THỰC HIỆN Ở CÁC PHÁT NGÔN CHỨA ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI"TOAN, ĐỊNH, DÁM, MUỐN" TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN 44
3.1 Hành động tái hiện được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT toan 45
3.1.1 Hành động nhận định được thực hiện ở câu chứa ĐTTT toan 47
3.1.2 Hành động miêu tả được thực hiện ở các phát ngôn chứa ĐTTT toan 48
3.1.3 Hành động kể được thực hiện ở các phát ngôn chứa ĐTTT toan 49
3.2 Hành động nói được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT định 49
3.2.1 Lớp hành động tái hiện được thực hiện ở câu chứa ĐTTT định 49
3.2.2 Lớp hành động điều khiển được thực hiện ở câu chứa ĐTTT định 53
3.3 Hành động nói được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT dám 53
3.3.1 Hành động tái hiện được thực hiện ở câu chứa ĐTTT dám 55
3.3.2 Lớp hành động bộc lộ được thực hiện ở câu chứa ĐTTT dám 58
3.3.3 Lớp hành động kết ước được thực hiện ở câu chứa ĐTTT dám 58
3.3.4 Lớp hành động điều khiển được thực hiện ở câu chứa ĐTTT dám 59
3.4 Hành động nói được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT muốn 60
3.4.1 Lớp hành động tái hiện được thực hiện ở câu chứa ĐTTT muốn 61
3.4.2 Lớp hành động điều khiển được thực hiện ở những phát ngôn chứa ĐTTT muốn 65
Trang 63.4.3 Lớp hành động bộc lộ được thực hiện ở các phát ngôn có chứa ĐTTT
muốn 68
3.5 Tiểu kết chương 3 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8Thống kê chi tiết khả năng kết hợp của các ĐTTT
toan, định, dám, muốn với một số phó từ đứng
trước
29
2.3
Tổng hợp khả năng kết hợp của các ĐTTT toan
định, dám, muốn trong truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan
33
2.4
Tổng hợp khả năng kết hợp với tiểu loại nội động
từ, ngoại động từ của các ĐTTT toan, định, dám,
3.1
Tổng hợp các hành động nói được thực hiện ở các
phát ngôn có chứa ĐTTT toan, định, dám, muốn
trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
46
3.2 Tổng hợp lớp hành động tái hiện được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT toan 47
3.3 Tổng hợp lớp hành động tái hiện được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT định 51
3.4 Tổng hợp lớp hành động nói được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT dám 55
3.5 Tổng hợp lớp hành động tái hiện được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT dám 55
3.6 Tổng hợp lớp hành động nói được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT muốn 61
3.7 Tổng hợp lớp hành động tái hiện được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT muốn 62
3.8 Tổng hợp lớp hành động điều khiển được thực hiện trong các phát ngôn chứa ĐTTT muốn 66
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1.1 Trong nhiều năm gần đây, các nhà ngôn ngữ học đã chuyển trọng tâm chú
ý từ ngôn ngữ học cấu trúc sang ngôn ngữ học chức năng, quan tâm nhiều hơn đến công năng của ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp và những bình diện làm nên nghĩa của câu Khái niệm ngữ nghĩa của câu được mở rộng không chỉ bó hẹp ở nghĩa miêu tả mà còn là nghĩa tình thái, không chỉ quan tâm đến hiển ngôn mà còn cố gắng làm sáng tỏ các cơ chế làm nảy sinh hàm
ý, không chỉ quan tâm đến ngôn ngữ trần thuật với giá trị chân ngụy của nó
mà còn quan tâm cả những phát ngôn có hiệu lực tại lời khác Trong bối cảnh như vậy, các xu hướng ngữ pháp thiên về hình thức đã bộc lộ một số nhược điểm không thể bỏ qua, đặc biệt ở năng lực giải thích của chúng Ngữ pháp chức năng, với tư cách là một khuynh hướng ngữ pháp thiên về ngữ nghĩa, được hình thành đã phần nào khắc phục được các nhược điểm của ngữ pháp hình thức Một trong những trọng tâm mà ngữ pháp chức năng hiện đang theo đuổi là nghiên cứu tình thái của câu
Ở Việt nam, các công trình nghiên cứu về tình thái không nhiều, riêng
về các động từ tình thái cũng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Theo các tài liệu mà chúng tôi được biết thì chỉ có một số bài báo sơ bộ khảo
sát một số động từ được, bị, phải như là một trong những phương tiện biểu thị tình thái; một vài chuyên luận như Trợ từ trong tiếng Việt của Phạm Hùng Việt, Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản và một số luận án tiến
sĩ như luận án các ĐTTT nên, cần, phải, bị, được trong câu Tiếng Việt của
Nguyễn Thị Thuận…
Tuy nhiên, các tác phẩm này mới đề cập đến một phương tiện tình thái
là trợ từ tình thái, vấn đề động từ tình thái vẫn chưa được đề cập nhiều Riêng
"Động từ trong tiếng Việt" của Nguyễn Kim Thản cũng đã đề cập đến ĐTTT
nhưng cũng chỉ mới phác qua vài trang về nhóm động từ tình thái về tiêu chí
Trang 10phân loại cũng như các đặc trưng ngữ nghĩa Có thể thấy, còn nhiều vấn đề liên quan đến các ĐTTT vẫn chưa được xem xét toàn diện, đầy đủ hoặc chưa được đề cập đến
Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn nghiên cứu nhóm ĐTTT toan, định,
dám, muốn với mục đích tìm hiểu sâu hơn về một phương tiện tình thái, sự
hành chức của nhóm động từ này Từ đó phục vụ tốt cho việc nghiên cứu và giảng dạy Việt ngữ ở Việt Nam hiện nay
Chúng ta đều biết trong tiếng Việt, động từ là một loại từ phức tạp nhất,
sử dụng rộng rãi nhất, chiếm địa vị quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của các ngôn ngữ” [26] Dựa vào ý nghĩa khái quát của từ, có thể phân loại động từ thành 2 loại: động từ độc lập và động từ không độc lập Trong
đó, động từ không độc lập trong tiếng Việt được phân thành bốn nhóm chủ yếu sau: Nhóm động từ tình thái, nhóm động từ chỉ sự biến hoá, nhóm động
từ chỉ sự diễn tiến của hoạt động, nhóm động từ quan hệ Trong bốn nhóm trên, nhóm động từ tình thái bao gồm ba tiểu loại sau, trong đó các động từ
chỉ ý chí, ý muốn toan, định, dám, muốn…thuộc nhóm hai Tuy đều thuộc
nhóm những động từ tình thái chỉ ý chí, ý muốn, nhưng các động từ này vẫn
có những đặc điểm khác nhau về mức độ thể hiện, về cách sử dụng trong thực tiễn Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tiếng Việt phức tạp
và mang những nét đặc trưng riêng, không giống với các ngôn ngữ khác 1.2 Nguyễn Công Hoan là một cây bút khá tài năng, ông sáng tác cả truyện ngắn và truyện dài, song tài năng và bút lực của ông nở rộ nhất và kết tinh nhất trong lĩnh vực truyện ngắn Đối với bản thân người làm đề tài, việc nghiên cứu đề tài là cơ hội để trau dồi và nâng cao kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt, đáp ứng nhiệm vụ của giáo viên trong nhà trường hiện nay
Sở dĩ người viết lựa chọn nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan vì đây là nhà văn tiêu biểu, có đóng góp to lớn cho nền văn học - nghệ thuật nước nhà Những truyện ngắn của ông đều mang những đặc điểm riêng khá độc đáo, không lẫn với bất kì ai Đồng thời Nguyễn Công Hoan cũng là tác
Trang 11giả có lối viết gần gũi, chân thực, hay sử dụng các động từ tình thái trong tác phẩm của mình Như vậy, đề tài được thực hiện sẽ đáp ứng tốt nhu cầu của chúng tôi trong việc xem xét các đặc điểm của động từ tình thái trong tiếng Việt nói chung và các động từ tình thái được nghiên cứu nói riêng
Mặt khác, phạm trù tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong ngôn ngữ rất rộng và phức tạp Với tư cách là một luận văn khoa học, các động từ tình thái nói trên được chọn làm đối tượng nghiên cứu, người viết mong muốn có điều kiện để đi sâu khai thác một vài phương tiện biểu thị tình thái, góp phần làm phong phú, cụ thể hoá cách biểu hiện và tác dụng của nghĩa tình thái trong câu tiếng Việt Hơn nữa, có thể thấy truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã được nghiên cứu nhiều trên các bình diện khác nhau, đặc biệt là ở bình diện văn học Tuy nhiên cho đến nay, truyện ngắn của ông chưa được nghiên cứu nhiều ở bình diện ngôn ngữ Việc đi sâu tìm hiểu các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan dưới góc độ ngôn ngữ vẫn còn là một mảnh đất màu mỡ, cần được khám phá nhiều hơn nữa, đặc biệt các động từ tình thái
toan, định, dám, muốn trong truyện ngắn của ông lại càng chưa có một công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu Vì vậy, những vấn đề trên hội thành lí do
khiến chúng tôi đã chọn “Các động từ tình thái toan, định, dám, muốn trong
truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” làm đối tượng nghiên cứu của đề tài
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tình thái là một khái niệm phổ biến trong ngôn ngữ học, từ lâu đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Đã có không ít công trình nghiên cứu ứng dụng lí thuyết tình thái vào tiếng Việt Việc xem xét những phương tiện ngôn ngữ đánh dấu tình thái ngày càng được quan tâm hơn Trong những phương tiện đánh dấu tình thái, động từ tình thái là phương tiện quan trọng để biểu thị các đặc trưng khác nhau của tình thái trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới Tình thái là một phạm trù ngôn ngữ phổ quát Bally (1932) cho rằng
“Tình thái tính là linh hồn của phát ngôn, mà nói rộng ra là của ngôn ngữ trong hoạt động nói chung” (dẫn theo [2,tr 86]) Có thể nói tình thái là một
Trang 12bộ phận trọng yếu của câu và là một phạm trù gây nhiều tranh cãi V.Z
Panfilov nhận định rằng “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học
và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái” (dẫn theo [2tr.2]) Trong tiếng Việt, các nhà
Việt ngữ học cho rằng phạm trù tình thái được biểu hiện chủ yếu bằng phương tiện biểu thị chính là các động từ tình thái, động từ tình thái được coi
là một tiểu lớp động từ cơ hữu của tiếng Việt Chúng ta đều hiểu động từ tình thái là những động từ biểu thị quan hệ chủ quan (thái độ, sự đánh giá, ý muốn,
ý chí…) của người nói đối với nội dung của câu nói hoặc với hiện thực khách
quan Có thể phân biệt những nhóm động từ tình thái sau đây:
+ Động từ biểu thị sự đánh giá về mức độ cần thiết: nên, cần, phải, cần phải + Động từ biểu thị sự đánh giá về khả năng: có thể, không thể/chưa thể + Động từ biểu thị sự đánh giá về may rủi: bị (tai nạn), được (nhà)… + Động từ biểu thị thái độ mong mỏi: trông, mong, chúc, ước, cầu, muốn + Động từ biểu thị mức độ của ý chí, ý muốn: dám, định, nỡ, buồn (thường dùng nhiều hơn với nghĩa phủ định), thôi, đành
Có thể nói việc nghiên cứu về tình thái từ đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Về các tác giả nước ngoài: Các tác giả I.I Glecova ,V.M Solntsev ,
Yu Lekomtsev khi viết về ngữ pháp tiếng việt ( bằng tiếng Nga) đã đề cập đến động từ tình thái tuy nhiên cũng chưa có sự chuyên sâu nào
Về các tác giả trong nước: Có thể chia các công trình nghiên cứu thành hai nhóm:
- Các tác giả không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái và động từ tình thái nhưng trong quá trình xử lí các vấn đề khác có động chạm đến vấn
đề tình thái như: Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1978), Lê Cận- Phan Thiều (1983), Bùi Tất Tươm (1997), Diệp Quang Ban (2008), Nguyễn Thiện Giáp (2008)
Trang 13- Các tác giả quan tâm trực tiếp đến vấn đề tình thái, động từ tình thái
và được nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau như Hoàng Phê, Hồ
Lê, Phan Mạnh Hùng, Nguyễn Dức Dân, Hoàng Tuệ, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Võ Đại Quang, Nguyễn Thị Thuận Từ bước đầu tiên chỉ là những quan sát để phân tích một số nét thái độ của người nói đối với hiện thực quan sát được, các nhà Việt ngữ học đã không ngừng tiến vào những lĩnh vực mới mẻ như logic học, logic tình thái, ngữ dụng học hoặc theo quan điểm của ngữ pháp chức năng để phân tích, đánh giá
về những nội dung tình thái thể hiện trong phát ngôn tiếng Việt Điều này cho chúng ta thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về hoạt động và tác động của lời nói trong giao tiếp
Như vậy tính đến thời điểm này chưa có một công trình nào nghiên cứu
về các ĐTTT toan, định, dám, muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc nghiên cứu động từ chỉ hoạt động tình thái nói chung là một nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian và khó tránh khỏi sơ lược Để giảm thiểu những hạn chế và để cho việc nghiên cứu được diễn ra thuận lợi, dễ
dàng, luận văn chỉ chọn xem xét về một nhóm động từ tình thái toan, định,
dám, muốn trong 50 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Trang 14Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm những tài liệu tham khảo, ứng dụng vào việc dạy học tiếng Việt và nghiên cứu các từ loại khác của tiếng Việt
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xác định một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài để định hướng cho công việc nghiên cứu
- Xem xét khả năng kết hợp của các động từ tình thái toan, định, dám,
muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
- Xem xét các kiểu hành động nói ở các phát ngôn có chứa các động từ
tình thái toan, định, dám, muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp miêu tả: được áp dụng chủ yếu khi xem xét bình diện khả năng kết hợp của các động từ tình thái
- Phương pháp phân tích dụng học của hành động nói, tức là phân tích các lớp hành động nói được diễn đạt bằng các câu chứa các động từ tình thái
toan, định, dám, muốn theo quan điểm của J.Searle
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các thủ pháp:
- So sánh – đối chiếu, thủ pháp này được sử dụng trong khi đối chiếu làm rõ những vấn đề lí luận (chương I) đồng thời dùng để đối chiếu, xem xét nguồn ngữ liệu được sử dụng
- Thống kê - phân loại, thủ pháp này được sử dụng để thống kê – phân
loại tần suất sử dụng các động từ tình thái toan, định, dám, muốn trong truyện
ngắn của Nguyễn Công Hoan
Các thủ pháp cụ thể khác như điều tra ngữ liệu, khái quát hoá và tổng hợp các ngữ liệu, kết quả nghiên cứu thành biểu bảng cũng được sử dụng thích đáng
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề bài
6.1.Ý nghĩa lí luận
Về phương diện lí thuyết, trên cơ sở xem xét và tổng kết vấn đề lí luận
có liên quan đến đề tài, luận văn đã góp phần làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh của lí thuyết về tình thái, về ĐTTT và về hành động nói ứng dụng vào câu chứa ĐTTT của tiếng Việt, từ đó giúp cho việc lí giải một số hiện tượng
cụ thể của tiếng Việt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đề tài để thấy được những đặc điểm cũng như nét đặc sắc của cách sử dụng động từ tình thái trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Từ đó, nâng cao hiểu biết về cách sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn
Nghiên cứu các động từ tình thái toan, định, dám, muốn để thấy rõ hơn
về động từ tình thái tiếng Việt nói chung, về các động từ chỉ ý chí, ý muốn nói riêng, từ đó giúp cho việc dạy và học tiếng Việt hiệu quả hơn Mặt khác từ việc nghiên cứu các ĐTTT này có thể rút ra được những gợi ý tốt cho việc nghiên cứu các ĐTTT khác trong tiếng Việt
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Khả năng kết hợp của các từ động tình thái toan, định, dám,
muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Chương 3: Hành động nói được thực hiện ở các phát ngôn có chứa các động
từ tình thái toan, định, dám, muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Về tình thái
Tình thái (TT) là một khái niệm có tính phổ quát trong ngôn ngữ học,
từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong ngôn ngữ học trước đây,
TT được coi là một phạm trù ngữ pháp biểu thị quan hệ giữa nội dung lời nói
và hiện thực bằng các hình thái như thức của động từ, từ tình thái, từ chêm, ngữ điệu, các kiểu câu xét theo mục đích nói Càng về sau, TT càng thu hút sự chú ý của nhiều người, không chỉ riêng trong ngôn ngữ học mà cả trong logic học hiện đại Khái niệm TT thường được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ những mối quan hệ của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với hiện thực cũng như những quan điểm, thái độ, đánh giá của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu nói, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp Nói một cách sơ lược nhất, phạm trù TT bao gồm hai bình diện là mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn với thực tế
Theo quan điểm ngôn ngữ học, những cái biểu hiện của ngôn ngữ nhất thiết phải có cái được biểu hiện tương ứng (nói ngược lại thì không chính xác), trên cơ sở đó một số hình thức của động từ lại được nhìn nhận như là những phương tiện biểu thị tình thái, cụ thể là những hiện tượng thuộc về phạm trù thức của động từ Logic cổ điển tập trung chú ý trước hết vào các khái niệm tính tất yếu và tính có thể, được mệnh danh là tình thái logic hay tình thái tất suy
1.1.1 Về khái niệm tình thái
Cho đến nay có nhiều nhà ngôn ngữ học đã chuyên tâm nghiên cứu về
TT nhưng vẫn chưa đi đến một thống nhất chung Hơn nữa, do mục đích nghiên cứu riêng của các công trình nên các tác giả chỉ mới đề cập đến vấn đề
TT ở mức độ sơ lược và khái quát Sau đây, chúng tôi xin điểm qua ý kiến của một số tác giả trong và ngoài nước về khái niệm TT
Trang 171.1.1.1 Việc nghiên cứu tình thái ở các nước phương Tây
Đối với việc nghiên cứu TT, từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay, các
nhà ngôn ngữ học nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể, đặc biệt trong vấn đề xây dựng lí luận chung
Nhiều nhà ngôn ngữ học phương Tây đều coi TT thuộc phạm trù nghĩa, phân biệt nó với phạm trù ngữ pháp TT là một bộ phận nghĩa tất yếu của mọi phát ngôn
Ch.Bally - người đầu tiên đề cập vấn đề một cách hệ thống Ông cho rằng tình thái không phải là thứ nghĩa của nghĩa học mà nó biểu thị một khái niệm thuộc về cấu trúc ngữ nghĩa của câu Bally cũng phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai thành phần cơ bản mà ông gọi là dictum và modus Trong đó:
- Dictum biểu hiện nội dung thuộc về ngữ nghĩa của câu (tức cái được
nói tới) Do đó, dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ
- Modus thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, thái độ của
người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp (bộ phận tình thái)
Ví dụ trong tiếng Việt:
(1) Anh đã đến
(2) Anh chưa đến à?
(3) Anh chưa đến đâu
(4) Có thể là anh đã đến
Trong các ví dụ trên, nội dung cốt lõi (dictum) là quá trình của sự việc
được diễn tả Sự việc ấy là hoạt động đến của anh, là sự đến của anh, nội
dung cốt lõi đó có ở chung cả bốn câu Nói cách khác đó là nghĩa về sự việc được nói tới Còn xét về tình thái thì theo Bally, chúng khác nhau:
Ở câu (1) tình thái là việc thừa nhận sự việc, có thể với ít nhiều sự vui mừng ở người nói
Trang 18Ở câu (2) tình thái là việc hỏi về nội dung sự việc và có thể có cả sự sốt ruột của người nói
Ở câu (3) tình thái là việc phủ nhận nội dung sự việc, có thể bao hàm cả bực bội, thất vọng
Ở câu (4) tình thái là việc thừa nhận nội dung sự việc với một độ tin cậy rất thấp
Từ cách nhìn nhận như vậy, Bally định nghĩa: Tình thái là thái độ của
người nói được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu.[17]
Cách nhìn tương tự cũng thấy ở Palmer Ông cho rằng: Tình thái là thông
tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu.[17]
Một hướng nhìn khác cũng thường được nhắc đến là cách nhìn của nhà ngôn ngữ học Mĩ rất nổi tiếng Noam Chomsky - người mở đường cho trường phái tạo sinh Ông quan niệm rằng, câu bao giờ cũng là câu khẳng định hay là câu nghi vấn hoặc câu mệnh lệnh Tính chất khác nhau của những câu đó là
“tình thái” Như vậy tình thái là yếu tố bắt buộc phải có, để cùng với “hạt nhân” tạo ra “câu cơ sở” Không thể nào một câu mà lại không có tình
thái, tức không thuộc một trong các kiểu câu nói trên Cũng không thể nào lại có một câu có hai, ba tình thái, tức là cùng một lúc thuộc hai, ba kiểu câu Câu cơ sở thuộc “cấu trúc bề sâu” Từ cấu trúc bề sâu chuyển thành cấu trúc bề mặt trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ, thì phải trải qua những cải biến
Như vậy, “TT chẳng khác gì kiểu câu như đã được nói đến trong
ngữ pháp truyền thống và cả ngữ pháp cấu trúc” [17] Theo trường phái
tạo sinh, tình thái xác định kiểu câu, và kiểu câu được xác định ngay từ trong tư duy, trong cấu trúc bề sâu Cho nên, có thể hiểu rằng kiểu câu tức
là kiểu quan hệ mà người nói thiết lập với thế giới được phản ánh trong câu Quan hệ này được nhìn trước tiên ở mặt trí tuệ, nó biểu hiện nhận thức của người nói Kiểu câu cũng được hiểu là kiểu quan hệ giao tiếp mà
Trang 19người nói muốn thiết lập với người nghe TT là yếu tố xác định kiểu câu,
và kiểu câu biểu thị hai quan hệ gắn bó với nhau: quan hệ giữa người nói với người nghe [17]
Có thể hiểu rằng, so với quan điểm của Ch Bally thì N Chomsky không xét đến thái độ tình cảm của người nói đối với hiện thực hay đối với người nghe, mà ông chỉ xét đến các yếu tố có ý nghĩa phân biệt các kiểu câu theo mục đích nói Tuy đó là những cách hiểu khác nhau nhưng vẫn có thể được các nhà sư phạm khai thác trong một sự dung hoà tích cực
Trong phần tiếp theo của đề tài, tình thái được hiểu chủ yếu theo cách
nhìn của F.Kiefer:“ Thực chất của tình thái bao gồm trong việc tạo lập tính
tương đối giữa hiệu lực của các ý nghĩa của câu với một tập hợp các thế giới có thể có” [26]
1.1.1.2 Việc nghiên cứu tình thái ở Việt Nam
Ở Việt Nam, kế thừa và phát huy những thành quả của các học giả nước ngoài, một số nhà nghiên cứu đã thực sự quan tâm đến vấn đề tình thái Các tác giả Hoàng Tuệ, Hoàng Trọng Phiến, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Quang Thiêm, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Thuận… cơ bản thống nhất với quan niệm về tình thái của các
nhà nghiên cứu nước ngoài Hoàng Tuệ đã nhận định: Tình thái là thuật ngữ
dùng để chỉ một cách khái quát những ý nghĩa thường gắn với ý nghĩa cơ bản của một từ Ý nghĩa tình thái ấy được biểu thị bằng một hình thức ngữ pháp nào đấy, và được coi là ý nghĩa ngữ pháp [17] Nguyễn Thiện Giáp cho tình thái trong ngôn ngữ là thái độ của người nói với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả, là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra [18]
Có thể thấy rằng, những cách trình bày về tình thái mà các tác giả Việt Nam đưa ra đã dựa trên những nét đặc thù của tiếng Việt
Ngoài ra, một vài nhà nghiên cứu khác cũng có nhắc đến khái niệm tình thái
và nêu lên những cách hiểu về cơ bản là gần gũi với những cách hiểu nêu trên
Trang 201.1.2 Về việc phân loại tình thái
Về phương diện lí thuyết, nhìn chung trong ngôn ngữ học phân chia tình thái thành hai loại lớn: tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm Tình thái nhận thức lại được chia thành hai kiểu nhỏ hơn là tình thái khách quan và tình thái chủ quan Có thể tóm tắt sự phân loại vừa nêu như sau:
Tình thái nhận thức thường gặp trong những câu trình bày sự thật hay những câu diễn đạt niềm tin của người nói Tình thái nhận thức được phân biệt thành tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói Người nói chỉ trình bày lại hiện thực như nó vốn có Những câu có tình thái nhận thức khách quan là những câu trình bày sự thật, và với tư cách đó chúng có thể bị phủ định hoặc chất vấn, chúng có thể được đánh giá khi đối chiếu với hiện thực
Đối lập với tình thái khách quan là tình thái chủ quan Tình thái chủ quan thể hiện vai trò của người nói đối với điều được nói ra trong câu Người nói đưa ra những bằng chứng, suy luận có tính cá nhân, làm cơ sở cho một cam kết nào đó đối với tính chân thực của điều được nói ra, hoặc thể hiện thái độ của mình đối với hành vi được đề cập đến trong câu Những câu có tình thái nhận thức chủ quan là những câu diễn đạt niềm tin của người nói, không thể đối chiếu chúng với hiện thực, nói cách khác không thể kiểm tra được chúng
Trang 21Tình thái trách nhiệm có quan hệ với sự bắt buộc và sự cho phép Những hành động có tính tình thái trách nhiệm rõ rệt là hành động điều khiển
và hành động kết ước Hành động nói điều khiển có tình thái trách nhiệm thể hiện ở người nói bị bắt buộc hoặc được cho phép làm một việc gì đó Hành động nói kết ước có tình thái trách nhiệm ở chỗ người nói tự bắt buộc mình làm một việc gì đó Tình thái trách nhiệm liên quan đến tính cần thiết và tính khả năng của các hành động được thực hiện bởi những người có trách nhiệm về phương diện đạo đức (dẫn theo Nguyễn Thị Thuận trong [30, tr.94]) Ví dụ:
- Anh phải thôi việc
Phát ngôn trên là lời của giám đốc nói với nhân viên của mình Đây là câu diễn đạt hành động tuyên bố, đồng thời cũng là hành động điều khiển Câu mang tình thái trách nhiệm
Việc nhận biết tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm tuỳ thuộc vào từng tình huống giao tiếp cụ thể Có khi cùng một câu - phát ngôn có thể phân tích theo cách nhìn của TT nhận thức hoặc theo cách nhìn của TT trách nhiệm Ví dụ:
- Cô ấy phải có mặt trong buổi tiệc này
Phát ngôn này được lí giải là mang tình thái nhận thức, nếu nó gắn với
tình huống có thể diễn đạt thành “Tôi vừa gặp cô ấy lúc nãy” Cũng phát
ngôn này lại được lí giải là mang tình thái trách nhiệm nếu nó gắn với tình
huống được diễn đạt thành: “ Cô ấy là nhân vật chính trong buổi tiệc này”
Có thể nhận định rằng các câu - phát ngôn chứa các ĐTTT toan, định,
dám, muốn mang tình thái nhận thức rõ rệt Ví dụ:
- Tôi định gọi anh vào [32, tr 14]
- Anh muốn làm việc một cách thẳng thắn [32, tr 245]
- Nó không dám cho tôi mượn thắt lưng [32, tr 305]
1.1.3 Các phương tiện biểu thị tình thái
Các phương tiện biểu thị tình thái khá phong phú và phần nào phụ thuộc vào từng ngôn ngữ cụ thể Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ không biến đổi hình thái nên sự phân biệt các phương tiện từ vựng và ngữ
Trang 22pháp trong việc biểu thị các nội dung tình thái không được đặt ra nghiêm ngặt Sau đây là một số phương tiện biểu thị tình thái thường gặp
1.1.3.1 Phương tiện ngữ âm
Ngữ điệu được dùng để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc để làm rõ điểm
mà người nói cho là cần chú ý Ngữ điệu còn được sử dụng để biểu thị các tình thái của câu Ở đây nó đóng vai trò là một phương thức ngữ pháp thực thụ Qua ngữ điệu, người nghe có thể biết được câu nói thuộc loại gì: trần thuật, nghi vấn hay cầu khiến… Ví dụ:
- Anh đi? (lên giọng – câu hỏi)
- Anh đi! ( mệnh lệnh)
Ngữ điệu còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc biểu hiện tất cả những sắc
thái cảm xúc đa dạng của lời nói Qua ngữ điệu, người nghe có thể biết được
thái độ, tình cảm của người nói: phẫn nộ, yêu thương, vui vẻ, buồn phiền, lo lắng, hờn dỗi…
Trong các ngôn ngữ Nga, Pháp, Anh…, ngữ điệu được sử dụng rất phổ biến để tạo kiểu câu Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ giàu thanh điệu Vì lí do đó mà ngữ điệu khó phát huy hết tác dụng của mình, vì thanh điệu của tiếng trong câu cản trở sự định hình ngữ điệu của câu Tuy nhiên, trong tiếng Việt, ngữ điệu cũng được sử dụng để biểu thị một số ý nghĩa nhất định Chẳng hạn cách kéo dài âm của một từ nào đó trong phát ngôn có thể
biểu thị ý nghĩa “phủ định” hoặc ý nghĩa “mỉa mai” Ví dụ:
- Vâ… âng… âng…, x… inh… inh…inh…
Chỗ ngắt, chỗ ngừng cũng có giá trị tạo tình thái nhất định
1.1.3.2 Phương tiện ngữ pháp
Các phương tiện ngữ pháp thể hiện tình thái rõ nhất là các hư từ bao gồm phụ từ, tình thái từ, các từ ngữ tình thái Phương tiện hư từ thuộc phương thức hư từ
Trang 23a Phụ từ
Trong tiếng Việt, nhiều phụ từ chuyên giữ vai trò thành tố phụ trong cụm từ
để bổ sung ý nghĩa tình thái cho thành tố chính Sau đây là một vài ví dụ:
- Phụ từ chỉ ý khẳng định, phủ định như có, không, chưa, chẳng…được
dùng để diễn đạt tình thái nhận thức trong phát ngôn chứa chúng
Ví dụ:
Có yêu thì nói rằng yêu, Không yêu thì nói một điều cho xong
- Phụ từ có ý ngăn cản như hãy, đừng, chớ được dùng để diễn đạt tình
thái trách nhiệm trong phát ngôn chứa chúng Ví dụ:
Đừng nói chuyện nữa!
b Từ ngữ tình thái ( biểu thức tình thái)
Ví dụ:
Có lẽ đời tôi chưa bao giờ được bâng khuâng, rạo rực, thanh thản như
lúc này
Ở ví dụ trên Có lẽ diễn đạt tình thái nhận thức, nêu tính chất chưa chắc
chắn của sự việc nêu trong phát ngôn
1.1.3.3 Phương tiện từ vựng
Phương tiện từ vựng rõ nhất được dùng diễn đạt tình thái là các động từ
tình thái như phải, cần, nên, có thể, không thể, định, toan, dám, muốn… Ví dụ:
- Tôi định gọi anh vào [32, tr 14]
Định trong phát ngôn này diễn đạt tình thái nhận thức trong hành động
tái hiện
- Cậu nên ăn uống điều độ
Nên trong phát ngôn này diễn đạt tình thái trách nhiệm trong hành
động khuyên nhủ Ví dụ:
- Anh muốn bắt tội gì? [32, tr 57]
Muốn trong phát ngôn này diễn đạt tình thái nhận thức trong hành
động hỏi Trong số các phương tiện biểu thị tình thái vừa trình bày trên, đối
Trang 24tượng nghiên cứu của chúng tôi là các động từ tình thái toan, định, dám,
muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
1.2 Về động từ tình thái
ĐTTT là phương thức quan trọng để biểu thị các đặc trưng khác nhau của tình thái trong ngôn ngữ
Ở Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu có đề cập các ĐTTT cho thấy về
cơ bản, các nhà nghiên cứu chưa có được tiếng nói chung Các ĐTTT được khai thác ở hai phương diện:
- Việc phân định các ĐTTT
- Cách quan niệm về ĐTTT
1.2.1 Việc phân định các động từ tình thái
Về việc phân định các ĐTTT trong tiếng Việt có các quan điểm như sau:
- Không tách các động từ tình thái ra thành một lớp con trong từ loại động
từ Đây là ý kiến của các tác giả Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê [12]
- Xác nhận sự tồn tại của động từ tình thái Thừa nhận trong từ loại động
từ có lớp ĐTTT là ý kiến được nêu trong các công trình nghiên cứu của các tác giả: Diệp Quang Ban [3], Lê Cận - Phan Thiều [9], Nguyễn Kim Thản [28] Đây cũng là cơ sở lí thuyết định hướng cho chúng tôi thực hiện luận văn này
1.2.2 Cách hiểu về động từ tình thái
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tình thái và có đề cập đến ĐTTT Theo tác giả Nguyễn Thị Thuận [30] thì riêng về ĐTTT, Givon - tác giả của công trình English Grammar đã nhận định: ĐTTT là động từ chính trong dạng cấu trúc có các đặc trưng sau:
Về mặt ngữ nghĩa:
- Mệnh đề bổ ngữ cho mệnh đề chính về mặt ngữ nghĩa là một mệnh đề diễn đạt một trạng thái hay một sự kiện
- Chủ ngữ của mệnh đề chính đồng sở chỉ - nghĩa là nói về cùng một thực thể diễn ngôn - như chủ ngữ của mệnh đề bổ ngữ
Trang 25- Động từ chính diễn đạt sự bắt đầu, điểm kết thúc, sự tiếp diễn kéo dài liên tục, sự thành công, hay thất bại, cố gắng, dự định, bắt buộc hoặc khả năng
- của chủ ngữ ở mệnh đề chính - để thực hiện hành động hay diễn đạt một trạng thái được miêu tả trong mệnh đề bổ ngữ
Về mặt cú pháp, ĐTTT có những đặc điểm sau:
- Chủ ngữ đồng sở chỉ của mệnh đề bổ ngữ bị bỏ đi không được nói tới
- Động từ của mệnh đề bổ ngữ xuất hiện ở nguyên dạng không có thời, thể, tính tình thái, không có sự tương hợp của động từ về mặt hình thái học
- Mệnh đề bổ ngữ có xu hướng xuất hiện ở vị trí tân ngữ trực tiếp (sau động từ) và thường thì mệnh đề bổ ngữ được phát âm với cùng một đường nét ngữ điệu như mệnh đề chính
Ở Việt Nam, về ĐTTT có nhiều tài liệu đề cập tới nhưng tựu trung có hai quan điểm sau đây:
- Coi ĐTTT là động từ chỉ mối quan hệ của chủ thể nêu ở chủ ngữ hoặc của chủ thể nói với nội dung của từ đứng sau ĐTTT Tiêu biểu cho quan điểm này là các tác giả Lê Biên [6], Diệp Quang Ban [3]
- Coi ĐTTT là những động từ được dùng để kết hợp với các động từ khác
để biểu thị khả năng, ý chí, mong muốn, nguyện vọng, sự cần thiết Chỉ trong ngữ cảnh mới có thể lược bỏ động từ chính kết hợp với nó Tiêu biểu cho quan điểm này là tác giả Lê Cận - Phan Thiều [9], Nguyễn Kim Thản [28]
Các quan điểm trên đều thống nhất coi ĐTTT là những động từ không độc lập, tức là tự chúng không có ý nghĩa từ vựng đầy đủ Muốn diễn đạt một nội dung thông báo thì phải có thêm bổ tố là một loại từ khác, chủ yếu là động
từ được xác định mới tạo nên một thông báo hoàn chỉnh Ví dụ dám nghĩ,
dám làm, muốn ăn, định đi phố
Theo các tác giả Lê Biên, Diệp Quang Ban thì ĐTTT được đặt trong lớp
lớn hơn là lớp của những động từ không độc lập: “ĐTTT là động từ chỉ quan
hệ của chủ thể ( nêu ở chủ ngữ) với nội dung của từ đứng sau ĐTTT” [6]
Trang 26Diệp Quang Ban cũng cho rằng ĐTTT là động từ có chung một chủ thể làm chủ ngữ với động từ thực từ đứng sau nó [3]
Ví dụ:
- Tôi định bán cái xe này
Ở đây, “người định” và “người bán” là một (tôi) và người đó được diễn
đạt trong chủ ngữ của câu
Cũng theo tác giả, khi ĐTTT + Động từ thực (Động từ thực có cùng
chủ ngữ với ĐTTT) thì ĐTTT là đầu tố của cụm động từ ở vị ngữ và động từ thực là vị tố của câu
Ví dụ:
- Họ định nghỉ ở Nha Trang
Ở ví dụ này, định là đầu tố của cụm từ, nghỉ là yếu tố mang nghĩa chỉ
sự vật và nghỉ làm vị tố ( trong phần vị ngữ) của câu
Về vai trò của ĐTTT trong cụm động từ, Diệp Quang Ban nhận định:
Nhóm động từ tình thái chiếm số lượng lớn nhất trong nhóm động từ không độc lập và chúng có đủ tư cách là thành tố chính của cụm động từ [3]
Nguyễn Kim Thản [28] đã nêu lên ba vấn đề về tình thái Theo ông, về phương diện cú pháp, ĐTTT có đặc điểm:
- Thường không dùng một mình, mà hay kết hợp với động từ khác và cùng động từ này tạo thành một nhóm phức hợp, nhóm này đóng vai trò vị ngữ của câu
- Chỉ trong trường hợp nhất định, chủ yếu là dựa vào hoàn cảnh ngôn ngữ đã rõ ràng, mới có thể một mình tạo thành vị ngữ mà không cần có động
từ chính khác
- Về cơ bản có thể kết hợp với phó từ “rất”
Theo Nguyễn Kim Thản, ý nghĩa khái quát của ĐTTT là biểu thị khả năng, sự cần thiết, ý chí thực hiện hoạt động hay duy trì trạng thái Từ đó, ông
xác định các động từ tình thái sau: cần, chịu, có thể, dám, định, nên, nỡ, chực,
khỏi, toan… Bên cạnh đó, ông cũng phân biệt ĐTTT với phó từ đứng trước
trong cụm động từ:
Trang 27- ĐTTT là một bộ phận không thể tách rời của vị ngữ, do đó kết cấu
“ĐTTT + ĐT” có thể đặt vào giữa cặp phó từ “có … không”, “đã … chưa” Ví dụ:
+ Có muốn ăn không?
+ Đã muốn ăn chưa?
- Các phó từ không tham gia vào thành phần vị ngữ như một thành tố bắt buộc nên kết cấu “phó từ - vị từ” không thể đặt vào những cặp phó từ trên
Ví dụ:
+ Có đã ăn không?
+ Có cũng ăn không?
+ Đã cũng nói chưa?
Cùng quan điểm với Nguyễn Kim Thản, có Lê Cận - Phan Thiều trong “
Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt, tập I” [9] cũng nhận định: Khác với lớp động
từ biểu thị hoạt động, trạng thái, lớp động từ chỉ ý nghĩa tình thái biểu thị khả năng, ý chí, mong muốn, nguyện vọng, sự cần thiết… thực hiện hoạt động hoặc giữ lại trạng thái được biểu thị ở động từ đứng sau nó Trong câu, ĐTTT
không đứng một mình, không có quan hệ chi phối với các đối tượng, thường thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể và hoạt động được biểu thị ở động từ đứng sau nó Cùng với động từ này, nó tạo thành cụm từ làm vị ngữ trong câu
Luận văn của chúng tôi hiểu động từ tình thái theo quan niệm của
Nguyễn Kim Thản Đó là coi ĐTTT là động từ đứng trước một động từ khác
có cùng chủ ngữ với ĐTTT, tức là chủ thể có khả năng làm chủ ngữ của động từ này đồng chiếu với chủ thể của ĐTTT [28]
1.3 Hành động nói
1.3.1 Khái niệm hành động nói
Trên cơ sở lí thuyết hành động nói của nhà triết học nổi tiếng người Anh
J.L Austin, có thể hiểu: hành động nói (hành động ngôn ngữ) là một hành động
được thể hiện trong việc nói ra một cái gì đó, như tạo ra một lời hứa, nêu một câu hỏi, đặt một cái tên” [27] Cụ thể như có ai đó nói Tuần sau tôi sẽ gặp lại các bạn, lời nói này mang chở một “hành động hứa”; thầy giáo nêu một câu hỏi
Trang 28cho học sinh trong lớp về nội dung của một bài học là một “hành động hỏi”;
người ta có thể gán một tên gọi nào đó cho một con mèo, làm như vậy gọi là
“hành động đặt tên”
Ngoài ra còn có thể gặp nhiều hành động nói khác trong giao tiếp hằng
ngày, như “chào”, “cảm ơn”, “xin lỗi”, “đề nghị” (nhờ người nghe giúp cho
một việc gì đó),…
1.3.2 Phân loại các hành động nói
Người sáng lập lí thuyết hành động nói là Ausitin, bảng danh sách các hành động nói ban đầu của ông có tác dụng định hướng rất lớn, nhưng có thể còn chưa đầy đủ Searle đã kế thừa và phát triển những thành tựu đó Cơ sở lí thuyết
để xác định các hành động nói ở những câu chứa ĐTTT toan, định, dám, muốn
là lí thuyết về sự phân loại hành động ngôn trung của Searle [27]
Searle đưa ra 12 tiêu chí để phân loại các hành động nói Trong đó có 3 tiêu chí quan trọng chi phối sự phân loại đó là:
- Đích của hành động tại lời
- Hướng khớp ghép
- Trạng thái tâm lí được biểu hiện
Dựa vào những tiêu chí này mà Searle chia hành động nói ra thành 5 loại:
1.3.2.1 Lớp hành động tái hiện
Đích của lớp hành động tái hiện là ở mức độ cam kết của người nói đối với việc thông báo tình hình của sự việc, đối với tính chân thực của phán đoán được nêu ra [27, tr.77] Hướng khớp ghép của lớp hành động tái hiện, theo Searle, là hướng khớp ghép “từ ngữ vào hiện thực” Trạng thái tâm lí được biểu hiện của hành động tái hiện là niềm tin
Các hành động tái hiện thường gặp là kể chuyện, báo tin, nhận định, miêu tả
Ví dụ: “Ngày mai trời có mưa.” Dựa vào lí do nào đó người này đã nói
với ai đó về một việc tin là có thật
Trang 291.3.2.2 Lớp hành động điều khiển
Đích của lớp hành động điều khiển là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai [27, tr.78] Hướng khớp ghép của lớp
hành động điều khiển là “hiện thực vào từ ngữ”.Trạng thái tâm lí được biểu hiện
của hành động điều khiển là sự mong muốn
Hành động điều khiển bao gồm những hoạt động như: sai khiến, ra lệnh,
yêu cầu, hỏi, khuyên nhủ… Ví dụ:
động kết ước là hướng ghép “thế giới vào từ ngữ” Trạng thái tâm lí được biểu
hiện của hành động kết ước là sự chủ định
Hành động kết ước bao gồm: hứa, thề, cam đoan, cam kết…
Ví dụ: Ngày mai, tôi sẽ đến dự sinh nhật bạn
Hành động bộc lộ bao gồm những hành động như: cảm ơn, xin lỗi, chúc
mừng, hối tiếc, phàn nàn, an ủi…
Ví dụ: Tôi xin lỗi vì đã lỡ hẹn với bạn
Trang 30[27, tr 81] Hướng khớp ghép của lớp hành động tuyên bố là cùng một lúc “từ
ngữ vào thế giới” và “thế giới vào từ ngữ”.Trạng thái tâm lí không xác định
được nhưng các yếu tố của thể chế làm cho lời tuyên bố của người nói có giá
trị.Tuyên bố bao gồm những hành động như: tuyên bố, kết tội, khai trừ
Ví dụ: Trọng tài tuyên bố: Anh ra khỏi sân
1.4 Vài nét về tiểu sử, sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Công Hoan
1.4.1 Cuộc đời Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan, sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên Nhà văn đã từng là Giám đốc Trường Văn hóa Lý Thường Kiệt, Chủ nhiệm tờ Quân nhân học báo, biên tập viên tờ Vệ quốc quân (báo Quân đội nhân dân ngày nay), Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông được bầu làm Chủ tịch Hội, kiêm Chủ nhiệm Tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ bây giờ) Tên ông được đặt cho một đường phố Hà Nội Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học-Nghệ thuật (đợt I, 1993)
Nguyễn Công Hoan là một cây bút tài năng, ông sáng tác cả truyện ngắn và truyện dài, song tài năng và bút lực của ông nở rộ nhất và kết tinh nhất trong lĩnh vực truyện ngắn Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhuần nhuyễn, sinh động và hấp dẫn đã đóng góp to lớn vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX Tổng số đầu sách của nhà văn đã được xuất bản (1977-1996): 33 cuốn (trong đó có cuốn gồm 4 tập).Năm 1997, chuẩn bị lễ 95 ngày sinh của nhà văn (1998), Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã được giấy phép cho ra đời 9 cuốn tiểu thuyết với tên:
"Tủ sách Nguyễn Công Hoan" và tiếp tục ra loại sách khổ nhỏ: 8 cuốn
1.4.2 Sơ lược về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Từ khi xuất hiện trên văn đàn tới nay, truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan vẫn khẳng định được vị thế vững chắc trong mạch nguồn văn học dân tộc, qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian Truyện ngắn trào phúng của ông được tái bản nhiều lần, tiếng cười khỏe khoắn, bộc trực,
Trang 31đượm tình người của ông vẫn luôn vang lên trong những thời khắc có ý nghĩa của cuộc sống qua sự dàn dựng và biểu diễn của các nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng Sức hấp dẫn đặc biệt có được bởi ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn được chuyển tải qua tác phẩm và thế giới nhân vật độc đáo, sinh động của ông Hàng trăm nhân vật với hàng trăm tính cách trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan luôn tạo được ấn tượng riêng, không lẫn, và cũng luôn thể hiện được bản chất xã hội
Về nhân vật chính diện: Những nhân vật chính diện trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan phần lớn là những con người thuộc hạng nghèo của
xã hội Họ khổ vì miếng cơm manh áo, đói rách đến thê thảm Khi miêu tả nhân vật chính diện, Nguyễn Công Hoan luôn hướng ngòi bút của mình đến những người nghèo, ông thường đứng về phía họ để bênh vực, bào chữa, thanh minh cho họ Trong không khí của thời kì Mặt trận Dân chủ 1936 –
1939, tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Công Hoan dành cho những người nghèo khổ cũng có sự trân trọng và tri âm hơn
Công Hoan là những bọn nhà giàu cậy quyền cậy thế áp bức bóc lột người nghèo Họ là quan lại, là địa chủ, là tư sản, là tiểu tư sản lớp trên Bên cạnh đó
có cả đám gái mới, phụ nữ đua đòi, hư hỏng.Về nạn tham nhũng của bọn quan lại, số lượng truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan khá đáng kể Nhân vật phản diện của Nguyễn Công Hoan trở thành một phương tiện hữu hiệu để nhà văn khái quát hiện thực, vạch trần bộ mặt thối nát của xã hội đương thời Ở một vài truyện, do bị quan điểm luân lý đạo đức chi phối nên đôi chỗ Nguyễn Công Hoan còn bảo thủ, hiệu quả phê phán còn chưa thật sự mạnh mẽ Tuy nhiên nhiều nhân vật phản diện được Nguyễn Công Hoan đưa lên đến điển hình sắc sảo
Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có vị trí danh dự trên văn đàn Việt Nam Ông đặc biệt có tài trong việc nắm bắt hiện thực khi đã khái quát được gần như toàn bộ những tầng lớp trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng
Trang 32tháng Tám Thế giới nhân vật phong phú, đa dạng; được nhà văn xây dựng bằng những phương tiện nghệ thuật đắc hiệu như miêu tả ngoại hình, miêu tả hành động và miêu tả ngôn ngữ, ở lĩnh vực nào Nguyễn Công Hoan cũng đạt những thành tựu nhất định Những ảnh hưởng từ thi pháp văn học truyền thống kết hợp với những cách tân, sáng tạo của Nguyễn Công Hoan tạo cho truyện ngắn của ông sức hấp dẫn, lôi cuốn Mặc dù còn vài hạn chế trong tư tưởng khi xây dựng nhân vật chính diện nhưng về cơ bản và trên hết, Nguyễn Công Hoan đã vẽ lại một bức tranh toàn cảnh về xã hội thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam trước 1945 với cảm hứng phê phán, tố cáo gay gắt Cùng với cảm hứng hiện thực, Nguyễn Công Hoan cũng thổi vào những trang viết của mình hơi thở trào phúng của một nhà văn trào phúng xuất sắc từ nhân vật đến ngôn ngữ Chính sự kết hợp ấy giúp cho Nguyễn Công Hoan và những sáng tác của ông vượt qua thời gian, sống mãi trong lịch sử văn học dân tộc
1.5 Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã làm rõ những vấn đề lí thuyết về tình thái, động từ tình thái Đây là cơ sở lí thuyết để chúng tôi tiến hành triển khai nghiên cứu về khả
năng kết hợp của các ĐTTT toan, định, dám, muốn trong truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan ở chương sau
Cụ thể, chúng tôi đã hệ thống hóa những vấn đề sau:
1 Về cách hiểu tình thái: Tình thái, nhìn chung được coi là thuộc mặt nghĩa
của ngôn ngữ, hoặc vừa thuộc mặt nghĩa vừa thuộc mặt dụng học Về phương
diện này, chúng tôi dựa trên cách nhìn tình thái là “việc tạo lập tính tương đối của
nghĩa của câu với một bộ phận các thế giới có thể có.” của Kiefer
2 Về các kiểu tình thái: Tồn tại một số hướng phân loại tình thái khác
nhau, và hướng phân loại chung trong ngôn ngữ được chọn đối với đề tài này
đó là chia tình thái thành hai loại lớn: tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm Tình thái nhận thức liên quan đến các vấn đề của nhận thức và niềm tin, và được phân biệt thành tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái trách nhiệm liên quan đến tính cần thiết hay tính khả năng của những
Trang 33hành động được thực hiện bởi những người hoạt động có trách nhiệm về phương diện đạo dức
3 Cách hiểu về động từ tình thái: Phương án được chọn về cách hiểu
ĐTTT là cách hiểu về ĐTTT của Nguyễn Kim Thản Theo ông, ĐTTT là động
từ đứng trước một động từ khác có cùng chủ ngữ với ĐTTT, tức là chủ thể có khả năng làm chủ ngữ của động từ này đồng chiếu với chủ thể của ĐTTT
4 Về hành động nói: Lí thuyết về hành động nói được chọn làm cơ sở
cho đề tài là năm lớp hành động nói theo cách phân loại các hành động ngôn trung của Searle
5 Những nét chính về tiểu sử và sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn
Công Hoan
Trang 34CHƯƠNG 2
KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA CÁC ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI "TOAN, ĐỊNH,
DÁM, MUỐN" TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
Hình thái của từ là một trong những đặc điểm quan trọng giúp phân định loại hình của các ngôn ngữ Với các ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt là một đại diện tiêu biểu, việc phân định từ loại chủ yếu dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: ý nghĩa khái quát, chức vụ ngữ pháp, khả năng kết hợp Trong đó tiêu chí khả năng kết hợp được nhiều nhà nghiên cứu Việt ngữ đặc biệt coi trọng, tiêu biểu như: Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lăng Việc xem xét khả năng kết hợp của từ không chỉ đơn thuần phục vụ cho công tác phân loại từ
mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu sâu hơn bản chất từ loại của các quan hệ hình thành ngữ pháp tiếng Việt
Trên cơ sở đó chương hai sẽ tập trung khảo sát khả năng kết hợp của
các động từ toan, định dám, muốn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
với hai nội dung sau:
- Xem xét khả năng kết hợp trước của các ĐTTT toan, định dám, muốn
- Xem xét khả năng kết hợp của các ĐTTT toan, định, dám, muốn với các động từ đứng sau
Sau đây là nội dung cụ thể
2.1 Khả năng kết hợp trước của các động từ tình thái "toan, định,
dám, muốn"
Kết quả khảo sát cho biết khả năng kết hợp trước của ĐTTT toan, định,
dám, muốn diễn ra trong hai trường hợp sau:
- Các ĐTTT toan, định, dám, muốn có kết hợp với thành phần phụ trước
- Các ĐTTT toan, định, dám, muốn không có thành phần phụ đứng trước
Kết quả khảo sát được tổng hợp bằng bảng sau:
Trang 35Bảng 2.1: Tổng hợp về khả năng kết hợp trước của các ĐTTT toan, định,
dám, muốn trong truyện ngăn của Nguyễn Công Hoan
Từ kết quả khảo sát trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Các ĐTTT toan, định, dám, muốn không có thành phần phụ đứng
trước chiếm số lượng nhiều hơn (121/195 trường hợp, chiếm 62,05%) các
ĐTTT toan, định, dám, muốn có thành phần phụ đứng trước (74/195 trường
hợp, chiếm 37,95%) Trong trường hợp này, các ĐTTT ấy nằm trong bộ phận
vị ngữ có quan hệ trực tiếp với chủ ngữ
Ví dụ:
- Anh toan để ý nhìn, thì chính Thảo đã nói rất to [32, Tr.246]-
- Thế mợ định uống thuốc thôi thai thật đấy à? [32, Tr.32]
- Anh dám nghỉ một phút [32, Tr.247]
- Cô muốn khóc nhưng phải cố nhịn [32, tr 373]
- Tôi muốn biết sau trận quyết chiến, quân tôi đã chiếm được Trương
Châu chưa? [32, Tr 344]
Các thành phần phụ đứng trước các ĐTTT toan, định, dám, muốn chỉ
duy nhất có một tiểu loại là phó từ Vì vậy khi xem xét khả năng kết hợp
trước của các ĐTTT toan, định, dám, muốn trong truyện ngắn của Nguyễn
Trang 36Công Hoan, chúng tôi chỉ xin miêu tả khả năng kết hợp với phó từ của các
ĐTTT này
Kết quả khảo sát khả năng kết hợp chi tiết của các động từ tình thái: toan,
định, dám, muốn với từng tiểu loại phó từ đứng trước được tổng hợp bằng
bảng 2.2 trang 28
Từ kết quả khảo sát trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Khả năng kết hợp của các nhóm phó từ với các ĐTTT toan, định,
dám, muốn là không đồng đều, chỉ có một số nhóm phó từ mới có khả năng
kết hợp cao với các ĐTTT toan, định, dám, muốn
- Khả năng kết hợp của các ĐTTT toan, định, dám, muốn với những phó từ cũng có sự khác biệt.Trong 4 ĐTTT trên thì ĐTTT toan có khả năng
kết hợp hạn chế nhất Đặc biệt so với các ĐTTT khác, ĐTTT này không có khả năng kết hợp với nhóm phó từ khẳng định, phủ định
Sau đây là việc miêu tả khả năng kết hợp của từng động từ
2.1.1.Động từ tình thái "toan"
Phó từ là cách gọi tên những hư từ phụ cho các ngữ đoạn trong đó mục đích để phân biệt giữa các phụ từ (định từ) phụ cho danh từ và các phụ từ (phó từ) phụ cho tính từ , động từ (vị từ) Các phó từ vì thế được định nghĩa
“là hư từ thường đi kèm với thực từ (động từ và tính từ) Chúng biểu thị ý
nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại” [ 3 tr, 125]
Theo số liệu khảo sát mà chúng tôi thu thập được, ĐTTT toan kết hợp
hạn chế với các nhóm phó từ đứng trước Cụ thể chỉ có 6/15 trường hợp
ĐTTT toan xuất hiện sau phó từ, chiếm tỷ lệ 40% Ví dụ:
- Tôi đã toan trở dậy [32, Tr 232]
- Tôi đã toan xé bản thảo đi [32, Tr.241]
- Tôi không buồn dậy nữa đã toan lấy bút ghi chép mấy câu vào quyển sổ
tay [32, Tr.59]
Trang 37Bảng 2.2: Thống kê chi tiết khả năng kết hợp của các ĐTTT toan, định, dám, muốn với một số phó từ đứng trước trong
truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Động từ tính thái
Trang 38- Nghe gọi, nó quay lại, không thấy ai lại toan đi cho xong [32, Tr.151]
Trong các nhóm phó từ ĐTTT toan chỉ xuất hiện sau các nhóm phó từ
chỉ thời gian (3/15trường hợp), các phó từ chỉ sự khẳng định phủ định (2/15)
và các nhóm phó từ chỉ sự tiếp diễn – tương tự (1/15) Lý do chủ yếu cho khả
năng xuất hiện hạn chế của ĐTTTT toan xuất phát từ chính ý nghĩa của từ tình thái này Với ý nghĩa “ định làm điều gì đó nhưng đã không làm”, chính
vì vậy mà ngay cả một số phó từ thuộc nhóm chỉ thời gian, chỉ sự tiếp diễn –
tương tự như “đang, sẽ, vẫn, đều…” cũng không kết hợp được với ĐTTTT
toan Tình hình này càng rõ hơn với các nhóm phó từ phụ cho những hành
động có chứa các phẩm chất như: tần xuất, khẳng định – phủ định, mệnh lệnh, tần số…
2.1.2 Động từ tình thái "định"
Qua bảng tổng hợp dữ liệu khảo sát, có thể nhận thấy khả năng kết hợp
của ĐTTT định với các phó từ tình thái được tăng lên đáng kể Cụ thể có 10/26 trường hợp ĐTTT định xuất hiện sau phó từ, chiếm tỷ lệ 38,46% Ví dụ:
- Tôi đang định qua chỗ anh để hỏi chuyện [32, Tr.171]
- Tôi cũng định đánh chữ đại xá đi [32, Tr.141]
Xét về mặt ý nghĩa giữa các động từ tình thái : toan, định, dám, muốn đang xét có thể thấy ĐTTT định và toan là hai ĐTTT có nội dung ý nghĩa khá tương đồng Tuy nhiên, nghĩa của ĐTTT định có xu hướng mở rộng hơn Không bó hẹp vào kết quả của hành động “ đã không làm” trong “đã định làm
điều gì đó nhưng đã không làm” như trường hợp của ĐTTT toan, nghĩa của định còn thể hiện sự dự tính (muốn làm) thực hiện điều gì đó trong hiện tại
Chính vì vậy, ngoài mở rộng khả năng kết hợp với các phó từ chỉ thời gian,
chỉ sự so sánh tiếp diễn tương tự, ĐTTT định còn có thể kết hợp với nhóm
phó từ chỉ sự khẳng định, phủ định (có, không) Thêm vào đó, sự đa dạng trong các kết hợp với các phó từ trong nội bộ nhóm đã nêu, càng củng cố
thêm cho sự mở rộng ý nghĩa và khả năng kết hợp của ĐTTTT định
Trang 392.1.3 Động từ tình thái "dám"
So với ĐTTT toan, ĐTTT dám xuất hiện sau các phó từ có 42/89
chiếm 47,19% Ví dụ:
- Bởi biết thóp ông dư thế nên tôi mới dám ngôn luận tự do [32, Tr.234]
- Anh chỉ dám làm như một con bò không dám nghỉ một phút [32, Tr.247]
- Cô ấy chả dám nhờ con làm việc gì cả [32, Tr.354]
Quan sát bảng tổng hợp khả năng kết hợp của các ĐTTT toan, định,
dám, muốn với các phó từ đứng trước, chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi rõ
rệt về tần suất xuất hiện của ĐTTT dám với các phó từ đứng trước Đặc biệt
là tần suất xuất hiện của ĐTTT dám sau nhóm phó từ mang ý nghĩa khẳng định - phủ định Cụ thể có 34/89 trường hợp dám xuất hiện sau nhóm phó từ
này, chiếm tỷ lệ 38,20% Nguyên nhân của những khác biệt này - theo chúng
tôi, xuất phát chủ yếu từ bản thân ngữ nghĩa của ĐTTT dám Mang ý nghĩa
“Có đủ tự tin để thực hiện một điều gì đó, dù biết khó khăn, nguy hiểm”, ĐTTT dám vì vậy dễ dàng kết hợp với các phó từ chỉ việc khẳng định hay phủ định “khả năng” thực hiện một việc gì đó Điều này cũng lý giải tại sao
có sự hạn chế trong kết hợp giữa ĐTTT dám với các nhóm phó từ chỉ mức độ,
sai khiến mệnh lệnh, tần số hay chỉ ý nghĩa chủ quan - khách quan
Ngoài ra sự kết hợp của ĐTTT dám với các phó từ đứng trước chỉ thời gian cũng có nhiều điểm khác biệt so với các ĐTTT toan, định, muốn Cụ thể
ở đây, ĐTTT dám chỉ xuất hiện hạn chế sau các phó từ chỉ thời gian như: đã,
đang, sẽ (1/92 trường hợp sau đã ) nhưng lại xuất hiện với tần suất cao hơn
hẳn sau phó từ thời gian “mới” (6/92 trường hợp) Điểm đặc biệt này theo chúng tôi xuất phát từ bản thân ngữ nghĩa của từ “mới” Từ mới ngoài nét nghĩa “ vừa thực hiện hoặc có chủ ý thực hiện một điều gì đó” còn có thêm nét nghĩa “vừa (đã) có hoặc cần thêm cơ sở để thực hiện một việc gì đó” Chính vì vậy mới có ưu thế hơn hẳn các phó từ chỉ thời gian khác trong việc kết hợp với ĐTTT dám
Trang 40về sự xuất hiện của ĐTTT muốn với các phó từ đứng trước:
- Thế thì tôi đã muốn im đi sao mợ còn cứ xui tra xui tấn [32, Tr.104]
- Anh nghĩ thấy ông ấy nói chuyện dễ dãi nên vì cũng muốn quên nỗi
gánh nặng [32, Tr.165]
- Anh không muốn mất lòng ai, nhưng cũng không muốn để ai cản trở
công việc của mình [32, Tr 247]
- Tôi hỏi thực anh, thế anh có muốn dùng cái xe này không ? [32, Tr 119]
Có nhiều điểm gần gũi với ĐTTT dám , nghĩa của ĐTTT muốn với nội dung “ cảm thấy có sự đòi hỏi phải thực hiện một điều gì đó (hoặc sở hữu một
cái gì đó)” chính vì vậy dễ dàng kết hợp với các phó từ có ý nghĩa khẳng định phủ định nhưng lại ít có khả năng kết hợp với các phó từ mệnh lệnh
Những kết quả khảo sát trên đây, càng cho thấy rõ hơn vai trò ĐTTT
toan, định, dám, muốn trong phát ngôn Tuy nhiên, do đặc điểm về ý nghĩa
quy định nên các ĐTTT toan, định, dám, muốn đều là những động từ đặc biệt,
không có khả năng dùng độc lập vì thế việc nghiên cứu phần cuối của ngữ đoạn trở nên đặc biệt quan trọng Để có được một diện mạo đầy đủ hơn về
các ĐTTT toan, định, dám, muốn, phần tiếp theo chúng tôi sẽ dành để xem
xét khả năng kết hợp của nhóm ĐTTT này với các động từ đứng sau