1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở việt nam hiện nay

111 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Tắc Tự Định Đoạt Trong Giải Quyết Tranh Chấp Kinh Doanh Thương Mại Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Đinh Tiến Hoàng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Như Phát
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là quyền của các chủ thể trong các việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, quyền tự do lựa chọn thực hi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐINH TIÊN HOÀNG

NGUY£N T¾C Tù §ÞNH §O¹T TRONG GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP KINH DOANH TH¦¥NG M¹I

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐINH TIÊN HOÀNG

NGUY£N T¾C Tù §ÞNH §O¹T TRONG GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP KINH DOANH TH¦¥NG M¹I

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NHƯ PHÁT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đinh Tiên Hoàng

Trang 4

ĐOẠT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 8 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc tự định đoạt trong giải

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 8

1.1.1 Khái niệm nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại 81.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại 91.1.3 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và các nguyên tắc khác

trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 11

1.2 Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh

thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc

tự định đoạt 18

1.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt trong việc lựa chọn các phương thức giải

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 181.2.2 Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh

thương mại bằng phương thức toà án 281.2.3 Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh

thương mại bằng các phương thức ngoài tòa án 32

Kết luận chương 1 39

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG NGUYÊN TẮC TỰ ĐỊNH ĐOẠT TRONG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 41 2.1 Nội dung nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án 41

2.1.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án

tranh chấp kinh doanh thương mại, yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 412.1.2 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn 442.1.3 Quyền tự định đoạt trong việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu

giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 452.1.4 Quyền tự định đoạt về việc tự thỏa thuận trong giải quyết tranh

chấp kinh doanh thương mại 472.1.5 Quyền định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại

diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình 482.1.6 Quyền tự định đoạt trong việc khiếu nại phán quyết của trọng tài,

kháng cáo bản án, quyết định của tòa án 50

2.2 Nội dung nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại bằng các phương thức khác ngoài tòa án 53

2.2.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại bằng phương thức thương lượng 532.2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại bằng phương thức hòa giải 592.2.3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài thương mại 651.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc tự định đoạt

trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 35

Kết luận chương 2 75 Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM

ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC TỰ ĐỊNH ĐOẠT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 77

Trang 6

3.1 Một số vấn đề bất cập về việc áp dụng nguyên tắc tự định

đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở

Việt Nam 77

3.1.1 Thực trạng áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam 77

3.1.2 Những vấn đề bất cập cần phải hoàn thiện nhằm đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam 85

3.2 Kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay 91

3.2.1 Kiến nghị quy định bổ sung và hướng dẫn chi tiết về việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 91

3.2.2 Khắc phục và hạn chế tiến tới xóa bỏ hiện tượng tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự 94

3.2.3 Cơ chế điều chỉnh nhằm đảm bảo tôn trọng những nội dung thỏa thuận của các bên trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng các phương thức khác ngoài tòa án 95

Kết luận Chương 3 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kinh doanh thương mại là một quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực mà tất cả các chủ thể khi tham gia bằng cách này hay cách khác, nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là lợi nhuận Tranh chấp kinh doanh thương mại là điều các chủ thể khi tham gia quan hệ này không hề mong muốn, tuy nhiên nó là một thực tế khách quan buộc các bên phải chấp nhận như một phần của cuộc chơi Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là điều rất quan trọng, bởi

vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ này Pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại thuộc nhóm luật tư, do đó nó dựa trên phương pháp điều chỉnh đặc trưng của hệ thống luật

tư là phương pháp tự do thỏa thuận, ý chí, và bình đẳng giữa các bên tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó nguyên tắc tự định đoạt là một trong những

nguyên tắc cơ bản, mang tính cốt lõi

Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và các văn bản Luật như Luật thương mại, Bộ luật tố tụng dân sự hay Luật Trọng tài thương mại Tuy nhiên đã qua nhiều lần thay thế văn bản nhưng những quy định về việc đảm bảo và tôn trọng nguyên tắc này vẫn còn chưa được chi tiết, cụ thể và vẫn còn thiếu Điều này dẫn tới còn có nhiều

những bất cập, có thể dẫn ra một số nội dung sau đây:

- Pháp luật hiện nay quy định chưa rõ ràng, cụ thể và chi tiết về việc cách thức áp dụng, quy định thực hiện hay chế tài tài bắt buộc tôn trọng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ngoài tòa án

- Về việc tôn trọng tự do thỏa thuận trong việc lựa chọn phương thức giải quyết; và tôn trọng những thỏa thuận giải quyết đã được các bên thống

Trang 8

nhất và đề ra trước khi đưa ra cơ quan tài phán không được pháp luật qui định

và ghi nhận, cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc

- Còn có những qui định thiếu hợp lý, mâu thuẫn và vi phạm quyền quyết định của các chủ thể

- Còn có sự can thiệp quá sâu của các thủ tục tố tụng cũng như việc tòa

án giải quyết vượt quá yêu cầu của các đương sự trong vụ án tranh chấp liên quan đến kinh doanh thương mại được giải quyết tại tòa án Đây không chỉ là

vi phạm nguyên tắc tự định đoạt mà còn vi phạm nguyên tắc tự do kinh doanh theo quy định của Hiến pháp

Ý thức sâu sắc được những bất cập và hạn chế đó tôi lựa chọn đề tài

“Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp chương trình Cao học

Thạc sĩ Luật kinh tế của mình

Với việc lựa chọn đề tài này, tôi hy vọng sẽ được nghiên cứu sâu hơn

về việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại, tìm hiểu những cơ sở lý luận, bản chất pháp lý, đặc điểm

và vai trò của nguyên tắc này trong việc áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Tìm hiểu, nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc tự định đoạt để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam và ở một số quốc gia trên thế giới Từ đó, xây dựng quan điểm và kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, tôn trọng quyền tự do kinh doanh, quyền tự do định đoạt trong mối quan hệ kinh doanh thương mại, hạn chế các thủ tục hành chính hóa kinh doanh thương mại, cởi bỏ sự rập khuôn và đưa lại cho việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại một giải pháp hữu hiệu và phù hợp với thông lệ quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu

Nội dung nguyên tắc tự định đoạt được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học cũng như các tạp chí luật học, tạp chí nghiên cứu khoa học

Trang 9

như: “Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế”, Khóa luận tốt nghiệp / Trần Anh Hoài; Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thái Phúc, TP HCM năm 2002; “Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004”,

Khoa Luật – ĐHQGHN, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật dân sự, mã số 60 38 30/ Nguyễn Phương Hạnh TS Nguyễn Công Bình hướng dẫn, Hà Nội năm

2011; “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, ĐH

Luật TP HCM, Luận văn Thạc sĩ Luật dân sự, mã số 60 38 01 03/ Đinh Kim

Huệ, TS Nguyễn Văn Cường hướng dẫn, TP HCM năm 2007; “Hợp đồng điều đình trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp/ Lê Văn Luân TS Ngô Huy Cương hướng dẫn - Hà Nội 2010; “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng”, Khóa luận tốt nghiệp/ Ngô Thế Lập TS Ngô Huy Cương hướng dẫn - Hà Nội năm 2009; “Bản án dân

sự sơ thẩm với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự”, Trần Minh Tiến, Tạp chí nghề Luật, số 5/2006; “Những nguyên tắc tố tụng đặc trưng trong Bộ luật tố tụng dân sự”, Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí kiểm sát, số 1/2005, tr.19-23; “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật

tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2005, tr 64 - 66…

Tuy nhiên những đề tài, bài báo và các công trình khoa học nói trên chỉ mới phân tích và làm rõ nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật

tố tụng dân sự, hoặc có đi vào việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nhưng dựa trên các chế định pháp luật cũ, các văn bản pháp luật đã lạc hậu và hết hiệu lực, bị thay thế các văn bản pháp luật mới hiện hành Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự, Luật thương mại và Luật trọng tài thương mại ra đời đến nay đây chưa có một một đề tài

nào trực tiếp nghiên cứu và đi sâu vào nội dung “Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay”

Trang 10

Chính vì điều đó mà tôi chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của mình, với mong muốn làm sáng tỏ những điểm hạn chế về việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam, nghiên cứu kỹ những quy định mới về chế định áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại để từ đó đề xuất một vài giải pháp nhằm hoàn thiện Việt Nam trong lĩnh vực này, và đưa nó được áp dụng một cách triệt để vào cuộc sống

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, phân tích thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn thực thi việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt vào giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc đó để giải quyết các vụ việc tranh chấp trong thực tế Việc ghi nhận và tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua quyền lựa chọn và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Từ đó kiến nghị đưa ra các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật theo hướng tôn trọng và bảo vệ quyền tự định đoạt của các bên trong việc lựa chọn và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

3.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được những mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, bản chất, đặc điểm và

vai trò của nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Trang 11

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành

quy định về áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong việc lựa chọn và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, cũng như thực tiếp áp dụng nguyên tắc tự định đoạt để giải quyết các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại

Thứ ba, kiến nghị và đề xuất các giải pháp cụ thể mang tính luật định

cho việc tôn trọng và đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của

pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Phạm vi nghiên cứu : về nội dung, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, khía cạnh pháp lý và thực tiễn áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong các

phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ở

Việt Nam hiện nay; về không gian, đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng

nguyên tắc tự định đoạt trong các phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu viêc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt kể từ khi có Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các quan

điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên

cơ sở quan điểm duy vật và phép biện chứng

5.2 Phương pháp cụ thể: các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là

thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh các văn bản quy phạm pháp luật, các

vụ việc trong thực tiến giải quyết tranh chấp

Trang 12

6 Những điểm mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ Luật học đề cập đến vấn đề nghiên cứu các lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong pháp luật Việt Nam hiện nay nên có những điểm mới khoa học như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện khái niệm, đặc điểm, làm rõ bản chất pháp lý và ý nghĩa của nguyên tắc tự định đoạt trong việc lựa chọn và sử dụng các phương

thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Thứ hai, đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp

dụng và nhu cầu thực tế đối với việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, từ đó phân tích, làm rõ về những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam hiện hành về việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Xác định rõ tầm quan trọng về việc tôn trọng tự do thỏa thuận trong việc lựa chọn phương thức giải quyết; và tôn trọng những kết quả giải quyết bằng các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án đã được các bên thống nhất

Thứ ba, từ nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn pháp luật, từ đó đề

xuất được một số kiến nghị về hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về áp dụng nguyên tắc tự định đoạt trong việc lựa chọn và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam

7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Đề tài này mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ đối với chế định nguyên tắc tự định đoạt trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, là cơ sở pháp lý cho việc

áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhằm thúc đẩy sự tôn trọng quyền tự định đoạt

và bảo đảm quyền tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương

Trang 13

mại ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

ở các cơ sở đào Luật học tại Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về nguyên tắc tự định đoạt trong giải

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Chương 2 Thực trạng nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh

chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 3 Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm đảm bảo nguyên

tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TỰ ĐỊNH ĐOẠT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Nguyên tắc là những điều cơ bản được định ra, hay những chuẩn mực bắt buộc được đặt ra cho các chủ thể phải tuân theo trong việc hành động hay không hành động hoặc thực hiện hay không thực hiện trong những việc làm

cụ thể Nguyên tắc không phải là cái tự nhiên sinh ra mà nó là kết quả của một quá trình phát triển, tích lũy và đúc kết từ những thích ứng với các điều kiện khách quan Nó cũng không hẳn là một khuôn mẫu bất biến với mọi hoàn cảnh, mà chỉ bó hẹp trong một phạm vi hoạt động, hoặc trong một mối quan hệ nhất định Ngay cả trong những mối quan hệ và phạm vi hoạt động

đó, nguyên tắc cũng có thể bị phá vỡ hay biến đổi tùy theo những điều kiện khách quan và ý thức xã hội tác động lên nó qua mỗi thời kỳ khác nhau của lịch sử Đối với các mối quan hệ pháp luật nguyên tắc là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo có tính chất xuất phát điểm, có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung và hiệu lực của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật cũng như các ngành luật cụ thể

Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là quyền của các chủ thể trong các việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, quyền tự do lựa chọn thực hiện hay không thực hiện tất cả các hành vi mà pháp luật không cấm nhằm điều hòa và tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng hay giải quyết các lợi ích của các bên chủ thể trong các tranh chấp kinh

Trang 15

doanh thương mại; hay quyền tự do thể hiện ý chí của các đương sự trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tài phán

Nguyên tắc tự định đoạt bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết định của các bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự, cơ sở của nó là dựa trên phương pháp điều chỉnh đặc trưng của hệ thống luật tư đó là phương pháp tự do thỏa thuận

ý chí và bình đẳng giữa các bên tham gia các quan hệ pháp luật

Như vậy: Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là quyền quyết đi ̣nh và tự đi ̣nh đoạ t của các bên ch ủ thể trong mối quan hệ giải quyết tranh chấp, mà theo đó các ch ủ thể tự mình lựa chọn và quyết định các hành vi không trái v ới quy định của pháp luật nhằm

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Nguyên tắc tự định đoạt có một vai trò, vị trí và ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự nói chung và trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói riêng, nó không đơn giản chỉ là một nguyên tắc pháp lý cơ bản được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, mà nó là một nguyên tắc hiến định mang ý nghĩa trên nhiều phương diện như kinh tế, xã hội, khoa học pháp lý

Thứ nhất, nguyên tắc tự định đoạt có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế bởi việc áp dụng nguyên tắc này trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại sẽ giúp chủ thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí, bảo vệ được những

Trang 16

lợi ích về mặt vật chất và hình ảnh như giữ được uy tín, không để những thông tin về việc tranh chấp ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh cũng như quan

hệ với các bạn hàng, đối tác; giữ được những bí mật kinh doanh Đó chính là những lợi ích về mặt kinh tế khi nguyên tắc tự định đoạt được các bên áp dụng

để giải quyết tranh chấp bằng các phương thức ngoài tòa án, còn nếu trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên chọn phương thức giải quyết bằng tòa án, việc tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể tranh chấp sẽ giúp tiết kiệm được thời gian, đơn giản hóa các thủ tục và giảm thiểu những rủi ro và thiệt hại

về mặt kinh tế từ hệ quả của việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án

Thứ hai, về mặt xã hội, trong quan hệ giao lưu dân sự và đặc biệt là giao lưu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại cần những mối quan hệ giao lưu hợp tác rộng rãi, bền chặt và lâu dài Những mâu thuẫn, tranh chấp đều phát sinh từ lợi ích nhưng nhiều khi cũng đến từ những nguyên nhân bất khả kháng và nằm ngoài tầm kiểm soát của các chủ thể tạo nên những thiệt hại hay vi phạm không đáng có, dẫn tới tranh chấp ngoài ý muốn Việc sử dụng quyền tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp sẽ giúp các bên có nhiều sự lựa chọn, nhất là việc sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp một cách phù hợp, vừa đảm bảo được những lợi ích về mặt kinh tế, bên cạnh đó còn giữ được cho nhau hòa khí, và những mối quan hệ bền chặt, lâu dài trong giao lưu thương mại, đó cũng là việc sử dụng nguyên tắc thiện chí, giúp đỡ lẫn nhau qua đó không làm mất đi những mối quan hệ tốt đẹp mà các bên khó khăn mới tạo dựng lên được

Thứ ba, nguyên tắc tự định đoạt có ý nghĩa rất lớn về khoa học pháp lý

và tác động rất lớn đến công tác xây dựng các chế định luật và các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực luật tư Trên cơ sở là quyền tự do ý chí trong việc thiết lập các mối quan hệ, hành động hay không hành động, tham

Trang 17

gia hay không tham gia vào các mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật trên cơ

sở không vi phạm các điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội và thuần phong

mỹ tục, quyền tự định đoạt là một phạm trù mang thuộc tính nhân quyền, là một những quyền con người cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp, là cơ sở cũng như xuất phát điểm cho các chế định pháp luật trong cả hệ thống pháp luật Tuy nhiên cũng cần phải xếp đặt nó đúng với vị trí, đánh giá đúng và xếp đặt nó một cách hài hòa với các nguyên tắc khác, như nguyên tắc bình đẳng, hay nguyên tắc tôn trọng đạo đức, thuần phong mỹ tục và áp dụng tập quán, thói quen ứng xử Thêm vào đó, phải xem xét quy định việc tôn trọng quyền

tự định đoạt và áp dụng nó trên cơ sở không phá vỡ các nguyên tắc quản lý của nhà nước, của chế độ chính trị và của các mối quan hệ pháp luật khác Điều đó đòi hỏi sự tìm hiểu chuyên sâu và phân tích nó dưới nhiều giác độ, khía cạnh pháp lý và tổng hòa trong nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong cả luật công lẫn luật tư, từ đó mới đưa ra được những chế định phù hợp nhất, cân nhắc để có thể đưa vào áp dụng đảm bảo được những quyền cơ bản của con người nhưng không làm phá vỡ đi những giá trị chung của cộng đồng lẫn nguyên tắc quản lý của nhà nước, của chế độ chính trị

1.1.3 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và các nguyên tắc khác trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Quyền tự định đoạt là nguyên tắc cơ bản và được nhắc đến đầu tiên trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và các tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng, tuy nhiên như trên đã phân tích cần đặt nguyên tắc này trong sự tổng hòa với các nguyên tắc khác, như nguyên tắc bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ, nguyên tắc hòa giải hoặc các nguyên tắc khác theo trình tự thủ tục tố tụng tòa án nếu các bên lựa chọn phương thức giải quyết bằng con đường tòa án

Trang 18

1.1.3.1 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Trong Hiến pháp 1992 tại điều 52 quy định rằng “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” [23], đến Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định điều đó tại điều 16 khi quy định rằng “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh

tế, văn hóa, xã hội” [30] Nguyên tắc này thêm lần nữa được cụ thể hóa tại pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 tại điều 6 “các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án” [24], cho đến Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 lần nữa nhắc lại điều đó ở điều 8 “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật… các đương sự đều bình đẳng về quyền

và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” [25] Còn tại Bộ luật Tố tụng dân

sự số 92/2015/QH13 bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2016

nguyên tắc này còn được cụ thể hơn tại điều 8 khi thêm vào “mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước tòa án” Như vậy, quyền bình đẳng trước pháp luật đã được quy định

ngày càng chi tiết, cụ thể hơn qua các văn bản pháp luật phát triển theo thời gian và qua các thời kỳ của xã hội, bằng việc thêm vào các cơ quan, tổ chức thì chúng ta có thể sử dụng tên gọi phản ánh một cách đầy đủ hơn, đó là các chủ thể trong mối quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại đều bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ

Trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trước pháp luật, các chủ thể được tự do thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và các quyền này được bảo vệ cũng như đảm bảo thực hiện mà không bị phân biệt địa vị kinh tế, địa vị xã hội của các chủ thể đó Như vậy có thể nói rằng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cho các chủ thể thực hiện

Trang 19

quyền tự định đoạt của mình Điều này cũng được thể hiện một cách rõ ràng nếu như các chủ thể lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án, bởi lẽ lúc đó sự đảm bảo thực hiện của nguyên tắc này còn cao hơn bởi

nó có sự hiện diện của tòa án, cơ quan nhân danh quyền lực nhà nước đảm bảo cho việc thực thi những quy định nói trên

1.1.3.2 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và nguyên tắc hòa giải

Việc lựa chọn phương thức thương lượng hay hòa giải là quyền thể hiện một cách rõ nét và cụ thể nhất quyền tự định đoạt của các chủ thể trong mối quan hệ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Nó là sự cụ thể từ quyền tự do kinh doanh và tự do thực hiện những việc mà pháp luật không cấm được phản ánh qua quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, nó cũng được hình thành dựa trên cơ sở phương pháp tự do ý chí đặc trưng của hệ thống luật tư Nếu như quyền tự do thương lượng, hòa giải của các bên không được đảm bảo thực hiện trong quá trình giải quyết tranh chấp thì nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể trong mối quan hệ giải quyết tranh chấp gần như không còn ý nghĩa Điều này còn được quy định và thể hiện rõ trong pháp luật tố tụng kinh tế khi xem đó là một nguyên tắc và là một thủ tục bắt buộc khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án Ngay sau khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền tự do thương lượng và hòa giải, đến khi các bên bỏ qua quyền này hoặc thực hiện thương lượng hay hòa giải không thành, để rồi phải đưa yêu cầu ra tòa án thì tòa vẫn phải tiến hành thủ tục hòa giải cho dù các bên có yêu cầu hay không yêu cầu, chỉ khi nào các bên hòa giải không thành thì tòa mới quyết định đưa vụ án ra xét xử Nhưng ngay cả khi đã đưa vụ án ra xét xử thì tại phiên xử tòa án vẫn phải lắng nghe và cố gắng để hai bên có thể hòa giải được với nhau

Trang 20

1.1.3.3 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Khi xảy ra tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các bên

có quyền tự mình thương lượng, hòa giải hay sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp tài phán tư khác ngoài tòa án như xét xử tư, trọng tài thương mại , tuy nhiên nếu như không thỏa mãn với những nội dung mà các bên đạt được trong kết quả thương lượng, hòa giải, hay phát hiện những

vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình tố tụng trọng tài dẫn tới những phán quyết của trọng tài không khách quan, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong tranh chấp thì các chủ thể

có quyền gửi yêu cầu ra tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, tòa án không được phép từ chối giải quyết yêu cầu của công dân ngay

cả khi nội dung yêu cầu đó chưa có điều luật để áp dụng Ngoài ra quyền định đoạt của các chủ thể trong việc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình còn được đảm bảo cụ thể trong việc các bên có quyền quy định nó ngay từ đầu trong khi giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại Nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể còn là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, qua việc thừa nhận

tự do ý chí, loại bỏ sự bất bình đẳng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng các phương thức khác ngoài tòa án, hay các dấu hiệu cưỡng bức, ép buộc các bên chủ thể phải thực hiện hay không thực hiện những việc trái với

ý muốn của họ mà bản thân chủ thể đó không thể chống lại được

Như vậy nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được xây dựng dựa trên cơ sở tự do ý chí và quyền tự định đoạt của các bên chủ thể trong tố tụng kinh tế, ngược lại nguyên tắc này chính là sự tác động lên việc đảm bảo một cách cụ thể cho nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Trang 21

1.1.3.4 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thương lượng hay hòa giải ngoài tòa án, quyền tự do bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật ghi nhận và đảm bảo trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Bộ luật dân sự và Luật Thương mại, các chủ thể có toàn quyền sử dụng các cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trong quá trình giải quyết tranh chấp Còn trong thủ tục tố tụng trọng tài, hay tố tụng tòa

án thì nguyên tắc này còn được đảm bảo một cách rõ ràng hơn khi được luật

tố tụng trọng tài và Bộ luật Tố tụng dân sự ghi nhận như những nguyên tắc bắt buộc Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định rằng:

“Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo luật định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ; không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tung dân sự” [31, Điều 9]

Như vậy cho dù lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nào đi chăng nữa, thì quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc lựa chọn giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình vẫn được ghi nhận và bảo đảm trên

cơ sở nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Thậm chí trong nhiều trường hợp cần thiết tòa án bắt buộc phải hỗ trợ đương sự thực hiện quyền này “Trường hợp cần thiết” ở đây được hiểu là thể theo nguyện vọng của đương sự và thỏa mãn các yêu cầu theo khoản 3 điều 9

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các quy định pháp luật có liên quan

1.1.3.5 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và nguyên tắc xét xử công khai của tòa án

Khi các chủ thể trong mối quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại

Trang 22

lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án, thì tòa án được xem như một tổ chức trọng tài công đứng ra phân xử và chỉ giải quyết trong phạm vi các yêu cầu mà đương sự đưa ra Khi các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án, thì họ cần phải cân nhắc những thiệt hại có thể xảy đến vì lúc này họ phải tuân thủ những nguyên tắc xét xử của tòa án như nguyên tắc xét xử công khai Bởi nguyên tắc này đã mang tính chất hiến định, điều này đã được quy định rõ ràng tại khoản 3, điều

103 của Hiến pháp năm 2013 và nó cũng được kế thừa từ những bản Hiến pháp trước đó Tuy nhiên nói thế không có nghĩa là quyền tự định đoạt trong việc lựa chọn việc xét xử công khai hay xét xử kín bị tước bỏ hoàn toàn bởi nguyên tắc này mà nó còn tùy thuộc vào tính chất của mỗi vụ việc Cụ thể tại khoản 2 điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì tòa án có thể xét xử kín Như vậy với tính chất đặc thù của những tranh chấp kinh doanh thương mại, với yếu tố liên quan đến bí mật hay bí quyết kinh doanh, nếu những điều này bị tiết lộ ra có thể dẫn tới hệ lụy cho chủ thể đang có tranh chấp, họ có thể yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng việc xét xử kín, nếu yêu cầu đó là chính đáng thì tòa án sẽ xem xét để có thể lựa chọn hình thức xét xử kín hay xét xử công khai Một điều cần lưu ý thêm về mối liên hệ giữa hai nguyên tắc này, cho dù không triệt tiêu hoàn toàn quyền tự định đoạt của đương sự trong việc được xét xử kín hay xét xử công khai, nhưng rõ ràng với nguyên tắc tòa án xét xử công khai, quyền quyết định lựa chọn hình thức xét xử không hoàn toàn thuộc

về đương sự mà thuộc về tòa án Đó cũng chính là hạn chế lớn nhất của việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án

Trang 23

1.1.3.6 Mối liên hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt và nguyên tắc tự do cam kết, thoả thuận không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội

Nguyên tắc tự định đoạt được thực hiện dựa trên cơ sở tự do thoả thuận trong quan hệ luật tư, sự tự do ở đây là quyền con người cơ bản, đó là việc làm hay không làm một việc xuất phát từ ý chí của mình Quyền này được các chủ thể vận dụng qua việc tham gia vào các quan hệ xã hội, trong đó có quan

hệ giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại thông qua bằng việc tự định đoạt theo ý chí của mình Tuy nhiên tự do thoả thuận không phải là vô hạn trong mọi trường hợp, trong lịch sử nhân loại cổ xưa cho đến hiện đại ngày nay đều ghi nhận những giới hạn cho quyền tự do thoả thuận Đó là những giới hạn về mặt đạo đức, thuần phong mỹ tục đối với những mối quan

hệ xã hội trong một cộng đồng có chung nền văn hoá, hay những giới hạn pháp lý đối với một lãnh thổ có nhà nước cai trị Nội dung này đã được Vũ Văn Mẫu nói lên trong cuốn “Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử” khi ông cho

rằng: "trong cổ luật, không có một điều khoản nào minh thị tuyên bố nguyên tắc tự do khế ước; nhưng ta phải coi nguyên tắc ấy là một hệ luận đương nhiên của quan niệm nhân trị Tin tưởng ở kết quả tốt đẹp của các hành vi người quân tử do "lễ” và "nghĩa” hướng dẫn nhà lập pháp chỉ can thiệp khi nào hoạt động kết lập khế ước vi phạm vào thuần phong mỹ tục hay làm rối loạn trật tự xã hội”[41] Pháp luật Việt Nam ngày nay vận dụng điều chỉnh

vấn đề này trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng việc quy định rõ công dân có quyền tự do thoả thuận và giới hạn của tự do thoả thuận vào các văn bản của pháp luật dân sự

Xuất phát từ nguyên tắc tự do thoả thuận nhưng không được vi phạm vào điều cấm của pháp luật, nên nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại cũng có những giới hạn của nó chứ không

Trang 24

phải là sự tự do định đoạt vô hạn Giới hạn của sự định đoạt của các bên trong mối quan hệ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được quy định theo các góc độ như sau: thứ nhất, khi sống trong một cộng đồng xã hội có chung nền văn hoá, cùng phong tục tập quán thì sẽ có những khuôn mẫu đạo đức chung, không ai được thể hiện sự tự do của mình đi vượt giới hạn của đạo đức vốn dĩ đã tồn tại theo truyền thống của cả dân tộc Do đó quyền của mỗi cá nhân, chủ thể được tôn trọng nhưng phải nằm trong tập quán của cộng đồng; thứ hai, trong xã hội tất cả các chủ thể đều bình đẳng như nhau, các chủ thể được tự do thực hiện quyền đương nhiên của mình hay quyền mà nhà nước trao cho, tuy nhiên việc thực hiện quyền của chủ thể này không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác; thứ ba, ngoài việc bảo

vệ quyền và lợi ích riêng của các chủ thể thì trong một xã hội có nhà nước còn

có các lợi ích chung cộng đồng, các nguyên tắc mang tính chất quyền lực nhà nước trong quản lý và điều hành xã hội cũng được pháp luật bảo vệ Do đó khi các chủ thể thực hiện quyền của mình không được với trái với các quy định và nguyên tắc quản lý của nhà nước và lợi ích chung của cộng đồng

Cụ thể hoá từ những nội dung nói trên, pháp luật dân sự hiện nay quy

định “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” tại khoản 2 điều 3 Bộ luật dân sự 2015 Điều này cũng là cơ

sở xác định giới hạn thực hiện quyền định đoạt của của các chủ thể trong mối quan hệ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay

1.2 Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc tự định đoạt

1.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.2.1.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Tranh chấp là điều không thể tránh khỏi trong các quan hệ liên quan

Trang 25

đến kinh doanh thương mại, nó là hiện thực mang tính tất yếu khách quan

mà tất cả các chủ thể tham gia mối quan hệ này đều có thể hình dung và bắt buộc phải lường trước Đa số các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh doanh thương mại đều vì mục đích lợi nhuận, do đó họ sẽ bằng mọi cách để tối ưu hóa lợi ích của mình, hạn chế và giảm thiểu những thiệt hại xảy đến, và khi nảy sinh tranh chấp các bên mong muốn tìm cho mình những giải pháp nếu không thể bảo toàn được những lợi ích thì cũng phải giảm thiểu những rủi

ro, thiệt hại về phần mình Do đó việc lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và được các bên trong mối quan hệ tranh chấp đặc biệt lưu tâm Trên tinh thần tự do, tự nguyện thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong

mỹ tục và đạo đức xã hội, các bên có quyền tự đưa ra các giải pháp, cũng như lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp mà không chịu sự chi phối hay ràng buộc nào đến từ pháp luật

Tùy vào tính chất của tranh chấp, thái độ và quan điểm của các bên từ

đó dẫn tới những lựa chọn khác nhau về phương thức giải quyết tranh chấp Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam có bốn phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản là thương lượng giữa các bên, hòa giải giữa các bên, giải quyết tại trọng tài thương mại và giải quyết tại tòa án Trong đó phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án là phương thức giải quyết tài phán công với sự góp mặt của cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước

Thương lượng, là phương thức giải quyết truyền thống, đơn giản nhất

và cũng được các bên ưu tiên lựa chọn đầu tiên khi nảy sinh tranh chấp, có thể nói rằng phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được các bên mặc nhiên lựa chọn đầu tiên nếu có vấn đề tranh chấp nảy sinh, điều này dựa trên cơ sở nguyên tắc thiện chí và giúp đỡ lẫn nhau trong quan hệ kinh doanh thương mại Theo phương thức này các bên tự ngồi lại với nhau để cùng nhau tìm ra các giải pháp tháo gỡ những vướng

Trang 26

mắc, bất đồng hay điều hòa các mẫu thuẫn cũng như cân bằng lợi ích, từ đó tìm hướng giải quyết chung để xóa bỏ tranh chấp, việc này do các bên tự quyết định mà không cần sự có mặt của bên trung gian đứng ra giàn xếp hay tài phán Kỹ năng thương lượng về cơ bản giống với kỹ năng đàm phán giao kết hợp đồng, tuy nhiên nếu như đàm phán hợp đồng các bên có thể có những

sự mềm mỏng để cùng hợp tác cùng mang lại lợi ích, và nếu không thành công thì không làm phát sinh sự ràng buộc nào về quyền và nghĩa vụ giữa các bên với nhau [7] Còn trong thương lượng ngoài mục đích bảo toàn lợi ích các bên còn phải tìm cách để giảm thiểu thiệt hại, và bởi nếu không thể tìm được tiếng nói chung để tháo gỡ khúc mắc, thì các bên buộc phải chuyển sang phương thức khác để giải quyết dứt điểm tranh chấp, nghĩa là vẫn còn sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ với nhau, do đó cần có sự nhượng bộ cần thiết Chính vì điều này nên nếu xét về yếu tố bình đẳng thì quyền này trong thương lượng có thể sẽ bị hạn chế hơn một cách nhất định so với đàm phán giao kết hợp đồng, tùy theo yếu tố lỗi trong mỗi tranh chấp

Ưu điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thương lượng đó là sự nhanh gọn, ít tốn kém và không phải sa vào những thủ tục phiền hà, phức tạp mất thời gian, mặt khác với đặc trưng của kinh doanh thương mại luôn đề cao danh tiếng và những bí mất kinh doanh nên khi lựa chọn phương thức thương lượng sẽ đảm bảo được yếu tố bí mật, giữ được uy tín cho nhau và một điều quan trọng nữa đó là giữ được sự hòa hảo trong mối quan hệ thương mại lâu dài [11] Bên cạnh những ưu điểm nói trên thì thương lượng cũng có những điểm hạn chế, đó là do dựa trên yếu tố tự nguyện ý chí, không chịu bất cứ sự ràng buộc nào đến từ pháp luật nên không có một cơ sở nào bắt buộc các bên phải tôn trọng và thi hành một cách tuyệt đối những kết quả đạt được, ngoài ra khi thương lượng không mang lại kết quả như các bên mong muốn và buộc phải chuyển sang lựa chọn phương thức khác để giải

Trang 27

quyết thì sẽ khiến các chủ thể thiệt hại thời gian và tài chính cho những lần tiến hành thương lượng

Hòa giải, về cơ bản phương thức hòa giải cũng là sử dụng quyền tự định

đoạt của các bên để cùng nhau đi đến kết quả cuối cùng với đôi bên cùng có lợi, tuy nhiên ở phương thức hòa giải có xuất hiện của người thứ ba làm trung gian lắng nghe, phân tích và đưa ra những nhận định hay các giải pháp mang tính chất tham khảo để giúp đỡ các bên đi đến một quyết định sau cùng xóa bỏ tranh chấp Hiệu quả của hòa giải đạt được đến đâu ngoài yếu tố thiện chí đến

từ các bên tranh chấp thì còn phụ thuộc vào bên trung gian hòa giải, bên trung gian hòa giải phải là cá nhân, cơ quan, tổ chức có trình độ chuyên môn cao, am hiểu về kinh doanh thương mại cũng như pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xung quanh tranh chấp, thêm vào nữa là cần phải có kinh nghiệm cũng như các

kỹ năng lắng nghe, phân tích và đưa ra các nhận định, giải pháp đủ sức thuyết phục được các bên, và yếu tố quan trọng nhất đó chính là sự độc lập, khách quan trong việc đưa ra các nhận định, giải pháp để các bên lựa chọn, hay thuyết phục các bên thực hiện các giải pháp do các bên đưa ra

Giống như thương lượng, ưu điểm của hòa giải là nhanh gọn, ít tốn kém và không sa vào những thủ tục phiền hà, phức tạp, nhưng yếu tố bí mật mang tính tương đối vì đã có sự xuất hiện của bên thứ ba Với việc sử dụng bên thứ ba làm trung gian thì các bên sẽ có cái nhìn khách quan hơn về những lợi ích và thiệt hại của các bên trong tranh chấp cũng như giải pháp đặt ra, nếu hòa giải thành công các bên vẫn có thể giữ được mối quan hệ hòa hảo Hòa giải hiện nay chia ra hai hình thức, đó là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng Nếu như hòa giải trong tố tụng có kết quả là hòa giải thành được tòa án ra quyết định công nhận có giá trị pháp lý chung thẩm như một phán quyết của tòa án và được thi hành ngay thì hòa giải ngoài tố tụng kết quả hòa giải thành do các bên đồng thuận có được thi hành hay không lại

Trang 28

phụ thuộc vào sự thiện chí và tự nguyện của các bên tranh chấp, pháp luật hiện nay không ghi nhận một cơ chế pháp lý nào bắt buộc các bên phải thi hành những nội dung mà các bên đã đạt được trong quá trình hòa giải ngoài

tố tụng, đây được coi là nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại, là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua một cơ quan

tài phán được pháp luật quy định Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phải tuân theo những thủ tục theo quy định của pháp luật, tuy nhiên các bên được chủ động về mặt thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, tự do lựa chọn tổ chức trọng tài, lựa chọn trọng tài viên Việc lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại phải được sự đồng thuận của các bên tranh chấp, thỏa thuận về việc lựa chọn phương thức này được đưa ra trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra, nếu phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được các bên quy định trong hợp đồng kinh doanh thương mại thì điều khoản này có sự độc lập nhất định với hợp đồng chính, bởi nó xác định cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng,

kể cả khi hợp đồng bị thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hay vô hiệu [7] Thỏa thuận này có thể xem như một hợp đồng riêng, do đó có thể bị vô hiệu do những nguyên nhân riêng Tính tự định đoạt đối với thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài còn được thể hiện qua việc nếu các bên đã có thỏa thuận lựa chọn phương thức này để giải quyết tranh chấp, cho

dù là trước hay sau khi tranh chấp xảy ra thì nếu một bên gửi đơn ra tòa án

đề nghị giải quyết thì bắt buộc tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Vì phương thức giải quyết tranh chấp bằng tài phán được pháp luật điều chỉnh, quy định nên trọng tài thương mại có tính ràng buộc cao hơn so

Trang 29

với thương lượng, hòa giải Còn nếu so với phương thức tài phán công là tòa

án thì trọng tài có thủ tục nhanh gọn hơn, chi phí cũng ít tốn kém hơn và quan trọng là đảm bảo được sự bí mật kinh doanh cũng như các thông tin liên quan đến sự uy tín của các bên tranh chấp, quyền lựa chọn của các bên cũng rộng hơn Đó chính là những ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại

Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa

án, là phương thức giải quyết tranh chấp tài phán công do cơ quan xét xử

nhân danh quyền lực nhà nước là tòa án tiến hành theo các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, đây là phương thức giải quyết mang tính tài phán cao nhất với các nguyên tắc chặt chẽ và thủ tục phức tạp Với chức năng của một cơ quan tư pháp mang quyền lực công, tòa án buộc các bên phải tuân theo các thủ tục được pháp luật định sẵn, trong đó có nguyên tắc xét xử công khai sẽ mang lại bất lợi cho việc giữ bí mật kinh doanh hay các thông tin liên quan đến việc giữ uy tín về danh tiếng cho các bên tranh chấp, và với thời gian kéo dài cũng sẽ gây ra những tốn kém cho các bên tranh chấp So với các phương thức thương lượng, hòa giải, và trọng tài thì tính linh hoạt sẽ bị hạn chế hơn

do phải tuân theo các thủ tục nghiêm ngặt và chặt chẽ, quyền định đoạt của các bên cũng sẽ ít nhiều bị hạn chế bởi những ràng buộc của các thủ tục luật định, tuy nhiên không vì thế mà quyền này bị triệt tiêu, pháp luật về tố tụng luôn ghi nhận quyền tự định đoạt của các bên trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và tạo các cơ sở để đảm bảo cho quyền này được thực hiện một cách triệt để Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa

án là phương thức giải quyết sau cùng nếu như các bên áp dụng không thành các phương thức giải quyết tranh chấp khác hay từ chối, bỏ qua lựa chọn các phương thức đó, vì bởi tòa án mang quyền lực nhà nước nên phán quyết cuối

Trang 30

cùng của tòa án có sức mạnh buộc các bên phải chấp hành, nếu quyết định đó không được các bên nghiêm túc tuân thủ thực hiện thì sẽ được đảm bảo thi hành bởi sự cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền, điều

mà các phương thức giải quyết tranh chấp khác không có (thương lượng, hòa giải), hay bị hạn chế (trọng tài)

Tranh chấp là điều không ai muốn trong quan hệ kinh doanh thương mại nhưng bắt buộc các bên tham gia mối quan hệ này phải lường trước, khi xảy ra tranh chấp tùy vào tính chất mà các bên sẽ có những phương án để giải quyết và những lựa chọn cho riêng mình, với sự lựa chọn đó các bên buộc phải đưa ra sự cân nhắc những hậu quả có thể xảy ra và khả năng theo đuổi việc giải quyết tranh chấp Vì thuộc nhóm quan hệ tư nên pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này chỉ mang tính định hướng, còn quyền quyết định phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp Ngoài những phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến nêu trên thì vẫn có các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại khác như xét xử tư, hành chính, hoạt động tư vấn hay tham vấn

1.2.1.2 Lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thỏa thuận trong hợp đồng

Khi các bên tiến hàng giao kết hợp đồng trong kinh doanh thương mại, rất ít người nghĩ đến điều khoản lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp được pháp luật ghi nhận cho các bên trong hợp đồng, bởi lẽ mục tiêu mà các bên hướng đến khi tham gia một hoạt động kinh doanh hay các giao dịch thương mại thường là những lợi ích, do đó họ dồn hết sự quan tâm đến đối tượng của hợp đồng và cố gắng cụ thể hóa tối đa lợi ích của mình trong nội dung của hợp đồng mà không mấy quan tâm đến những điều khoản phụ khác Mặt khác, khi tham gia giao kết hợp đồng các chủ thể luôn hướng cái nhìn về

sự hợp tác thiện chí, cũng như sự thuận lợi nhất nên không mấy người dự liệu

Trang 31

cụ thể về những tranh chấp có thể phát sinh, hoặc giả sử có thì họ cũng ngại

đề cập đến, vì muốn giữ một sự hòa hảo tốt đẹp với đối tác, tránh nhắc tới những điều xui xẻo, không may mắn Do đó khi nhắc đến điều khoản về lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, nếu có vấn đề tranh chấp nảy sinh trong quan hệ hợp đồng thì các chủ thể thường mặc định rằng các bên sẽ tiến hành thương lượng, hòa giải dựa trên hai nguyên tắc ý chí và nguyên tắc tự định đoạt Và nếu như việc thương lượng và hòa giải không mang lại kết quả thì giải pháp cuối cùng là đưa ra tòa án

Nói như thế phải chăng điều khoản lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp được quy định trong hợp đồng không mang nhiều ý nghĩa, bởi lẽ thông lệ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại vốn dĩ luôn luôn là thương lượng và hòa giải, và đương nhiên khi các bên không thể có tiếng nói chung trong việc giải quyết tranh chấp, hay những kết quả không được như họ mang đợi thông qua hai phương thức trên, thì tòa án là giải pháp tài phán cuối cùng để họ lựa chọn Như vậy việc có thêm quy định này trong hợp đồng là không cần thiết, bởi lẽ có hay không có nó thì con đường giải quyết tranh chấp vẫn không thay đổi

Điều đó là không hoàn toàn chính xác, bởi lẽ nếu như lịch sử giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại giản đơn chỉ ghi nhận ba phương thức giải quyết tranh chấp thương lượng, hòa giải và tài phán công, thì việc xuất hiện thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại đã làm thay đổi quan niệm trên Việc có thêm phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại không những giúp cho những chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thương mại có thêm một giải pháp để lựa chọn khi có tranh chấp phát sinh, mà nó còn làm tăng quyền

tự định đoạt của các bên trong một mối quan hệ tranh chấp khi lựa chọn giải pháp này, bây giờ tòa án không còn là giải pháp cuối cùng mặc nhiên nếu như

Trang 32

các bên không đạt được những nội dung trong thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay hòa giải, mà giải pháp cuối cùng có thể xảy đến

đó là, giải quyết thông qua trọng tài nếu như các bên thỏa thuận lựa chọn phương thức này ngay từ đầu trong hợp đồng, và khi có điều khoản thỏa thuận về sự lựa chọn này trong hợp đồng thì tòa án buộc phải từ chối thụ lý nếu một bên đơn phương nộp đơn khởi kiện lên tòa án yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp

Cụ thể tại điều 5 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 quy định

rằng “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu” [26], điều này được nhắc lại trong điều 6 Luật Trọng

tài thương mại 2010 với nội dung tương tự Với quy định nói trên, điều khoản lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp được nêu trong hợp đồng khi các bên tiến hành giao kết, hoặc là lựa chọn trọng tài hoặc là lựa chọn tòa án là phương thức giải quyết sau cùng một cách rõ ràng cụ thể để giải quyết nếu có tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng

Như vậy nguyên tắc tự định đoạt của các chủ thể trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng việc ghi nhận trong hợp đồng được cụ thể hơn bởi điều khoản ràng buộc ngay từ đầu Điều này hạn chế sự can thiệp của tòa án, hay nói một cách chính xác là pháp luật ghi nhận thêm cho các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh doanh thương mại được tự do quyết định lựa chọn cách thức giải quyết mà không chịu sự tác động từ cơ quan tư pháp công quyền Ngoài hai giải pháp thương lượng và hòa giải thì việc lựa chọn trọng tài hay tòa án làm giải pháp sau cùng để giải quyết tranh chấp được các bên định đoạt ngay từ đầu khi hai giải pháp đầu tiên không mang lại kết quả như mong đợi Cộng với quy định “phán quyết trọng tài là chung thẩm” như là một yếu tố khẳng định cho việc pháp luật tôn

Trang 33

trọng sự định đoạt của các bên, quy định này cũng là việc gắn trách nhiệm bắt buộc các chủ thể phải tôn trọng những gì mình đã lựa chọn, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.2.1.3 Lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thỏa thuận ngoài hợp đồng

Những tranh chấp kinh doanh thương mại giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh thương mại có thể phát sinh từ hợp đồng nhưng cũng

có thể phát sinh ngoài hợp đồng Như các nội dung trên đã phân tích, khi có tranh chấp phát sinh các bên có thể tự lựa chọn cho mình những phương thức

để giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải, trọng tài hay tòa án Nếu

là những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, các bên có thể dự liệu trước việc tranh chấp có thể xảy ra và thỏa thuận với nhau về phương thức giải quyết ngay từ đầu để đưa vào quy định trong hợp đồng, còn nếu như họ không có thỏa thuận về lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh hoặc tranh chấp đó không phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì các bên có thể tự do thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết sau khi có tranh chấp xảy ra

Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khi không có điều khoản thỏa thuận về điều này trong hợp đồng hay lựa chọn phương thức giải quyết đối với những tranh chấp phát sinh ngoài quan hệ hợp đồng sẽ do các bên tranh chấp thống nhất lựa chọn hoặc các bên cũng có thể đơn phương lựa chọn giải pháp gửi đơn lên tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Sau khi xảy ra tranh chấp, các bên có thể sẽ cùng nhau thống nhất

đi đến lựa chọn thương lượng, hòa giải hoặc cũng có thể chọn ngay một phương thức tài phán là trọng tài hay là tòa án để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên không nhất thiết trong mọi trường hợp các bên phải ngồi lại với nhau để

đi đến thống nhất lựa chọn phương thức giải quyết mà một bên có thể nộp

Trang 34

thẳng đơn lên tòa án để nhờ Tòa án giải quyết, điều này đã được ghi nhận tại điều 4 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Việc thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết bằng con đường trọng tài sau khi có tranh chấp xảy ra có thể được xem như một hợp đồng phát sinh sau tranh chấp ghi nhận riêng sự kiện pháp lý này, quy định này được thể hiện thông qua khoản 1 điều 5 Luật Trọng

tài thương mại 2010 rằng “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài khi các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” [29], điều đó cũng có nghĩa rằng nếu các bên đã có

thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài thì quyền đơn phương yêu cầu tòa án thụ

lý giải quyết tranh chấp sẽ không còn giá trị, bởi lẽ lúc này tòa án sẽ không còn thụ lý để giải quyết vụ việc theo như quy định tại điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010, trừ trường hợp thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của các bên vô hiệu

Như vậy quyền tự định đoạt của các bên trong việc lựa chọn phương thức giải quyết những tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng và trong trường hợp tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh doanh thương mại nhưng không ghi nhận điều khoản lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp được thể hiện rất rõ thông qua những quy định nói trên và pháp luật luôn ghi nhận cũng như đảm bảo cho quyền này được thực thi một cách triệt để

1.2.2 Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức toà án

Quyền tự định đoạt là một trong những quyền con người cơ bản được quy định trong hiến pháp, cơ sở cho nội dung quyền tự định đoạt đó là quyền

tự do ý chí, “theo đó cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được tuyên bố một cách trực tiếp thông qua các hợp đồng hay gián tiếp thông qua pháp luật” [6] Quyền tự định đoạt được hiến pháp ghi nhận qua việc quy định “công dân được phép làm những gì mà pháp luật không cấm”, những

Trang 35

hành vi thuộc vào phạm trù pháp luật “cấm” đó là những hành vi phá vỡ các trật tự chung của cộng đồng, hay xâm phạm vào những lĩnh vực thuộc quyền quản lý của nhà nước Như vậy ngoài phạm vi mà pháp luật cấm, công dân có quyền làm hoặc không làm, hành động hoặc không hành động và chỉ chịu ràng buộc cũng như chi phối bới ý chí của chính bản thân mình

Trong tranh chấp kinh doanh thương mại quyền tự định đoạt xuất phát

từ tự do ý chí của các chủ thể có ý nghĩa cực kỳ lớn trong toàn bộ tiến trình giải quyết tranh chấp, kể cả việc từ bỏ quyền đòi hỏi quyền và lợi ích hợp pháp mà không chịu sự ràng buộc hay tác động từ ngoài ý chí cá nhân Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ghi nhận cho các chủ thể trong mối quan hệ này hai lựa chọn, đó là tự các bên tiến hành hoạt động giải quyết tranh chấp và lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của cơ quan tố tụng công quyền Việc các bên lựa chọn tự giải quyết tranh chấp thì sẽ chủ động được về mặt thời gian, chi phí và không bị ràng buộc hay chi phối bởi các kỹ thuật thủ tục quá phức tạp, hơn nữa các bên cũng có thể tự điều chỉnh các phương án sao cho phù hợp với yêu cầu của các bên mà không cần tuân thủ theo những quy định từ trước Có chăng sự ràng buộc về mặt pháp lý ở đây đó là các bên không được vi phạm các điều cấm của pháp luật

và vi phạm các yếu tố liên quan đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội

Nếu như các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của cơ quan tố tụng công quyền, họ phải tuân thủ những quy định

về mặt thủ tục, và cũng bởi việc thực hiện chức năng của một cơ quan phục

vụ quyền lợi công, do đó các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc luật định khi lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng con đường này Nhưng nói như vậy không có nghĩa quyền tự định đoạt của các chủ thể bị triệt tiêu khi lựa chọn con đường tố tụng công để giải quyết tranh chấp, mà ngược lại pháp luật tố tụng một mặt ghi nhận nguyên tắc tự định đoạt trên cơ sở như một quyền

Trang 36

năng cơ bản, mặt khác pháp luật tố tụng công về giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại còn cố gắng xây dựng các cơ sở để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện một cách thường trực và xuyên suốt trong các giai đoạn tố tụng

Qua các thời kỳ lịch sử, cũng như qua các giai đoạn phát triển của pháp luật tố tụng Việt Nam, việc ghi nhận và đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt cho các đương sự trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tài phán công đã không ngừng mở rộng và quy định chi tiết Pháp luật tố tụng hiện nay mà cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 điều chỉnh trực tiếp đến trình tự thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tài phán công thể hiện việc tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể tranh chấp qua các nội dung như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại lựa chọn con đường giải quyết bằng tố tụng công, mà ở đây cụ thể là bằng tòa án bằng việc quy định tại điều 5 rằng đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự; trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện để thực hiện quyền nêu trên

Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như là một nguyên tắc chung xuyên suốt trong các giai đoạn tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại do các chủ thể yêu cầu Nhưng chưa dừng lại ở đó, qua mỗi giai đoạn thủ tục tố tụng lại có những điều khoản quy định chi tiết cho quyền tự định đoạt của các đương sự cho từng giai đoạn đó Cụ thể tại điều 4 quy định về quyền khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại, yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại tòa án

Thứ hai, sau khi tòa án thụ lý giải quyết đơn khởi kiện, yêu cầu của các chủ thể, các bên sẽ phải tuân theo các trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp

Trang 37

bằng con đường tòa án theo luật định, tuy nhiên các đương sự trong tố tụng kinh tế có quyền bình đẳng ngang nhau, và một trong những yếu tố bình đẳng

đó là việc bị đơn có quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố Điều này được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận tại khoản 4 điều 72 [31]

Thứ ba, đối với nguyên đơn, cho dù đã nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa

án giải quyết những nội dung cụ thể, nhưng họ vẫn có quyền tự định đoạt trong việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, điều nay được quy định một cách rõ ràng và cụ thể tại khoản 2 điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 [31]

Thứ tư, và cho dù đã yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết đối với vấn đề tranh chấp thì các bên vẫn có quyền tự định đoạt về việc tự thỏa thuận trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, điều này được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận tại khoản 11 điều 70 [31]

Thứ năm, để có thể bảo vệ một cách tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tranh chấp trong kinh doanh thương mại được đưa ra giải quyết bằng con đường Tòa án, tại khoản 13 điều 70 Bộ luật Tố tụng 2015 đã mặc nhiên quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng quy định đương sự có quyền “tự bảo

vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình” [31]

Thứ sáu, Tòa án là cơ quan tài phán mang quyền lực công, mọi phán quyết đến từ cơ quan này đều mang giá trị pháp lý cao nhất đối với việc lựa chọn giải quyết tranh chấp trong vụ việc dân sự nói chung và kinh doanh thương mại nói riêng bằng con đường này Tuy nhiên không phải vì thế mà mọi phán quyết của tòa án đều có hiệu lực pháp lý thi hành ngay lập tức, mà

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận cho các đương sự quyền tự định đoạt trong việc kháng cáo bản án, quyết định của tòa án, và quyền này được quy định một cách rõ ràng tại khoản 22 điều 70 Và ngay cả khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực thi hành thì các chủ thể vẫn có quyền đề nghị người

Trang 38

có thẩm quyền kháng nghị theo tủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, quyền này được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận tại khoản 23 điều 70 [31]

Như vậy, dù cho phải tuân thủ các nguyên tắc chặt chẽ và các thủ tục nghiêm ngặt khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án, khiến cho phương thức này có những điểm bất lợi hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, thế nhưng về cơ bản quyền tự định đoạt của các bên chủ thể trong quan hệ giải quyết tranh chấp vẫn được ghi nhận và đảm bảo thực hiện trong các giai đoạn tố tụng tòa án

1.2.3 Nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng các phương thức ngoài tòa án

Ngoài giải pháp lựa chọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức toà án thì các bên tranh chấp còn có thể lựa chọn các phương thức khác ngoài toà án để giải quyết, tính định đoạt của các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án được thể hiện một cách khác nhau tuỳ theo từng phương thức, nhưng nhìn chung vì không chịu sự ràng buộc về mặt thủ tục tố tụng như phương thức toà án, từ đó các bên có thể linh động hơn và cũng ít chịu sự ràng buộc hơn Ở nước ta hiện nay, các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngoài toà án phố biến nhất đó là thương lượng, hoà giải ngoài tố tụng và trọng tài thương mại, trong đó giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức tố tụng trọng tài thương mại phải tuân thủ các qui định của Luật Trọng tài thương mại 2010, hoà giải ngoài tố tụng được điều chỉnh bởi Nghị định 22/2017 NĐ-CP về Hoà giải thương mại, còn thương lượng thì thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do thoả thuận không trái pháp luật được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 Tuy mỗi phương thức chịu sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng định hướng cơ bản cho các phương thức giải quyết tranh chấp kinh

Trang 39

doanh thương mại vẫn là nguyên tắc tự định đoạt, và cho dù quyền định đoạt của các chủ thể được thể hiện ở mức độ khác nhau tuỳ vào cách thức và tính chất của các phương thức, nhưng nguyên tắc tự định đoạt được đảm bảo chung cho tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ngoài toà án qua các nội dung sau:

Thứ nhất, việc dẫn đến tranh chấp trong mối quan hệ kinh doanh thương mại có thể được các bên lường trước và đưa ra thoả thuận ghi vào hợp đồng, nhưng cũng có những tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng nên không được các bên dự liệu từ trước do đó không có thoả thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp Ngay lúc tranh chấp xảy ra, nếu không có thoả thuận từ trước được ghi nhận trong giao kết hợp đồng thì các bên có quyền tự

do lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp với ý chí, nội dung tranh chấp và lợi ích của các bên Cơ sở cho nội dung này được quy định tại khoản 2 điều 3

Bộ luật Dân sự 2015

Thứ hai, khi xảy ra tranh chấp các bên có thể lựa chọn tự thương lượng với nhau hoặc nhờ trung gian đứng ra giàn xếp để thương lượng, hoặc hoà giải, hay để đảm bảo tính ràng buộc trong việc thực thi các thoả thuận giải quyết tranh chấp các bên cũng có thể lựa chọn trung tâm trọng tài thương mại

để giải quyết theo thủ tục tố tụng trọng tài Quyền định đoạt ở nội dung này được thể hiện ở chỗ nếu các các bên lựa chọn bên thứ ba đứng ra giàn xếp, hoà giải, hay lựa chọn giải quyết bằng trọng tài thương mại thì các bên có quyền tự do lựa chọn bên thứ ba hay trung tâm trọng tài theo ý chí của mình

để bảo đảm việc giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả nhưng vẫn bảo vệ được tốt nhất cho lợi ích của các bên mà không bị gò ép bởi các qui định về thẩm quyền hay theo lãnh thổ như tố tụng toà án

Thứ ba, khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng các giải pháp ngoài

toà án, các bên có thể tự do thoả thuận các nội dung để đi đến những đồng

Trang 40

thuận cuối cùng chấm dứt tranh chấp, ngoại trừ phương thức trọng tài thương mại mà Luật Trọng tài thương mại qui định các bên sửa đổi, bổ sung, thay thế các nội dung giải quyết trong phạm vi nội dung thoả thuận trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp, thì các giải pháp khác như thương lượng hay hoà giải ngoài tố tụng thì các bên có quyền tự do thoả thuận tất cả các nội dung mà không bị hạn chế, kể cả những nội dung phát sinh ngoài những thoả thuận ban đầu trong hợp đồng hay phát sinh sau khi xảy ra tranh chấp, miễn sao các bên thấy các thoả thuận đó thoả đáng, đảm bảo được quyền, lợi ích của mình và chấm dứt được tranh chấp

Thứ tư, một trong những ưu thế của các phương thức giải quyết tranh

chấp kinh doanh thương mại ngoài toà án đó là việc các bên có quyền định đoạt trong việc lựa chọn thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp Cho dù là thương lượng, hoà giải hay trọng tài thì việc lựa chọn địa điểm và quyết định thời gian giải quyết tranh chấp đều do các bên tự định đoạt, đối với phương thức thương lượng thì việc lựa chọn thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp hẳn nhiên do các bên quyết định, đối với phương thức hoà giải thì các bên còn phụ thuộc vào yếu tố thuận lợi của bên trung gian, nhưng không có qui định pháp luật nào ràng buộc các bên trong vấn đề này Còn đối với phương thức giải quyết trọng tài thương mại, cho dù đây là một giải pháp tài phán và chịu sự quy định của pháp luật, nhưng Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định các bên có quyền lựa chọn địa điểm và thời gian diễn ra phiên họp giải quyết, chỉ khi nào các bên không có thoả thuận thì hội đồng trọng tài mới quyết định lựa chọn thời gian và địa điểm diễn ra phiên họp giải quyết tranh chấp

Thứ năm, cũng giống như phương thức giải quyết tranh chấp toà án, để bảo vệ một cách tối ưu quyền và lợi ích các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích cho mình, pháp luật hiện hành không ràng buộc hay hạn chế các bên trong mối quan hệ tranh chấp

Ngày đăng: 06/07/2022, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Công Bình (2011), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
2. Bộ Tư pháp (2014), Dự thảo ngày 02/10/2014 về Báo cáo định hướng xây dựng Nghị định về Hoà giải thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo ngày 02/10/2014 về Báo cáo định hướng xây dựng Nghị định về Hoà giải thương mại
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
3. Bộ Tư pháp (2015), Sơ kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại, http://bttp.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2015
4. Chính phủ (2000), Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hoà giải thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hoà giải thương mại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
5. Bùi Ngọc Cường (2008), Giáo trình Luật thương mại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
6. Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do ý chí và sự tiếp nhận tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2008
7. Ngô Huy Cương (2012), Luật Thương mại, Bài giảng điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2012
8. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật thương mại – phần chung và thương nhân, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật thương mại – phần chung và thương nhân
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
9. Lê Minh Hải (2009), “Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (04), tr.32-40, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Tố tụng dân sự”," Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Lê Minh Hải
Năm: 2009
10. Nguyễn Phương Hạnh (2011), Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004
Tác giả: Nguyễn Phương Hạnh
Năm: 2011
11. Bùi Quỳnh Hoa (2015), Cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại ở Việt Nam Lý luận và thực tiễn, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại ở Việt Nam Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Quỳnh Hoa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
12. Trần Anh Hoài (2002), Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Tác giả: Trần Anh Hoài
Năm: 2002
13. Nguyễn Ngọc Khánh (2005), “Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (5), tr.65-66, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Năm: 2005
14. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Ngô Thế Lập (2009), Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng, Khoá luận tốt nghiệp, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng
Tác giả: Ngô Thế Lập
Năm: 2009
18. Vũ Văn Mẫu (1975), Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, Quyển thứ hai, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Năm: 1975
19. Phạm Hữu Nghị (2000), “Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Tố tụng dân sự”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (12), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Tố tụng dân sự”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: Phạm Hữu Nghị
Năm: 2000
20. Quỳnh Như (2016), Vi phạm nhãn hiệu bia: Cho thương lượng để khỏi bị phạt?, http://plo.vn/kinh-te/vi-pham-nhan-hieu-bia-cho-thuong-luong-de-khoi-bi-phat-648475.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi phạm nhãn hiệu bia: Cho thương lượng để khỏi bị phạt
Tác giả: Quỳnh Như
Năm: 2016
21. Nguyễn Như Phát (Chủ biên) (2013), Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Phát (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
Năm: 2013
22. Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học
Năm: 1997

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w