Nhiều điều khoản liên về tội buôn lậu còn nhiều quan điểm khác nhau, nên việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự còn chưa thật sự hiệu quả; vẫn còn tình trạng định tội danh chưa
Trang 1NGUYỄN ANH HOÀNG
TỘI BUÔN LẬU TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2022
Trang 2NGUYỄN ANH HOÀNG
TỘI BUÔN LẬU TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số: 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS MAI ĐẮC BIÊN
Hà Nội - 2022
Trang 3Các kết quả trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Hoàng
Trang 4giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Đắc Biên
- Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Cảm ơn những ý kiến đóng góp của thầy đã giúp em hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất
Cuối cùng học viên xin chân thành cảm ơn các tác giả, các cơ quan, tổ chức liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi nhất, hỗ trợ em trong suốt quá trình nghiên cứu tài liệu và tìm kiếm số liệu
Trang 5BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT : Cơ quan điều tra
ĐTV : Điều tra viên
Trang 6Bảng 2.1
Bảng số liệu tăng giảm số vụ việc buôn lậu bị phát hiện và xử lý theo tỉ lệ % (mốc năm 2017) trên địa bàn Thành phố Hà Nội
30
Bảng 2.2
Bảng số liệu tỉ lệ % số vụ việc buôn lậu bị khởi tố hình
sự so với tổng số vụ việc xử lý trên địa bàn Thành phố
Hà Nội
30
Bảng 2.3
Bảng số liệu về hoạt động khởi tố, truy tố, xét xử các
vụ án buôn lậu trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 – 2021
32
Trang 7LUẬT VỀ TỘI BUÔN LẬU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 Khái niệm và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu 9
1.1.1 Khái niệm tội buôn lậu 9
1.1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu 11
1.2 Phân biệt tội buôn lậu với một số tội phạm khác có liên quan 13
1.2.1 Phân biệt tội buôn lậu với tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189 BLHS) 13
1.2.2 Phân biệt tội buôn lậu với tội buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS) 14
1.3 Dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu 15
1.3.1.Quy định về tội buôn lậu 15
1.3.2 Hình phạt của tội buôn lậu 21
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI BUÔN LẬU TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 27
2.1 Tình hình tội buôn lậu tại địa bàn thành phố Hà Nội 27
2.2 Những kết quả đạt được trong định tội danh và quyết định hình phạt các vụ án buôn lậu tại thành phố Hà Nội 34
2.2.1 Kết quả đạt được trong định tội danh của các cơ quan tiến hành tố tụng 34
2.2.2 Kết quả đạt được trong quyết định hình phạt của Tòa án 39
2.3 Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu tại thành phố Hà Nội 41
2.3.1 Một số hạn chế, thiếu sót trong áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu tại thành phố Hà Nội 41
2.3.2 Nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót trong áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu tại thành phố Hà Nội 48
Trang 83.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội 53
3.1.1 Yêu cầu đáp ứng đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật về cải cách tư
pháp trong lĩnh vực hình sự 53 3.1.2 Yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 54 3.1.3 Yêu cầu hội nhập kinh tế - quốc tế 54
3.1.4.Yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu trong giai
đoạn hiện nay 55 3.1.5 Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự 56
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội buôn lậu trên địa bàn Thành phố Hà Nội 57
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự 57
3.2.2 Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của các chủ
thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân 59
3.2.3 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên
địa bàn thành phố Hà Nội 62
3.2.4 Tăng cường sự lãnh đạo, kiểm tra, giám sát của lãnh đạo, của cơ quan cấp
trên, sự giám sát của cơ quan, tổ chức và Nhân dân 63
3.2.5 Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng của Thành phố Hà Nội 64
KẾT LUẬN 67 DANHMỤCTÀILIỆUTHAMKHẢO
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Qua 35 năm đổi mới, dưới sự dẫn dắt, lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang ngày càng đẩy mạnh hơn nữa cuộc cách mạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là việc hội nhập quốc tế Công tác xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh, xây dựng và tập trung các nguồn lực để ngày càng hoàn thiện thể chế quốc gia, phát triển hơn nữa về mọi lĩnh vực chính trị, văn hóa,
xã hội, an ninh - quốc phòng, đòng thời tiếp tục nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế
Trong bối cảnh diễn ra nền kinh tế mở hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển cùng với thời đại công nghệ 4.0, cơ chế kinh tế mở không những tạo ra những điều kiện thuận lợi cho những tỉnh biên giới trên toàn quốc nói chung mà còn các tỉnh, thành phố khác như Hà Nội có cơ hội để đẩy nhanh các hoạt động thương mại, góp thúc đẩy nền kinh tế phát triển không ngừng, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được,
sự đẩy nhanh hội nhập, hợp tác quốc tế và nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, xuất phát từ chính sự sơ hở, thiếu sót của Nhà nước ta trong hoạt động quản lý kinh tế cũng như cơ chế kinh tế mở đã tạo điều kiện cho nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm có môi trường để nảy sinh, phát triển, đặc biệt là tội phạm buôn lậu Điều này phần nào xuất phát từ chính sách thuế của nước ta, trong
đó, ngoài thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Nhà nước ta đề ra nhiều loại thuế khác nhau được áp đặt với nhiều loại mặt hàng, đặc biệt với những mặt hàng không khuyến khích sử dụng như ô tô, thuốc lá, đánh thuế trực tiếp vào chính nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng Chính những loại thuế này khiến các mặt hàng buôn lậu sẽ mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ, thu hút, thúc đẩy thực hiện việc buôn lậu
Nạn buôn lậu và gian lận thương mại đã và đang là một trong những vấn đề hết sức nhức nhối của Nhà nước ta Buôn lậu xác định là một trong những tội phạm nguy
Trang 10hiểm và được thực hiện với tần suất lớn, gây thiệt hại trực tiếp đến nền kinh tế đất nước
và gián tiếp đe dọa phá vỡ chính sách phát triển kinh tế của đất nước, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân Việc hoành hành của tội phạm buôn lậu nếu không có biện pháp ngăn ngừa, xử lý sẽ tác động tiêu cực đến các mối quan hệ đối ngoại của Nhà nước, đặc biệt với các quốc gia có chung đường biên giới, ảnh hưởng đến hình ảnh, vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Ở nước ta, trong nhiều năm gần đây, diễn biến, tình hình buôn lậu và gian lận thương mại đang diễn ra hết sức phức tạp trở lại trên tất cả các tuyến, lĩnh vực, địa bàn Sự đa dạng về mặt hàng, hình thức, phương thức, phương tiện, thủ đoạn thực hiện, đặc biệt trong thời đại 4.0 với việc áp dụng công nghệ tiên tiến để thực hiện tội phạm Trong gần ba năm qua, mặc dù dưới sự ảnh hưởng của chủng vi rút SARS-CoV-2 trên toàn thế giới nói chung và cả Việt Nam nói riêng nhưng tình hình buôn lậu không hề suy giảm mà còn đặc biệt ngày càng phức tạp khi các quốc gia áp dụng việc "bình thường mới" trong ứng phó với đại dịch Do đó, để tăng cường việc phòng ngừa và xử lý vấn nạn này, Trưởng Ban Chỉ đạo 389 Bộ Tài chính, Thứ trưởng Vũ Thị Mai vừa ký ban hành Kế hoạch số 60/KH-BCĐ389 về đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022.[4]
Ở Việt Nam, mặc dù không phải là thành phố có đường biên giới chung với các quốc gia khác như Điện Biên, Lào Cai, Lạng Sơn, nhưng vấn đề hàng hóa buôn lậu tại Hà Nội lại hết sức phức tạp Với vai trò là thủ đô, là trung tâm chính trị của cả nước, dân cư đông đúc cùng nhu cầu tiêu thụ các loại hàng hóa cao; bên cạnh
đó thành phố Hà Nội có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không thuận lợi để kết nối, giao thương với các địa phương trong nước và quốc tế Những thuận lợi này cũng đồng thời là cơ sở, điều kiện cho tội phạm phát triển, đặc biệt là tội phạm buôn lậu và những hành vi gian lận thương mại Tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đối tượng luôn thay đổi phương thức, thủ đoạn vận chuyển, cất giấu, đặc biệt là lợi dụng công nghệ, kỹ thuật để liên lạc, trao đổi thông tin, nhằm tránh sự phát hiện và xử lý của
Trang 11lực lượng chức năng Tội phạm buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội vừa thực hiện nhỏ lẻ, vừa hoạt động theo tổ chức, đường dây, liên tỉnh, xuyên quốc gia, có sự liên kết chặt chẽ
BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có nhiều quy định mới sửa đổi và bổ sung đầy đủ hơn bên cạnh việc kế thừa những yếu tố cốt lõi của Bộ luật
cũ về "Tội buôn lậu" Theo đó, những yếu tố mới như bổ sung quy định về mặt khách quan “việc mua bán từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại”; bổ sung pháp nhân thương mại được quy định là chủ thể của tội phạm; hàng cấm không còn được liệt kê là đối tượng tác động của tội buôn lậu; Mặc dù vậy, những quy định hiện hành vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật hình sự, vẫn còn đó những khó khăn, bất cập Nhiều điều khoản liên về tội buôn lậu còn nhiều quan điểm khác nhau, nên việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự còn chưa thật sự hiệu quả; vẫn còn tình trạng định tội danh chưa chính xác và quyết định hình phạt chưa phù hợp, những yếu kém xuất phát từ chính những chủ thể có thẩm quyền trong thực hiện các hoạt động phòng chống buôn lậu đã làm giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này
Trong thời gian tới, việc các quốc gia trên toàn thế giới đã bắt đầu thích nghi việc đối phó với vi rút SARS-CoV-2, hoạt động quốc tế sẽ dần dần phục hồi trở lại, việc hội nhập, hợp tác quốc tế, khu vực và kết nối giữa các địa phương với nhau ngày càng được mở rộng, tội phạm buôn lậu cũng sẽ có điều kiện để gia tăng hoạt động Điều này đòi hỏi các nhà làm luật và các lực lượng chức năng phải kịp thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, đảm bảo hiệu quả công tác phòng, chống loại tội phạm này Xuất phát từ thực tế và
từ những yêu cầu nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: "Tội buôn lậu từ thực tiễn địa
bàn thành phố Hà Nội” làm Luận văn thạc sỹ Luật học Đề tài sẽ góp phần đưa ra
cái nhìn tổng quát đối với pháp luật hình sự về tội buôn lậu, đánh giá những khó khăn, vướng mắc và định hướng khắc phục những vấn đề này trong quy định của pháp luật hình sự; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội buôn lậu Góp phần nâng cao hiệu quả trong
Trang 12áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu, nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng chống tội buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội và cả nước nói chung
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội buôn lậu nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học pháp lý hình sự và cán bộ làm công tác thực tiễn Đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về tội buôn lậu dưới góc độ lý luận và thực tiễn Điển hình là một số công trình:
- Nguyễn Đức Bình, (2000), luận án tiến sĩ “Đấu tranh phòng chống tội
buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”, Trường Đại
học Luật Hà Nội
- Nguyễn Thị Long Bình, (2019), luận văn thạc sĩ “Định tội danh tội buôn
lậu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”, Học
viện Khoa học xã hội
- Phạm Văn Hoan (2019), luận văn thạc sĩ “Tội buôn lậu theo pháp luật hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”, Học viện Khoa học xã hội
- Nguyễn Đăng Phú, (2021), luận án tiến sĩ “Tội buôn lậu trên địa bàn miền
Đông Nam Bộ Việt Nam hiện nay: tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa”, Học
viện Khoa học xã hội
- Dương Xuân Sinh, (2016), luận văn thạc sĩ “Điều tra các vụ án buôn lậu
của cơ quan Hải quan”,Học viện Khoa học xã hội
- Ngô Thị Thùy Trang, (2019), luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng chống tội
phạm buôn lậu trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh”, Trường Đại học Cảnh sát TP.Hồ Chí
Minh;
- Trần Trung, (2019), luận văn thạc sĩ “Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An
Giang: tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa”, Học viện Khoa học xã hội
Trang 13- Lê Nguyên Trường, (2018), "Một số điểm mới của tội buôn lậu trong Bộ
luật hình sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra khi triển khai thực hiện ở thành phố Hải Phòng",Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nguyễn Thị Vui, (2014), luận văn thạc sĩ “Tội buôn lậu trong luật hình sự
Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Giang)”, Đại học Quốc
gia Hà Nội
Ngoài ra, về sách, giáo trình còn có: Nguyễn Đức Mai (2014)“Tìm hiểu các
tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi trường” NXB Chính
trị quốc gia; Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội Giáo trình luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm NXB Đại học Quốc gia Hà Nội'; Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm NXB Công an nhân dân; Và nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của các tác giả, các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên các tạp chí Kiểm sát, Công an nhân dân,
Và một số bài báo khoa học như:
- ThS Trần Văn Hùng (2021), “Tội buôn lậu và tội sản xuất, buôn bán hàng
giả theo quy định của BLHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân
- NCS Phạm Tài Tuệ, (2021), “Những điểm mới trong quy định về tội buôn
lậu của BLHS năm 2015 so sánh với BLHS năm 1999”,Tạp chí Tòa án nhân dân
Các công trình nghiên cứu trên trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu, công tác đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu cũng như những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động này trong phạm vi cả nước hoặc một địa bàn cụ thể Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về tội buôn lậu trên địa bàn Hà Nội thời gian gần đây, đặc biệt là từ sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực Do vậy, đề tài này được thực hiện trên tinh thần có sự tiếp thu, kế thừa những điểm thích hợp của các công trình đã được nghiên cứu trước đó, đồng thời đánh giá những điểm mới và quan điểm của tác giả trong tình hình kinh tế - xã hội hiện tại
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài này nhằm xem xét, đánh giá, phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về tội buôn lậu, đồng thời đánh giá thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó đánh giá, xác định những tồn tại, bất cập trong quy định của BLHS, đưa ra những đề xuất, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật với tội buôn lậu; góp phần nâng cao hiệu quả công cuộc phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và trên toàn quốc
Để đạt được mục đích trên, cần đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Yêu cầu làm rõ những vấn đề lý luận, quy định pháp luật về tội buôn lậu theo quy định pháp luật Hình sự Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 – 2021
- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam
về tội buôn lậu, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật của các cơ quan hữu quan đối với loại tội phạm này
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn này tập trung nghiên cứu:
- Khái niệm, quy định và các yếu tố cấu thành tội phạm của tội buôn lậu trong Bộ luật Hình sự Việt Nam;
- Tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội buôn lậu trên địa bàn thành phố
Hà Nội
- Kiến nghị, đề xuất một số biện pháp hoàn thiện quy định pháp luật và tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm buôn lậu
Về phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: đề tài được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật hình
sự và Tố tụng hình sự, nghiên cứu các quy định pháp luật và việc áp dụng pháp luật trong định tội danh và xét xử tội phạm buôn lậu
Trang 15- Về địa bàn nghiên cứu: trong phạm vi địa bàn thành phố Hà Nội
- Về thời gian: khảo sát số liệu thực tế giai đoạn từ năm 2017 đến 2022; 5 Các phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng; quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm buôn lậu nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu về tội buôn lậu như: BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Giáo trình Luật hình sự phần các tội phạm; các Luận văn Thạc sĩ, Luận án tiến sĩ; bài viết trên Tạp chí các cơ quan chuyên ngành như Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Công an nhân dân, Từ đó làm
rõ nhận thức cơ bản về phòng chống tội phạm buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để đưa ra những điểm giống và khác nhau giữa tội buôn lậu với các tội phạm khác có liên quan, dễ nhầm lẫn Ngoài ra,
so sánh quy định pháp luật về tội buôn lậu ở nước ta so với quy định pháp luật tại một số quốc gia khác trên thế giới
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tiến hành nghiên cứu các báo cáo tổng kết công tác năm, số liệu thống kê của các cơ quan chức năng có nhiệm vụ phòng, chống tội phạm buôn lậu từ năm 2017 đến hết năm 2021 để xây dựng các biểu thống kê Từ
đó thể hiện, làm rõ tình hình áp dụng pháp luật hình sự, xử lý hình sự đối với tội buôn lậu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp được sử dụng nhằm phân tích, so sánh, đánh giá về thực trạng tình hình tội buôn lậu, làm rõ những vấn đề chung và những hạn chế, bất cập trong áp dụng pháp luật về tội buôn lậu, từ đó đề xuất các biện pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Trang 166 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học:
Nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về tội buôn lậu và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc định tội danh theo quy định của pháp luật Việt Nam Phân tích những khó khăn, bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam và trong áp dụng pháp luật trong công tác thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, từ đó rút ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tội phạm này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tội phạm buôn lậu, về việc định tội danh buôn lậu trong thực tiễn Đề tài có thể sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà làm luật, những người có nhiệm vụ, trách nhiệm thực hiện pháp luật trong thực tiễn, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng như CQĐT, VKS, ; góp phần vào hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng Ngoài ra, đây cũng có thể được xem là tài liệu tham khảo đối với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo của các giảng viên, sinh viên, học viên,
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có kết cấu chính gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2:Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu tại địa bàn Thành phố Hà Nội
Chương 3:Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội buôn lậu trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI
BUÔN LẬU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu
1.1.1 Khái niệm tội buôn lậu
Từ trước đến nay, tội phạm luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội, nói về tội phạm trước hết là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Hoạt động giao thương, trao đổi, buôn bán hàng hoá xuất hiện từ lâu đời, khởi sinh từ việc của cải của các hộ cá thể trong xã hội bắt đầu có sự dư thừa, từ đó nảy sinh nhu cầu trao đổi, mua bán các loại hàng hóa, nguyên liệu, khác nhau giữa các chủ thể Với sự phát triển ngày càng nhanh của nền nền kinh tế - xã hội, việc mua bán, trao đổi hàng hoá dần dần không còn chỉ giới hạn trong đơn vị lãnh thổ nhất định, mà dần được mở rộng, phát triển giữa các quốc gia, lãnh thổ khác nhau, trở thành tính chất toàn cầu, nảy sinh ra hoạt động thương mại quốc tế hay là hoạt động ngoại thương Do đó, việc mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đặt ra các quy định để ràng buộc, áp đặt các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa trong hoạt động ngoại thương là điều tất yếu, như các quy định về thuế, loại hàng hóa được phép xuất khẩu – nhậu khẩu,… Bên cạnh những đó, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có những đặc điểm, lợi thế về khoáng sản, nguyên vật liệu, thực phẩm,… khác nhau, nhu cầu
sử dụng mỗi loại hàng hóa khác nhau; do đó, chênh lệch về giá chính là điều mà các đối tượng nhắm tới để tìm kiếm lợi nhuận và buôn lậu sẽ là hoạt động hết sức hấp dẫn, mang lại những nguồn lợi to lớn
Từ những lý lẽ trên, có thể nói buôn lậu là một hiện tượng xã hội tiêu cực, vi phạm các quy định pháp luật Nhà nước và pháp luật quốc tế, xuất hiện cùng với sự
ra đời của Nhà nước và pháp luật liên quan
Hiện nay, tội buôn lậu được quy định rộng rãi trong pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới và đều có cách định nghĩa cụ thể Công ước Quốc tế Nairobi có quy
Trang 18định về khái niệm buôn lậu: "Buôn lậu là hành vi gian lận thương mại nhằm che
giấu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan bằng mọi thủ đoạn, phương tiện trong việc đưa hàng hoá lén lút qua biên giới”[38]
Tội buôn lậu trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới:
Tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 BLHS Liên bang Nga, theo đó, tội buôn lậu được hiểu là việc vận chuyển hàng hóa hoặc các vật phẩm khác trên quy
mô lớn qua biên giới hải quan của Liên bang Nga; đưa ra ngoài ngoài hoặc nhằm che giấu sự kiểm soát của hải quan; hoặc sử dụng gian lận các tài liệu, phương tiện
để lừa dối hải quan; không khai báo hoặc khai báo không chính xác quy định cụ thể
về các loại hàng hóa là đối tượng của tội buôn lậu Trong đó, các đối tượng của tội buôn lậu được thống kê ra các loại cụ thể
Tội buôn lậu được xác định thông qua Luật số 28008 – Luật tội phạm Hải quan của Tây Ban Nha Tại Điều 1 Luật tội phạm Hải quan quy định về tội buôn lậu:
“Bất cứ ai bỏ trốn, trốn tránh hoặc vượt qua sự kiểm soát của hải quan khi nhập hàng hóa từ nước ngoài, hoặc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ quốc gia; hoặc không xuất trình để xác minh hoặc nhận diện tại cơ quan của Cơ quan quản lý hải quan hoặc ở những nơi được ủy quyền cho mục đích này, có giá trị lớn hơn bốn đơn
vị thuế, sẽ bị phạt với mức án giam giữ từ năm đến tám năm, và ba trăm sáu mươi lăm đến bảy trăm ba mươi ngày phạt Việc che giấu hoặc đánh cắp hàng hóa từ các hoạt động xác minh hoặc ghi nhận thực tế của hải quan, trong các khu vực hoặc địa điểm được phép, tương đương với việc không xuất trình.”[14]
Ở Việt Nam, thuật ngữ buôn lậu được hình thành từ rất lâu và dần dần có sự hoàn thiện theo quá trình thay đổi và hoàn thiện của pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự Ban đầu, buôn lậu được cho rằng là các hành vi buôn bán hàng cấm hoặc
hàng trốn thuế Có thời điểm, “buôn lậu” lại được hiểu là việc "Mua bán lén lút, trái
phép những hàng hoá thuộc diện Nhà nước cấm hoặc Nhà nước thống nhất quản lý"[3] Đây là những sự nhận định đơn giản ban đầu mang tính chung nhất, chưa cụ
thể, nhằm định hình cơ bản về hành vi này
Trang 19Tội buôn lậu được quy định Điều 188 BLHS: “Tội buôn lậu là hành vi buôn
bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên; hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng vật phạm pháp là di vật, cổ vật, hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án chưa được xóa án tích về một số tội theo quy định pháp luật”[28]
Xuất phát từ những nội dung phân tích trên và quy định pháp luật hình sự về
“Tội buôn lậu”, có thể đưa ra khái niệm về tội buôn lậu như sau: Tội buôn lậu là tội
phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý bằng cáchbuôn bán trái pháp luật hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa Việt Nam hoặc ngược lại
1.1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu
Từ trước đến nay, buôn lậu luôn được xác định là một trong những hành vi cần phải được tích cực phát hiện, kiểm soát và xử lý chặt chẽ do sự ảnh hưởng nghiêm trọng của hành vi này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đối với quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các doanh nhân thực hiện hoạt động kinh doanh hợp pháp và cả người tiêu dùng Từ rất sớm trong lịch sử nước ta đã xác định buôn lậu là hành vi nguy hiểm cần ngăn chặn và đưa ra nhiều biện pháp để phòng chống vấn nạn này
Thời kỳ sau cách mạng Tháng tám 1945, trong tình trạng đất nước ta đang rơi vào nạn đói năm 1945, thực phẩm cung ứng chưa đủ nhưng tồn tại nhiều thương gia xuất khẩu lương thực ra các nước lân cận khiến cho giá cả ngày càng tăng cao Vào ngày 9/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 45 SL-CP quy định
về việc cấm xuất cảnh kho thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc
để ngăn chặn tình trạng thiếu lương thực, cải thiện tình hình lương thực trong nước
Đến ngày 30/6/1982, Hội đồng nhà nước ban hành “Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép”, quy định rõ ràng về tội buôn lậu và các hành vi được xác định là buôn lậu Theo đó, Điều 3 của Pháp lệnh
Trang 20quy định vềTội buôn lậu, tàng trữ hàng cấm, Điều 4 quy định về Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới Theo pháp lệnh này, tội buôn lậu được gắn ghép cùng với tàng trữ hàng cấm (Điều 3) và đứng riêng với vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 4) Buôn lậu được hiểu là buôn bán trái phép hàng hoá qua biên giới, trong đó vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ, vật tư kỹ thuật hoặc các loại hàng khác mà Nhà nước cấm buôn bán.[50]
Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định cụ thể về tội buôn lậu, đánh dấu bước phát triển mới của ngành lập pháp hình sự nước ta BLHS năm 1985 sau khi được ban hành đã trải qua bốn lần sửa đổi bổ sung gồm năm 1989, 1991, 1992 và 1997, trong đó tội buôn lậu được quy định tại Điều 97 cùng với tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới.[19]
BLHS 1999 được thông qua tại kỳ họp lần thứ VI – Quốc hội khóa X ngày 21/12/1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, có sự quy định cụ thể về đối tượng của tội buôn lậu, bao gồm: hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa và hàng cấm có số lượng lớn Mặc dù BLHS 1999 có một lần sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng tội buôn lậu vẫn được giữ nguyên
Với việc BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nhiều tội phạm đã không còn tồn tại cũng như nhiều tội phạm có
sự thay đổi, biến đổi lớn dẫn đến cần có sự cập nhật, hoàn thiện mới BLHS Do đó, ngày 27 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 – sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015), trong đó tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 và có sự chỉnh sửa so với Bộ luật hình sự năm 1999 Đánh giá về tội buôn lậu, BLHS này có sự thay đổi lớn so với BLHS cũ khi đối tượng tác động trước đây của tội buôn lậu là hàng cấm đã không còn được xác định mà việc buôn bán mặt hàng trên sẽ cấu thành tội buôn bán hàng cấm riêng biệt; việc buôn bán hàng cấm qua biên giới (trừ việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu) sẽ thuộc vào trường hợp cấu thành tăng nặng tội buôn bán hàng cấm
Trang 21tại điểm k Khoản 2 Điều 190 về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Quy định về “vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa” đã được thay thế bằng “Vật phạm pháp là di vật, cổ vật”, điều này nhằm xác định rõ ràng hơn về nội hàm vật buôn lậu, di vật, cổ vật được quy định trong Luật di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2009 Bên cạnh đó, về phạm vi không gian, việc buôn lậu không chỉ còn xác định là hành vi mua bán qua biên giới mà được mở rộng ra bao gồm cả việc mua bán từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại Ngoài ra, có thể nhận thấy rõ ràng một sự bổ sung mới về chủ thể của tội phạm tại BLHS năm 2015 đó là việc pháp nhân thương mại được xem là chủ thể của tội buôn lậu theo quy định tại Khoản 6 Điều 188, điều này là hệ quả tất yếu khi BLHS năm 2015 đã xác định thêm pháp nhân thương mại
là chủ thể của tội phạm
Có thể thấy buôn lậu là hành vi luôn tồn tại và thay đổi cùng với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và xã hội, là hành vi nguy hại được xác định từ rất sớm và luôn được đặt vào vị trí cần phải phòng chống hàng đầu trước sự đe dọa gây thiệt hại tới nền kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 Phân biệt tội buôn lậu với một số tội phạm khác có liên quan
1.2.1 Phân biệt tội buôn lậu với tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189 BLHS)
Đây là hai tội phạm có nhiều sự tương đồng trong cấu thành tội phạm như chủ thể, khách thể, đối tượng tác động của tội phạm, lỗi, thủ đoạn phạm tội Trong mặt khách quan của hai loại tội phạm này đều có yếu tố đưa hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa hoặc hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật
Để phân biệt giữa hai loại tội phạm này cần xác định trên cơ sở phân tích hành vi khách quan Đối với tội buôn lậu, hành vi khách quan của tội phạm được xác định là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật; trong khi hành vi khách quan của tội vận chuyển trái
Trang 22phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới là việc vận chuyển trái phép qua biên giới hoặc
từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật Còn tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giớithì hành vi khách quan là “vận chuyển” Sự khác biệt
cơ bản ở đây chính là việc “buôn bán trái phép” và “vận chuyển trái phép”
Cũng từ chính sự khác nhau về tính chất của hành vi “buôn bán” và “vận chuyển”, mục đích của việc thực hiện tội phạm cũng là căn cứ phân biệt hai tội phạm này Mục đích của tội buôn lậu là nhằm buôn bán tìm kiếm lợi nhuận, còn đối với tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới, mục đích phạm tội không nhằm buôn bán thu lợi bất chính mà mục đích rất đa dạng, có thể nhằm mục đích để sử dụng, vận chuyển lấy thù lao (trừ trường hợp vận chuyển thuê lấy thù lao, tiền công nhưng biết rõ việc vận chuyển để người khác thực hiện hành vi buôn lậu thì vẫn phạm tội buôn lậu với vai trò đồng phạm),…
1.2.2 Phân biệt tội buôn lậu với tội buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)
Ở các BLHS trước khi BLHS năm 2015 được ban hành, việc buôn bán hàng cấm được xem là một trong những hành vi khách quan để xác định tội buôn lậu, tuy nhiên BLHS năm 2015 ra đời đã loại bỏ hàng cấm ra khỏi đối tượng tác động của tội buôn lậu và việc buôn bán hàng cấm được xây dựng riêng thành một tội phạm độc lập
Căn cứ phân biệt giữa hai loại tội phạm trên:
- Về khách thể của tội phạm: Ở tội buôn lậu, khách thể bị xâm hại là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật Trong khi khách thể bị xâm hại của tội buôn bán hàng cấm là trật tự quản lý nhà nước đối với hàng cấm mà Nhà nước quy định
- Về đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng tác động của mỗi loại tội phạm đều khác nhau: Đối tượng của tội buôn lậu là các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật Trong khi đối tượng của tội buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, pháo nổ, những hàng hóa khác mà Nhà
Trang 23nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam
- Về hành vi khách quan của tội phạm: Ở tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật; còn hành vi khách quan của tội buôn bán hàng cấm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu trữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa thuốc lá điếu nhập lậu, pháo nổ, các loại hàng hóa bị cấm kinh doanh, hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng, hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam vào lưu thông
- Về địa điểm thực hiện tội phạm: Định tội buôn lậu bắt buộc phải có yếu tố địa điểm trong hành vi khách quan, là việc buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại; trong khi tội buôn bán hàng cấm yếu tố địa điểm không là yếu tố mang tính bắt buộc trong cấu thành tội phạm, hành vi phạm tội buôn bán hàng cấm có thể được thực hiện trong nội địa hoặc qua biên giới đều cầu thành tội phạm này
1.3 Dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu
1.3.1 Quy định về tội buôn lậu
1.3.1.1.Khách thể của tội buôn lậu
Tội buôn lậu xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là trật tự quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ, kim khí đá quý, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Đối tượng tác động của tội buôn lậu bao gồm: hàng hoá; tiền Việt Nam; ngoại tệ; kim khí quý; đá quý, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Với việc đối tượng tác động đa dạng về chủng loại, đặc biệt là những đồ vật mang tính lịch sử như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, hay loại hàng hóa khó xác định như Ruby, saphia,… vai trò của các cơ quan chuyên môn trong giám định hết sức quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội và định tội danh
Hàng hóa: hàng hóa là một khái niệm mang tính rộng lớn, là sản phẩm được làm ra trong quá trình sản xuất, trồng trọt, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người
Trang 24và được dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường Hàng hóa rất đa dạng, có thể là thực phẩm như: rau củ, cá, thịt,…, hàng gia dụng như: nồi, bếp, ti vi,… hay các nguyên vật liệu sản xuất ,… Như vậy, có thể nhận thấy rằng hàng hóa với tư cách
là đối tượng của tội buôn lậu có phạm vi đối tượng đa dạng, loại trừ một số loại sản phẩm, đồ vật mang tính chất đặc biệt đã được quy định là đối tượng của các loại tội phạm khác như: vũ khí quân dụng, hàng giả, các chất ma túy,…
Ngoại tệ: Ngoại tệ là đồng tiền của quốc gia, vùng lãnh thổ khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế
và khu vực.[34] Ngoại tệ có thể bao gồm tiền giấy hoặc tiền bằng kim loại đang có hiệu lực lưu hành Một số đồng ngoại tệ phổ biến như: USD, Rúp, Euro,…
Kim khí quý: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 17 năm 2014 của Ngân hàng nhà nước “Quy định về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý”, xác định:Kim khí quý bao gồm vàng, bạc, bạch kim và các loại kim loại quý khác
Đá quý: Đá quý bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồng ngọc), emorot (lục bảo ngọc), saphia (bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đá quý khác [36]
Di vật là vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Cổ vật
là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa, khoa học, có
từ một trăm năm tuổi trở lên.[23]
Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học.[23]
1.3.1.2 Mặt khách quan của tội buôn lậu
Mặt khách quan của tội phạm là tập hợp tất cả những biểu hiện bên ngoài của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được Mặt khách quan là cơ sở quan trọng để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Mặt khách quan của tội buôn lậu bao gồm:
a, Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội buôn lậu là hành vi buôn bán hành hóa qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định pháp luật
Trang 25Việc buôn bán trái quy định pháp luật được thể hiện ở chỗ mua hoặc bán không có giấy phép hay giấy phép không hợp lệ; hoặc hàng hóa, vật phẩm mua bán không đúng với nội dung giấy phép xuất khẩu - nhập khẩu, không đáp ứng điều kiện xuất khẩu – nhập khẩu hàng hóa, hoặc hàng hóa xuất khẩu -nhập khẩu kê khai không đúng tại tờ khai hải quan nhằm được miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế trái quy định pháp luật; không thông báo khi xuất khẩu – nhập khẩu hàng hóa, sản phẩm;…
Thủ đoạn trong thực hiện hành vi lậu rất đa dạng, tinh vi, có thể được thể hiện ở việc: Vận chuyển hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, di vật, cổ vật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại để buôn bán mà không khai báo hoặc khai báo gian dối; giấu giếm hàng hóa, tiền tệ, vật phẩm…xuất khẩu – nhập khẩu để buôn bán; hàng hóa được vận chuyển qua biên giới để buôn bán không có giấy tờ hợp lệ hay giả mạo giấy tờ để thực hiện việc thông quan, giải phóng hàng hóa; Lợi dụng các quy định ưu đãi xuất khẩu – nhập khẩu, quy định tạo điều kiện xuất nhập khẩu, ….của Nhà nước đối với các hàng hóa tại Khu chế xuất, Kho ngoại quan, Kho bảo thuế, Khu kinh tế cửa khẩu,… hay các hình thức tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập; chế độ Doanh nghiệp ưu tiên,… để thực hiện hành vi buôn lậu
Hành vi khách quan của tội buôn lậu có thể được thực hiện qua đường không, đường bộ, đường thủy, đường sắt, hoặc thông qua việc chuyển phát nhanh quốc tế, dịch vụ bưu chính quốc tế
Tội buôn lậu là tội phạm có cấu thành hình thức, do đó hậu quả không phải
là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm Tuy nhiên, điều này không
có nghĩa là không có hậu quả xảy ra trên thực tế Nạn buôn lậu gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động sản xuất – kinh doanh nội địa, gây thất thu thuế của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của các thương nhân, người dân; làm giảm uy tín, vị thế của Việt Nam đối với các quốc gia khác hay trong các tổ chức quốc tế,…
b, Địa điểm phạm tội
Trang 26Đây là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc xác định dấu hiệu tội phạm
và là căn cứ đầu tiên để xác định có phải là hành vi buôn lậu hay không BLHS năm 2015 bổ sung thêm buôn bán từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại bên cạnh việc buôn bán qua biên giới đã hoàn thiện hơn quy định pháp luật hình sự, góp phần ngăn chặn tình trạng lợi dụng kẽ hở giữa quy định về pháp luật hình sự với quy định của pháp luật về Hải quan, quản lý ngoại thương và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữa khu phi thuế quan với khu vực bên ngoài Khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng hàng rào cứng, bảo đảm điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu Khu phi thuế quan có thể là: kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp, Các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu
phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Khu phi thuế quan thuộc
khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu.Việc xác định tội phạm hoàn hành của tội buôn lậu với hành vi việc buôn bán từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định pháp luật phụ thuộc vào quy định pháp luật về Luật Hải quan năm 2014, Luật quản lý ngoại thương
c, Giá trị hàng hóa, vật phẩm phạm pháp
Đối với hàng hoá, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý phải có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên thì mới cấu thành tội phạm hình sự Trường hợp có giá trị dưới một trăm triệu đồng thì phải thuộc các trường hợp: đã bị xử phạt
vi phạm hành chính về hành vi buôn lậu hoặc tại một trong các Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm) , 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm), 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả) , 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực
Trang 27phẩm), 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi) , 196 (Tội đầu cơ) và 200 (Tội trốn thuế) của BLHS năm 2015; hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Xác định giá trị hàng hoá, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý phạm pháp không chỉ là căn cứ để định tội mà còn có ý nghĩa trong việc định khung
1.3.1.3 Chủ thể của tội buôn lậu
Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc bất kỳ pháp nhân thương mại nào đều có thể là chủ thể của tội phạm buôn lậu khi thực hiện hành vi buôn lậu theo quy định của BLHS Không bắt buộc chủ thể của loại tội này phải là chủ thể đặc biệt Năng lực trách nhiệm hình
sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để tiến hành xác định yếu tố về lỗi khi chủ thế đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc pháp nhân thương mại có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới có thể là chủ thể của tội phạm
Thứ nhất, đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân thì cần đáp ứng hai điều kiện là độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự Về độ tuổi, chỉ cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên (căn cứ theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015) Về năng lực trách nhiệm hình sự:Pháp luật hình sự Việt Nam không quy định thế nào là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự Điều 21 BLHS năm 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách
Trang 28nhiệm hìnhsự: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc
bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy, người không thuộc trường hợp theo Điều 21 BLHS năm 2015 thì đương nhiên là người có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức và có khả năng điều khiển hành vi của mình
Thứ hai, đối với chủ thể của tội phạm là pháp nhân, chỉ pháp nhân thương mại mà hành vi phạm tội thực hiện đáp ứng được đầy đủ các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo quy định tại điều 75 BLHS bao
gồm:Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;Hành vi
phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 27 của Bộ luật này”.[28]
1.3.1.4 Mặt chủ quan của tội buôn lậu
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm Đó là những biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội, bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội
Lỗi là biểu hiện về trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
Đánh giá cấu trúc tâm lý của người phạm tội đối với tội buôn lậu: về mặt lý trí, người thực hiện hành vi buôn lậu nhận thức rõ được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và cũng thấy trước được hậu quả thiệt hại cho
xã hội do hành vi phạm tội đó gây ra, nhưng vẫn cố ý thực hiện và mong muốn hậu quả thiệt hại đó xảy ra Do vậy, tội buôn lậu được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp
Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này Mục đích của hành vi buôn bán trái phép qua biên giới là thu lời bất chính Biểu hiện của mục đích thu lời bất chính là việc trốn thuế nhập khẩu, xuất khẩu
Trang 29Trong quá trình định tội danh đối với tội buôn lậu, cần phải xác định mục đích của đối tượng để phân biệt với loại tội phạm khác Nếu trong trường hợp vận chuyển hàng vi phạm với mục đích buôn bán kiếm lời thì truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội buôn lậu; nhưng trong trường hợp việc vận chuyển không nhằm mục đích buôn bán kiếm lời thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới
Qua việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm của tội buôn lậu, có thể thấy rằng các yếu tố trên tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, từ đó là căn cứ xác định về tội buôn lậu và trong việc phân biệt đối với các loại tội phạm khác
1.3.2 Quy định về hình phạt
1.3.2.1 Hình phạt đối với người phạm tội
Hình phạt chính và khung hình phạt đối được quy định từ khoản 1 đến khoản
4 Điều 188 BLHS, Khoản 5 Điều 188 BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội khi thực hiện hành vi buôn lậu Theo đó:
a, Khung hình phạt cơ bản đối với người phạm tội buôn lậu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 188 BLHS: phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, trong trường hợp người đó
có hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật các mặt hàng:
+ Hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng
+ Hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189,
190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Đây là trường hợp người phạm tội trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi: buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; sản xuất, buôn bán hàng
Trang 30cấm; tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; sản xuất, buôn bán hàng giả; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi; đầu cơ; trốn thuế, hoặc bị kết án về một trong các tội trên, chưa được xóa án tích theo quy định pháp luật mà còn thực hiện hành vi buôn lậu
+ Vật phạm pháp là di vật, cổ vật:Di vật là vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu
về lịch sử văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
b, Người phạm tội buôn lậu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 188 BLHS năm 2015: phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng, hoặc phạt
tù từ 03 năm đến 07 năm áp dụng khi phạm tội có một trong các tình tiết định khung tăng nặng:
+ Phạm tội có tổ chức: Là trường hợp đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm
+ Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Theo quy định tại khoản 5.1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS, người phạm tội được coi là có tính chất chuyên nghiệp khi thỏa mãn hai điều kiện :
Thứ nhất, cố ý phạm tội buôn lậu từ năm lần trở lên, không phân biệt đã bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích
Thứ hai, người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy
kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính
+ Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng + Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng
+ Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia:
Theo quy định tại Điều 41a Luật di sản văn hóa (sửa đổi bổ sung năm 2009): Bảo vật quốc gia phải đảm bảo các tiêu chí: Là hiện vật gốc độc bản; Là hiện vật có
Trang 31hình thức độc đáo; Là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên
Bảo vật quốc gia phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch; Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận bảo vật quốc gia sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Là trường hợp người phạm tội đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như là phương tiện để thực hiện tội phạm
+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Là trường hợp người phạm tội thông qua cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để thực hiện hành vi phạm tội
+ Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp phạm tội buôn lậu từ 02 lần trở lên, mỗi lần đều thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm và những lần trước đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm thuộc một trong các trường hợp:Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;Hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý
c, Người phạm tội buôn lậu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 188 BLHS năm 2015: Người phạm tội sẽ phải chịu hình phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, khi có một trong các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:
+ Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng + Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng
Trang 32d, Người phạm tội buôn lậu thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 188 BLHS năm 2015: Người phạm tội sẽ phải chịu hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm khi phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:
+ Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên
+ Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên
+ Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác: Là trường hợp người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh có chiến tranh, tai họa
từ thiên nhiên, tình trạng bệnh dịch hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác như khó khăn, hạn chế về tiếp cận thông tin, pháp luật, các cơ quan chức năng, để thực hiện hành vi phạm tội
e, Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội:
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
1.3.2.2 Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại khoản 6 Điều 188 BLHS,theo đó, tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm, gồm các mức phạt như sau:
- Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
- Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng ;
- Phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;
- Phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
- Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn một, một số hoặc toàn bộ hoạt động (lĩnh vực);
Ngoài ra, pháp nhân thương mại còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung:Bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.[28]
Trang 34Tiểu kết chương 1
Từ lâu nay, buôn lậu luôn được xác định là một trong những tệ nạn diễn ra hết sức phức tạp ở hầu hết các địa phương và các tuyến lưu chuyển hàng hóa Tội phạm buôn lậu gây ra những hậu quả, tác hại to lớn, làm suy yếu các ngành công nghiệp, sản xuất; giảm nguồn thu ngân sách quốc gia, ảnh hưởng tới chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đời sống, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi công dân, doanh nghiệp Từ rất sớm trong lịch sử nước ta đã xác định hành
vi buôn lậu là hành vi nguy hiểm cần ngăn chặn, kiểm soát Để đưa ra cái nhìn tổng quát về buôn lậu và tội buôn lậu, trong phạm vi chương 1 của luận văn, tác giả đã đi đến phân tích một số vấn đề chung về tội buôn lậu như khái niệm, lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu; phân biệt tội lậu với một số tội phạm dễ nhầm lẫn khác như tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189 BLHS), Tội buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS); phân tích quy định pháp luật về tội buôn lậu như dấu hiệu pháp lý và quy định của BLHS về hình phạt đối với Tội phạm này
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI BUÔN LẬU TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Tình hình tội buôn lậu tại địa bàn thành phố Hà Nội
Hà Nội là Thủ đô của Việt Nam, là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, với đặc điểm kinh tế
- xã hội, vị trí, vai trò của mình, đây là hai thành phố duy nhất xếp vào đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt Tính đến nay, Hà Nội có 30 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã với 584 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 386
xã, 177 phường và 21 thị trấn Tính đến tháng 2 năm 2022, theo thống kê META tổng hợp được thì dân số Hà Nội đạt khoảng chừng hơn 8,5 triệu người Mật độ dân
số trung bình của Hà Nội là 2505 người/km², nơi có mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km².[1]
Với vị thế đặc biệt của mình, Thủ đô Hà Nội đóng vai trò là đầu mối sản xuất, kinh doanh, trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam, là đầu tàu kinh tế của khu vực phía Bắc, đồng thời cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấp quốc gia và các trường đại học lớn Địa bàn Hà Nội rộng với đa dạng các loại hình dẫn đến công tác quản lý khó khăn, phức tạp, hệ thống giao thông ở thành phố Hà Nội hiện nay đã và đang được nâng cấp đồng bộ nên tương đối thuận lợi Chính vì vậy Hà Nội là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để các đối tượng phạm tội dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội nói chung và tội buôn lậu nói riêng
Nhìn chung, tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn thành phố Hà Nội luôn diễn biến hết sức phức tạp trên tất cả các tuyến và địa bàn trọng điểm Phương thức, thủ đoạn phạm tội của các đối tượng được thay đổi ngày càng tinh vi, khó phát hiện, đáng chú ý đến việc một số đầu nậu cấu kết, móc nối với nước ngoài và trong nước
để nhập lậu số lượng lớn các mặt hàng có lợi nhuận cao như điện thoại di động, thiết bị điện tử, rượu ngoại, vải lụa,… gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước, gây lũng đoạn thị trường
Trang 362.1.1 Hàng hóa buôn lậu
Tại địa bàn thành phố Hà Nội mặt hàng buôn lậu được tập trung về hết sức
đa dạng, từ ngoại tệ, vàng, hàng hóa như thuốc lá, rượu mạnh, điện thoại di động, phụ kiện điện tử, thực phẩm (thịt, cá, rau củ,…) không rõ nguồn gốc, bánh kẹo, mứt, quần áo, ,… dược phẩm và đặc biệt là các sản phẩm có mục đích sử dụng liên quan đến việc phòng chống dịch bệnh Sars-CoV-2 như khẩu trang, kit test Covid-19,…
Trong thời gian qua ở địa bàn Thành phố Hà Nội đã xuất hiện rất nhiều vụ án buôn lậu với quy mô lớn, gây thất thu lớn về kinh tế đối với nhà nước Có thể đưa ra một số vụ án tiêu biểu:
Vụ án buôn lậu vàng lớn nhất Hà Nội ngày 25/8/2017 do 6 bị can Lê Thị Ngọc Mai, Chu Thành Long, Lê Trung Khánh, Nguyễn Anh Tuấn, Bùi Xuân Thanh
và Hoàng Văn Thắng (đều ở Hà Nội) thực hiện qua đường hàng không từ Thái Lan
về sân bay Nội Bài của Việt Nam, hàng hóa buôn lậu là tổng số vàng có trọng lượng
là 36,29kg, ước tính giá trị gần 25 tỷ đồng
Vụ án buôn lậu máy móc, thiết bị điện tử và chi tiết, linh kiện máy cơ khí ngày 04 tháng 6 năm 2017 tại phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội do bị cáo Phạm Văn H và các đồng phạm Lương Đức Th, Trần Mạnh D thực hiện bằng cách vận chuyển hàng lậu từ các tỉnh tiếp giáp vào Hà Nội bằng các Container chuyên chở
Không thể không kể đến một trong những vụ án nhận được nhiều sự quan tâm của người dân thời gian qua khi liên quan đến Nguyên chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung: Vụ án Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Nhật Cường (Công ty Nhật Cường) do Bùi Quang Huy làm Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật, trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của công ty Quá trình kinh doanh, để thực hiện hành vi buôn lậu điện thoại di động và các sản phẩm hàng hóa kháctừ nước ngoài về Việt Nam tiêu thụ, Bùi Quang Huy đã thành lập Công ty Nhật Cường Quảng Châu, đặt tại Quảng Châu, Trung Quốc và thuê Trần Tất Khoa làm Giám đốc để thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận hàng hóa từ Hồng
Trang 37Kông về Quảng Châu, Trung Quốc, sau đó đưa về Việt Nam không qua các thủ tục nhập khẩu hàng hóa, khai báo Hải quan Tổng giá trị hàng hóa buôn lậu hơn 2.900 tỉ đồng…
2.1.2 Thủ đoạn buôn lậu
Thứ nhất, lợi dụng những lỗ hổng trong các quy định pháp luật, chính sách,
cơ chế của Nhà nước ta về quản lý kinh tế, về quản lý hoạt động xuất khẩu - nhập khẩu Để có thể lợi dụng những thiếu sót này, thông thường, thủ đoạn được thực hiện bởi các doanh nghiệp, công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu – nhập khẩu hoặc có thể là trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, vật phẩm, hoặc cung ứng dịch vụ liên quan đến hoạt động này như đại lý làm thủ tục hải quan, Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính quốc tế, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, … hay người được chủ hàng hóa ủy quyền trong trường hợp hàng hóa là quà biếu, quà tặng của cá nhân… Các đối tượng này là những chủ thể có hiểu biết và nắm rõ các quy định của Nhà nước ta về các cơ chế, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu, cơ chế quản
lý kinh tế, từ đó tìm ra những cách thức luồn lách, tận dụng những kẽ hở trong quy định pháp luật, cơ chế, chính sách để buôn lậu và đối phó với lực lượng chức năng khi bị thanh tra, kiểm tra, điều tra
Phổ biến nhất là việc các đối tượng lợi dụng những kẽ hở trong quy định pháp luật về thủ tục hải quan để thực hiện hành vi, từ đó vận chuyển hàng hóa đến tập kết tại các kho tại Hà Nội để bán ra ngoài hoặc từ Hà Nội chuyển ra nước ngoài qua đường hàng không hay dịch vụ chuyển phát nhanh, bưu chính quốc tế
Thứ hai, gian dối trong việc khai hải quan, trong việc thực hiện các thủ tục
xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, gia công hàng hóa xuất khẩu, đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài,…
Bằng việc khai báo không đúng hàng hóa, chủng loại, số lượng, khối lượng,… và tận dụng các quy định về miễn kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, kiểm dịch động vật – thực vật,… để tránh việc nộp thuế đối với số lượng hàng hóa xuất – nhập khâu không khai báo nhằm đưa vào buôn bán thu lợi nhuận cao
Trang 38Thứ ba, chia tách nhỏ hàng hoá buôn lậu Trong những năm gần đây, với
việc các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra các phương tiện vận tải, các đối tượng đã hướng đến việc chia nhỏ, xé lẻ các lô hàng, vận chuyển cùng với những mặt hàng hợp pháp thành nhiều đợt để làm vỏ bọc bên ngoài, sau đó tập kết tại các kho bí mật tại Hà Nội Hàng lậu được vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện: ô tô,
xe máy, xe chở khách, xe bus, xe tải,… Để có thể qua mắt được lực lượng chức năng, nhưng phương tiện này được thay đổi thiết kế, gắn thêm các hầm, thùng chứa
ở sàn xe, vách xe để chứa đựng hàng lậu, gắn biển kiểm soát giả để thay đổi, trốn tránh khi bị truy đuổi,… Sau đó, hàng hóa được tập kết, chờ đợi thời cơ phân phối hàng sang các khu vực trong Thành phố
Thứ tư, lợi dụng chính sách, những sơ hở trong quản lý hóa đơn, chứng từ để
hợp thức hóa hàng lậu Một trong những thủ đoạn trước đây được các đối tượng sử dụng phổ biến là việc sử dụng hóa đơn xoay vòng Các đối tượng móc nối với doanh nghiệp để xuất, lập các hóa đơn, thực hiện kê khai nộp thuế cho một lô hàng, sau đó dùng toàn bộ hóa đơn chứng từ của lô hàng này để hợp thức hóa cho một số chuyến hàng tiếp theo và như vậy những chuyến hàng lậu cứ lần lượt qua mặt các
cơ quan chức năng mà không bị phát hiện Trên đường vận chuyển, bởi có sẵn hồ sơ mua hàng, các đối tượng dễ sử dụng lẫn hàng có hóa đơn, chứng từ với hàng không
có hóa lậu khác để đối phó các trường hợp kiểm tra của cơ quan chức năng
Thứ năm, thủ đoạn liên kết, móc nối, mua chuộc, lôi kéo người có thẩm
quyền trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hay trong hoạt động phòng chống tội phạm buôn lậu Để thuận lợi trong quá trình thực hiện tội phạm, các đối tượng lậu luôn tìm mọi cách để tiếp cận, dùng giá trị vật chất hoặc tinh thần như: tiền, vàng, đồng hồ sang, … hoặc tình cảm, những lời hứa hẹn thăng tiến để mua chuộc, hối lộ các cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan có thẩm quyền trong phòng chống buôn lậu như Hải quan, Công an, Quản lý thị trường,… Ngoài ra, còn nhiều thủ đoạn khác được đối tượng sử dụng như: thuê xe vận chuyển, thu mua các các phương tiện thanh lý của cơ quan Nhà nước nhưng không làm thủ tục chuyển đổi đăng ký, giữ nguyên biển số xe công vụ, sử dụng biển số giả nhằm tránh sự kiểm tra, kiểm soát của lực lượng chức năng; …
Trang 392.1.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội buôn lậu
Bảng 2.1 Bảng số liệu tăng giảm số vụ việc buôn lậu bị phát hiện và xử lý theo
Từ thống kê trên có thể thấy số lượng lớn vụ buôn lậu được phát hiện và xử
lý tại Thành phố Hà Nội hằng năm trong giai đoạn 2017 - 2021, trung bình 3.226 vụ buôn lậu bị xử lý mỗi năm – một số lượng lớn đáng kể cho thấy tình hình phức tạp của vấn nạn này trên địa bàn Thủ đô của nước ta Số lượng vụ buôn lậu được phát hiện và xử lý tăng nhẹ từ năm 2017 đến năm 2020, từ 3.241 vụ (tương ứng 100%) cho đến 3.326 vụ (tương ứng với 102,62%) và có sự giảm mạnh còn 2.986 vụ
Trang 40(tương ứng với 92,13% ) tại năm 2021 (so vơi mốc quy chiếu năm 2017) Đây là số lượng rất lớn, phần nào khẳng định được nguồn lợi nhuận khổng lồ thu được từ hàng hóa buôn lậu Tuy vậy, số liệu này phần nào vẫn chưa phản ánh hết được thực
tế tình hình buôn lậu trên địa bàn khi vẫn còn rất nhiều chủ kho, chủ các cửa hàng tạp hóa, cửa hàng quần áo,… có dấu hiệu vi phạm nhưng chưa bị kiểm tra, xử lý, các mặt hàng buôn lậu vẫn được bày bán đa dạng trên thị trường
Đối chiếu giữa số lượng vụ buôn lậu được phát hiện, xử lý và số lượng vụ
án buôn lậu được khởi tố mỗi năm cho thấy tỉ lệ khởi tố hết sức nhỏ, lần lượt là 0,12%, 0,09%, 0,15%, 0,21%, 0,1% cho 05 năm từ 2017 – 2021 với trung bình 4.4
vụ mỗi năm Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào số lượng các vụ án buôn lậu được khởi tố mỗi năm không thể đánh giá chính xác được về tình hình buôn lậu trên địa bàn Thành phố Hà Nội Thực tế, mặc dù số lượng vụ việc vi phạm lớn nhưng đa số đều thuộc trường hợp xử lý hành chính, chỉ một số lượng nhỏ được giải quyết theo pháp luật hình sự Điều này phù hợp với thực tiễn tình hình buôn lậu trên địa bàn khi các đối tượng thường có thủ đoạn chia, tách nhỏ hàng lậu dưới giá trị tối thiểu theo quy định BLHS ( 100 triệu đồng) nhằm hạn chế trách nhiệm mỗi cá nhân, hạn chế rủi ro
và tránh việc bị xử lý hình sự Bên cạnh đó, thực tế cho thấy các đối tượng buôn lậu nhỏ lẻ vẫn chiếm đa số, theo thống kê của Cục quản lý thị trường Thành phố Hà Nội, phần lớn các hành vi buôn lậu được phát hiện đều là những chủ kinh doanh tạp hóa, trang phục nhỏ lẻ ở các ki - ốt, kinh doanh online tại gia,… thậm chí nhiều trường hợp phát hiện cả kho hàng hóa nhập lậu nhưng giá trị thực tế rất nhỏ so với
số lượng phát hiện, đa số là thấp hơn mức trị giá tối thiểu và không đủ các yếu tố khác để cấu thành tội phạm, chỉ một số ít trường hợp buôn lậu với quy mô lớn đủ để khởi tố hình sự
Ngoài ra, tỉ lệ phần trăm số lượng vụ án buôn lậu được khởi tố nhỏ một phần bắt nguồn từ nguyên nhân không xác định được chủ hàng hóa, vật phẩm buôn lậu Thực tế, rất nhiều trường hợp hàng hóa, vật phẩm được container, xe chở hàng vận chuyển, tập kết về Hà Nội nhưng khi lực lượng chức năng phát hiện, xử lý thì không xác định được chủ lô hàng, không xác định được người vận chuyển; hoặc