1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si nguyen ngoc anh 20230331110434 e 2636

85 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Lạm Dụng Chức Vụ, Quyền Hạn Chiếm Đoạt Tài Sản Từ Thực Tiễn Cơ Quan Điều Tra Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
Tác giả Nguyễn Ngọc Anh
Người hướng dẫn TS. Trần Công Phàn
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 (15)
  • 1.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 (16)
  • 1.1.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 (17)
  • 1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (20)
  • 1.3. Một số vấn đề lý luận về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (24)
    • 1.3.1. Khái niệm, đặc điểm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (24)
    • 1.3.2. Ý nghĩa của việc quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (27)
    • 1.3.3. Phân biệt tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác (29)
  • 1.4. Quy định của pháp luật về thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (33)
    • 1.4.1. Thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (33)
    • 1.4.2. Thẩm quyền điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (37)
  • 2.1. Thực trạng định tội danh của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (41)
  • 2.3. Những kết quả đạt được trong công tác điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối (46)
  • 2.4. Những khó khăn, vướng mắc và hạn chế, tồn tại trong công tác điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (54)
  • 2.5. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong xác minh, điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (58)
  • CHƯƠNG 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRA TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO (15)
    • 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (64)
      • 3.1.1. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước (64)
      • 3.1.2. Bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự (65)
      • 3.1.3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân (66)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (68)
      • 3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật và tổ chức triển khai áp dụng thống nhất trong toàn Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (68)
      • 3.2.2. Các giải pháp khác nâng cao chất lượng điều tra các vụ án lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (71)

Nội dung

Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ban hành các văn bản pháp luật, đặc biệt là các quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Nhiều văn bản pháp luật hình sự đã được ban hành để xử lý các tội phạm chức vụ Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản lần đầu được ghi nhận tại Pháp lệnh số 150/LCT ngày 21/10/1970, với tên gọi “Tội lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân” Điều 8 của Pháp lệnh này quy định rõ về tội danh này.

Người lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của công dân sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm Nếu phạm tội trong các trường hợp như có tổ chức, sử dụng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại, mức phạt tù sẽ tăng lên.

Quy định mới ghi nhận hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là tội phạm, xâm phạm tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, Pháp lệnh không đưa ra định lượng cụ thể về giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mà chỉ quy định chung là gây hậu quả nghiêm trọng Điều này thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý các hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân.

Qua phân tích, có thể nhận thấy rằng pháp luật hình sự hiện tại chỉ quy định một cách chung chung về tội phạm chức vụ, chưa cụ thể hóa số tiền chiếm đoạt cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ Thời gian từ sau cách mạng tháng 8/1948 đến trước khi ban hành luật mới vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc định nghĩa và quy định rõ ràng về các tội danh này.

Bộ luật hình sự năm 1985 đã xác định hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản là một tội phạm, nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác phòng, chống tội phạm Điều này góp phần quan trọng vào việc duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, và đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức.

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật Hình sự năm 1985, ban hành ngày 27/6/1985, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam, là cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống tội phạm Bộ luật này đã trải qua 04 lần sửa đổi, bổ sung, với lần gần nhất vào ngày 10/5/1997 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 156, với mức phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm Sau khi Pháp lệnh chống tham nhũng ra đời, nội dung quy định về tội này đã được sửa đổi, với mức phạt tù từ một năm đến sáu năm cho các trường hợp vi phạm cụ thể, và có thể lên đến tử hình cho các tội phạm nghiêm trọng So với Điều 156 theo Luật sửa đổi bổ sung năm 1997, Bộ luật Hình sự năm 1985 chưa quy định cụ thể giá trị tài sản phạm tội và mức hình phạt cao nhất là 12 năm tù Sự thay đổi này đã làm cho quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trở nên chi tiết và nghiêm khắc hơn.

Bộ luật Hình sự năm 1985 là văn bản pháp luật đầu tiên quy định rõ ràng về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Sau nhiều lần sửa đổi, quy định này đã trở nên cụ thể và chi tiết hơn, giúp việc áp dụng trong thực tế dễ dàng hơn Bộ luật này không chỉ đánh dấu sự phát triển trong lập pháp hình sự của Việt Nam mà còn là nền tảng cho việc hoàn thiện các quy định liên quan đến tội lạm dụng chức vụ và các tội phạm tham nhũng khác.

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

Với sự phát triển của xã hội, các quan hệ pháp luật ngày càng đa dạng và phức tạp, yêu cầu Bộ luật Hình sự cần điều chỉnh phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngày 21/12/1999, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản tại Điều 280 Tội này được xử lý nghiêm khắc, với mức phạt tù từ một năm đến sáu năm cho hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng Nếu phạm tội trong các trường hợp như có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc tái phạm nguy hiểm, mức phạt có thể lên đến mười ba năm Đặc biệt, nếu chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, người phạm tội có thể bị phạt tù chung thân Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ một đến năm năm và bị phạt tiền từ mười triệu đến năm mươi triệu đồng.

So với Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1985, Điều 280 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã mở rộng phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự, cho phép xử lý người thực hiện hành vi ngay cả khi giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 500.000 đồng, nếu họ đã từng bị kết án về các tội tham nhũng và chưa được xoá án tích Điều này nhấn mạnh tính nghiêm khắc trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng.

Năm 1999, các mức phạt theo Điều 156 BLHS 1985 đã được điều chỉnh, cụ thể: mức phạt từ năm triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng giảm xuống còn từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng (khoản 1); mức phạt từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng được điều chỉnh thành từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng (khoản 2); và mức phạt từ ba trăm triệu đến dưới năm trăm triệu đồng thay bằng từ hai trăm triệu đến dưới năm trăm triệu (khoản 3) Ngoài ra, Điều 280 BLHS năm 1999 đã bổ sung từ “khác” sau các cụm từ “gây hậu quả nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2, 3, 4, đồng thời loại bỏ các tình tiết "có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2, khoản 3 điều luật" ở khoản 3, khoản 4.

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã quy định hình phạt bổ sung ngay trong điều luật và xác định mức hình phạt cao nhất cho tội phạm này là chung thân, thay vì tử hình như quy định tại Điều 156 BLHS năm 1985.

So với Điều 165 BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS 2009 đã quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản một cách chi tiết và đầy đủ hơn Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, quá trình áp dụng vẫn cho thấy một số vấn đề cần được xem xét.

Năm 1999 vẫn tồn tại nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong công tác phòng, chống tội phạm Các quy định về chế tài xử lý và tình tiết định khung hình phạt còn mang tính định tính, chung chung, gây khó khăn trong việc áp dụng trong thực tế điều tra, truy tố và xét xử.

Để đảm bảo thể chế hóa chủ trương và nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng, cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, đặc biệt là các quy định liên quan đến tội phạm chức vụ và tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Việc này nhằm khắc phục những bất cập trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước Do đó, BLHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua với nhiều sửa đổi quan trọng so với phiên bản năm 1999.

Năm 1999, một trong những sửa đổi quan trọng là Chương “Các tội phạm về chức vụ”, trong đó quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 Bộ luật Hình sự.

Năm 2015 đã đáp ứng một phần các yêu cầu thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng, đặc biệt là tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản Điều này cũng phù hợp với các điều ước quốc tế về chống tham nhũng mà Việt Nam tham gia.

Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

* Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là nhóm chủ thể đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội và phân biệt với các tội phạm chiếm đoạt tài sản khác Theo quy định tại Điều 8, Điều 12 và Điều 21 Bộ luật Hình sự, chủ thể này phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự Cụ thể, theo Điều 12 và Điều 355, người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác.

2, khoản 3 và khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự, với vai trò giúp sức

Chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn phải là người có chức vụ, quyền hạn, được bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc hình thức khác, có thể hưởng lương hoặc không Những người này được giao nhiệm vụ cụ thể và có quyền hạn trong công vụ Đối với các vụ án liên quan, người thực hiện hành vi phải là cán bộ, công chức thuộc các cơ quan như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, và những người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp như điều tra viên, thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên Việc xác định đúng chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là yếu tố quyết định để xác định thẩm quyền điều tra của vụ án.

Cơ quan điều tra VKSND tối cao hay không

* Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, dẫn đến sự suy yếu, mất uy tín và lòng tin của nhân dân vào chức năng của các cơ quan nhà nước Trong lĩnh vực tư pháp, tội này xâm phạm các quan hệ xã hội trong hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Hành vi phạm tội không chỉ ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của hoạt động tư pháp mà còn xâm phạm quyền lợi của cơ quan, tổ chức và cá nhân, bao gồm cả các hoạt động bổ trợ và hỗ trợ tư pháp liên quan.

* Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan là yếu tố quan trọng và quyết định trong việc xác định tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác, tương tự như các tội danh khác trong Bộ luật Hình sự.

Hành vi khách quan theo Điều 355 Bộ luật Hình sự quy định rằng chủ thể phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn và đã lạm dụng những quyền hạn này để chiếm đoạt tài sản của người khác Cụ thể, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vượt quá quyền hạn của mình và làm trái công vụ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn xảy ra khi cá nhân vượt quá giới hạn quyền hạn được pháp luật quy định Các quy định này có thể được tìm thấy trong các luật như Luật cán bộ công chức, Luật tổ chức cơ quan, và các bộ luật tố tụng Ví dụ, một quản giáo tại trại tạm giam không được phép đưa điện thoại cho người bị tạm giam, nhưng nếu họ làm điều này để chiếm đoạt tài sản, đó chính là hành vi lạm dụng quyền hạn.

Để xác định một người có lạm dụng chức vụ, quyền hạn hay không, cần căn cứ vào các văn bản quy định pháp luật về chức vụ được giao Nếu trong quá trình thi hành công vụ, họ thực hiện vượt quá giới hạn cho phép, điều này cho thấy họ đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt giữa hành vi lạm dụng và lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Chủ thể phải có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để cấu thành tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn Nếu chỉ lạm dụng chức vụ mà không chiếm đoạt tài sản, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ hoặc tội nhận hối lộ, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn được hiểu là việc chuyển giao trái phép tài sản thuộc sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp của người khác thành tài sản của người phạm tội hoặc của người khác theo yêu cầu của họ, như người thân hoặc bạn bè.

Hậu quả của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản không chỉ nằm ở hành vi phạm tội mà còn ở những thiệt hại vật chất và phi vật chất mà nó gây ra cho xã hội Tương tự như các tội phạm về chức vụ khác, tội này để lại những ảnh hưởng tiêu cực sâu rộng, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của cộng đồng.

Thiệt hại về vật chất được phân loại theo giá trị tài sản chiếm đoạt, bao gồm: chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật hoặc kết án về tội phạm tham nhũng; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng; chiếm đoạt tiền, tài sản dùng cho mục đích xóa đói, giảm nghèo; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng; chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; và gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

Thiệt hại phi vật chất có thể dẫn đến việc doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm thể hiện rõ ràng qua hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản Hành vi phạm tội là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, trong khi thiệt hại chính là kết quả của hành vi này Ví dụ, trong trường hợp của Quản giáo, việc đưa điện thoại vào Trại tạm giam cho người bị tạm giam sử dụng đã dẫn đến việc chiếm đoạt tiền từ người nhà của họ Sau khi nhận được điện thoại, người bị tạm giam đã gọi cho người thân để chuyển tiền cho Quản giáo, và kết quả là Quản giáo đã chiếm đoạt số tiền này.

* Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm:

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác là một hành vi phạm tội có tính chất chiếm đoạt, trong đó người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, cụ thể là cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ rằng hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có khả năng dự đoán hậu quả và đủ điều kiện để lựa chọn hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội, nhưng vẫn quyết tâm thực hiện hành vi và mong muốn hậu quả xảy ra.

Mục đích của hành vi phạm tội: Từ nội dung quy định tại Điều 355 Bộ luật

Người phạm tội có thể bị xử lý về hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt tài sản Mục đích chiếm đoạt tài sản luôn tồn tại trước khi thực hiện hành vi lạm dụng và là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này Ngay cả khi chưa chiếm đoạt được tài sản, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị xử lý về tội phạm chưa đạt.

Một số vấn đề lý luận về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Khái niệm, đặc điểm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, được quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự Tội phạm này được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Tổ quốc bị xâm phạm khi có hành vi vi phạm chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Những hành vi này xâm phạm quyền con người và các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, theo quy định của Bộ luật này, sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm về chức vụ theo Bộ luật Hình sự Tội phạm này liên quan đến hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong quá trình thực hiện công vụ Người có chức vụ được xác định là người được bổ nhiệm, bầu cử, ký hợp đồng hoặc theo hình thức khác, có thể hưởng lương hoặc không, và được giao nhiệm vụ cùng quyền hạn nhất định trong công vụ.

Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là việc một cá nhân sử dụng quá mức hoặc vượt quá giới hạn các quyền lực và trách nhiệm được giao, nhằm thực hiện hoặc không thực hiện một nhiệm vụ cụ thể Điều này có thể dẫn đến việc chiếm đoạt tài sản, khi người đó lợi dụng quyền hạn của mình để thu lợi bất chính.

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự Hành vi này do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ, bằng cách sử dụng quá mức hoặc vượt quá giới hạn quyền lực được giao Mục đích của hành vi này là chiếm đoạt tài sản, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

* Đặc điểm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao:

Từ khái niệm trên, có thể khái quát một số đặc điểm của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản như sau:

Hành vi nguy hiểm cho xã hội là việc sử dụng quá mức hoặc vượt quá giới hạn các chức trách, quyền lực được phép, gây thiệt hại hoặc đe dọa đến các quan hệ xã hội được bảo vệ bởi Luật hình sự Những hành vi này có thể là hành động hoặc không hành động, làm biến đổi tình trạng bình thường của các quan hệ xã hội và gây thiệt hại cho chúng Biểu hiện của hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn là việc chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức trong xã hội thông qua việc lạm dụng quyền lực.

Lê Minh Thành, cán bộ trinh sát Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, đã bị khởi tố về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” sau khi lợi dụng nhiệm vụ khai thác thông tin từ điện thoại của bị can Nguyễn Ngọc Long Trong quá trình này, Thành đã sử dụng tài khoản ngân hàng có 157 triệu đồng của Long để mua Bitcoin, bán lại được 131 triệu đồng và chiếm đoạt số tiền này cho mục đích cá nhân.

Chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là những người có chức vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Chánh án, và các cán bộ tư pháp khác Họ được giao nhiệm vụ và quyền hạn nhất định trong các hoạt động tư pháp Ví dụ, Lê Minh Thành, khi thực hiện hành vi lạm dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản, đang giữ chức vụ Cán bộ trinh sát Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự.

Người phạm tội thực hiện hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn với lỗi cố ý, cụ thể là cố ý trực tiếp, khi họ nhận thức rõ ràng rằng hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội Trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, họ đã thấy trước hậu quả có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, nhưng vẫn lựa chọn hành vi đó mặc dù có đủ điều kiện để lựa chọn các hành vi khác phù hợp với yêu cầu của xã hội.

Bốn là, mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội là chiếm đoạt tài sản:

Mục đích là yếu tố quan trọng trong cấu thành tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản Trong trường hợp này, mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản, như đã nêu trong tình huống trên.

Lê Minh Thành đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt số tiền 131.000.000 đồng và sử dụng tiêu dùng cá nhân.

Ý nghĩa của việc quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật Hình sự, đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm Việc ghi nhận tội này giúp bảo vệ tính đúng đắn của cơ quan, tổ chức, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Đồng thời, nó cũng góp phần giáo dục ý thức tuân theo pháp luật cho những người có chức vụ, quyền hạn trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Một là, ý nghĩa trong việc phòng ngừa tội phạm

Việc quy định và mô tả các hành vi phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhằm răn đe những người có chức vụ trong quá trình thực thi công vụ, cho thấy hậu quả pháp lý bất lợi nếu họ vượt quá trách nhiệm được giao Điều này không chỉ ngăn ngừa hành vi phạm tội từ ý thức chủ quan của họ mà còn có ý nghĩa phòng ngừa chung, giúp những người có chức vụ nhận thức được hậu quả pháp lý khi phạm tội, từ đó răn đe các cá nhân khác trong việc thực hiện hành vi phạm tội trong nhiệm vụ của mình.

Hai là, ý nghĩa trong việc đấu tranh chống tội phạm

Một nguyên tắc quan trọng của luật hình sự là chỉ những người phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) mới phải chịu trách nhiệm hình sự Cụ thể, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản là cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có chức vụ khi họ thực hiện hành vi vượt quá quyền hạn được giao Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này không chỉ giúp phát hiện mà còn đấu tranh hiệu quả với tội phạm do người có chức vụ thực hiện, đặc biệt là tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Ba là, ý nghĩa trong việc đảm bảo sự đúng đắn của cơ quan, tổ chức

Khách thể của các tội phạm về chức vụ là tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn đã làm giảm sút tính chính xác trong hoạt động của các cơ quan này Việc tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan Nhà nước tiến hành điều tra, truy tố và xét xử các hành vi này là cần thiết để ngăn ngừa và đấu tranh với tội phạm Điều này giúp kịp thời ngăn chặn và loại bỏ các hành vi lạm dụng, từ đó nâng cao tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.

Bốn là, ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức

Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức mà còn xâm phạm quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân Quyền và lợi ích này được ghi nhận trong Hiến pháp và được Nhà nước bảo vệ Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích của Nhà nước, tổ chức Việc ghi nhận tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự giúp ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm của những người có chức vụ, qua đó bảo vệ quyền con người và lợi ích của Nhà nước, tổ chức.

Năm là, ý nghĩa trong việc giáo dục ý thức tuân theo pháp luật

Bộ luật Hình sự đã ghi nhận các quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, gửi đi thông điệp cảnh báo và răn đe đối với những người có chức vụ có ý định phạm tội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này không chỉ giáo dục họ thông qua các hình phạt mà còn nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho những người có chức vụ khác, khuyến khích họ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.

Phân biệt tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác

* Phân biệt tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản với tội Nhận hối lộ:

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và tội nhận hối lộ đều thuộc nhóm tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự, có nhiều điểm tương đồng như đều do người có chức vụ thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Cả hai tội này không yêu cầu hậu quả phải xảy ra để bị xử lý, tuy nhiên, chúng cũng có những khác biệt cơ bản.

Theo Điều 355 BLHS, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác Trong khi đó, Điều 354 BLHS quy định tội nhận hối lộ, trong đó người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để nhận lợi ích cho bản thân hoặc cho tổ chức khác nhằm thực hiện hoặc không thực hiện một công việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Hành vi khách quan của tội phạm bao gồm hai hành vi chính: lạm dụng chức vụ, quyền hạn và chiếm đoạt tài sản của người khác Lạm dụng chức vụ, quyền hạn xảy ra khi người có chức vụ vượt quá giới hạn quyền hạn do pháp luật quy định Hành vi chiếm đoạt tài sản là việc chuyển dịch trái phép tài sản thuộc sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp thành của mình hoặc của người khác, và đây là mục đích chính của hành vi lạm dụng chức vụ Đối với tội nhận hối lộ, hành vi khách quan bao gồm việc lợi dụng chức vụ để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất từ người đưa hối lộ Nếu không có chức vụ, quyền hạn, người phạm tội không thể thực hiện hành vi nhận hối lộ Hành vi này có thể diễn ra trực tiếp hoặc qua trung gian, và thường liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc vì lợi ích của người đưa hối lộ, từ đó tạo ra lợi ích cho họ hoặc cho những người mà họ quan tâm.

* Phân biệt tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ:

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đều thuộc nhóm tội phạm tham nhũng theo Bộ luật Hình sự Cả hai tội này đều có điểm chung là người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn và hành vi được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, chúng cũng có những khác biệt cơ bản cần lưu ý.

Theo Điều 355 BLHS, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác Điều 356 BLHS mở rộng khái niệm này, quy định rằng người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác sẽ phải chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại về tài sản hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Khi phân tích hành vi khách quan của hai tội phạm, có sự khác biệt rõ rệt giữa "lạm dụng" và "lợi dụng" "Lạm dụng" được hiểu là việc sử dụng quá mức hoặc vượt quá giới hạn quy định, trong khi "lợi dụng" là việc dựa vào điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi nào đó Cụ thể, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản là hành vi mà người có chức vụ đã lợi dụng quyền hạn của mình một cách quá mức Ngược lại, lợi dụng chức vụ trong khi thi hành công vụ là hành vi sử dụng quyền hạn của mình vì lợi ích cá nhân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân.

Khi phân biệt giữa hành vi lợi dụng và lạm dụng chức vụ, quyền hạn, cần căn cứ vào chức vụ và pháp luật Hành vi lạm dụng xảy ra khi người có chức vụ vượt quá giới hạn cho phép để chiếm đoạt tài sản, trong khi lợi dụng xảy ra khi họ vẫn hoạt động trong phạm vi pháp luật nhưng với mục đích không chính đáng Đặc biệt, hành vi chiếm đoạt tài sản là mục đích chính của lạm dụng chức vụ, quyền hạn Ngược lại, lợi dụng chức vụ có thể không liên quan đến tài sản, mà là việc sử dụng quyền hạn để đạt được mục đích cá nhân, như không thi hành bản án Hơn nữa, thiệt hại là yếu tố bắt buộc trong tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, với các mức thiệt hại cụ thể từ 10.000.000 đồng đến trên 1.000.000.000 đồng.

Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ chỉ cấu thành tội khi đã gây thiệt hại Ngược lại, trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc Do đó, người thực hiện hành vi phạm tội này có thể bị xử lý ngay cả khi hậu quả chưa xảy ra.

Quy định của pháp luật về thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tiền thân là Vụ Điều tra thẩm cứu, được thành lập theo Lệnh số 12/L-CTN ngày 18/4/1962 của Chủ tịch Hồ Chí Minh Lệnh này công bố Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Theo Điều 5 của Pháp lệnh, bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm 8 đơn vị, trong đó có Vụ Điều tra thẩm cứu.

Ngày 18/4 được xác định là ngày truyền thống của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và từ ngày 29/5/1989, cơ quan này chính thức mang tên gọi Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo Quyết định số 49/QĐ-V9 Đến nay, Cơ quan điều tra đã trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, với tổ chức và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả Cơ quan thực hiện chức năng nắm tình hình, phòng ngừa, phát hiện và điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Hàng năm, Cơ quan tiếp nhận và xác minh hàng nghìn tố giác về tội phạm liên quan đến hoạt động tư pháp, điều tra hàng trăm vụ án, trong đó có nhiều vụ án phức tạp gây bức xúc dư luận, như vụ khởi tố đối với các cán bộ thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy tại Cao Bằng về hành vi “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và “Che giấu tội phạm”, liên quan đến số tiền và vàng trị giá trên 1,2 tỷ đồng.

Sự khác biệt về mô hình tổ chức của Cơ quan điều tra VKSND tối cao so với

Cơ quan điều tra của Bộ Công an, cụ thể là Cơ quan điều tra VKSND tối cao, chỉ được tổ chức ở cấp trung ương, không có hệ thống từ trung ương đến địa phương Ngược lại, Cơ quan điều tra của Công an nhân dân được tổ chức theo hệ thống từ trung ương đến các cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã Sự khác biệt này tạo ra khó khăn trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Cơ quan điều tra VKSND tối cao.

Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Cơ quan điều tra VKSND tối cao được quy định bởi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 Hiện nay, Cơ quan điều tra VKSND tối cao bao gồm 10 phòng nghiệp vụ, trong đó có Phòng tiếp nhận và thu thập thông tin tội phạm (phòng 1), Phòng Tham mưu tổng hợp (phòng 2), và Phòng điều tra tội phạm xảy ra tại các tỉnh phía Bắc (phòng 3), cùng với Phòng điều tra tội phạm tại miền Trung, đặt tại TP Đà Nẵng.

Các phòng điều tra tội phạm được phân bố trên khắp các tỉnh miền Nam và miền Bắc, bao gồm: Phòng điều tra tội phạm tại TP Hồ Chí Minh (Phòng 5), Phòng điều tra tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp (Phòng 6), Phòng kỹ thuật hình sự (Phòng 7), Phòng điều tra tội phạm tại tỉnh Yên Bái (Phòng 8), Phòng điều tra tội phạm tại tỉnh Đắk Lắk (Phòng 9) và Phòng điều tra tội phạm tại TP Cần Thơ (Phòng 10).

Theo Nghị quyết 522e/2012/NQ-QH13 ngày 26/7/2012 của Quốc hội, biên chế của Cơ quan điều tra VKSND tối cao được quy định là 185 biên chế, trong đó có 35 Điều tra viên cao cấp Hiện tại, Cơ quan điều tra VKSND tối cao có 170 biên chế, với 151 công chức làm chuyên môn nghiệp vụ điều tra (bao gồm 01 Kiểm sát viên cao cấp, 30 Điều tra viên cao cấp, 61 Điều tra viên trung cấp và 13 Điều tra viên sơ cấp) và 19 công chức làm chuyên môn khác Tất cả công chức đều có trình độ cử nhân trở lên, đạt tỷ lệ 100% (153/153), trong đó 115/153 công chức được đào tạo về nghiệp vụ điều tra hình sự, chiếm tỷ lệ 75,16%.

Cơ quan điều tra VKSND tối cao được quy định tại Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 30 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015, là một trong ba hệ thống quan trọng trong lĩnh vực tư pháp.

Cơ quan điều tra chuyên trách thực hiện kiểm tra, xác minh và điều tra các vụ án hình sự liên quan đến tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng và chức vụ theo Bộ luật Hình sự Đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra bao gồm cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp như Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án Những người này thường có trình độ và kinh nghiệm pháp lý, nhưng cũng có thể sử dụng thủ đoạn tinh vi để che giấu tội phạm Ngoài việc điều tra, Cơ quan điều tra VKSND tối cao còn tổ chức tiếp nhận tố giác, phân loại và giải quyết tin báo về tội phạm, đồng thời kiến nghị các biện pháp khắc phục nguyên nhân phát sinh tội phạm và thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngoài 04 nhiệm vụ quy định tại Điều 30 Luật tổ chức CQĐTHS năm 2015 nêu trên, Cơ quan điều tra VKSND tối cao còn phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ của một đơn vị nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao, đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp năn 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội để kiến nghị, khắc phục vi phạm nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao mang tính đặc thù cao, khác biệt so với cán bộ, công chức nhà nước thông thường, đặc biệt đối với nhiều vụ việc còn phải kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của

CQĐT các cấp trong Công an nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực tư pháp, đặc biệt là trong các vụ án liên quan đến sai lệch hồ sơ, oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp.

Thẩm quyền điều tra tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trước đây, theo quy định tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002; Điều

Theo các quy định mới, Cơ quan điều tra VKSND tối cao hiện có thẩm quyền điều tra 38 loại tội, bao gồm 24 tội xâm phạm hoạt động tư pháp và 14 tội tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp Đặc biệt, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 355 BLHS năm 2015 Các tội phạm này có tính chất đặc biệt, vì chủ thể phạm tội thường là cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp, những người có trình độ và am hiểu pháp luật Do đó, việc phát hiện và điều tra các tội phạm này gặp nhiều khó khăn do thủ đoạn tinh vi của chúng Điều này đòi hỏi cần có một lực lượng điều tra chuyên nghiệp và có bản lĩnh để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày 01/01/2018, khi Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự có hiệu lực, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã phát hiện và khởi tố nhiều vụ án tham nhũng trong hoạt động tư pháp tại các ngành như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân và Thi hành án dân sự Nổi bật là vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công an thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, TP Hà Nội, với nhiều vụ án liên quan đến lạm dụng chức vụ được điều tra và xác minh.

Vào lúc 30 phút ngày 03/8/2020, Nguyễn Văn Tiến, Trưởng Công an thị trấn Quang Minh, đã tiếp nhận tố giác tội phạm và chỉ đạo Đinh Văn Lợi tổ chức kiểm tra Đinh Văn Lợi cùng các đồng nghiệp phát hiện xe ô tô của chị Nguyễn Bích Hà và anh Nguyễn Thanh Tùng chở mỹ phẩm không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc Trong quá trình làm việc, Đinh Xuân Phong đã đe dọa sẽ xử lý hình sự và yêu cầu chị Hà và anh Tùng đưa 80.000.000 đồng để không bị xử lý Sau khi nhận tiền, Nguyễn Văn Tiến đã chỉ đạo chia tiền cho Đinh Văn Lợi và Đinh Xuân Phong, trong khi số tiền còn lại được Tiến sử dụng cho mục đích cá nhân Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã khởi tố vụ án và bị can đối với Nguyễn Văn Tiến, Đinh Văn Lợi và Đinh Xuân Phong về tội danh liên quan.

“Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 355

Ngày 26/5/2021, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã chuyển hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 6), đề nghị truy tố Nguyễn Văn Tiến với vai trò chủ mưu, cùng Đinh Văn Lợi và Đinh Xuân Phong với vai trò đồng phạm, về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 355 Bộ luật hình sự.

Chương 1 của Luận văn đã phân tích một số vấn đề lý luận về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao Qua nội dung phân tích có thể thấy được, Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sảnlà hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ bằng việc sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn các chức trách, quyền lực trong phạm vi cho phép nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, hành vi nguy hiểm đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao có những đặc điểm đặc trưng như: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn các chức trách, quyền lực trong phạm vi cho phép; người thực hiện hành vi là người có chức vụ, quyền hạn tiến hành các hoạt động tư pháp; ý thức chủ quan khi thực hiện hành vi là cố ý; mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội là chiếm đoạt tài sản.Việc ghi nhận tội này trong BLHS có ý nghĩa trong việc phòng ngừa tội phạm, trong việc đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo sự đúng đắn của cơ quan, tổ chức, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đã được ghi nhận tại Pháp lệnh số 150/LCT ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân với tên gọi là: “Tội lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân”, kể từ đó trở về sau, tội này tiếp tục được quy định trong các BLHS và được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định chi tiết cụ thể hơn, đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU TRA TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỦACƠ QUAN ĐIỀU TRA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRA TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày đăng: 22/07/2023, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê số vụ án/số bị can bị khởi tố và bị truy tố về tội lạm dụng - Luan van thac si nguyen ngoc anh 20230331110434 e 2636
Bảng 2.1. Thống kê số vụ án/số bị can bị khởi tố và bị truy tố về tội lạm dụng (Trang 42)
Bảng 2.3.Thống kê số liệu Tổng số thông tin, nguồn tin do Cơ quan điều tra  VKSND tối cao tiếp nhận trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2021 - Luan van thac si nguyen ngoc anh 20230331110434 e 2636
Bảng 2.3. Thống kê số liệu Tổng số thông tin, nguồn tin do Cơ quan điều tra VKSND tối cao tiếp nhận trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2021 (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm