1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích chi tiết Người lái đò sông Đà

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích Chi Tiết Người Lái Đò Sông Đà
Tác giả Nguyễn Tuân
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Báo cáo học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 20,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài phân tích 9+ chi tiết tác phẩm Người lái đò sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân (trừ phần mở bài, kết bài, khái quát, tổng kết). Mình là thí sinh thi THPTQG năm 2022 với số điểm Ngữ Văn là 9,5. Đây là bài phân tích mình tự làm trong suốt thời gian ôn thi mà mình rất tâm đắc. Hy vọng bài của mình có thể giúp cho các em khóa sau tham khảo. Nếu thấy hay và muốn xem full tài liệu, hy vọng các bạn hãy ấn tải về và ủng hộ cho công sức của mình nhé

Trang 1

I Sông Đà hung bạo:

Không chỉ là một nhà văn chân chính, Nguyễn Tuân còn chứng tỏ mình là một người nghệ sĩ tâm huyết khi dụng công khảo cứu nguồn gốc dòng chảy của sông

Đà Nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực lịch sử, địa lí, văn hóa, ông đã đem đến cho người đọc một nguồn tri thức sâu rộng: "Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, Vân Nam, Trung Quốc, chảy qua vùng núi rồi nhập quốc tịch Việt Nam, sau đó trưởng thành mãi lên" "Khai sinh", "nhập quốc tịch" rồi "trưởng thành", dòng sông như mang đời sống của một công dân thực thụ, có diện mạo, tâm hồn và tính cách Viết những dòng này, ta cảm tưởng như Nguyễn Tuân là người cha đẻ đang làm khai sinh cho đứa con tinh thần của mình Có thể nói, ông đã khai sinh ra sông Đà một lần nữa - một con sông độc đáo cho văn chương Việt Nam

Nhà văn Thạch Lam đã từng nói: "Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới" Có lẽ khi nhắc tới dòng sông Đà, người ta sẽ có lúc sợ hãi

về sự hung bạo của nó Nhưng với Nguyễn Tuân, trong tư cách một người "dẫn đường tới xứ sở của cái đẹp", chính cái hung bạo ấy lại là một nét hấp dẫn, một vẻ đẹp riêng biệt và đặc trưng của con sông Ông dẫn người đọc cuốn theo cảm giác

sợ hãi tột độ nhưng cũng đầy thích thú trên từng câu văn để rồi ta nhận ra, sông Đà hung bạo cũng thật đẹp Đà giang hung bạo trước hết ở cảnh đá bờ sông "dựng vách thành" Vách đá như thành cao, vực thẳm như hào sâu gợi ra độ cao chới với, vững trãi nhưng cũng đầy sức mạnh bí ẩn Qua hàng loạt miêu tả tỉ mỉ của nhà văn, độc giả hình dung ra được độ hẹp của lòng sông: "mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời", bởi vách đá cao và dựng đứng đã che kín lòng sông Lại "có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu" - một phép so sánh lạ chỉ có

ở Nguyễn Tuân So sánh vách đá như cái yết hầu, tác giả gián tiếp gợi ra hình ảnh vách đá bị chèn ép tới nghẹt thở Lòng sông hẹp tới nỗi có thể "đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá hòn đá sang bên kia vách", "có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia" Không dừng lại ở đó, nhà văn còn đưa người đọc đến cảm nhận chân thực nhất bằng xúc giác khi đặt vào vị trí của người ngồi thuyền trên sông: "ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh"

Sự tương phản xúc giác ấy không chỉ nói lên cái lạnh bề ngoài, mà còn là cái lạnh của nỗi sợ thấm sâu trong tâm hồn, khiến độc giả cũng bất giác cảm thấy rùng mình lạnh lẽo Trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú khiến Nguyễn Tuân "cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào

Trang 2

trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện" Lấy hè phố tả mặt sông, nhà cao gợi vách đá, ông đã lột tả chân thực nhất độ cao hun hút dưới góc nhìn chơi vơi của người quan sát Dưới sự tài hoa, uyên bác trong lối hành văn cùng óc sáng tạo tuyệt vời của tác tác, khung cảnh sông Đà hiện lên vừa kì vĩ, hoành tráng, lại vừa

âm u, rợn ngợp

Có lẽ bấy nhiêu thôi vẫn chưa đủ để độc giả cảm nhận hết về một Đà giang tính khí thất thường, luôn làm mình làm mẩy với con người Nhà văn tiếp tục đưa chúng ta vào hành trình khám phá con sông này với vẻ đẹp hung bạo ở quãng mặt ghềnh Hát Lóng Câu văn dài với nhiều vế ngắn, nhịp điệu nhanh, dồn dập: "dài hàng cây

số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió" tạo nhịp điệu như chính chuyển động của sóng to gió lớn Không chỉ thế, cách người cầm bút sử dụng thủ pháp nghệ thuật tăng tiến, cấu trúc trùng điệp, động từ "xô" cùng những hình ảnh nối tiếp luân chuyển, thế chỗ đã làm hiện lên quần thể những sức mạnh thiên nhiên dữ dội nhất của sông Đà Vốn dĩ "nước", "đá", "sóng" ở con sông này đã quá hung dữ và nguy hiểm, nên khi tất cả những yếu tố ấy hợp lại, Đà giang lại thêm cường bạo muôn phần Những con sóng dữ cuồn cuộn chồm lên nhau theo chiều ngang, vút lên cao theo chiều dọc rồi đổ ập xuống, cuồn cuộn ghê rợn trên mặt ghềnh Con sông

"cuồn cuộn gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy" Bằng nghệ thuật nhân hóa: "gùn ghè", "đòi nợ xuýt", sông Đà hiện lên như một kẻ sẵn sàng bất chấp hết để nạt nộ, uy hiếp tính mạng con người Ghềnh sông nổi lên, cuộn trào dữ dội để bao vậy, hăm dọa, trở thành mối đe dọa nguy hiểm đến bất cứ người lái đò nào Đọc những câu văn của Nguyễn Tuân, ta lại bất giác nhớ đến dòng sông Hương ở thượng nguồn trong bút

kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường - dòng sông như "một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn" Những ngòi bút tài hoa đã tạo ra những trang viết "nở hoa", khơi dậy trí tưởng tượng của người đọc về hai dòng sông hùng vĩ cuồn cuộn trôi đi giữa cơ thể đất nước

Sự hung bạo của con sông dường như không hề có điểm dừng, đi đến quãng nào, ta cũng cảm nhận được cái dữ tợn của nó Và những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát lại càng ghê rợn hơn nữa Trong phép so sánh của nhà văn, chúng giống như

"cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu", tạo cho dòng sông thế đứng vững chắc như một vị thần đang canh giữ nơi đây Một cái bẫy hoàn hảo

và công phu được dàn ra, lúc nào cũng có thể làm hại con người Cái tài hoa uyên

Trang 3

bác của Nguyễn Tuân được dịp nở rộ khi ông dụng công sử dụng những hình ảnh độc lạ nhất để so sáng với âm thanh của con sông: "thở và kêu như cửa cống cái bị sặc", "ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào" Tiếng thở, tiếng kêu ấy như sự thức dậy của nội lực, cái máu ham chiến của dòng sông, chỉ chờ có người qua đây để sẵn sàng tung ra những món nghề điêu luyện hòng so kè cao thấp Dường như những cái hút nước ấy cũng đang vận khí, luyện công năng để sẵn sàng cho trận chiến sắp tới: "Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn" Loài quạ xưa nay vẫn tượng trưng cho điềm gở, do vậy khi đọc câu thơ, chính bạn đọc cũng cảm nhận được sự hãi hùng của những người lái đò trước nguy cơ cái chết đang từ từ ập đến Hình ảnh, âm thanh của sông Đà lúc này chẳng khác nào một con quái vật đang giận dữ đến ghê người, thậm chí nhà văn còn liên tưởng nó như "quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực" Để rồi thật lạ lùng và bất ngờ như những cơn bão tố, những cái hút nước kéo đến hút trọn cả những sinh linh bé nhỏ đang chống trọi với sự khắc nghiệt nơi đây Những thuyền, những bè gỗ bị nó "lôi tuột xuống", "hút xuống", "trồng ngay cây chuối ngược" rồi "tan xác ở khuỷu sông dưới" Con thuyền đã bị lật hoàn toàn dưới món đòn hiểm độc của thiên nhiên Cuốn người đọc theo trường liên tưởng thú vị, nhà văn dẫn ra cảnh một anh bạn quay phim táo bạo, dũng cảm ngồi vào chiếc thuyền để cả mình và máy quay rơi xuống những cái hút của sông Đà Đồng thời, ông cũng kéo người đọc vào trò chơi cảm giác, cảm nhận được tất cả sự nguy hiểm khi "nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải", được chiêm ngưỡng cái hùng vĩ của "thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày" rồi lại sợ hãi trước "khối pha lê xanh như sắp vỡ tan" Rõ ràng, cái đẹp

mà nhà văn hướng đến ở đây là vẻ đẹp mang tính tráng lệ, phi thường Nhưng để

có một niềm đam mê nghệ thuật mãnh liệt, sự dũng cảm, bản lĩnh, dám đánh đổi cả mạng sống cho nghệ thuật như thế thì anh bạn quay phim đó chỉ có thể là chính Nguyễn Tuân

Cái nguy hiểm chết người của dòng sông không chỉ đến từ dáng vẻ của cảnh đá bờ sông, mặt ghềnh Hát Lóng hay quãng Tà Mường Vát mà còn bởi tâm địa của nó Đến với thác nước cuồng nộ nơi đây, ta mới hiểu rõ được con sông kia có thể hung bạo đến mức nào Miêu tả thác nước từ cự li xa đến cự li gần, người sáng tạo nghệ thuật đã cho độc giả một cái nhìn toàn diện, kĩ càng nhất Mới từ khoảng cách xa, thác nước dùng nhiều âm thanh để mê hoặc, dụ dỗ con người Từ "oán trách", "van xin" đến "khiêu khích", "giọng gằn mà chế nhạo", rồi "rống lên", sông Đà hiện ra

Trang 4

như một sinh thể sống động đang gầm gào giận dữ Một loạt từ ngữ tả âm thanh được sử dụng theo cung bậc tăng dần về cả sắc thái lẫn âm lượng nhằm lột tả rõ nhất sự hung hãn của dòng sông, khoảng cách ngắn dần trái ngược với nỗi sợ hãi ngày càng gia tăng của người đi thuyền Thứ âm thanh chết người khiến con thuyền đi vào vòng vây của thác nước, rồi đến đây, nó mới phô ra tất cả sức mạnh của mình qua thứ âm thanh dữ dội như một đòn đánh phủ đầu làm cho kẻ thù choáng váng: "Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bừng bừng" Có thể nói đây là một trong những câu văn độc đáo

và tài hoa nhất mà Nguyễn Tuân đã từng viết, bởi nó không còn đơn thuần là sự chọn lọc, sắp xếp ngôn từ nữa mà chính là một lối độc tài, lối chơi ngông mà có lẽ trong văn học Việt Nam chưa ai làm được Ông dùng những hình ảnh vốn là đối cực, xung khắc của nhau để chuyển hóa, đặt chúng trong một liên tưởng đầy bất ngờ và thú vị: lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông, dùng chính sức mạnh của một loài vật trên cạn để diễn tả sức mạnh của thác Qua so sánh ấy, thác sông Đà hiện lên với những âm thanh man dại, cuồng nộ nhất của loài động vật hung dữ đang tìm đường thoát thân Dòng sông có cả thảy ba mươi ba cái thác như ba mươi ba cạm bẫy luôn rình rập và sẵn sàng ăn chết bất cứ chiếc thuyền nào đi qua đó Sự chất chồng, liên tiếp của thác dữ sông Đà cũng đã từng đi vào ca dao xưa:

"Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh"

Sông Đà càng hùng vĩ bao nhiêu lại càng nguy hiểm bấy nhiêu Với tài hoa xuất chúng của một người sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc những cơn "sốc" trong cảm nhận, đưa ta đi hết từ bất ngờ này sang bất ngờ khác, điều mà có lẽ chỉ có thể bắt gặp trong văn của một bậc kì tài ngôn ngữ

Nếu như chỉ dừng lại ở đây thì có lẽ vẫn chưa đủ để làm toát lên tất cả những gì hung tợn nhất của con sông "mang diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một" của con người Bởi lẽ trùng vi thạch trận trên sông Đà mới là nơi lôi cuốn, hấp dẫn nhất và bộc lộ rõ nét nhất tâm địa nham hiểm của nó Sau câu văn ngắn giống như tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú: "Tới cái thác rồi!", nhà văn đồng thời miêu tả cả đá

và nước thác qua hình ảnh: "sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá" Tính từ

"trắng xóa " gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi mãnh liệt, gợi tả làn

Trang 5

hơi nước như mờ đi trên mặt sóng, trên diện rộng thênh thang của dòng sông Cùng với hình ảnh "chân trời đá", câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện lên sự hùng vĩ đến choáng ngợp của thác đá sông đà ngay trong ấn tượng đầu tiên khi vừa gặp mặt Đá ở đây "mai phục hết trong lòng sông", "nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền", "hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó" Qua phép nhân hóa dùng để miêu tả "nét mặt" những hòn đá trên sông, ta thấy bản thân mỗi hòn đá đã mang sẵn sự dữ dằn, hiểm độc Và hơn hết, chúng còn phối hợp với nhau để bày thạch trận giữa lòng sông Bằng khối kiến thức khổng lồ, uyên bác trên nhiều lĩnh vực, Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt những thuật ngữ của quân sự, thể thao, võ thuật như "thạch trận", "cuộc giáp lá cà", "hàng tiền vệ",

"boong ke", "pháo đài", và một hệ thống dày đặc những động từ mang sắc thái nhân hóa đặt trong nhịp câu ngắn, nhanh, dồn dập: "mặt sông rung tít", "nước thác reo hò hò la ùa vào bẻ gãy thúc gối đội thuyền đánh miếng đòn độc hiểm bám lấy thuyền đánh khuýp quật vu hồi " khiến thác đá sông Đà thực sự trở thành một chiến trường với những trận hỗn chiến ác liệt giữa con người và thiên nhiên Sự ác liệt còn được tô đậm những âm thanh cuồng loạn của "một trận nước vang trời thanh la não bạt", vừa có nhiệm vụ reo hò, cổ vũ cho đội quân đá, vừa uy hiếp tinh thần đối phương Có lúc thác đá còn được động vật hóa để trở nên hoang dại như trong hình ảnh "dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá", rồi thậm chí còn được đẩy lên mức độ thần linh trong hình ảnh ẩn dụ về

"binh pháp của thần sông thần đá" Có thể nói, trận chiến giữa con người và dòng sông nơi đây không chỉ là đấu sức mà còn là cuộc đấu trí đầy cam go, quyết liệt Sông Đà đã bố trí 3 trùng vi thạch trận với vô vàn mối đe dọa: trùng vi thứ nhất bày ra năm cửa đá với 4 cửa tử và một cửa sinh, tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền ở trùng vi thứ hai và trùng vi thứ ba với ít cửa tử hơn nhưng "bên phải bên trái đều là luồng chết cả" Nhưng có lẽ chính những cửa sinh ít ỏi này lại

là điều nguy hiểm và khó nhận biết nhất, bởi chúng không nằm cố định mà biến hóa khôn lường: chặng đầu thì "nằm lập lờ ở phía tản ngạn", chặng thứ hai "ngay lập tức chuyển sang phía hữu ngạn" và chặng cuối đổi về phía chính giữa Hiểm độc trong bày binh bố trận, Đà giang còn hiểm độc trong cả cách đánh Khi thì nó huy động toàn bộ sức mạnh từ nước, đá, sóng, gió để giáng xuống ông đò: "mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình", "sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền", "có lúc chúng đội cả thuyền lên" Lúc thì nó lại dùng trí để đánh những đòn tỉa, đòn âm, đòn hiểm vào những chỗ sơ hở nhất của người lái

Trang 6

đò:"Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò" Sông Đà với dáng vẻ và tâm địa hiểm ác của mình từng bước dồn người lái đò vào con đường chết và thực tế, đã không ít người phải bỏ mạng ở nơi khắc nghiệt này Phải là một người nghệ sĩ tâm huyết, ham tìm tòi, khám phá và khơi gợi, Nguyễn Tuân mới có thể họa ra bức chân dung một con sông Đà hung bạo - thứ "kẻ thù số một" của con người một cách sinh động

và hấp dẫn như thế Và cuối cùng, cũng nhờ cái tài hoa, tinh tế ấy, người nghệ sĩ đã khám phá ra được "chất vàng" của thiên nhiên Tây Bắc mà ông hằng tìm kiếm Nét tính cách hung bạo của dòng sông còn chính là tiền đề để khắc họa, là phông nền

để làm nổi bật nên hình tượng người lái đò Bởi sông Đà càng hiểm ác bao nhiêu thì khi chiến thắng được nó, "thứ vàng mười đã qua thử lửa" trong tâm hồn người lao động lại càng tỏa sáng bấy nhiêu

II Sông Đà trữ tình:

Không chỉ là một nhà văn chân chính, Nguyễn Tuân còn chứng tỏ mình là một người nghệ sĩ tâm huyết khi dụng công khảo cứu nguồn gốc dòng chảy của sông

Đà Nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực lịch sử, địa lí, văn hóa, ông đã đem đến cho người đọc một nguồn tri thức sâu rộng: "Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, Vân Nam, Trung Quốc, chảy qua vùng núi rồi nhập quốc tịch Việt Nam, sau đó trưởng thành mãi lên" "Khai sinh", "nhập quốc tịch" rồi "trưởng thành", dòng sông như mang đời sống của một công dân thực thụ, có diện mạo, tâm hồn và tính cách Viết những dòng này, ta cảm tưởng như Nguyễn Tuân là người cha đẻ đang làm khai sinh cho đứa con tinh thần của mình Có thể nói, ông đã khai sinh ra sông Đà một lần nữa - một con sông độc đáo cho văn chương Việt Nam

Cảm hứng lãng mạn luôn có xu hướng tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ bởi sự tương phản Trong tùy bút "Người lái đò sông đà", sự tương phản hiện hữu ngay trong đối tượng miêu tả bởi làm nên dòng sông Đà thực sự, ngoài chất hung bạo, không thể không nhắc đến chất thi vị trữ tình đằm thắm Vẫn là dòng sông ấy, những sau khi nó "vặn mình vào một cái bến cát", khi chút bọt nước cuối cùng của sóng gió thượng nguồn "xèo xèo tan trên cát", ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân

đã bất ngờ dẫn người đọc đến một sông Đà êm đềm như một giấc mơ, dịu hiền như một miền cổ tích Con sông trữ tình được miêu tả từ nhiều thời điểm, góc độ, khi

Trang 7

thì ngồi trên trực thăng để bao quát toàn cảnh, khi thì xuôi thuyền dọc theo bờ sông, lúc lại dừng hẳn để chiêm ngưỡng Điều đó không những nói lên tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc của người cầm bút mà còn chứng minh dù ở góc

độ nào thì Đà giang vẫn đẹp, một vẻ đẹp đa chiều mà phải soi chiếu từ nhiều phương diện mới thấu hết được cái thơ mộng, trữ tình của nó Đến với con sông Đà trữ tình, điều đầu tiên ta được thưởng thức là vẻ đẹp của dòng sông khi từ trên cao nhìn xuống Ở đó, dòng sông như "cái dây thừng ngoằn nghèo" tãi ra trên đại dương đá, đem lại ấn tượng về độ lớn, hoành tráng của dòng sông khi nó uốn lượn quanh núi đồi Tây Bắc Nhưng có lẽ cái đẹp nhất, mĩ lệ nhất gắn với dòng sông khúc này phải là hình ảnh: "Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng Hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân" Câu văn rất dài, chỉ có một dấu ngắt duy nhất kết hợp với điệp ngữ "tuôn dài tuôn dài" vừa gợi tả sinh động độ dài của dòng sông, vừa đem đến cảm giác về sự liền mạch bất tận, gợi hình ảnh một dòng chảy uốn lượn tuôn từ những dãy núi hùng vĩ của vùng biên giới Tây Bắc, miên man chảy xuống đồng bằng, lặng lẽ hòa vào dòng sông Hồng rồi tha thiết đổ ra biển Những thanh bằng liên tiếp ở đầu câu văn cũng làm tăng thêm sự yên ả, êm đềm, bình lặng cho dòng sông khúc hạ nguồn Phép so sánh dòng sông "như một áng tóc trữ tình" quả là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo Ví von như vậy, nhà văn đã đem đến cho sông Đà nét mềm mại, đằm thắm, vẻ duyên dáng đầy nữ tính, nhưng lại không mất đi vẻ đẹp hùng vĩ, lớn lao của dòng sông Phép so sánh đầy chất thơ, chất họa chẳng những phô ra được vẻ đẹp dịu dàng, kiêu sa của con sông mà còn bộc lộ chất phong tình, lãng mạn của người nghệ sĩ

Từ trên cao nhìn xuống, Tây Bắc như người thiếu nữ duyên dáng, yêu kiều mà sông Đà chính là mái tóc áng tóc mềm mượt của người con gái đang khao khát thanh xuân ấy Cũng trong câu văn miêu tả rất tài hoa của Nguyễn Tuân, có thể thấy sông Đà đã nhận thêm vào dòng chảy của mình nét thơ mộng, huyền ảo của cả

"mây trời", sắc trắng tinh khiết cùng đỏ tươi tắn của "hoa ban hoa gạo tháng hai",

và đặc biệt là cái ấm áp thật gần gũi thân yêu của làn "khói núi Mèo đốt nương xuân" Thần sắc của thiên nhiên nơi đây được Nguyễn Tuân miêu tả với vẻ đẹp rất riêng, rất lạ, rất thơ Về vẻ đẹp mềm mại, nữ tính này, sông Đà có nét rất giống với sông Hương trong bút kí "Ai đã đặt tên cho dòng sông" của Hoàng Phủ Ngọc Tường: "người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi" Các câu văn đều được viết bằng sự

Trang 8

thăng hoa của tâm hồn, các nhà văn như đang "đề thơ vào sông nước", khiến chúng hiện lên đầy chất thẩm mĩ, rạo rực và say mê

Đã rất tâm huyết khi quan sát, nghiên cứu Đà giang trên nhiều góc nhìn, Nguyễn Tuân còn công phu hơn khi quan sát dòng sông trong từng thời điểm, thời gian khác nhau để phát hiện ra sắc nước sông Đà thay đổi theo từng mùa Trước hết, đó

là "dòng xanh ngọc bích" trong sáng, quý giá và êm nhẹ của sông Đà vào mùa xuân Để tạo nên sắc xanh đẹp đẽ như sắc ngọc, dòng nước phải đạt đến độ trong vắt, dòng chảy phải thực sự êm đềm, phải được soi chiếu bởi ánh sáng tự nhiên chan hòa, rạng rỡ Đó là một màu xanh sáng, xanh sang, nó khác với màu xanh cánh hến đùng đục của sông Gâm, sông Lô Việc so sánh "màu xanh ngọc bích" của sông Đà với "màu xanh cánh hến" của sông Gâm, sông Lô không chỉ là biểu hiện khá quen thuộc của một nhà văn thị tài, thích khoe tài hoa, khoe uyên bác mà còn là sự thiên vị của một niềm yêu! Sang đến mùa thu, nước sông Đà "lừ lừ chín đỏ" - những từ ngữ tượng hình đã gợi tả dòng chảy nặng nề, điềm đạm và chậm rãi của một con sông đầy nặng phù sa Đặc biệt hơn khi tác giả so sánh dòng chảy con sông vào mùa thu "như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về", ông không chỉ làm hiện lên cái màu sắc rất đặc trưng của nước sông Đà mà đâu đây, người đọc còn cảm nhận được sức mạnh tiềm tàng ẩn chứa nhiều đe dọa của một dòng sông vẫn "năm năm báo oán, đời đời đánh ghen" với con người Vậy là, ngay khi dừng lại miêu tả nét thơ mộng, trữ tình của dòng sông, hình ảnh của một con sông Đà hung bạo dường như vẫn ám ảnh đâu đây trong sự quan sát, cảm nhận của một người nghệ sĩ luôn say mê những cảm giác mạnh Đó cũng là hai nét tính cách đối lập làm nên vẻ đẹp đầy cá tính của sông Đà trong thơ Quang Lâm:

"Đẹp ngàn đời biển trời sông bát ngát

Cá dầm xanh, anh vũ nhảy theo mùa

Khi mùa lũ thác reo gầm dữ dội

Thu chớm lạnh sóng nước lặng lờ trôi."

Nét trữ tình, thi vị của sông Đà có lẽ sẽ không bao giờ hoàn chỉnh nếu thiếu đi sắc thái "lặng tờ hoang dại" của cảnh vật đôi bờ Từ trên cao, nhà văn đã thay đổi góc nhìn xuống người xuôi thuyền trên sông Mở đầu đoạn là một câu văn êm ru trong

Trang 9

những thanh bằng: " Thuyền tôi trôi trên sông Đà" Câu văn đã đưa con thuyền, nhà văn và cả người đọc vào một cõi êm đềm, yên ả, một cõi hoang sơ vắng lặng như từng có dấu vết của con người Tính từ "lặng tờ" được lặp lại đến hai lần cùng câu văn mang ý nghĩa khẳng định: "Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi" khiến cho sự êm đềm, tĩnh lặng của dòng sông dày thêm không chỉ vì cái yên ả trong không gian như còn vì cái thăm thẳm

xa xăm của thời gian Đúng như nhà văn đã so sánh: "Bờ sông hoang dại như một

bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa" Phép so sánh độc đáo, dùng không gian để gợi mở thời gian làm nổi bật lên vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, nguyên thủy của buổi sơ khai Nhờ đó, dòng sông như được đẩy trôi xa thêm vào miền mộng ảo, mà độc giả như được chu du về quá khứ, phiêu diêu trong cõi hồng hoang xa xôi, trong thế giới cổ tích huyền hoặc của tuổi thơ Trong cõi cổ tích yên ả êm đềm ấy, ta được thưởng thức không gian trong lành với "mấy lá ngô non đầu mùa mới nhú, mấy nõn búp cỏ gianh đẫm sương đêm", âm thanh khẽ khàng của "tiếng cá dầm xanh quẫy nước" và đặc biệt nhất là hình ảnh "con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương", cất tiếng hỏi nhà văn bằng "cái tiếng nói riêng của một con vật lành"" Đôi bờ sông Đà quá đẹp, quá nguyên sơ, tinh khiết, nó càng làm tăng thêm ảo giác như nhà văn đang bước lạc vào một cõi thuần hậu, trong trẻo Ảo giác này mãnh liệt đến mức ông bỗng "thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của chuyến xe lửa" Niềm khao khát này không chỉ là mong muốn âm thanh của cuộc sống hiện tại giúp nhà văn nhận ra mình vẫn đang ở thế giới thực, mà còn thể hiện ước mơ hiện đại hóa miền Tây Bắc Rồi sau này sẽ có những nhà máy, những công trình được xây dựng ở đây, Tây Bắc sẽ trở thành miền đất vàng, đất bạc cho công cuộc xây dựng và phát triển Tổ quốc

Để thể hiện tâm hồn của một dòng sông gần thương xa nhớ, nhà văn đã tạo ra một tình huống đặc biệt cho nỗi nhớ, niềm yêu, cho những bồn chồn, khát khao, vồ vập Đó là tình huống đi rừng lâu ngày bỗng thèm chỗ thoáng, thèm một không gian phóng khoáng mênh mông và nhất là thèm được gặp lại sông Đà "cố nhân"! Hai chữ "cố nhân" vừa là hình ảnh nhân hóa dòng sông như một người bạn cũ, lại vừa mang đến cho dòng sông chút cổ kính, vấn vương của Đường thi Với cái tài tình của một người sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt cấu trúc

so sánh đặc sắc để bộc lộ cảm xúc của con người khi gặp lại dòng sông Nhìn dòng sông thấy "loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt rồi bỏ chạy" là cái nhìn của người chưa ra đến cửa rừng, mới chỉ thấy từng "miếng sáng" của dòng

Trang 10

sông lấp lóa thoắt ẩn thoắt hiện mà đã thấy háo hức, vội vã, khát khao Khi liên tưởng mặt sông như "cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi", Nguyễn Tuân đã đem đến cho sông Đà vẻ lãng mạn huyền ảo của hoa khói, sự trong sáng rực rỡ của sắc xuân, cái bâng khuâng vời vợi nhớ nhung trong câu thơ được mệnh danh là "thiên cổ lệ cú" của Lí Bạch:"Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" Liên tưởng của nhà văn làm xao xuyến biết bao những tâm hồn luôn yêu nhớ phong vị Đường thi cổ điển Sông Đà trong văn Nguyễn Tuân không chỉ chảy trong không gian mà như còn trôi chảy trong dòng thời gian miên viễn, xa xăm của thế giới Đường thi Vẫn miêu tả cái háo hức của con người khi gặp lại dòng sông, tác giả viết nên một câu văn chỉ nối tiếp các chủ ngữ: "Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà" Nhịp điệu nhanh, dồn dập, giữa các vế câu có sự trùng điệp về cấu trúc như thay cho những bước chân nhanh chóng, vội

vã để đến với dòng sông của nhà văn cùng niềm say mê, phấn khích khó tả Hai chữ "sông Đà" điệp lại cuối mỗi vế câu đẳng lập tạo cảm giác như nhà văn đang hân hoan choáng ngợp giữa không gian phóng khoáng của sông Đà để rồi say mê

òa vào đó, ghi lại tất cả những gì đẹp đẽ ở đó, thậm chí không kịp để miêu tả bằng những vị ngữ cụ thể, tất cả đều bị cuốn đi theo những xúc cảm dồn dập, gấp gáp, say mê Cảm xúc gặp lại sông Đà cũng được cụ thể hóa trong những so sánh bất ngờ, thú vị: "Chao ôi! Trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng" "Nắng" tuy hữu hình nhưng vô thể, chỉ có thể nhìn mà không thể nắm bắt "Giòn tan" lại gợi ra cảm giác mong manh, dễ vỡ Cái "nắng giòn tan" hẳn phải là cái nắng trong sáng, mỏng nhẹ, thanh thanh và ấm

áp Nó trái ngược hẳn với mưa dầm u ám, tối tăm Sử dụng hình ảnh "chiêm bao đứt quãng", nhà văn đã tạo ra một sông Đà thật đáng quý, gợi cảm đối với chính ông - bởi "nối lại chiêm bao đứt quãng" là một việc gần như không thể có, hiếm quý vô cùng trong đời người Và điều đó càng hiếm quý bao nhiêu, thì khi có được càng đem lại cảm giác sung sướng thỏa mãn bấy nhiêu Và cuối cùng trong so sánh

về cảm giác gặp lại sông Đà, "nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân" - sông Đà

đã thực sự trở thành người bạn tri âm tri kỉ với biết bao kỉ niệm trong quá khứ, bao nhớ thương trong hiện tại, bao hẹn hò thủy chung trong tương lai Do vậy, dù có trái tính trái nết, sông Đà vẫn có sức mê hoặc lòng người đến kì lạ Phải là một người, yêu thiên nhiên tổ quốc, yêu cái đẹp, Nguyễn Tuân mới viết ra được những câu văn hay và lãng mạn đến thế Nhà văn của chủ nghĩa xê dịch đã nhiều lần đến với sông Đà và bất cứ lúc nào nếu muốn, ông cũng có thể trở lại gặp "cố nhân" của mình Vậy mà qua so sánh, ta cảm giác đối với Nguyễn Tuân, lần nào gặp lại dòng

Ngày đăng: 21/07/2023, 08:35

w