Khái niệm về mô hình bệnh tật Mô hình bệnh tật của một cộng đồng trong một giai đoạn là cơ cấu phần trăm các nhóm bệnh tật, các bệnh và tử vong của các bệnh trong cộng đồng ở giai đoạn
Trang 1luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2cáo chuyên đề đã được hoàn thành
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
TS.BS Vũ Văn ThànhPhó hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
là người Thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành báo cáo chuyên đề
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, các phòng ban và các thầy, cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Ban Giám đốc, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi
có thể hoàn thành tốt khóa học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và tập thể lớp Chuyên khoa I khóa 4 những người đã giành cho tôi tình cảm và nguồn động viên khích lệ
MỤC LỤC
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3Đặt vấn đề
Mục tiêu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận
1.2 Cơ sở thực tiễn
Chương 2: Thực trạng mô hình bệnh tật khoa Cấp cứu BVĐK tỉnh Phú Thọ năm 2017
2.1 Mô hình bệnh tật khoa Cấp cứu BVĐK tỉnh Phú Thọ năm 2017
2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh tại BVĐK tỉnh Phú Thọ
2.3 Kết luận
Tài liệu tham khảo
1
1
2
2
10
13
13
19
19
21
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4SDD CSSKBĐ CTTCMR WHO NST ICD
BVĐK
Suy dinh dưỡng
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Chương trình tiêm chủng mở rộng
Tổ chức y tế Thế giới
Nhiễm sắc thể
Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn
đề sức khỏe có liên quan
Bệnh viện đa khoa
DANH MỤC CÁC BẢNG
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5Bảng 2.4 Bảng 2.5 Bảng 2.6 Bảng 2.7 Bảng 2.8
Mô hình bệnh tật các ca bệnh quý I xếp theo 21 chương bệnh Kết quả điều trị các ca bệnh trong quý I
Mô hình bệnh tật các ca bệnh quý II xếp theo21chương bệnh Kết quả điều trị các ca bệnh trong quý II
Mô hình bệnh tật theo nhóm bệnh trong quý I và II
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1 Khu vực đón tiếp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình bệnh tật của một quốc gia, hay một địa phương, một cộng đồng là sự
phản ánh tình hình sức khỏe, tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia hay cộng đồng
đó[1]
Mô hình bệnh tật và tử vong ở các nước đang phát triển khác rõ rệt so với các nước phát triển Ở các nước đang phát triển tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và tử vong vẫn chiếm một tỷ lệ lớn Nhờ chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tỷ lệ các bệnh này đang có xu hướng ngày càng giảm Tỷ lệ các bệnh mạn tínhkhông lây như tim mạch, dị tật bẩm sinh, ung thư, rối loạn nội tiết và chuyển hoá, tai nạn thương tích ngày càng tăng lên[13]
Nhìn chung trong mười năm qua, mô hình bệnh tật chủ yếu của người dân nước
ta vẫn là bệnh nhiễm khuẩn và dinh dưỡng giống như của các nước đang phát triển; mặt khác, những bệnh tật phổ biến của các nước phát triển như ung thư, tim mạch, tâm thần, béo phì, tai nạn đã dần xuất hiện và có xu hướng tăng lên[13]
Thông qua mô hình bệnh tật và tử vong, ngành y tế có được những thông tin cần thiết giúp đánh giá tình trạng sức khoẻ; từ đó, đề ra các giải pháp can thiệp hiệu quả; do vậy,việc nghiên cứu mô hình bệnh tật và tử vong là rất quan trọng Sự thay đổi
mô hình bệnh tật và tử vong qua từng thời kỳ là cơ sở khoa học để các nhà quản lý đề
ra chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu và chiến lược y tếphù hợp[13]
Để đáp ứng nhu cầu điều trị, chăm sóc người bệnh ngày càng tốt hơn Bệnh viện
đa khoa tỉnh Phú Thọ đã tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị Y tế, thuốc men và nhân lực Nhờ đó, mà chất lượng điều trị, chăm sócngười bệnhngày càng được nâng cao nhất là lĩnh vực cấp cứu Tuy nhiên, những cố gắng trên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người bệnh Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú
Thọ năm 2017”, nhằm 2 mục tiêu sau:
- Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu Bệnh viện
đa khoa tỉnh Phú Thọ
- Mục tiêu 2: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 81.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật của một cộng đồng trong một giai đoạn là cơ cấu phần trăm các nhóm bệnh tật, các bệnh và tử vong của các bệnh trong cộng đồng ở giai đoạn
đó[11] Từ mô hình bệnh tật người ta có thể xác định được các nhóm bệnh phổ biến nhất; các nhóm bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất;từ đó, xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trước mắt và lâu dài cho cộng đồng[10] Thống kê bệnh tật và tử vong tại bệnh viện thể hiện trình độ, khả năng chẩn đoán, phân loại người bệnh theo các chuyên khoa để đảm bảo điều trị có hiệu quả; thực chất là khả năng đảm bảo phục vụ, chăm sóc người bệnh của bệnh viện; bởi vì, có phân loại, chẩn đoán đúng mới có thể tiên lượng, điều trị đúng và mang lại hiệu quả kinh tế cao Giảm tỷ lệ tử vong, tiết kiệm chi phí thuốc men và các phương tiện khác Thống kê bệnh tật và tử vong là đặc thù riêng của ngành y tế và là nội dung quan trọng của quản lý bệnh tật và tử vong[1]
1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới mô hình bệnh tật
Các yếu tố tác động làm thay đổi mô hình bệnh tật rất đa dạng, phong phú gồm:
1.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Theo Lê Nam Trà đây là yếu tố chính quyết định cấu trúc mô hình bệnh tật
[14] Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt giữa mô hình bệnh tật của các nước phát triển và các nước đang phát triển Ở các nước nghèo, SDD luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu trong chiến lược CSSKBĐ cho trẻ em, trong khi ở các nước giàu béo phì lại
là vấn đề đáng lo ngại Tuy nhiên, GDP thấp vẫn có thể làm thay đổi được cấu trúc bệnh tật nhờ sự quan tâm, đầu tư đúng mức của chính phủ; chiến lược CSSKBĐ đúng đắn, thực hiện tốt CTTCMR, tiếp cận tốt với hệ thống dịch vụ y tế[13]
Hồ Chí Minh là cao nhất trong toàn quốc [8]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 91.2.3 Dinh Dưỡng
SDD là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em SDD làm trẻ dễ mắc các bệnh viêm phổi, tiêu chảy, cũng như làm trầm trọng thêm tình trạng nhiễm khuẩn Các bệnh này cũng làm nặng thêm tình trạng SDD, tạo nên vòng luẩn quẩn [7]
1.2.4 Yếu tố môi trường
Vùng núi cao, ẩm ướt, đầm lầy khí hậu khắc nghiệt có mô hình bệnh tật trẻ em khác những nơi đồng bằng, khô ráo
Ô nhiễm môi trường sống do sự phát triển của cộng nghiệp và đô thị hoá nhanh cũng đưa đến nhiều bệnh tật ở cả những nước phát triển và đang phát triển
Theo Phạm Văn Thân và cộng sự tỷ lệ mắc bệnh hô hấp ở trẻ em tại khu công nghiệp Thượng Đình cao hơn rõ rệt so với vùng đối chứng không có ô nhiễm nước và không khí [10]
1.2.5 Cộng tác y tế và tiến bộ y học
“Các cộng tác y tế” như vệ sinh môi trường, y tế công cộng, cung cấp nước sạch,
mở rộng và tăng cường dịch vụ y tế, giáo dục sức khoẻ cộng đồng làm giảm tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn Tiến bộ y học như sản xuất vắc xin phòng bệnh, các loại thuốc chữa bệnh, các kỹ thuật chẩn đoán cao cấp giúp phát hiện các bệnh lý hiếm, khó chẩn đoán…cũng làm thay đổi mô hình bệnh tật[14] Theo Đàm Viết Cương, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ rất quan trọng; đặc biệt, các phương tiện cấp cứu và dịch vụ CSSKBĐ ở tuyến cơ sở góp phần rất lớn và hiệu quả trong công tác bảo vệ và nâng cao sức khoẻ trẻ em Tuy nhiên,“Điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế” của trẻ em còn hạn chế và chưa đảm bảo công bằng; trước hết, so với người lớn, do cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ em không đủ và bị thu hẹp, cán bộ Nhi khoa ít (1 bác sỹ/ 15.000 trẻ em); trang thiết bị còn nghèo nàn, lạc hậu hơn các cơ sở cho người lớn[6].CTTCMRđã làm giảm tỷ lệ mắc 6 bệnh nhiễm khuẩn, tiến tới thanh toán như bệnh đậu mùa trước kia
1.2.6 Các yếu tố khác
Thiên tai, mất mùa, chiến tranh, dịch bệnh, tâm lý xã hội cũng làm thay đổi mô hình bệnh tật trẻ em
Công trình nghiên cứu cộng đồng ở xã Phụng Cộng, Châu Giang, Hải Hưng của
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10GS Ngyễn Thu Nhạn và cộng sự cho thấy sức khoẻ trẻ em nông thôn Hải Hưng yếu kém hơn Hà Nội Sau 3 năm được hướng dẫn làm chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, tỷ lệ trẻ yếu kém đã giảm Sau đó xã Phụng Cộng gặp thiên tai, mất mùa, sức khoẻ trẻ em lại trở nên xấu như cũ [12]
Đại dịch AIDS làm thay đổi mô hình bệnh tật trẻ em, đặc biệt các nước Châu Phi
[17]
1.3 Phân loại bệnh tật và bảng phân bệnh của Bộ y tế
Mô hình bệnh tật được xây dựng từ những hồ sơ bệnh tật riêng rẽ Tuỳ thuộc mỗi cách phân loại bệnh tật, mô hình bệnh tật cũng có những sắc thái riêng
1.3.1 Phân loại bệnh tật
* Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật
Theo cách phân loại này bệnh tật được chia thành ba nhóm chính [4], [15]:
Việt Nam trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế, mô hình bệnh tật đang từng bước tiến tới gần giống mô hình bệnh tật của các nước phát triển Cách phân loại này số liệu đơn giản, tương đối chính xác do số liệu đủ lớn Nó rất thích hợp cho việc so sánh giữa các quốc gia các vùng miền cũng như có cái nhìn bao quát chung về mô hình bệnh tật của một đất nước, là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, vùng miền đó Nó có tính chất dự báo xu hướng bệnh tật tương lai và giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể để hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô
* Phân loại bệnh tật theo tỷ lệ mắc và chết cao nhất[4], [15]
Đặc điểm cơ bản của phân loại này là đưa ra tên bệnh hoặc nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, có thể phân chia theo từng lứa tuổi, tuỳ thuộc tác giả, yêu cầu nghiên cứu Cách phân loại này đưa ra thứ tự của các bệnh thường gặp cũng như mức độ nguy
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11hiểm của một số bệnh dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong; từ đó, có những chính sách đầu tư thích hợp nhằm can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của các bệnh đó
Đây là cách phân loại đơn giản, dễ thực hiện, dễ áp dụng nhất là những nơi có mật
độ dân số thấp, số lượng khám chữa bệnh không đủ lớn để phân loại chi tiết, những nơi chưa quản lý cơ sở dữ liệu bằng máy tính
Nhược điểm của cách phân loại này là không cho chúng ta nhìn toàn diện về mô hình bệnh tật, không đánh giá được chính xác sự tiến triển và biến động của mô hình bệnh tật
* Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu
Một sốchuyên khoa còn có các cách phân loại khác mang tính chuyên sâu, nhưng thường chỉ áp dụng ở một số nước có nền y học phát triển và trình độ khoa học kỹ thuật cao do tính chất phức tạp của chẩn đoán(ngành ung bướu phân loại dựa trên ICD
- O liên quan đến hình thái học của khối u), hay chưa thống nhất được các tiêu chuẩn chẩn đoán(hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ có các tiêu chuẩn phân loại riêng về các bệnh lý tâm thần) Những cách phân loại này khó có điều kiện áp dụng ở Việt Nam, chỉ mang tính chất tham khảo [4], [15]
* Phân loại bệnh tật theo ICD -10 [2], [4], [15], [16], [18]
Cách phân loại được WHO khuyến khích sử dụng trên toàn thế giới và là một báo cáo bắt buộc cho từng nước, là xây dựng mô hình bệnh tật theo phân loại bệnh tật quốc tếvà các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ(ICD) Qua nhiều lần sửa đổi đến nay, sau lần hiệu đính thứ 10, ICD - 10 được đưa ra sử dụng ngày càng rộng rãi và đã chứng minh được tính ưu việt của nó
Đặc điểm nổi bật của ICD là phân loại theo từng chương bệnh, trong mỗi chương lại chia ra từng nhóm bệnh Từ mỗi nhóm bệnh chia nhỏ thành các tên bệnh và cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của bệnh Như vậy, một bệnh theo ICD được mã hoá bởi 3 ký tự chính và ký tự thứ 4 mã hoá bệnh chi tiết (không bắt buôc nếu không đủ điều kiện) Với điều kiện cụ thể của Việt Nam và một
số nước đang phát triển WHO chỉ yêu cầu mã hoá đến tên bệnh (3 ký tự), các chuyên khoa sâu có thể vận dụng hệ thống mã hoá 4 ký tự để phân loại chi tiết hơn, phù hợp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12với từng chuyên khoa
Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ, chi tiết Nó giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý có cái nhìn bao quát, toàn diện và cụ thể về mô hình bệnh tật để từ đó đưa ra các chiến lược, chính sách, giải pháp thích hợp, đánh giá hiệu quả của các chương trình chăm sóc sức khoẻ đã và đang được triển khai Nó giúp các bác sỹ lâm sàng có cái nhìn tổng thể mô hình bệnh tật của đơn vị mình đang công tác Với sự trợ giúp của máy vi tính chúng ta có thể dễ dàng xây dựng mô hình bệnh tật theo các cách phân loại đã trình bày ở trên bởi bản thân ICD đã bao hàm các cách phân loại đó
Phân loại theo ICD giúp người quản lý dễ dàng so sánh, đánh giá mô hình bệnh tật giữa các quốc gia, các vùng miền, các bệnh viện; từ đó, đưa ra các đầu tư đúng đắn cũng như các chương trình hành động thiết thực nhằm cải thiện tình trạng của từng bệnh lý cụ thể nhất là khi kinh phí chi cho ngành y tế còn eo hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn
Đây là cách phân loại khá chi tiết, đòi hỏi người làm công tác thống kê phải có trình độnhất định để tránh nhầm lẫn, cũng như đòi hỏi các bác sỹ lâm sàng cần có chẩn đoán chính xác, chi tiết Điều này có thể khắc phục bằng việc nâng cao trình độcho bác sỹ lâm sàng và đào tạo, tập huấn cho những người trực tiếp mã hoá bệnh
Cấu trúc của ICD – 10
Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II: Bướu tân sinh
Chương III: Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch
Chương IV: Bệnh nội tiết - dinh dưỡng - chuyển hoá
Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI: Bệnh hệ thần kinh
Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm
Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn
Chương X: Bệnh hệ hô hấp
Chương XI: Bệnh hệ tiêu hoá
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13Chương XII: Các bệnh da và mô dưới da
Chương XIII: Bệnh hệ cơ - xương - khớp và mô liên kết
Chương XIV: Bệnh hệ sinh dục - tiết niệu
Chương XV: Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản
Chương XVI: Một sốbệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh
Chương XVII: Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về NST
Chương XVIII: Các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở nơi khác
Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một sốhậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài
Chương XX: Nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong
Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và tiếp xúc dịch vụ y
tế
Các bệnh bị chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài thuộc chương XIX; do các nguyên nhân bên ngoài của các bệnh tật và tử vong là tai nạn giao thông, sinh hoạt, tự tử, thiên tai, ẩu đả gây thương tích thuộc chương
XX Như vậy, với một người bệnh bị chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài sẽ có chẩn đoán bệnh thuộc chương XIX và chẩn đoán nguyên nhân thuộc chương XX
Cấu trúc một nhóm trong mỗi chương gồm các bệnh
Ví dụ: Thiếu máu dinh dưỡng:
- Thiếu máu do thiếu sắt
- Thiếu máu do thiếu Vitamin B12
- Thiếu máu do thiếu acid Forlic
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14- Thiếu máu do dinh dưỡng khác
Cấu trúc một bệnh trong mỗi nhóm
Mỗi bệnh phân loại chi tiết hơn theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc trưng của bệnh đó
Ví dụ: Lỵ trực khuẩn (A03) được phân thành:
- Lỵ trực khuẩn do Shigelladysenteriae (A03.0)
- Lỵ trực khuẩn do Shigellaflexneri (A03.1)
- Lỵ trực khuẩn do Shigellaboydii (A03.2)
- Lỵ trực khuẩn do Shigellasonnei (A03.3)
- Nhiễm Shigella khác (A03.8)
- Nhiễm Shigella, không xác định và lỵ trực khuẩn KXĐK (A03.9)
Bộ mã 4 ký tự
- Ký tự thứ nhất (chữ cái) mã hoá chương bệnh
- Ký tự thứ 2 (số thứ nhất) mã hoá nhóm bệnh
- Ký tự thứ 3 (số thứ hai) mã hoá tên bệnh
- Ký tự thứ 4 (số thứ ba) mã hoá môt bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của một bệnh
Ký tự thứ nhất có 25 chữ cái từ A đến Z, trừ chữ cái U không sử dụng Giữa ký
Francois Bossier de Lacroix (1706 - 1777) thường được gọi là Sauvages là người đầu tiên nỗ lực phân loại bệnh một cách có hệ thống thông qua một chuyên đề có tên
là NosologiaMethodica, đưa ra cách phân loại bệnh thành 10 bệnh CharleesLinner (1739) chia thành 11 loại
Đầu thế kỷ 19, phân loại bệnh được dùng nhiều nhất là phân loại của William
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15Cullen (1710 - 1790) ở Edinburgh được công bố năm 1789 dưới tiêu đề Synopsis nosologiaemethodocae
John Graunt là người đầu tiên nghiên cứu thống kê về bệnh với các dự luật London
về tử vong Từ năm 1837 William Farr (1807 - 1883) đã nỗ lực để có được bảng phân loại bệnh tật tốt hơn từ bảng phân loại của Cullen và sử dụng chúng đồng nhất trên quốc tế Năm 1855 Farr trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hội nghị thống kê Quốc tếlần thứ hai tại Paris, bố trí làm năm nhóm: bệnh dịch, bệnh nói chung, bệnh địa phương được bố trí theo vị trí cơ thể, bệnh tiến triển và bệnh là nguyên nhân trực tiếp của bạo động Cũng tại Hội nghị này Marc d’Espine đưa ra bảng phân loại bệnh theo tính chất của chúng (bệnh gut, xuất huyết ) Hội nghị chấp nhận danh sách thoả hiệp gổm 139 đề mục và sau đó được nhiều lần xem xét lại Mặc
dù bảng phân loại này chưa bao giờ được chấp nhận trên thếgiới, nó vẫn tồn tại như là
cơ sở của danh sách quốc tếvề nguyên nhân tử vong
Phân loại bệnh tật quốc tếđầu tiên được chấp nhận đã được Uỷ ban của Viện Thống
kê Quốc tế do Jacques Bertillon (1851 - 1922) đứng đầu chuẩn bị, bao gồm 161 tiêu
đề Đó là sự tổng hợp từ các bảng phân loại của Anh, Đức, Thụy Sĩ trên nguyên tắc của Farr đưa ra là phân biệt bệnh nói chung và bệnh của cơ quan đặc biệt hoặc vị trí cơ thể Phân loại này được gọi là phân loại Bertillon về nguyên nhân của cái chết, đưa ra vào năm1893 tại Hội thảo do Viện nghiên cứu tổ chức tại Chicago Phân loại Bertillon hiệu đính lần đầu tiên vào năm 1900 và sau đó khoảng 10 năm một lần nó lại được hiệu đính lại (1909, 1920, 1929, 1938) Mục đích ban đầu của phân loại Bertillon là đưa ra các nguyên nhân tử vong được duy trì cho tới lần sửa đổi thứ năm (1938)
Song song với việc xây dựng ngày càng hoàn thiện danh sách về nguyên nhân tử vong, danh sách quốc tế về bệnh tật cũng được coi trọng Phân loại bệnh tật đầu tiên được chấp nhận năm 1900 và liên tục được hiệu đính Tuy nhiên, chúng vẫn chỉ là sự
mở rộng giới hạn nguyên nhân tử vong cơ bản
Do thiếu sự phân loại đồng nhất có thể phù hợp với thống kê bệnh tật các nước tự đưa ra phân loại của riêng mình Khởi đầu là Canada tiếp đến là Anh và Mỹ
Từ lần hiệu đính thứ 6 trở đi (1946) WHO trực tiếp chỉ đạo việc hiệu đính Lần hiệu đính thứ 6 chính thức thiết lập danh sách Quốc tế về nguyên nhân bệnh, thông qua danh sách toàn bộ cho cả tử vong và bệnh, kiến nghị một chương trình toàn diện về
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si