ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Điều dưỡng đang làm việc tại 3 khoa: Sản, Phụ, Ngoại bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
Tất cả điều dưỡng tham gia nghiên cứu đều có ít nhất 1 năm kinh nghiệm làm việc và đang trực tiếp chăm sóc vết mổ Việc chọn điều dưỡng có thời gian làm việc từ 1 năm trở lên là cần thiết, vì đây là khoảng thời gian đủ để họ thực hành các kỹ năng chuyên môn cơ bản, cũng như học tập và áp dụng kiến thức về phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ sau khi tốt nghiệp.
- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Điều dưỡng đang trong thời gian thử việc
- Những điều dưỡng đang làm việc hành chính ở khoa, không trực tiếp chăm sóc người bệnh phẫu thuật trong thời gian nghiên cứu.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Khoa Ngoại, Sản, Phụ của bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình là nơi điều trị và chăm sóc cho bệnh nhân sau phẫu thuật Tại đây, đội ngũ y tế phải thực hiện nhiều quy trình chăm sóc vết mổ với yêu cầu vô khuẩn cao.
Vì vậy có nhiều cơ hội để điều tra, đánh giá kiến thức, thực hành của ĐD trong chăm sóc phòng NKVM
Thời gian: Từ tháng 01/2017 đến tháng 04/2017.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm điều tra kiến thức và đánh giá thực hành của điều dưỡng trong việc chăm sóc phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) tại ba khoa của Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình.
Sơ đồ các bước tiến hành như sau:
Từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2017
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này, 71 điều dưỡng đủ tiêu chuẩn đã được chọn tham gia, với sự phân bổ như sau: 24 điều dưỡng từ Khoa Sản, 22 điều dưỡng từ Khoa Phụ, và 25 điều dưỡng từ Khoa Ngoại.
- Cỡ mẫu điều tra kiến thức: Lập danh sách gồm 71 ĐD của 3 khoa: Sản,
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình đang tiến hành nghiên cứu về kiến thức chăm sóc vết mổ hậu phẫu, với sự tham gia của đội ngũ phụ, ngoại Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật.
Cỡ mẫu đánh giá thực hành được xác định dựa trên sự phân công công việc của điều dưỡng tại các khoa, theo nhóm chăm sóc Mỗi điều dưỡng sẽ có ít nhất một cơ hội thực hiện quy trình chăm sóc vết mổ trên bệnh nhân thông qua quan sát trực tiếp, không báo trước và ngẫu nhiên Nghiên cứu này nhằm mục đích quan sát thực hành của tất cả điều dưỡng đã được đánh giá về kiến thức.
Cỡ mẫu quy trình rửa tay/sát khuẩn tay là toàn bộ cơ hội mà ĐD thực hiện trong quy trình thay băng vết mổ
Thống kê, lập danh sách ĐD của 3 khoa theo các tiêu chuẩn lựa chọn
Từ ngày 16/01 – 31/01/2017: Điều tra kiến thức về chăm sóc phòng ngừa NKVM của ĐD
- Quan sát thực hành quy trình thay băng vô khuẩn, rửa tay thường quy, sát khuẩn tay
- Phỏng vấn người bệnh/người nhà của NB luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Phương pháp thu thập số liệu
Đội ngũ điều tra viên bao gồm 01 chủ đề tài và 02 giảng viên đại học từ trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình, cùng với 03 điều dưỡng trưởng có trình độ đại học đang công tác tại bệnh viện Họ đã cùng nhau xây dựng đề cương nghiên cứu và được tập huấn để thống nhất nội dung bộ câu hỏi, kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu.
Các biến số nghiên cứu
*Biến số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới tính: có 2 giá trị: nam và nữ
Trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu được phân loại thành hai nhóm chính: Trung cấp và Cao đẳng/Đại học, phản ánh mức độ chuyên môn cao nhất tại thời điểm nghiên cứu.
Thời gian công tác của nhân viên y tế tại khoa phòng hiện tại của bệnh viện được phân chia thành 5 giá trị: từ 1 – 5 năm, từ 6 – 10 năm, từ 11 – 15 năm, và từ 16 năm trở lên.
Số người bệnh mỗi ngày là số lượng bệnh nhân mà điều dưỡng chăm sóc trong một ngày, được phân chia thành bốn nhóm: từ 1 đến 5 người bệnh, từ 6 đến 10 người bệnh, từ 11 đến 15 người bệnh, và từ 16 đến 20 người bệnh.
Trong vòng 12 tháng qua, đối tượng đã tham gia tập huấn hoặc đào tạo về chương trình chăm sóc phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM), với hai giá trị có thể: có hoặc không.
+ Số đợt tập huấn/năm: là số đợt mà Điều dưỡng được tập huấn/đào tạo trong năm đó
Mức độ cần thiết của việc tập huấn/đào tạo về chương trình chăm sóc phòng NKVM được phân loại thành bốn giá trị: Rất cần thiết, cần thiết, bình thường và không cần thiết.
*Biến số về kiến thức NKVM luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Kiến thức chăm sóc phòng NKVM được phân thành hai mức độ: đạt và không đạt Mức độ đạt được xác định khi người tham gia trả lời đúng từ 80% trở lên (tốt) hoặc từ 65% đến 79% (khá) Ngược lại, mức độ không đạt được khi tỷ lệ trả lời đúng nằm trong khoảng từ 50% đến 64% (trung bình) hoặc dưới 50% (kém).
*Biến số về thực hành chăm sóc phòng NKVM
Thực hành chăm sóc phòng NKVM: có 2 giá trị “đạt” và “không đạt”
Quy trình thay băng rửa vết thương: có 2 giá trị “đạt” và “chưa đạt”
Quy trình rửa tay thường quy: có 2 giá trị “đạt” và “chưa đạt”
Quy trình sát khuẩn tay nhanh với dung dịch có chứa cồn: có 2 giá trị “đạt” và “chưa đạt”
Giáo dục sức khỏe: có 2 giá trị để đánh giá chung thực hành GDSK: “đạt”,
Khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
- Kiến thức chăm sóc phòng NKVM: là sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về phòng NKVM
- Thực hành chăm sóc phòng NKVM: là một quy trình được đối tượng nghiên cứu thực hiện trên người bệnh để phòng NKVM
Giáo dục sức khỏe là quá trình hướng dẫn và cung cấp kiến thức cho bệnh nhân và người nhà về các vấn đề liên quan đến phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ trong quá trình chăm sóc.
2.7.2 Thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
Bộ công cụ đánh giá kiến thức của Điều dưỡng được xây dựng dựa trên hướng dẫn mới của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2016 về dự phòng nhiễm khuẩn vết mổ Tài liệu đào tạo liên tục về kiểm soát nhiễm khuẩn cho nhân viên y tế do Bộ Y tế phát hành năm 2012 cũng được tham khảo Bộ công cụ này còn dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thanh Loan năm 2014, được dịch từ công trình của Sickder Humaun Kabir về kiến thức và thực hành của điều dưỡng liên quan đến phòng nhiễm khuẩn vết mổ tại Bangladesh năm 2010 Bộ công cụ bao gồm hai phần chính.
+ Thông tin người được phỏng vấn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+ Kiến thức về chăm sóc phòng NKVM: gồm 27 câu hỏi, ĐD lựa chọn đáp án đúng nhất trong 3 ý
Bộ công cụ quan sát thực hành của Điều dưỡng bao gồm 3 phiếu quan sát: quy trình thay băng phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM), quy trình vệ sinh tay (bao gồm rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng cồn) Các phiếu quan sát này được xây dựng và đánh giá dựa trên quy trình chuẩn về đào tạo liên tục kiểm soát nhiễm khuẩn của Bộ Y tế năm 2012, cùng với hướng dẫn từ CDC và NICE cho Điều dưỡng Ngoại khoa.
Bộ công cụ đánh giá thực hành GDSK của ĐD thông qua phỏng vấn NB/người nhà NB bao gồm 4 nội dung cơ bản cần thiết để giáo dục sau khi chăm sóc vết mổ, dựa trên tài liệu đào tạo liên tục kiểm soát nhiễm khuẩn Việc đánh giá và thu thập số liệu về kiến thức, thực hành được thực hiện dựa trên nghiên cứu của Võ Văn Tân (2010) và Nguyễn Thanh Loan (2014) Chúng tôi đã đưa ra thước đo và tiêu chuẩn đánh giá cụ thể.
* Đánh giá kiến thức chăm sóc phòng NKVM của ĐD qua bộ câu hỏi tự điền, trả lời ý đúng nhất
Điều tra viên nhấn mạnh rằng mục đích của cuộc điều tra là để thu thập thông tin phục vụ cho đề tài luận văn, và cam kết bảo mật mọi thông tin của đối tượng được điều tra.
+ Điều tra viên hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi trong phần này
Bài nghiên cứu đã phát phiếu cho các điều dưỡng tham gia, yêu cầu họ trả lời bộ câu hỏi gồm 27 câu trong thời gian 30 phút Mỗi câu trả lời sẽ được đánh giá trực tiếp dựa trên phương pháp chọn lựa câu trả lời đúng nhất.
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đúng là mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai sẽ nhận 0 điểm.
Biến số định tính được nghiên cứu dựa trên quy chế đánh giá và xếp loại theo Quyết định số 40/2006/QĐ-BGĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ban hành ngày 05/10/2006, nhằm mục đích xếp loại kiến thức của ĐD.
Bảng 2 1 Tiêu chuẩn được đánh giá kiến thức điều dưỡng
Tiêu chí Tiêu chuẩn đánh giá
* Đánh giá thực hành của ĐD theo các quy trình chăm sóc phòng NKVM
+ Thời điểm quan sát: khi điều dưỡng bắt đầu tiến hành thay băng vết thương do phẫu thuật đến khi kết thúc quy trình trên một người bệnh
Hai điều tra viên đã sử dụng cùng một mẫu phiếu để quan sát trực tiếp và không báo trước các quy trình chăm sóc vết mổ của điều dưỡng Sau mỗi lần quan sát, họ đối chiếu kết quả về cơ hội thực hành chăm sóc vết mổ của điều dưỡng.
Hai phiếu quan sát sẽ được sử dụng để đánh giá kết quả thực hành của điều dưỡng Nếu số liệu của hai điều tra viên trùng nhau, kết quả đó sẽ được công nhận Ngược lại, nếu kết quả không trùng khớp, sẽ tiến hành quan sát lại cơ hội chăm sóc vết mổ khác của điều dưỡng.
Tiêu chuẩn đánh giá thực hành đạt của điều dưỡng (ĐD) bao gồm mẫu 1, mẫu 2 và mẫu 3 Mẫu 1 quy định quy trình thay băng với 10 bước, mỗi bước được đánh giá với hai mức độ: “Đạt” (2 điểm) hoặc “Chưa đạt” (0 điểm) Các bước 1 và 10 sử dụng mẫu 2 hoặc mẫu 3 để quan sát, trong khi bước 4 và 5 chỉ sử dụng mẫu 3 Qua điều tra, các khoa chỉ thực hiện sát khuẩn tay nhanh, do đó mẫu 3 được áp dụng để đánh giá các bước 1, 4, 5 và 10 trong quy trình thay băng Quy trình sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn (mẫu 3) gồm 6 bước, với mỗi bước cũng được đánh giá là đạt (2 điểm) hoặc chưa đạt (0 điểm) ĐD được coi là thực hành quy trình sát khuẩn tay “Đạt” khi hoàn thành tất cả 4 lần thực hiện trong quy trình thay băng, còn lại sẽ được đánh giá là “Chưa đạt” Các tiêu chuẩn đánh giá cho mỗi quy trình thực hành chăm sóc phòng ngừa nhiễm khuẩn vẫn được duy trì.
Bảng 2 2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành chăm sóc phòng nhiễm khuẩn vết mổ
Tên quy trình thực hành
Xếp loại (% tổng số điểm)
Quy trình thay băng rửa vết thương 20 ≥ 80% 70% - 79% 50% - 69% 0,05 Được đào tạo/tập huấn
Số lần tập huấn (nH)
OR=0,076 (95% CI: 0,009 – 0,658); 2 =7,760; p0,05 Được đào tạo/tập huấn
Số lần tập huấn (nH)
OR=0,333 (95%CI: 0,060-1,854); 2 =1,678; p>0,05 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nhận xét: Từ bảng kết quả trên cho thấy:
Chưa tìm thấy mối liên quan giữa thực hành quy trình thay băng với đặc điểm giới tính, khoa phòng công tác với p>0,05
Tỷ lệ thực hành quy trình thay băng của nhóm điều dưỡng trình độ cao đẳng/đại học đạt 91,4%, cao hơn đáng kể so với nhóm điều dưỡng trình độ trung cấp với tỷ lệ 52,8% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với tỷ số Odds Ratio (OR) là 0,105 (95% CI: 0,027 – 0,405) và p 0,05.
Bảng 3 14 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của điều dưỡng với thực hành giáo dục sức khỏe Đặc điểm
Thực hành giáo dục sức khỏe Đạt Chưa đạt
OR=3,302 (95%CI: 0,018 – 5,103); 2 =0,767; p>0,05 Fisher’s exact test
OR=0,632 (95%CI: 0,204 – 1,957); 2 =0,636; p>0,05 Được đào tạo/tập huấn
Số lần tập huấn (nH)
OR=0,262 (95%CI: 0,027-2,539); 2 =1,500; p>0,05 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nhận xét: Kết quả bảng 3.14 cho thấy
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực hành GDSK và các yếu tố như giới tính, khoa phòng công tác, số bệnh nhân chăm sóc trong ngày, cũng như số lần tập huấn, với giá trị p > 0,05.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên quan giữa thực hành GDSK và trình độ học vấn Cụ thể, nhóm có trình độ trung cấp có tỷ lệ thực hành GDSK đạt 61,1%, trong khi nhóm trình độ cao đẳng/đại học chỉ đạt 14,7% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị OR=0,147 (95%CI: 0,038 – 0,574) và p 0,05 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu cắt ngang tại hai bệnh viện ở Dubai, Ấn Độ, do Haleema Sadia thực hiện.
2017, trong 131 đối tượng nghiên cứu không có đối tượng là nam giới [50]
Nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ đáng kể giữa khoa phòng, thời gian công tác, và số bệnh nhân mỗi ngày với kiến thức, với p > 0,05 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Loan [22].
Trình độ học vấn có mối liên hệ tích cực với kiến thức về chăm sóc phòng nhiễm khuẩn vết mổ, cho thấy điều dưỡng có trình độ cao hơn sẽ có kiến thức tốt hơn Nghiên cứu chỉ ra rằng điều dưỡng có trình độ trung cấp chỉ đạt 3% kiến thức so với điều dưỡng cao đẳng/đại học Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Loan và Sickder Humaun Kabir, cho rằng trình độ học vấn cao giúp quản lý và ngăn ngừa biến chứng nhiễm trùng vết mổ hiệu quả hơn Tuy nhiên, nghiên cứu của Haleema Sadia lại cho thấy mối tương quan nghịch giữa trình độ học vấn và kiến thức của điều dưỡng Sự khác biệt này có thể do tỷ lệ trình độ học vấn trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi gần bằng nhau, trong khi nghiên cứu của Haleema Sadia chỉ có 8,4% đối tượng có trình độ cử nhân, ảnh hưởng đến kiến thức của họ.
Nghiên cứu này chỉ ra mối liên quan tích cực giữa kiến thức và việc được đào tạo/tập huấn, với 77,1% trong số 45 người có kiến thức đạt được đào tạo, so với 34,8% không được đào tạo (OR=6,307; 95% CI: 2,119 – 18,769; p0,05.
Mối liên quan giữa thực hành thay băng vết mổ với đặc điểm chung
Kết quả từ bảng 3.13 cho thấy có mối liên quan thuận giữa trình độ chuyên môn và thực hành thay băng vết mổ, với OR=0,105 (95%CI: 0,027 – 0,405); p