1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiêu hóa hấp thụ chuyển hóa Carbohydrate

17 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiêu hóa hấp thụ chuyển hóa Carbohydrate
Trường học Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Sinh học y học
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,18 MB
File đính kèm tiêu hóa hấp thụ chuyển hóa.zip (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Carbohydrate là một thành phần cơ bản trong thức ăn mà cơ thể con người sử dụng để tạo ra năng lượng. Carbohydrate bao gồm carbohydrate đơn giản (simple carbohydrate) và carbohydrate phức tạp (complex carbohydrate).

Trang 1

Chương : CARBOHYDRATE

Cacbohydrate tên gọi chung của nhóm phân tử hữu cơ và chúng cung cấp 48% như cầu năng lượng của khẩu phần cacbohydrate được phân nhóm tùy thuộc vào số lượng nguyên tử của cacbon trong phân tử về mặt dinh dượng các loại carbohydrate có tầm quan trọng là hexosse và trong đó D-glucose là quan trọng nhất

Monosaccharide Glucose, fructose

disaccharide Sucrose, lactose

olisaccharide Raffinose, stachyose, fructo-oligosaccharide

polysaccharide Cellulose, hemicellulosses, pectins, B-glucans,

Fructan Gums, mucilages, algal polysaccharide

Sugar alcohols Sorbitol, mannitol, xylitol, lactitol,maltitol

- carbohydrate có trong hầu hết tất cả các loại thực phẩm

- Các thực phầm chứa nhiều các cacbohydrate như lương thực thực phẩm: gạo, khoai lang, khoai tây, ;các loại đậu: đậu tương, đậu hà lan, đậu xanh…; trái cây,…

- Sự phân giải Tinh bột:

+ bắt đầu tại khoang miệng nhờ tác động của α-amylase trong nước bọt, một

endoglycosidase thủy phân liên kêt α 1,4 giữa các gốc glycosyl ở những khoảng ngẫu nhiên trong chuỗi tạo ra những polysaccharide ngắn hơn

+ Sự tiêu hóa tinh bột bắt đầu từ tác đông của α-amylasa trong nước bọt nhưng chủ yêu tiến hành ở đoạn trên ruột non Trong đoạn khoang ruột này, α-amylasa sẽ thủy phân α-1,4 glucoside thành dextrin và maltose

+ Các men tiêu hóa các chât đường gồm: Amylase trong nước bọt, dịch tụy, lactase, maltase, sucrase, galactase,… được tiết ở tế bào niêm mạc ruột Khi ăn chất bột đường, các men này sẽ thủy phân chuỗi dài thành chuỗi ngắn hơn, chuỗi ngắn thành dissacharide

và cuối cùng thành monosaccharid

Qúa trình này bắt đầu ở miệng, Khi nhai chậm thức ăn giàu chất bột đường sẽ kích thích tiết amylase trong nước bọt Amylase bắt đầu thủy phân tinh bột thành

polysaccharide ngắn hơn thành maltose Chính lượng maltose này tạo vị ngọt khi nhai tinh bột trong miệng thưc ăn khi xuông đến dạ dày sec được hòa trộn với dịch vi và các men tiêu hóa protein, khi đó amylase sẽ bị bất hoạt Qúa trình tiêu hóa tinh bột sẽ tạm ngưng Chât xơ lưu lại trong dạ dày sẽ kéo dài thời gian căng của dạ dày và tạo cảm giác

Trang 2

no Ruột non là nơi tiêu hóa chủ yếu của chất bột đường Amylase của tụy sẽ tiếp tục tiêu hóa chất bột đường thành polysaccharide, rồi thành disaccharide Bước cuối cùng tế bào niệm mạc của ruột non sẽ tiết ra các monosaccharide

Maltose (Maltase) > Glucose + Glucose

Sucrose (Sucrase) > Fructose + Glucose

Lactose (Lactase) > Galactose + Glucose

Tất cả dissacharide đều đóng góp ít nhất một phân tử glucose cho cơ thể Fructose

và galactose cuối cùng cũng được chuyển thành glucose sau khi qua gan Tại ruột già, trong vòng 1-4 giờ sau bữa ăn, tất cả đường và hầu hết tình bột đã được tiêu hóa Chỉ còn những mảnh tinh tinh bột nhỏ( chiếm 10%-20% tinh bột trong thức ăn) và chất xơ không tiêu hóa đượcc nằm lại trong hệ tiêu hóa Những tinh bột thừa phản ảnh hiệu quả tiêu hóa tinh bột của cơ thể và thành phần Carbonhydrate của thức ăn Một ố thức ăn thô ẽ khó tiêu hóa hơn (đậu nguyên vỏ, chuối chưa chín) Các carbonhydrate không được tiêu hóa sẽ làm tăng nhu động ruột giống chất xơ nhưng khác ở chỗ là nó không làm giảm

cholesterol máu Chất xơ trong ruột già sẽ kéo theo nước làm mềm phân (150-200ml nước/ngày) Vi khuẩn trong ruột già sẽ lên men ( chuyển hóa yến khí) cả chất xơ và tinh bột còn lại Qúa trình này sẽ tạo ra nước, hơi và acid béo chuỗi ngắn ( acetic, propionic, butyric acid) Những acid béo chuỗi ngắn này sẽ được hấp thu qua đại tràng và sinh năng lượng khi được chuyển hóa

II HẤP THU

+ Trong ruột, chỉ những carbohydrate bị ảnh hưởng bởi các enzym đặc biệt mới bị phân hủy và hấp thụ Carbohydrate không tiêu hóa, hoặc chất xơ, không thể bị dị hóa, vì không có enzyme đặc biệt cho việc này Tuy nhiên, sự dị hóa của chúng bằng vi khuẩn đại tràng là có thể, có thể gây ra sự hình thành khí Thực phẩm carbohydrate được tạo thành từ disaccharides: sucrose (đường thông thường) và lactose (đường sữa);

monosaccharides: glucose và fructose; và tinh bột thực vật: amylose (chuỗi polymer dài bao gồm các phân tử glucose liên kết bởi al, 4 liên kết) và amylopectin (một loại polyme glucose khác, có phân tử được nối với nhau bằng 1,4 và 1,6 liên kết) Một loại

carbohydrate thực phẩm khác, glycogen, là một polymer của glucose, các phân tử được kết nối bởi 1,4 liên kết

+ Các tế bào ruột không có khả năng vận chuyển carbohydrate lớn hơn một

monosaccharide Do đó, hầu hết các carbohydrate phải được phân hủy trước khi được hấp thụ

+ Glucose là chất duy nhất có thể hấp thu với một lượng giới hạn qua niêm mạc miệng nhưng quá trình hấp thu Glucose chủ yếu vẫn xảy ra ở ruột non

+ Glucose và Galactose được vận chuyển tích cực vào tế bào ruột non Còn Fructose được khuếch tán tăng cường qua tế bào ruột non

+ Khi máu từ ruột theo hệ tĩnh mạch cửa đi qua gan, tế bào gan sẽ bắt giữ Fructose và Galactose, sau đó chuyển chúng thành những hợp chất khác, chủ yếu là Glucose Do đó, tất cả disaccharide không chỉ cung cấp ít nhất một phân tử Glucose trực tiếp mà chúng còn có thể cung cấp thêm một phân tử Glucose gián tiếp thông qua sự chuyển hóa

Fructose và Galactose

Trang 3

+ Bên trong cơ thể, các monosaccharide được dùng để

- Sinh năng lượng cho hoạt động của tất cả các tế bào của cơ thể, đặc biệt là tế bào não, hồng cầu và tế bào cơ

- Chuyển thành Glycogen, một dạng đường dự trữ trong tế bào gan và cơ Dự trữ trong gan chiếm tỷ lệ cao nhất cũng là dạng dự trữ chung cho toàn cơ thể khi cần Nhưng vì số lượng cơ lớn nên chứa Glycogen nhiều nhất và gần bằng nửa tổng lượng Glycogen trong

cơ thể Glycogen trong cơ chỉ dự trữ cho riêng tế bào cơ Khi cơ thể thiếu đường,

Glycogen sẽ được chuyển thành Glucose để sử dụng

- Chuyển thành dạng Lipid dự trữ trong mô mỡ

Sản phẩm chuyển hóa của chất đường là CO2 và nước, có thể được thải hoàn toàn qua đường hô hấp và thận Đường được xem là chất cung cấp năng lượng "sạch" cho cơ thể Carbohydrate sau khi được hấp thu trong cơ thể sẽ có ba hướng đi:

- Vào trong máu

- Tồn trữ dưới dạng glycogen

- Chuyển hoá thành lipid

Tỷ lệ của 3 hướng đi này có sự khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của cơ thể Trong tình trạng cơ thể bình thường, ngoài việc làm nguồn năng lượng để sử dụng, hầu hết sẽ chuyển thành lipid, 1/5 chuyển hoá cơ bản ở cơ thể người được dùng cho tổ chức não Đường là nguồn năng lượng chủ yếu mà các tổ chức thần kinh dựa vào đó để duy trì hoạt động bình thường Não rất nhạy cảm với phản ứng giảm glucose-huyết

III PHẦN CHUYỂN HÓA GLUCID

Sau khi thuỷ phân ta được các đường đơn , đường đơn có thể là glucose, fructose, galactose, … Các đường đơn này sẽ bị oxy hoá Nếu quá trình này không có oxy tham gia thì các đường đơn sẽ đi vào quá trình hô hấp kỵ khí qua chu trình EMP để tạo acid pyruvic, acid pyruvic được chuyển hóa tiếp tục để tạo acid lactic hay ethnol Nếu có oxy thì các đường đơn cũng phải đi qua chu trình EMP để tạo thành acid pyruvic sau đó acid pyruvic chuyển thành acetyl – Co A, acetyl – Co A sẽ đi vào chu trình crep để phóng năng lượng và các sản phẩm cấp thấp là C O2 và H2O hoặc tổng hợp acid béo… Có thể

Trang 4

tóm tắc sơ đồ chuyển hoá glucose theo sơ đồ sau:

*Oxy hóa monose theo con đường kỵ khí (EMP):

 Hoạt hóa phân tử glucose

 Cắt mạch carbon

 Oxy hóa

 Tạo acid pyruvic

 Nh ận xét về chu trình

Trang 5

1 mol glucose ban đầu đi hết chu trình EMP thì thu được 2 ATP và 2 NADH + H+

Chu trình EMP tạo quá ít năng lượng do dó vi sinh vật kỵ khí phải luôn phân giải một lượng glucose lớn để có đủ năng lượng phục vụ cho các hoạt động sống

Sự lên men tiếp tục acid pyruvic

+ Lên men lactic

+Lên men rượu

*Oxy hóa monose theo con đường hiếu khí

Phân giải hiếu khí glucose gồm 4 giai đoạn

Giai đoạn 1: Con đường đường phân EMP tạo acid pyruvic

Giai đoạn 2: Hoạt hoá acid pyruvic tạo thành acetyl CoA

Giai đoạn 3: Acetyl Co A vào chu trình crep

Giai đoạn 4: Các coenzyme khử qua chuỗi hô hấp để tích luỹ ATP

Chuyển hóa pyruvic

Trang 6

CHU TRÌNH CREB

 Chu trình crep có 8 b ước

Bước 1: Acetyl CoA ngưng tụ với acid oxaloacetic với sự tham gia của H 2O và chịu sự xúc tác của citrate synthase, năng lượng trong liên kết cao năng bị đứt đủ để phục

vụ cho phản ứng ngưng tụ và tổng hợp acid citric

Bước 2: Acid citric loại nước rồi lại hợp nước để tạo ra acid isocitric có nhóm - OH bậc 2 (dễ nhường H+ hơn nhóm - OH bậc 3), hai phản ứng trên chịu sự xúc tác của aconitase

Bước 3: Isocitric nhường H2 cho NAD+ của enzyme citrate dehydrogenase để tạo NADH + H+ và cho ra acid oxalosuccinic ngay sau đó chất này loại CO 2 nhờ decarboxylase và tạo α – Ketolglutaric

Bước 4: α – Ketolglutaric được kích hoạt lại bằng 1 CoA – SH đồng thời loại CO2 rồi nhường H2 cho NAD+ (NADP+) tạo coenzyme khử Enzyme xúc tác cho phản ứng này

là α – Ketolglutarate dehydrogenase và thu được succinyl CoA (dạng hoạt động)

Bước 5: Succinyl CoA cắt liên kết cao năng nhờ enzyme succinyl CoA thiolase, năng lượng giải phóng ra đủ để tổng hợp 1 ATP, giải phóng CoA – SH và tạo acid succinic

Bước 6: Enzyme succinate dehydrogenase xúc tác cho phản ứng loại H2 của acid succinic cho coenzyme FAD tạo FADH2 và thu được acid fumaric

Bước 7: Acid fumaric hợp H2O thu được acid malic nhờ enzyme fumarate

hydratase

Bước 8: Acid malic nhường H2 cho NAD+ của enzyme malate dehydrogenase tạo

ra oxaloacetic để khép kín chu trình

 Nh ận xét

-Acetyl CoA có 2 carbon nhập vào chu trình crep bằng cách ngưng tụ với acid oxaloacetic 1 vòng crep biến thành 2 CO 2, biết rằng 2 carbon loại ra không phải của acetyl CoA mà của acid oxaloacetic nhưng vẫn có thể nói rằng 2 carbon đã bị oxy hoá hoàn toàn và oxaloacetic luôn luôn được làm mới sau một vòng chu trình

-Coenzyme khử vì hiếu khí nên đi qua chuỗi hô hấp nhường H 2 cho oxy tạo thành

H2O, năng lượng thoát ra tích luỹ vào ATP

Trang 7

*Tính năng lượng

-1 mol acetyl CoA vào chu trình crep thu được 3 coenzyme khử NADH + H+ và 1 coenzyme khử FADH2, tích luỹ trực tiếp 1 ATP nên tổng số ATP thu được là: 9 + 2 + 1

= 12 ATP

*Tính năng lượng khi phân giải hiếu khí 1 mol glucose

1 mol glucose 2 mol acid Pyruvic + 2ATP + 2NADH+ H+

2 mol acid pyruvic 2 mol acetyl CoA + 2NADH + H++ 2CO2

Tổng năng lượng 2+ 6+6+ 24 = 38 ATP

-Theo phản ứng

C6H12O6 + O2 6CO2 +H2O (Q = 668 Kcal)

Nếu tích luỹ vào 1 ATP cần 9 Kcal số ATP thu được là 668/9 = 76 ATP -Tuy nhiên, nếu oxy hoá hiếu khí hoàn toàn 1 mol glucose chỉ thu được 38 ATP, như vậy đã có ½ năng lượng thoát ra dưới dạng nhiệt để giữ ấm cho tế bào, tạo thân nhiệt

ổn định cho cơ thể giúp hệ enzyme hoạt động bình thường

3.Điều hoà chuyển hóa cacbohiđrat

a Điều hòa nồng độ glucôzơ trong máu

Nồng độ glucôzơ trong máu luôn luôn duy trì ổn định ở mức 80-120mg%

Ngay sau bữa ăn, nồng độ glucôzơ trong máu tăng nhẹ nhưng cũng không vượt quá 140mg% và trở lại bình thường sau 1-2 giờ Sau vận động thể lực, đường huyết có thể hơi giảm nhưng lại nhanh chóng trở về bình thường Mức đường huyết nếu thấp dưới mức 50mg% là hạ đường huyết và nếu cao trên 140mg% là tăng đường huyết

và có thể gây đái tháo đường Gan và một số hormon như insulin, glucagôn,

ađrênalin đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nồng độ glucôzơ máu

b Điều hoà chuyển hóa cacbohiđrat

Có hai cơ chế điều hoà chuyển hóa cacbohiđrat ở mức toàn cơ thể đó là cơ

chế thần kinh và cơ chế thể dịch

- Cơ chế thần kinh:

Chu trình EMP

Chu trình Creb

Trang 8

Khi nồng độ glucôzơ trong máu giảm tác dụng trực tiếp lên vùng dưới đồi

kích thích thần kinh giao cảm làm tăng bài tiết ađrênalin và norađrênalin gây

tăng đường huyết Khi đường huyết tăng cao quá mức điều chỉnh của các yếu tố thần kinh và thể dịch thì thận tham gia vào cơ chế điều hoà đường huyết bằng

cách thải glucôzơ ra nước tiểu, đây là một trong những nguyên nhân gây nên

bệnh đái tháo đường

- Cơ chế thể dịch:

Chuyển hóa cacbohiđrat được điều hoà chủ yếu bởi 2 hệ thống hoocmôn: hệ

thống làm tăng đường huyết và hệ thống làm giảm đường huyết

CHẤT XƠ

Chất xơ hay chất xơ thực phẩm hay thức ăn thô (roughage, ruffage), fiber trong tiếng bắc Mỹ hoặc fibre trong tiếng Anh, là phần khó tiêu hóa của thức ăn có nguồn gốc

từ cây trồng ăn được, rau và nấm ăn được Chất xơ gồm các phân tử cacbonhydrat

(monosaccarit hoặc polisaccarit) và có hai thành phần chính:

-Chất xơ hòa tan trong nước Nó dễ dàng lên men trong ruột sinh khí và các sản phẩm phụ hoạt động sinh lý, và có thể là tiền sinh học (prebiotic) Xơ hòa tan có xu hướng làm chậm sự di chuyển của thực phẩm qua hệ thống

-Chất xơ không hòa tan trong nước Nó có thể được trao đổi chất trơ và cung cấp trương nở (bulking) hoặc tiền sinh, chuyển hóa lên men trong ruột già Sợi trương nở hấp thụ nước khi chúng di chuyển qua hệ tiêu hóa, làm dịu việc đại tiện Xơ không hòa tan lên men nhẹ thúc đẩy đi tiêu liên tục, mặc dù không đến mức sợi trương nở làm, nhưng chúng có thể dễ dàng lên men trong ruột sinh khí và các sản phẩm phụ hoạt động sinh lý Sợi không hòa tan có xu hướng đẩy nhanh sự di chuyển của thực phẩm qua hệ thống Hầu hết thức ăn có nhiều chất xơ cũng rất tốt cho bạn vì nhiều lý do khác Ví dụ, ăn trái cây, rau xanh và ngũ cốc, chúng giàu chất xơ nhưng cũng giàu vitamin và nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu khác Nói cách khác, nếu bạn dùng một bữa ăn giàu chất xơ, không chỉ bạn bảo vệ được sức khỏe của bạn bằng chất xơ ăn vào mà còn bởi vì bạn hấp thu được những chất dinh dưỡng cần thiết khác

Chống táo bón: Ở trong ruột, chất xơ không tan trương phồng và làm mềm phân, kích thích ruột tăng co bóp và chống lại táo bón rất tốt Ăn nhiều chất xơ loại này rất cần uống đủ nước

Bớt viêm ruột: Sợi xơ không tan làm giảm áp lực trong ruột bằng cách kích thích nhu động ruột, làm cho thức ăn đi qua đường ruột nhanh hơn

Ngừa ung thư :

+Ung thư ruột già: Tăng lượng chất xơ khiến cho tốc độ thức ăn đi qua đường ruột nhanh hơn, do vậy làm giảm thời gian những chất độc (tác nhân gây ung thư) tiếp xúc với ruột

Trang 9

và hòa loãng hay vô hiệu hóa tác nhân này, làm giảm độ acid của phân bã và thay đổi môi trường vi khuẩn trong ruột

+Ung thư vú: Chất xơ không hòa tan trong nước làm giảm estrogen trong máu, do vậy chất xơ có thể giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú

Trị béo phì :Chế độ ăn giàu chất xơ có thể giúp kiểm soát một cách rõ rệt cân nặng của bản thân Chất xơ trong cơ thể làm bạn no mà không cần thêm calo (calo của sợi không được hấp thu vào cơ thể) – điều này có thể giúp điều trị hoặc ngăn ngừa thừa cân, béo phì

Bệnh tim mạch : Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thực phẩm có nhiều chất xơ tan được có thể làm giảm cholesterol máu bằng cách làm axít mật đi qua đường tiêu hóa nhanh hơn do đó lấy đi bớt cholesterol máu Người mắc bệnh tiểu đường cũng hay có biến chứng vữa xơ động mạch vì triglyceride lên cao Chất xơ có thể làm giảm

triglyceride và mỡ xấu LDL và làm tăng mỡ lành HDL từ đó giảm thiểu nguy cơ các bệnh tim mạch như Mỡ máu, Bệnh tim mạch vành, Xơ vữa động mạch

Chữa tiểu đường : Ăn nhiều chất xơ tan trong nước trong bữa ăn có tinh bột (ngũ cốc) giúp cho insulin hoạt động tốt hơn, làm thức ăn xuống ruột chậm hơn, ngăn cản không cho đường hấp thụ vào ruột và làm giảm đường trong máu tới 30% nên đường máu sau ăn không tăng nhanh (ổn định đường huyết) Điều đó cho phép bệnh nhân dùng

ít thuốc chữa tiểu đường hơn Người bị tiểu đường ăn nhiều chất xơ sẽ có khuynh hướng cần ít hơn insulin so với những người ăn ít chất xơ hơn Nhu cầu hằng ngày Sửa đổi Các chuyên gia khuyến cáo ăn 25-30g chất xơ/ngày hay ăn 12g chất xơ cho 1.000 calo ăn vào Hầu hết chúng ta chỉ ăn khoảng 10g chất xơ/ngày Trẻ em ăn lượng chất xơ tùy theo tuổi,

có thể tính một cách đơn giản theo công thức: tuổi + 5 = số g chất xơ cần ăn Ví dụ trẻ 8 tuổi cần 8 + 5 = 13g chất xơ/ngày Hầu hết các nhà dinh dưỡng học nói rằng tỉ lệ của chất

xơ không tan được trên chất xơ tan được nên là 25% đến 75%, hoặc 3 phần chất xơ không tan trên một phần chất xơ tan được Vì hầu hết thực phẩm chứa lượng chất xơ cao thường có cả hai loại, nên không cần thiết phải quá cẩn thận phân chia rạch ròi hai loại Nên sử dụng chất xơ trong thiên nhiên hơn chất xơ chế biến, vì chất xơ trong thiên nhiên

có hai loại tan trong nước và không tan trong nước Lưu ý: Nếu thêm quá nhiều chất xơ

và quá nhanh sẽ gặp một số biến chứng như táo bón, tiêu chảy, đầy sôi bụng Những biểu hiện này không trầm trọng và sẽ qua đi trong thời gian ngắn Nên uống nhiều nước vì chất xơ hút khá nhiều nước trong ruột

Trang 10

Chủ đề: Tiêu hóa, hấp thụ và chuyển hóa protein trong cơ thể người

I Tiêu hóa:

Tiêu hóa protein ở người được tiêu hóa từ khoang miệng đến thực quản sau đó đưa xuống dạ dày tiếp đến xuống ruột non sau đó là đến ruột già

+ Khoang miệng: Tác dụng cơ học là nhai nghiền thức ăn

+ Thực quản: Vận chuyển thức ăn từ khoang miệng xuống dạ dày

+ Dạ dày: pepsin ở dạ dày được hoạt hóa nhờ acid HCl 4N trong dạ dày, thủy phân protein tạo thành các peptit, dipeptit, tripeptit

Chia thành 2 nhóm: endopeptinlasa cắt giữa mạch, esopeptinlasa cắt đầu mạch

+ Ruột non: Enzyme tuyến tụy như tripsin, trimotripsin… cắt mạch peptit, tripeptit, dipeptit thành các acid amin Hấp thụ qua thành ruột non đi vào màu sau đó đi vào gan

+ Ruột già: tại đây vi sinh vật sẽ phân hủy các phần protein cơ thể không thể tiêu hóa được và hấp thu một phần

II Cơ chế hấp thụ:

- Hầu hết protein được hấp thụ qua màng ruột dưới dạng dipeptit, tripeptit hoặc các acid amin theo cơ chế đồng vận chuyển với Na+ Các phân tử peptid hoặc axit amin cùng với ion Na+ sẽ giúp protein mang đặc hiệu Năng lượng do sự chênh lệch nồng độ ion Na+ sẽ giúp cho protein mạng thay đổi hình dạng để đưa cả Na+ và peptid hoặc axit vào bên trong tế bào

- Có một số nhỏ các acid amin đi từ lòng ruột vào tế bào biểu mô theo cơ chế khuếch tán do protein mang

- Sự hấp thụ acid amin xảy ra rất nhanh ở tá tràng và hỗng tràng Khoảng 15% protein ăn vào sẽ đi xuống ruột già và được tiêu hóa dưới tác dụng của vi khuẩn

- Ở trẻ em, một số protein chưa được tiêu hóa cũng có thể được hấp thụ theo cơ chế

ẩm bào

- Sản phẩm tiêu hóa của protein là các acid amin được hấp thụ tới gan, ở đây một phần các acid amin đươc giữ lại và tổng hợp thành các protein huyết tương như albumin, globumin, fribrinogen Phần lớn các acid amin được chuyển tới tế bào để tổng hợp các protein đặc trưng như hemoglobin, các hoocmon của tuyến nội tiết, protein của các mô cơ, của các kháng thể và các enzyme…

- Protein được phân giải ở gan, tế bào và các mô thành các axit amin.Tất cả các axi amin ở tế bào sẽ được chuyển tới gan để tiếp tục phân giải thành NH3 đi vào chu trình ornithine tạo thành ure, acid uric, oxy hóa thành CO2, H2O và giải phóng ATP

Ngày đăng: 14/07/2023, 09:25

w