Từ đặc thù của sinh viên khối nghệ thuật, sau khi tham khảo giáo trình ở một số các trường đại học khác, dựa vào chương trình của Bộ Giáo dục & Đào tạo, chúng tôi tổ chức biên soạn Giáo
Trang 4Môn Lịch sử văn minh thế giới đã được đưa vào chương trình của Khoa Tạo dáng công nghiệp của Trường Đại học Mở Hà Nội, một vài năm nay Với thời lượng 2 đơn vị học trình, việc cô đọng, ngắn gọn khối lượng kiến thức về các nền văn minh nhân loại rất lớn thật không dễ dàng Từ đặc thù của sinh viên khối nghệ thuật, sau khi tham khảo giáo trình ở một số các trường đại học khác, dựa vào chương trình của Bộ Giáo dục & Đào tạo, chúng tôi tổ chức biên soạn Giáo trình này.
Giáo trình gồm có 4 chương nhằm đem lại cho người đọc những hiểu biết cơ bản, có hệ thống về các nền văn minh lớn thời
cổ - trung đại ở phương Đông, phương Tây và nền văn minh công nghiệp thời cận, hiện đại trên thế giới
Trong nội dung mỗi chương, chúng tôi trước tiên đề cập tới cơ
sở hình thành mỗi nền văn minh, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, sơ lược sự thành lập và cấu trúc nhà nước, thành tựu về các mặt như triết học, tư tưởng, những thành tựu về khoa học - kĩ thuật và văn học nghệ thuật
Giáo trình nhằm giúp các bạn sinh viên tiếp cận kiến thức thuận lợi hơn trong quá trình học tập Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được những
Trang 5sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên và độc giả để giáo trình ngày càng được hoàn thiện hơn.
Chân thành cám ơn!
Người biên soạnPhạm Lan Oanh
Trang 6Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Một số vấn đề khái niệm 7
1.2 Phân kỳ lịch sử 15
1.3 Những dấu hiệu văn minh trong thời kì nguyên thủy và những nền văn minh lớn trên thế giới 16
Chương 2: THỜI ĐẠI VĂN MINH NÔNG NGHIỆP 2.1 Văn minh phương Đông 21
2.1.1 Đôi nét về văn minh phương Đông 21
2.1.2 Những thành tựu chủ yếu của văn minh phương Đông 40
2.2 Văn minh phương Tây 67
2.2.1 Văn minh Hi Lạp – La Mã cổ đại 67
2.2.2 Văn minh Tây Âu thời Trung đại 82
Chương 3: THỜI ĐẠI VĂN MINH CÔNG NGHIỆP 3.1 Điều kiện ra đời của nền văn minh công nghiệp 107
3.2 Cuộc cách mạng công nghiệp 111
3.3 Những phát minh KHKT và học thuyết chính trị thời cận đại 114
Trang 73.4 Những học thuyết chính trị thời cận đại 118
3.5 Những thành tựu về văn học nghệ thuật 122
Chương 4: THỜI ĐẠI VĂN MINH HẬU CÔNG NGHIỆP 4.1 Văn minh thế giới nửa đầu thế kỷ XX 127
4.2 Văn minh thế giới nửa sau thế kỷ XX 132
KẾT LUẬN 161
PHỤ LỤC 165
TÀI LIỆU THAM KHẢO 177
Trang 8NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
Mục tiêu chương 1 đưa ra những khái niệm cơ bản bao gồm khái niệm về lịch sử, văn hóa, văn minh, văn vật, văn hiến Việc phân chia các giai đoạn lịch sử cũng được đề cập Thời nguyên thủy mông muội, nhân loại đã có những bước phát triển vượt bậc
so với loài linh trưởng, do vậy, những dấu hiệu của văn minh cũng
đã xuất hiện ở thời kỳ này Những dấu hiệu đó là nền tảng cho các nền văn minh lớn trên thế giới nảy sinh và tỏa sáng ở cả phương Đông và phương Tây trong thời kỳ cổ đại và trung đại
Trang 9Cho đến nay, đa số các học giả trên thế giới đều cho rằng loài người đã xuất hiện cách ngày nay khoảng 3,5 triệu năm Như vậy,
lịch sử là một ngành khoa học thuộc nhóm các ngành khoa học nhân văn, có đối tượng nghiên cứu là quá khứ của con người và xã hội loài người kể từ khi con người xuất hiện, từ đó phát hiện ra quy luật phát sinh và phát triển của lịch sử xã hội loài người Lịch sử
văn minh thế giới là môn học gắn với các thành tựu văn hóa, văn minh của loài người từ xưa tới nay
1.1.2 Văn hóa được giải nghĩa bằng nhiều cách khác nhau,
nhưng có một số điểm chung mà mọi người đều thừa nhận, đó là:
về phương diện cá nhân, văn hoá là phẩm chất chỉ có ở con người,
nó là cái làm phân biệt giữa người và động vật; về phương diện chủng loài: văn hoá là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của quần thể sinh vật trên trái đất Đời sống sinh vật của con người có mối liên hệ mật thiết với văn hoá, nhưng văn hoá do học tập mà có, chứ không phải di truyền theo kênh sinh học
Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ
từ rất sớm Trong Chu Dịch, quẻ Bí đã có từ văn và hóa: Xem dáng
vẻ con người, để giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ - giải nghĩa: Truyện của Trình Di: Văn vẻ của người tức
là bậc của đạo người Xem văn vẻ của người để giáo hóa thiên hạ, thiên hạ thành được lễ học, đó là đạo dùng quẻ Bí của đấng thánh nhân Bản nghĩa của Chu Hy: Đoạn này nói về sự lớn lao của đạo quẻ Bí1) Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng
1 Ngô Tất Tố dịch và chú giải, Đại cương triết học Trung Quốc, Kinh Dịch, trọn
bộ, tái bản, Nxb Tp HCM, 1991, tr 328.
Trang 10(năm 77–6 TCN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức
giáo hóa con người – văn trị giáo hóa (gọi tắt là văn hóa) Văn
hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết)
Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người
Pháp, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga
có từ kultura Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần Vậy chữ cultus là văn hóa với hai khía
cạnh: trồng trọt, canh tác Theo nghĩa mở rộng của từ này, về sau,
khoảng thế kỉ XVII–XVIII, nó được hiểu là giáo dục rèn luyện các phẩm chất năng lực của con người.
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được các nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính Nhấn mạnh vào tính thống nhất trong quá trình tiến hóa về văn hóa của nhân loại, các
nhà tiến hóa luận đơn tuyến về văn hóa mà tiêu biểu là E.B Tylor (1832-1917) trong công trình nổi tiếng Văn hóa nguyên thủy, xuất
bản năm 1871, cho rằng: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là toàn
bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”1
Ở thế kỉ XX, khái niệm “văn hóa” được rất nhiều học giả Âu -
Mỹ bàn thảo, tuy nhiên theo quan điểm của tổ chức UNESCO, khái niệm này được Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa
1 Dẫn theo Phạm Xuân Nam (2013), Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các
nền văn hóa, một góc nhìn từ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, tái bản, Hà Nội,
tr 16-17.
Trang 11họp ở Venice (Italia) năm 1970, UNESCO đã thừa nhận khái niệm
do F Mayor, nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”
Năm 1982, tại Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa tổ chức
tại Thụy Điển, trong bản Tuyên bố chung, UNESCO nêu rõ: “Theo
nghĩa rộng nhất của nó, ngày nay văn hóa có thể được xem là toàn
bộ phức thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ gồm nghệ thuật, văn học mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”1 Sau
này, trong bản Tuyên bố toàn cầu của UNESCO về đa dạng văn hóa
lần thứ 31 (tháng 11-2001), khái niệm được đưa ra là: “Văn hóa nên được xem là một tập hợp các đặc điểm nổi vật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng”2
Theo quan niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hóa:
Một là, những di sản văn hóa vật thể (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn v.v…
Hai là, những di sản văn hóa phi vật thể (Intangible) bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hóa
1 Dẫn theo Phạm Xuân Nam (2013), tr 20.
2 Dẫn theo Phạm Xuân Nam (2013), tr 20.
Trang 12được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng rộng rãi… Những di sản văn hóa tạm gọi là vô hình này theo UNESCO bao gồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế (tư thái), nghi thức, phong tục, tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống…
Hơn nửa thế kỷ trước, trong một số ghi chép ở trang cuối cùng
của tập thơ Nhật ký trong tù lãnh tụ Hồ Chí Minh viết: “Ý nghĩa
của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Từ
nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1.Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa
Có thể thấy, khái niệm này của UNESCO về văn hóa có nội dung
cơ bản như nội dung khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Điểm khác nhau ở chỗ khái niệm của UNESCO nhấn mạnh đến tính đặc thù của các giá trị văn hóa, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác” Còn trong khái niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa nhấn mạnh văn hóa không chỉ là cái tạo nên tính đặc thù của
1 Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3, tr 431.
Trang 13dân tộc, mà còn là những giá trị nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn “Nhu cầu đời sống” của con người luôn phát triển cũng như “đòi hỏi của sự sinh tồn” của
xã hội loài người luôn hướng đến nâng cao, hoàn thiện Cũng có nghĩa là nói đến văn hóa là đề cập tới giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao động sáng tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ, hướng tới sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại Nói đến văn hóa không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh tại, ngưng đọng, mà còn là
sự vận động, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong chiều dài lịch sử
1.1.3 Khái niệm văn minh
Văn minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp, minh là vẻ sáng), chỉ một trạng thái phát triển rực rỡ của văn hóa (Quẻ Kiền trong
Kinh Dịch có câu: Hiện long tại điền thiên hạ hữu văn minh – như
con rồng hiện ra trên mặt cánh đồng lùa lúc thiên hạ văn minh;
Trong Kinh Lễ có câu: Tình thâm nhi văn minh – Lòng cảm động
càng sâu thì vẻ ngoài mới sáng tỏ)
Văn minh cũng là một khái niệm phức tạp, được dịch từ chữ
Civilization, có nghĩa ban đầu là hoạt động khai hóa, làm thoát
khỏi tình trạng nguyên thủy
Hiện nay, các học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến khái niệm văn minh Tuy nhiên, đa số các
ý kiến đều cho rằng, văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần do con người và xã hội loài người sáng tạo ra
Trang 14trong giai đoạn phát triển cao của xã hội (khi có sự xuất hiện của
nhà nước, trong đó Ai Cập là nhà nước được xem là xuất hiện sớm
nhất trong lịch sử, khoảng cuối thiên niên kỷ IV TCN) Trái với văn minh là dã man Từ đó cho thấy, tiến bộ là một thuộc tính cơ bản
của văn minh và nhà nước là tiêu chí quan trọng để xác định một nền văn minh
Mặc dù giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó
là do con người sáng tạo ra, nhưng văn minh khác với văn hóa vì: Văn hóa có bề dày của quá khứ, văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại
Văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ thuật
Văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, văn minh thường mang tính quốc tế (siêu dân tộc), nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn (cả nhân loại)
1.1.4 Khái niệm văn hiến
Từ thời Lý (1009) người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang” Đến đời Lê (thế kỉ XV) Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang”– (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến) Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng
ở đây là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hóa cao, trong đó chú trọng nếp sống tinh thần, đạo đức
Văn hiến (hiến = hiền tài) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt
đẹp Cuốn Hán Việt từ điển của GS Đào Duy Anh (1932) định nghĩa văn hiến là “sách vở và nhân vật tốt trong một đời” Nói cách khác
Trang 15văn là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy văn hiến thiên về những
giá trị tinh thần do những người có tài đức chuyên tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt
1.1.5 Khái niệm văn vật
Văn vật là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có
giá trị nghệ thuật và lịch sử Khái niệm văn vật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử Khái niệm văn hiến, văn vật thường gắn với phương Đông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị
1.1.6 Phương Đông, phương Tây
Phương Đông, phương Tây là những khái niệm thuộc về nhận thức của con người Ban đầu, các khái niệm này đơn thuần dùng
để chỉ phương hướng, nhưng về sau nó gắn liền với yếu tố lịch sử
và có tính chính trị Vì thế, ranh giới giữa phương Đông và phương Tây chỉ mang tính quy ước, tương đối
Thời cổ đại, Hy Lạp và La Mã được là hai quốc gia chiếm hữu nô lệ điển hình Khối cư dân ở đây gọi khu vực phía Tây của họ được gọi là phương Tây, còn các vùng đất còn lại (bao gồm khu vực phía Đông Địa Trung Hải - hướng mặt trời mọc
và cả Đông Bắc Phi) được gọi là phương Đông Từ quan niệm này, sau đó đã xuất hiện các khái niệm Cận Đông, Trung Đông
và Viễn Đông Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử, khái niệm phương Đông và phương Tây lại được hiểu một cách linh hoạt dựa trên các tiêu chí khác nhau (nhân chủng, văn hóa, kinh tế, chính trị, địa lý…)
Trang 161.2 Phân kỳ lịch sử
Cho đến nay, trong giới sử học, xã hội học đã hình thành hàng loạt lý thuyết về sự phát triển của xã hội loài người như lý thuyết khu vực, lý thuyết thời kỳ kinh tế, lý thuyết hội tụ Tuy nhiên, quan điểm của Marx – Engels đã lấy cơ sở kinh tế và sau đó là phương thức sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội làm tiêu chí cơ bản để phân kỳ lịch sử xã hội loài người và được giới sử học mác-xít sau này thừa nhận Dựa trên tiêu chí đó, lịch sử loài người phát triển liên tục qua các thời kỳ sau:
- Thời kỳ nguyên thủy: tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội
công xã nguyên thủy (từ khi hình thành loài người đến khi xuất hiện nhà nước)
- Thời kỳ cổ đại: tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội chiếm
hữu nô lệ (kết thúc năm 476 – năm đế quốc Tây La Mã diệt vong)
- Thời kỳ trung đại: tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội
phong kiến (kết thúc năm 1640 – năm diễn ra cuộc Cách mạng tư sản Anh)
- Thời kỳ cận đại: tương ứng với với hình thái kinh tế - xã hội
tư bản chủ nghĩa (kết thúc năm 1917)
- Thời kỳ hiện đại: từ năm 1917 về sau
- Thời kỳ hậu hiện đại được cho là diễn ra từ sau chiến tranh
thế giới lần thứ 2 (năm 1945) và trở nên phổ biến vào khoảng những năm 1970-1980 cho tới hiện nay
Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội ở mỗi nơi diễn ra trong các mốc thời gian khác nhau
Trang 17Do vậy, cách phân kỳ này chỉ mang ý nghĩa khái quát trong quá trình nghiên cứu lịch sử loài người Trong cuốn giáo trình này, chúng tôi coi phân kỳ lịch sử như trên là tiêu chí tham chiếu quan trọng
và chia văn minh nhân loại thành 3 thời đại (loại hình) theo quan điểm của Alvin Toffler gồm: Văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp (còn gọi là văn minh trí tuệ)1.Thời đại văn minh nông nghiệp gắn với thời kỳ cổ đại và trung đại Văn minh nông nghiệp phát triển theo hai khuynh hướng là văn minh phương Đông và văn minh phương Tây Văn minh phương Đông bao gồm các nền văn minh lớn, phát triển rực rỡ như Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Arập, Ấn Độ Văn minh phương Tây có các nền văn minh tiêu biểu là Hy Lạp, La Mã, văn minh Tây Âu thời Trung đại
Thời đại văn minh công nghiệp gắn với thời kỳ cận đại, gắn với
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, cùng với đó là khuynh hướng dân chủ hóa xã hội, giải phóng con người khỏi những giáo điều đạo đức cổ hủ lạc hậu
Thời đại văn minh hậu công nghiệp gắn với thời kỳ hiện đại, gắn với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và toàn cầu hóa cho tới ngày nay
1.3 Những dấu hiệu văn minh trong thời kì nguyên thủy
và những nền văn minh lớn trên thế giới
Loài người xuất hiện cách đây hàng triệu năm và ngay từ lúc
đó con người đã tạo ra nhiều giá trị vật chất cũng như tinh thần
1 Alvin Toffler (1993), Làn sóng thứ ba, Bản dịch, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
Trang 18nhưng xã hội nguyên thủy lúc đó nói chung vẫn còn ở trong tình
trạng mông muội Văn minh thể hiện giai đoạn phát triển cao của văn hóa cũng như hành vi hợp lí của con người, vì vậy, ngay từ thời
kì nguyên thuỷ, tuy chưa có thể gọi là xã hội văn minh nhưng con người thời kì đó đã có những biểu hiện tiến bộ, hợp lí, đặt tiền đề cho sự hình thành các nền văn minh nhân loại sau này
Việc tìm ra lửa đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trong lịch sử loài người, giúp con người mạnh mẽ và chủ động hơn hẳn các loài động vật khác Lửa giúp con người chiến thắng thú dữ, nướng chín thức ăn, làm đồ gốm, chinh phục các vùng đất mới để gia tăng diện tích đất trồng trọt, thúc đẩy sản xuất và sau này là nghề luyện kim Sự xuất hiện cung tên - một loại vũ khí phức tạp đòi hỏi phải tích lũy kinh nghiệm, trí tuệ và kĩ năng khéo léo chứng tỏ nghề luyện kim ngày càng phát triển
Phân công lao động giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa nông nghiệp với thủ công nghiệp được nâng dần, từng bước phát triển ngày càng rành mạch và tinh xảo Đây là một sự sắp xếp hợp lí, tiện lợi, tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa trong xã hội văn minh sau này
Con người từ chỗ sống theo bầy đàn tiến lên xây dựng tổ chức công xã thị tộc, đó là một tổ chức hợp lí đầu tiên về mặt xã hội Đối với lịch sử loài người, đây là một bước tiến lớn Hôn nhân cũng
có một bước tiến lớn từ tạp giao, đồng huyết đến hôn nhân theo gia đình ổn định Đó là sự tích luỹ kinh nghiệm nhiều đời để tránh hiện tượng đồng huyết, tăng sức sống cho thế hệ sau
Tôn giáo nguyên thủy xuất hiện cùng tín ngưỡng, tô tem, việc thờ cúng tổ tiên… là những biểu hiện hướng đến coi trọng giá trị tinh thần của con người nguyên thủy
Trang 19Nghệ thuật nguyên thủy cũng là một trong những minh chứng thể hiện cách nhìn của người xưa thông qua những hình tượng
cụ thể đối với thế giới bên ngoài Những biểu hiện ban đầu của kí hiệu ghi nhớ như dùng dây thừng để thắt nút, dùng các hình vẽ để diễn tả tình cảm cũng là những tiền đề cho chữ viết sau này.Tới cuối thiên niên kỉ IV, đầu thiên niên kỉ III trước Công nguyên, ở một số nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn các nơi khác, con người tập trung sinh sống đông hơn Hạ lưu các con sông lớn ở châu Á và châu Phi đã hình thành ra bốn trung tâm văn minh sớm nhất của nhân loại đó là trung tâm văn minh Ai Cập, Lưỡng
Hà, Ấn Độ, Trung Hoa
Một điểm giống nhau là các trung tâm văn minh này đều dựa vào các con sông lớn: Ai Cập nhờ có sông Nile, Lưỡng Hà nhờ có sông Euphrates và sông Tigris, Ấn Độ nhờ có sông Ấn và sông Hằng, Trung Hoa nhờ có Hoàng Hà và Trường Giang Hạ lưu của các con sông này có đất đai rất màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện cho cư dân ở đây sớm bước vào
xã hội văn minh
Ở phương Tây, có hai trung tâm văn minh xuất hiện muộn hơn, đó là văn minh Hy Lạp và La Mã (khoảng cuối thiên niên
kỉ III đến đầu thiên niên kỉ II TCN) Tuy xuất hiện muộn hơn các trung tâm văn minh ở phương Đông, nhưng nhờ kế thừa các thành tựu văn minh của phương Đông rồi sau đó phát triển lên nên văn minh Hy Lạp và La Mã cũng để lại cho nhân loại nhiều giá trị quan trọng nổi bật
Thời trung đại, toàn bộ Tây Á và Bắc Phi nằm trong lãnh thổ đế quốc Arập Phương Đông hình thành ba trung tâm văn minh lớn
Trang 20là Arập, Ấn Độ, Trung Hoa Trong ba trung tâm văn minh đó, Ấn
Độ và Trung Hoa có sự phát triển liên tục từ thời cổ đại tới thời trung đại
Ở phương Tây, thời trung đại chỉ nằm trong một trung tâm văn minh là văn minh Tây Âu
Ngoài những trung tâm văn minh lớn, thời cổ - trung đại trên thế giới còn hình thành những trung tâm văn minh nhỏ hơn như văn minh của một số người dân da đỏ ở châu Mỹ, văn minh
ở một số vùng thuộc Đông Nam Á Trong khuôn khổ của giáo trình, chúng tôi chưa có điều kiệu đi sâu vào những trung tâm văn minh nhỏ này
Ngay từ thời cổ - trung đại, những nền văn minh trên thế giới không phải phát triển hoàn toàn biệt lập với nhau Con người giữa các trung tâm văn minh khác nhau đã có sự tiếp xúc với nhau qua buôn bán, du lịch, chiến tranh, hay truyền giáo Vì vậy chắc chắn những giá trị vật chất cũng như tinh thần giữa các trung tâm văn minh ấy cũng đã có ảnh hưởng lẫn nhau
Tới thời cận đại, các nước phương Tây nhờ sự phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật đã trở thành các quốc gia phát triển về kinh tế, hùng mạnh về quân sự Cùng với quá trình thực dân hoá, các nước phương Tây đã lôi cuốn các vùng còn lại của thế giới vào luồng phát triển của văn minh chung thời cận đại và hiện đại.Trên cơ sở của văn minh thế giới thời cổ - trung đại mà loài người thời cận đại và hiện đại, hậu hiện đại đã tạo nên được những
thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực thuộc về văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần như chúng ta đã thấy ngày nay.
Trang 21Câu hỏi ôn tập
1 Hãy trình bày nội dung, khái niệm văn minh và phân biệt khái niệm văn minh với các khái niệm văn hóa, văn hiến, văn vật?
2 Hãy nêu các phân kỳ lịch sử và trình bày những dấu hiệu văn minh trong thời kỳ nguyên thủy
Tài liệu tham khảo
1 Đào Duy Anh (2001) Việt Nam văn hoá sử cương, Tái bản,
Nxb Hội nhà văn, Hà Nội
2 Nhiều tác giả (1996) Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
3 Vũ Dương Ninh (chủ biên, 2016) Lịch sử văn minh thế giới,
T ái bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
4 Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo
dục, Hà Nội
5 Trần Quốc Vượng (chủ biên, 1999), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn
Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh Cơ sở văn hóa Việt Nam, tái bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 22THỜI ĐẠI VĂN MINH NÔNG NGHIỆP
Chương 2 nêu ra các nội dung gắn với thời đại văn minh nông nghiệp ở phương Đông và phương Tây Thời đại này ở phương Đông thể hiện qua thành tựu của các nền văn minh lừng lẫy gồm
Ai Cập, Lưỡng Hà, Arập, Ấn Độ, Trung Hoa Trong những nền văn minh phương Đông tiêu biểu nêu trên, nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa kéo dài liên tục từ cổ đại sang trung đại Nền văn minh phương Tây được đề cập tới văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại và văn minh Tây Âu thời Trung đại
2.1 Văn minh phương Đông
Các trung tâm văn minh lớn của phương Đông được đề cập
trong chương này bao gồm Văn minh Ai Cập, Văn minh Lưỡng Hà, Văn minh Arập, Văn minh Trung Quốc, Văn minh Ấn Độ.
2.1.1 Đôi nét về văn minh phương Đông
2.1.1.1 Đặc điểm chung về địa lý và dân cư
Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, hạ lưu sông Nile, con sông
dài nhất thế giới, chiều dài 6.853 km, Trung Phi lên Bắc Phi và đổ nước vào Địa Trung Hải
Sông Nile có hai nhánh chính Sông Nile Trắng (White Nile) bắt nguồn từ vùng xích đạo Đông Phi, sông Nile Xanh (Blue Nile)
Trang 23bắt nguồn từ Ethiopia Hồ Victoria, nằm giữa Uganda, Kenya và Tanzania, được xem là nơi bắt nguồn của dòng sông này Sông Nin Xanh bắt nguồn từ hồ trên vùng cao nguyên của Ethiopia Dòng Nile Xanh chảy được khoảng 1.400 km (850 dặm) tới Khartoum thì hai dòng Nile Xanh và Nile Trắng gặp nhau, hợp lưu tạo nên sông Nile Phần lớn nguồn nước của sông Nile được cung cấp từ Ethiopia, chiếm khoảng 80-85% lưu lượng nước và chú yếu lệ thuộc vào lượng mưa Mùa mưa ăn khớp với mùa hè tháng 7, khi nhiều trận mưa rào trút xuống, gom nước cho sông Nile.
Sông Nin được gọi là sông “quốc tế” vì lưu vực của nó bao phủ
11 quốc gia ngày nay gồm Tanzania, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Nam Sudan, Sudan và Ai Cập
Hàng năm, tới mùa mưa nước sông Nin cuồn cuộn đưa phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở hạ lưu sông Do đất đai màu mỡ, các loài động thực vật phong phú, nên ngay từ thời nguyên thủy con người đã tập trung sinh sống ở đây đông hơn các khu vực xung quanh Cách ngày nay khoảng 6000 năm, con người ở đây đã biết sử dụng những công cụ, vũ khí bằng đồng, nhờ đó người dân chuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông, thoát khỏi cuộc sống săn bắn, hái lượm và sớm bước vào xã hội văn minh Chính vì vậy
mà cách đây hơn 2000 năm trước, nhà sử học Hy Lạp là Herodotos
tới thăm Ai Cập đã có một nhận xét rất hay là: Ai Cập là tặng phẩm của sông Nile
Khối cư dân đầu tiên của vùng châu thổ sông Nin là người
Negroid là thổ dân châu Phi Đến khoảng 4000 TCN, một nhánh người Hamit ở phía đông Địa Trung Hải (có tài liệu nói từ Tây Á
Trang 24xâm nhập hạ lưu sông Nin) đến định cư ở vùng đồng bằng sông Nin, dần dần đồng hóa với cư dân tại chỗ Họ đều coi mình là con
cháu của thần sông Nin và được gọi là người Egypt – chủ nhân của
nền văn minh Ai Cập cổ đại
Lưỡng Hà là một vùng bình nguyên nằm giữa hai con sông
Tigơrơ và Ơphrát thuộc Tây Á Người Hy Lạp cổ đại gọi đây là Mésopotamie, có nghĩa là vùng đất giữa hai sông Tây Á phần lớn
là núi và sa mạc, vì vậy vùng đất phì nhiêu nằm giữa hai con sông này là nơi thường xảy ra các cuộc tranh chấp giữa các tộc người để tìm mảnh đất thuận lợi cho cuộc sống
Về cư dân, người Sume từ thiên niên kỉ IV TCN đã tới định cư ở Lưỡng Hà và xây dựng nên nền văn minh đầu tiên ở đây Đầu thiên niên kỉ III TCN người Accat thuộc tộc Sêmit từ thảo nguyên Xyri cũng tràn vào xâm nhập và lập nên quốc gia Accat nổi tiếng Cuối thiên niên kỉ III TCN, người Amôrit từ phía Tây Lưỡng Hà lại tràn vào xâm nhập, chính họ đã tạo nên quốc gia cổ Babylon nổi tiếng trong lịch sử Lưỡng Hà Ngoài ra còn có một số bộ lạc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau cũng tràn vào xâm nhập trong quá trình lịch sử Qua hàng ngàn năm lịch sử, các tộc người này hòa nhập lẫn nhau, tạo ra một cộng đồng dân cư ổn định, cùng đóng góp xây dựng nên nền văn minh rực rỡ ở khu vực Tây Á
Arập nằm ở Tây Nam châu Á, phần lớn là núi và sa mạc, chỉ có
một ít đồng cỏ thưa thớt Tại bán đảo này chỉ có vùng Yemen ở Tây Nam bán đảo là có nguồn nước
Thời cổ đại, khi hai vùng lân cận là Ai Cập, Lưỡng Hà đã bước vào xã hội văn minh thì ở bán đảo Arập, với dân cư thưa thớt vẫn sống theo chế độ bộ lạc quanh các ốc đảo khô cằn Dân cư ở đây là
Trang 25các bộ lạc có nguồn gốc người Sêmít, một tộc người chuyên sống bằng nghề săn bắn, du mục cuối thời nguyên thuỷ, đầu thời cổ đại
Do nằm ở trên con đường buôn bán Á - Phi - Âu, những người dân
ở bán đảo Arập thời cổ đại, với khả năng chịu khổ cực trên sa mạc, thông thạo đường đi nên họ đã trở thành những người chuyên chở hàng thuê trên những con đường sa mạc
Vào thế kỷ VI những người dân du mục (beduin) Arập đã kiểm soát phần lớn đất đai của bản đảo này, mặc dù họ không chiếm
đa số dân cư trong vùng Theo con số thống kê gần đúng, số dân định cư trên bán đảo Arập thời ấy khoảng hơn 4 triệu, trong khi
số dân du mục chỉ khoảng 3 triệu Trong suốt thời gian dài 18 thế
kỷ, từ thời nguyên thủy đến giai đoạn trung thế kỷ, những quan
hệ thương mại của các nước tương đối phát triển, được tiến hành xuyên qua sa mạc Arập, còn vùng bờ biển vịnh Ba Tư do các thương đoàn kiểm soát Quá trình này kéo dài từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI: tính tích cực về chính trị của người dân du mục ngày càng cao, các bãi chăn thả thuộc quyền kiểm soát của họ ngày càng được mở rộng thêm Tới thế kỉ VII, nhờ kết hợp chăn nuôi với buôn bán nên
ở bán đảo Arập kinh tế đã khá phát triển Một số thành phố đã xuất hiện như Mecca, Yatơrip Nhưng nhìn chung, cả bán đảo Arập còn đang bị chia sẻ bởi hàng trăm bộ lạc với những phong tục, tôn giáo khác nhau
Ấn Độ thuộc vùng Nam Á Ở phía Bắc, bán đảo bị chắn bởi dãy
núi Hymalaya Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các con đèo nhỏ ở Tây - Bắc Ấn Đông Nam và Tây Nam Ấn Độ giáp
Ấn Độ Dương Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù
sa tới bồi đắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn Nền văn minh Ấn
Trang 26Độ thời cổ đại gồm cả vùng đất ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bangladesh ngày nay.
Chủ nhân của nền văn hóa Harappa (văn minh sông Ấn) là
người Dravida, được xem là khối cư dân bản địa Ngày nay những người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam bán đảo Ấn Độ.
Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN, chủ nhân của nền
văn minh sông Hằng là người Aryan, có nguồn gốc từ vùng thảo
nguyên Trung Á thiên di xuống Ấn Độ Ngoài ra, Ấn Độ còn có nhiều tộc người khác đến định cư và sinh sống như người Hy Lạp, Mông Cổ, Hung Nô, Arập, v.v… do đó cư dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu
Trung Quốc ngày nay có lãnh thổ rộng mênh mông nhưng
Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn nhiều Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía Đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp
Trong hệ thống sông ngòi lớn nhỏ ở Trung Quốc, sông Hoàng
Hà và Trường Giang (còn gọi là sông Dương Tử) giữ vai trò quan trọng nhất Hai con sông này đều chảy theo hướng Tây - Đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía Đông Trung Quốc Loại hình khí hậu chủ yếu là nhiệt đới (nhiệt đới sa mạc và nhiệt đới gió mùa)
Khối cư dân đầu tiên cư trú ở vùng đồng bằng Hoa Bắc (lưu
vực sông Hoàng Hà) là người Hoa hạ Cuối thiên niên kỷ II TCN,
họ chinh phục được người Địch ở phía Bắc và người Nhung ở phía
Tây Đến thời nhà Tần, các khối cư dân này được gọi chung là người
Trang 27Hán - chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa Người Hoa ngày nay
tự cho tổ tiên họ gốc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay (dân núi Hoa sông Hạ) Năm dân tộc đông người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.Nhìn chung, từ vị trí địa lý, địa bàn hình thành của các nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Arập, Ấn Độ, Trung Hoa, có thể nhận thấy các nền văn minh Phương Đông cổ đại đều hình thành trên lưu
vực của các con sông lớn, mang tính chất văn minh sông nước.
Các nền văn minh phương Đông cổ đại đều hình thành trên các đồng bằng phù sa, đất đai màu mỡ, mềm, mịn, tơi xốp từ đó hình
thành tính chất văn minh nông nghiệp.
Buổi đầu, hầu hết các quốc gia phương Đông đều tồn tại một cách biệt lập, khép kín Vì thế, có ý kiến cho rằng Văn minh phương
Đông mang tính chất khép kín.
Nguồn tài nguyên khoáng sản ít, kỹ thuật khai khoáng chưa phát triển nên công cụ lao động thô sơ, lạc hậu, chế tác và sử dụng công cụ bằng đồng được coi là thành tựu tiến bộ nhất Chính vì
thế, văn minh phương Đông còn gọi là văn minh đồ đồng.
2.1.1.2 Kinh tế
Kinh tế của hầu hết các quốc gia phương Đông cổ đại là nền kinh tế tự nhiên, mang tính tự cung tự cấp
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, trồng trọt và chăn nuôi
chưa tách rời, trong đó trồng trọt là chính, chăn nuôi là phụ.Trong trồng trọt, đất canh tác chủ yếu là đất phù sa Quy mô canh tác manh mún, nhỏ lẻ, thường chỉ tiến hành một vụ/năm Sản
Trang 28phẩm chủ yếu là lúa (đại mạch, tiểu mạch, lúa nước), sản lượng không cao, ít sản phẩm thừa
Chăn nuôi mang tính chất cá thể riêng lẻ, theo mô hình “bầy đàn
có chuồng trại” Quy mô chăn nuôi nhỏ nên cung không đủ cầu, chủ yếu sử dụng làm sức kéo và phục vụ cho các dịp lễ, tết, cưới hỏi…Do
vậy, các sản phẩm nông nghiệp không trở thành hàng hóa
Thủ công nghiệp: Phát triển mang tính chất cục bộ Quy mô các
xưởng thủ công nhỏ, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ, sự trao đổi hàng hóa diễn ra rất ít Mặc dầu vậy, các ngành nghề tương đối phong phú và chất lượng khá tinh xảo Lượng hàng hóa làm ra
chưa nhiều, do đó, các sản phẩm thủ công nghiệp cũng không trở thành hàng hóa.
Thương nghiệp: thương nghiệp chưa thực sự hình thành, mang
tính cục bộ, ít giao lưu và ít trao đổi với bên ngoài Đồng tiền chưa xuất hiện nên phương thức trao đổi chủ yếu là hàng đổi hàng
Có thể nói, kinh tế các quốc gia phương Đông cổ đại chưa phải
là nền kinh tế hàng hóa Lực lượng sản xuất chủ yếu là nông dân tự
do, trong đó nông dân công xã giữ vai trò chủ đạo, quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa hầu như chưa diễn ra Vì vậy, các thành tựu văn minh thường không phát triển đến đỉnh cao và sớm bị lụi tàn
2.1.1.3 Nhà nước và kết cấu xã hội
Nhà nước: Các nhà nước phương Đông cổ đại đều mang tính
chất chuyên chế, chi phối nhiều mặt đến tiến trình phát triển của các nền văn minh phương Đông
Trang 29Nguyên nhân của sự chuyên chế là do yếu tố thuận lợi tạo ra
từ điều kiện tự nhiên Dọc các con sông, cư dân quần tụ mật tập đã tạo ra tính cộng đồng cao Điều này trải qua thời gian đã trở thành mối liên kết chặt chẽ, chi phối yếu tố cá nhân Những điều đó làm cho cá nhân dễ bị lệ thuộc vào cộng đồng vì nhiệm vụ chung của cộng đồng là chống lại kẻ thù thiên nhiên và kẻ thù xâm lược.Các nhà nước phương Đông buổi đầu ra đời trên cơ sở kẻ mạnh chinh phục kẻ yếu, kẻ chiến thắng sẽ trở thành người cai trị,
Chính thái độ khiếp sợ và thần phục tự nhiên, dẫn đến thần thánh hóa tự nhiên Khi một thủ lĩnh nào đó kết hợp được yếu tố này sẽ hợp pháp hóa quyền lực và trở thành kẻ cai trị hợp pháp
Tính chất và tổ chức
Tính chất của nhà nước: Vua nắm giữ quyền lực tối cao, nắm
cả vương quyền lẫn thần quyền Nhà vua luôn được thần thánh hóa Đồng thời vua là người sở hữu toàn bộ đất đai và bộ máy
Trang 30quan lại cồng kềnh, quan liêu giúp việc cho nhà vua cai quản các thần dân.
Tổ chức: Khái quát mô hình chung của các nhà nước Phương Đông cổ đại bao gồm:
Vua chuyên chế → Hệ thống quan lại trung ương → hệ thống quan lại địa phương (quản lý, phân chia ruộng đất, thu thuế, hành chính…), công cụ bảo vệ nhà nước và duy trì trật tự xã hội là hệ thống nhà tù, quân đội
Các nhà nước phương Đông cổ đại thường có ba chức năng chủ yếu là thu thuế và cai trị dân chúng; trị thủy và xây dựng các công trình công cộng; mở rộng lãnh thổ
Kết cấu xã hội: Xã hội phương Đông cổ đại nói chung tồn tại
hai giai cấp chủ yếu: giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Giai cấp bóc lột gồm: vua, quan lại, tăng lữ, quý tộc Giai cấp bị bóc lột gồm: nông dân công xã (là lực lượng chiếm số lượng áp đảo, là lực lượng lao động chính làm ra của cải vật chất của xã hội), thợ thủ công, thương nhân, và nô lệ (chủ yếu phục dịch trong các gia đình chủ nô, việc tham gia vào sản xuất không nhiều)
Từ đó cho thấy rằng, chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Đông
là chế độ chiếm hữu nô lệ không điển hình hay còn gọi là chế độ nô
lệ gia trưởng.
2.1.1.4 Các giai đoạn lịch sử
Ai Cập: Lịch sử Ai Cập cổ đại có thể chia ra làm 5 thời kì chính.
Thời kì Tảo vương quốc (khoảng 3200 - 3000 năm TCN): Bao gồm vương triều I và vương triều II Theo truyền thuyết, vị vua đầu tiên của vương triều 1 là Menes Thời gian đầu, ông chọn
Trang 31đất Thebes làm kinh đô nên vương triều do ông dựng lên còn có tên là vương triều Tebơ Các vua Ai Cập thời kỳ Tảo vương quốc
có quyền hành rất lớn, gọi là các Pharaon Do hoàn cảnh lịch sử trước đó miền Thượng Ai Cập đã dùng vũ lực để chinh phục Hạ Ai Cập lập nên Tảo Vương quốc nên nội bộ vẫn xảy ra xung đột giữa Thượng và Hạ Ai Cập Dẫu vậy, thời kỳ này Ai Cập vẫn phát triển về một số lĩnh vực Công cụ bằng đá và bằng đồng được chế tạo khá hoàn thiện hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi phát triển Văn hóa – xã hội có biến chuyển, văn tự hình thành và năng lực sáng tạo nghệ thuật được nâng cao
Thời kì Cổ vương quốc (khoảng 3000 - 2200 năm TCN): Thời
kỳ này bao gồm 8 vương triều từ vương triều III đến vương triều
X Đây là thời kỳ thịnh đạt đầu tiên của Ai Cập về chính trị, kinh tế,
xã hội Các vua Pharaông không chỉ là người nắm quyền lực tối cao
mà còn là tăng lữ tối cao và là người sở hữu tất cả đất đai, thần dân trong nước Bộ máy quan lại giúp Pharaông lo việc thu thuế, xây dựng các công trình công cộng, đặc biệt là xây dựng các lăng mộ hoành tráng – Kim Tự Tháp và các cung điện, xây dựng quân dội,
tổ chức các cuôc chiến tranh bảo vệ đất nước và tiến hành chiến tranh xâm lược ra bên ngoài
Kinh tế thời kỳ Cổ vương quốc có sự phát triển cao nhờ việc cải tiến nông cụ Những chiếc cày gỗ do bò kéo để xới đắt và những chiếc liềm bằng đồng hoặc đá lửa được tra cán gỗ để cắt lúa giúp năng suất lao động tăng cao Các công trình thủy lợi được chú trọng Các nghề thủ công cũng phát triển đáng kể như là đục đá, gia công kim loại, thuộc da, làm giấy, đóng thuyền Buôn bán được đẩy mạnh Từ vương triều thứ V đến khi kết thúc thời kỳ Cổ vương quốc, nhà nước Ai Cập dần suy yếu trong khi các thế lực quý tộc
Trang 32địa phương mạnh lên khiến Ai Cập bị chia cắt thành nhiều vùng riêng rẽ khiến xã hội rối ren, hỗn loạn.
Thời kì Trung vương quốc (khoảng 2200 - 1570 năm TCN): Bao gồm 7 vương triều, kéo dài từ vương triều XI đến vương triều XVII, trong đó ổn định nhất là vương triều XI và XII Đây là thời kỳ nhà nước Ai Cập được củng cố và đã thi hành nhiều biện pháp để thúc đẩy kinh tế phát triển Nhiều công trình thủy lợi lớn do nhà nước xây dựng đã biến những vùng đất khô hạn hoặc đầm lầy rộng lớn trở thành nơi canh tác tốt, đem lại mùa màng bội thu Chăn nuôi gia súc có sừng được khuyến khích Thủ công nghiệp phát triển và buôn bán với bên ngoài được thúc đẩy như giữa Ai Cập với Syria, Phénicie, Palestine, Babylon và vùng biển Aegean Đến năm 1750 TCN, cuộc khởi nghĩa của nô lệ và dân nghèo đã nổ ra với quy mô lớn đầu tiên trên thế giới và giành được thắng lợi trong thời gian ngắn Đến khoảng năm 1710 (có tài liệu năm 1700) giai đoạn cuối thời kỳ Trung vương quốc, một số bộ lạc người Hyksos
ở Palestin đã chinh phục và thống trị Ai Cập 140 năm
Thời kì Tân vương quốc (khoảng 1570 - 1085 năm TCN): Năm
1570 TCN người Hyksos bị đánh đuổi ra khỏi Ai Cập và mở ra thời Tân vương quốc gồm 3 vương triều với vương triều XVIII đến vương triều XX Các vương triều này dựa vào sự ổn định xã hội
và kinh tế phát triển nên đã đẩy mạnh các cuộc chiến tranh xâm lược sang các nước và chinh phục được Syria, Phénicie, Palestine
ở châu Á và Libya, Nubia ở châu Phi Ai Cập lúc này trở thành đế chế lớn mạnh ở vùng Bắc Phi và Tây Á
Cuối vương triều XVIII, do thế lực của tầng lớp quý tộc và tăng
lữ tăng lên, lấn át cả uy quyền của các Pharaon khiến chính quyền
Trang 33trung ương và đất nước Ai Cập giai đoạn cuối thời Tân vương quốc
bị suy yếu Khoảng năm 1085 TCN, một tăng lữ đền thờ thần Amun
ở Thebes đã cướp được chính quyền, lập nên vương triều XXI, kết thúc thời kỳ Tân vương quốc
Thời kì Hậu vương quốc (khoảng 1085 - 30 năm TCN): bao gồm 11 vương triều, từ vương triều XXI đến vương triều XXXI Trong thời kỳ Hậu vương quốc, quyền lực của các Pharaon bị suy giảm, họ không còn đặt sự cai trị của mình lên toàn vương quốc được nữa vì quý tộc các địa phương tìm mọi cách để cát cứ, gia tăng quyền lực khiến quốc gia bị chia cắt Từ thế lỷ X TCN, quân đội đánh thuê người Libi đã cướp ngôi Pharaon và lập nên vương triều XXII gọi là “vương triều Libya”, thống trị Ai Cập trong 200 năm Đầu thế kỷ VIII TCN, người Nubia ở phía Nam tiến đánh Ai Cập và lập ra “vương triều Nubia” hay còn gọi là “vương triều Ethiopia” Khoảng đầu thế kỷ VII TCN, đế quốc Assyria xâm lược
và thống trị Ai Cập khoảng 20 năm Sau đó người Ai Cập đánh đuổi được người Assyria, lập ra vương triều XXVI, mở ra thời
kỳ gọi là “Ai Cập phục hưng” khoảng từ năm 664 đến năm 525 TCN Đặc biệt, từ năm 525 TCN, Ai Cập bị nhập vào đế quốc Ba
Tư ở Tây Á, gọi là “vương triều Ba Tư” Năm 332 TCN, Ai Cập bị Alexanderos của nước Macedonia xâm lược, khi đế quốc này tan
rã, Ai Cập thuộc quyền thống trị của một vương triều Hy Lạp gọi
là vương triều Ptolemaios (305-30 TCN) Đến năm 30 TCN, Ai Cập bị sáp nhập vào đến quốc La Mã, trở thành một tỉnh và đánh dấu sự kết thúc của Ai Cập cổ đại
Lưỡng Hà: Lịch sử vùng Lưỡng Hà có thể chia ra làm các thời
kì chính sau:
Trang 34Thời kì hình thành những thành bang đầu tiên của người Sumer: từ đầu thiên niên kỉ III TCN đến giữa thiên niên kỉ III TCN Người Sumer không phải là cư dân tại chổ mà họ di cư từ các vùng phía Đông đến Lưỡng Hà Họ sống tập trung theo chế độ thị tộc và chuyển từ thời đại đồ đá sang đồ đồng Người Sume xây dựng nền nông nghiệp với hệ thống thủy lợi quy mô khiến sức sản xuất phát triển, giai cấp và nhà nước của người Sume ra đời Giữa thế kỷ III, trong số các thành bang ở miền Nam Lưỡng Hà, nổi lên có Lagash
và Uruk hùng mạnh, thay nhau thống nhất và làm chủ vùng Sumer.Hình thành thành bang Akkad: cuối thế kỉ XXIV đến cuối thế kỉ XXIII TCN, thành bang Akkad nằm ở khu vực gần con sông Tigris
và Euphrates nên rất thuận lợi cho trao đổi buôn bán và nhanh chóng trở nên hùng mạnh Dưới thời trị vì của vua Sargon (2369-
2314 TCN), Akkad đã tấn công và chinh phục được toàn bộ vùng Sume, lần đầu tiên thống nhất cả vùng Lưỡng Hà Akkad còn chiếm được cả vùng xung quanh thành lập quốc gia lớn mạnh vùng Tây
Á và tự xưng là “vua của bốn phương” Lưỡng Hà đạt được sự phát triển thịnh đạt nhất trong thời gian cầm quyền của vua Naramxin (2270-2254 TCN) Đến cuối thế kỷ XXIII TCN, người Guti ở phía Đông Bắc chinh phục và thống trị Lưỡng Hà trong khoảng hơn
100 năm
Vương triều III của Ura: 2132 - 2024 TCN Sau khi đánh đuổi được người Guti, vương triều III của Ura vốn là một thành bang của Sume thời xưa thống trị và khôi phục mở rộng đất đai rộng lớn của Lưỡng Hà và tiến hành xâm lược các nước vùng miền núi phía Đông, vùng Elam và Ansam Đến cuối thế kỷ XXI TCN, vương triều Ura bị suy yếu và bị liên quân Elam và Mari đánh bại
Trang 35Vương quốc cổ Babylon: đầu thế kỉ XIX TCN đến năm 729 TCN.
Từ cuối thiên niên kỷ III đến đầu thiên niên kỷ II TCN, nhiều bộ lạc du mục người Amôrít xâm nhập vào Lưỡng Hà, chiếm các vùng đất đai rộng lớn và xây dựng quốc gia lấy trung tâm là Babylon – gọi là vương quốc Babylon cổ (1894-1595 TCN) Babylon trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, thương mại và văn hóa quan trọng nhất của Lưỡng Hà Vương quốc Babylon cổ hưng thịnh nhất dưới thời vua Hammurabi (1792-1750) Ông đã lần lượt đánh bại các thành bang xung quanh, thống nhất hầu hết vùng Lưỡng Hà Trên cơ sở đó, ông xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế tập
quyền trung ương, ban bố luật Hammurabi – là bộ luật cổ đến
nay vẫn được giữ tương đối nguyên vẹn Kinh tế thời Babylon có những tiến bộ đáng kể nhờ cải tiến dùng cày có lưỡi đồng thau
do bò kéo và sử dụng loại cày có lắp bộ phận gieo hạt Các công trình thủy lợi, chăn nuôi, thương mại được chú trọng… Babylon trở thành trung tâm công thương nghiệp lớn ở Tây Á, có rất nhiều thương nhân nước ngoài đến buôn bán Sau khi Hammurabi chết, Babylon suy yếu dần trong vòng 1000 năm, nhiều lần bị ngoại tộc tấn công và thống trị Năm 732 TCN, Babylon bị quốc gia hùng mạnh ở phía Bắc là Assyria xâm chiếm, đến năm 729 TCN thì trở thành một bộ phận của Assyria
Vương quốc Tân Babylon và Ba Tư, từ năm 626 TCN đến 328 TCN Từ giữa thế kỷ VII TCN, nhân khi Assyria suy yếu, năm 626 TCN, tướng Nabopolassar ở miền Nam Lưỡng Hà tự xưng vương rồi đem quân đánh đánh chiếm và tuyên bố Babylon độc lập – thành lập quốc gia gọi là Tân Babylon Vương quốc mới liên minh với nước Mêdi ở phía Đông Bắc và tấn công đánh bại Assyria vào năm 605 TCN
Trang 36Vương quốc Tân Babylon (626-538 TCN) tuy tồn tại không dài nhưng nhanh chóng phát triển trở thành một đế quốc hùng mạnh Thời kỳ cường thịnh nhất dưới triều vua Nabucodonosor (605-
562 TCN) Tân Babylon có lãnh thổ bao trùm lên đế quốc Assyria
và đã đánh bại Ai Cập Đây là thời kỳ thương mại và nền kinh tế rất phát triển, vườn treo Babylon và nhiều cung điện nguy nga được dựng trong thời kỳ này Sau khi vua Nabucôđônôxơ chết, Tân Babylon không ổn định do khởi nghĩa nổ ra thường xuyên khiến mâu thuẫn nội bộ giai cấp thống trị ngày càng sâu sắc Trong khi đó, đế quốc Ba Tư hùng mạnh xuất hiện ở phía Đông và sau khi xâm lược Medina, Tiểu Á, vào năm 538 TCN, Ba Tư đánh chiếm kinh thành Babylon và sáp nhập Tân Babylon vào lãnh thổ
đế quốc Ba Tư Năm 328 TCN, đế quốc Ba Tư bị Alexanderos của Macedonia tiêu diệt Cả Tây Á bị sáp nhập và đế quốc Macedonia Sau khi Alexanderos chết, đế quốc này bị phân chia và Babylon nằm trong vương quốc của Seleucus, một tướng của Alexanderos
Arập
Môhamét muốn thống nhất toàn bộ bán đảo Arập, do đó ông
đã đề xướng ra đạo Hồi (Islam) Xuất thân từ một cậu bé chăn cừu cực khổ, chuyên đi theo những đoàn lái buôn xuyên qua các
sa mạc khắp vùng Tây Á, Môhamét đã học hỏi được nhiều điều từ thực tế cuộc sống
Năm 610 ông bắt đầu truyền đạo ở Mecca Số tín đồ theo ông ngày càng đông nên ông đã bị các tăng lữ, quí tộc ở Mecca truy nã gắt gao
Năm 622 ông bỏ Mecca chạy lên phía Bắc tới Yathrib, cách Mecca 400km Thành phố Yathrib sau này được đổi tên là Medina,
có nghĩa là thành phố của nhà Tiên tri
Trang 37Từ năm 622 đến năm 630 Môhamet xây dựng lực lượng Đến năm 630 ông đưa 10.000 người có vũ khí (dùng gươm) về vây ráp thành Mecca Vì lực lượng chênh lệch, liệu sức không chống nổi, giới quí tộc Mecca mở cửa xin hàng và chấp thuận tin theo đạo Hồi.Môhamet phế bỏ tất cả các biểu tượng của tôn giáo đa thần trước kia, chỉ giữ lại tảng đá đen trong ngôi đền Kaaba và ông giải thích đó là biểu tượng của thánh Ala.
Đầu năm 632, đại hội Hồi giáo đầu tiên đã diễn ra ở Mecca Tháng 6 năm 632 Môhamet qua đời và được an táng tại Medina.Sau khi Môhamet qua đời, những người kế tục Môhamet (gọi
là Khalif) tìm mọi cách mở rộng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của đạo Hồi Từ thế kỉ VII tới cuối thế kỉ VIII, Arập từ một quốc gia đã phát triển thành một đế quốc bao trùm toàn bộ vùng đất từ lưu vực sông Ấn qua Tây Á, Bắc Phi, tới bờ Đại Tây Dương
Từ giữa thế kỉ VIII, đế chế Arập đã bị chia rẽ thành nhiều dòng quí tộc, phá vỡ đi sự thống nhất trước đây Năm 1258, quân Mông
Cổ đánh chiếm Bagdad, kinh đô của đế quốc Arập lúc đó Đế quốc Arập bị diệt vong
Ấn Độ
Thời kỳ văn minh sông Ấn (khoảng 3000 năm đến 1500 năm TCN) Đây là thời kì người Dravida đã xây dựng nên những nền văn minh đầu tiên ở lưu vực sông Ấn Trước kia người ta cũng không biết nhiều về giai đoạn lịch sử này Mãi đến năm 1920, nhờ phát hiện ra dấu tích hai thành phố cổ ở Harappa và Mohenjo-daro, chúng ta mới biết về nó Ở đây, qua các di vật khảo cổ, ta có thể suy ra phần nào sự phát triển kinh tế, văn hoá, và đây là thời
Trang 38kì đã xuất hiện bộ máy nhà nước Về lịch sử tương đối cụ thể của
nó thì chưa đủ dữ liệu để biết Người ta tạm đặt cho nó cái tên là nền văn hóa Harappa - Mohenjo-daro Có người gọi đây là nền văn minh sông Ấn
Thời kỳ Veda (Khoảng 1500 năm TCN đến thế kỉ VI TCN) Đây
là thời kì những bộ lạc du mục người Aria từ Trung Á tràn vào xâm nhập Bắc Ấn Thời kì này được phản ánh trong bộ kinh Vệ Đà cho nên được gọi là thời kì Vệ Đà Thời kì này có hai vấn đề quan trọng ảnh hưởng lâu dài đến lịch sử Ấn Độ sau này: đó là vấn đề đẳng cấp (Vacna) và đạo Balamôn
Thời kỳ từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XII: Từ thế kỉ VI TCN Ấn Độ mới có sử sách ghi chép lại Lúc đó, ở miền Bắc Ấn có tới 16 nước trong đó vương quốc Magadha ở hạ lưu sông Hằng là nước hùng mạnh nhất Năm 327 TCN, Ấn Độ bị đội quân của Alexandros xâm lược trong một thời gian ngắn
Thời kỳ từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX: Trong giai đoạn này, Ấn
Độ bị người Apganixtan theo đạo Hồi xâm nhập, sau đó, thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII lại bị người Mông Cổ xâm lược Người Mông Cổ đã lập ra ở đây triều Môgôn Đến giữa thế kỉ XIX, Ấn Độ bị Anh xâm lược tới năm 1950 mới giành độc lập
Trung Hoa
Thời kỳ cổ đại (khoảng thế kỷ XXI TCN – 221 TCN)
Thời kỳ trung đại (221 TCN – 1840)
Con người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh)
Trang 39có niên đại cách đây hơn 500.000 năm Cách ngày nay khoảng hơn
5000 năm, xã hội nguyên thủy ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời
Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được lưu truyền qua truyền thuyết Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kì Tam Hoàng (Phục Hy,
Nữ Oa, Thần Nông) và Ngũ Đế (Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế) Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thuỷ
Thời Tam đại ở Trung Quốc trải qua ba triều đại Hạ, Thương, Chu
Nhà Hạ từ khoảng thế kỉ XXI - XVI TCN
Nhà Thương (còn được gọi là Ân - Thương) từ thế kỉ XVI - XI TCN
Nhà Chu về danh nghĩa từ thế kỉ XI - III TCN, nhưng thực chất nhà Chu chỉ nắm thực quyền từ thế kỉ XI TCN đến năm 771 TCN (thời Tây Chu) Còn từ năm 771 (sau loạn Bao Tự) đến năm 221 TCN, Trung Quốc ở vào thời loạn Giai đoạn lịch sử này được ghi lại
trong hai bộ Xuân thu sử và Chiến quốc sách.
Thời phong kiến:
Nhà Tần (221-206 TCN): Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng đánh bại các nước khác thời Chiến quốc, thống nhất đất nước, tạo điều kiện thống nhất chữ viết, đơn vị đo lường, tiền tệ
Nhà Hán (206 TCN - 220): Lưu Bang lập nên nhà Hán Giai đoạn đầu, nhà Hán đóng đô ở phía Tây Trung Quốc - Tây Hán
Trang 40Sau loạn Vương Mãng, nhà Hán dời đô sang phía Đông - Đông Hán.
Thời Tam quốc (220 - 280): đây là thời kì Trung Quốc bị chia
xẻ ra thành ba nước Ngụy, Thục, Ngô
Nhà Tấn (265 - 420): Năm 265, cháu Tư Mã Ý (tướng quốc nước Ngụy) là Tư Mã Viêm bắt vua Ngụy phải nhường ngôi, lập ra nhà Tấn
Nam - Bắc triều (420 - 581): Thời kì này, Trung Quốc lại chia làm hai triều đình riêng biệt, đến năm 581 Dương Kiên thống nhất lại được
Nhà Đường (618 - 907): đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc
Thời kì Ngũ đại - Thập quốc (907 - 960): hơn 50 năm này lại loạn lạc, ở miền Bắc có 5 triều đại kế tiếp nhau tồn tại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Tần, Hậu Chu) Ở miền Nam chia thành
9 nước đó là: Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Sở, Mãn, Nam Bình
Nhà Tống (960 - 1279): Giai đoạn đầu nhà Tống đóng đô ở phía Bắc (Bắc Tống), sau bị bộ tộc Kim tấn công quấy phá phải chạy về phía Nam (Nam Tống) Đến năm 1279 thì bị nhà Nguyên diệt.Nhà Nguyên (1279 - 1368): Sau khi diệt Tây Hạ, Kim, Nam Tống, Hốt Tất Liệt thống nhất toàn bộ Trung Quốc và lập ra nhà Nguyên.Nhà Minh (1368 - 1644): Năm 1368, Chu Nguyên Chương
đã lãnh đạo người Hoa khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, lập ra nhà Minh