1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận lịch sử văn minh thế giới nền văn minh ai cập cổ đại

23 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nền Văn Minh Ai Cập Cổ Đại
Người hướng dẫn Nguyễn Văn Lịch
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Lịch sử Văn minh Thế giới
Thể loại Bài luận văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 280,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sơ triều đại hay Tảo vương quốc 310-2686 TCN  Những di tích văn hóa vật chất của thời kì Cổ vương quốc có thể giúp chúng tahiểu một cách khái quát quá trình hình thành xã hội có giai c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

(Học kỳ II nhóm 2, năm học 2021 – 2022)

Đề bài: NỀN VĂN MINH AI CẬP CỔ ĐẠI

SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÊ THỊ QUỲNH

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN VĂN LỊCH

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

2.3 Trung Vương quốc (2055–1650 TCN) 11

2.3.1 Sự phát triển của các ngành kinh tế thời Trung vương quốc Ai Cập 11 2.3.2 Chính sách đối nội và đối ngoại 13

2.4 Tân Vương quốc (1550–1069 TCN) 14

2.4.1 Sự hình thành đế quốc Ai Cập dưới thời các vương triều XVIII và XIX 14 2.4.2 Sự phát triển của sức sản xuất thời Tân vương quốc 15

2.5 Thời kỳ Hậu Vương quốc ( khoảng giữa thế kỷ X đến năm 30 TCN) 17

CẬP CỔ ĐẠI 173.1 Chữ viết 17

Trang 3

CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ DÂN CƯ

1.1 Vị trí địa lý

 Về mặt địa hình Ai Cập là một nước tương đối bị đóng kín Ai Cập nằm ởĐông Bắc châu Phi có vị trí địa lý phía Bắc giáp Địa Trung Hải, phía Đônggiáp biển Hồng Hải, phía Nam giáp Nubi, nơi giáp giới ấy là một vùng núihiểm trở khó qua lại, phía Tây giáp Cộng hòa Li Bi và Sa mạc Sahara Cũngchính vì thế nên nền văn minh Ai Cập là nền văn minh phát triển riêng biệt,độc lập, có bản sắc riêng và phát triển liên tục qua các triều đại

 Ai Cập nằm ở một vị trí địa lý đặc biệt nên có vị trí địa – chính trị quan trọng

Ai Cập là nơi giao nhau của 3 châu lục: Á, Phi, Âu Tại đây, 3 châu lục hoànhập quanh một biển trung gian Địa Trung Hải – nơi có thể nối liền hoặc chiacắt 3 đại dương: Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương

 Trong thời cổ đại, Ai Cập chia thành hai miền rõ rệt: phía Nam là thượng AiCập – một dải lưu vực hẹp, thuận lợi cho nền kinh tế chăn nuôi đại gia súc;phía Bắc là hạ Ai Cập – đồng bằng hình tam giác phì nhiêu, màu mỡ do phù sacủa sông Nin bồi đắp, dễ giao lưu buôn bán với Châu Á và Tây Âu

 Ai Cập là vùng đồng bằng dài và hẹp, nằm dọc theo vùng hạ lưu của lưu vựcsông Nin, sông Nin bắt nguồn từ vùng xích đạo của Châu Phi, phần chảy qua

Ai Cập khoảng 700km Miền đất đai do sông Nin bồi đắp rộng khoảng 25km, ở phía Bắc có nơi rộng đến 50km Hạ nguồn sông Nin chia thành 7nhánh khác nhau Hằng năm từ tháng 6-11, nước sông Nin dâng cao đem theomột lượng phù sa phong phú bồi đắp cho vùng đồng bằng hai bên bờ ngàycàng thêm màu mỡ Do đó, nền kinh tế nơi đây phát triển sớm tạo điều kiệncho Ai Cập có thể bước vào xã hội văn minh sớm nhất thế giới và dọc sôngNin là nơi dân cư tập trung chủ yếu, là cơ sở cho sự ra đời của nhà nước

15- Nhà sử học Hêrôđôp đã nói rằng: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin” Sựthành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thíchứng của nó với các điều kiện của thung lũng Nin cho sản xuất nông nghiệp Từviệc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũngmàu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân sốđông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa, góp phần quy định hìnhthức chính thể nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền

 Ai Cập có số ngày mưa rất ít, quanh năm trời nắng, bầu trời luôn trong xanh,

độ ẩm không khí thấp Tuy nhiên, cũng nhờ điều này mà người Ai Cập lạithuận lợi trong việc quan sát thiên văn và giữ gìn khá lâu những di sản của nềnvăn minh Ai Cập, cụ thể là bảo quản được loại giấy Papyrus Khí hậu mùađông ôn hoà, mùa hạ nóng và khô Vùng ven biển Alêchxanđơria có lượng

Trang 4

mưa lớn nhất: 200mm Vùng cạnh biển Đỏ hầu như không có mưa Nhiệt độtrung bình tháng giêng ở miền bắc là 12 độ, miền nam là 15 – 16 độ; tháng bảy

từ 25 – 26 độ và 30 – 34 độ

 Bên cạnh đó, Ai Cập còn có rất nhiều loại đá quý như đá vôi, đá badan, đá hoacương, đá mã não…nguyên liệu cây dựng các công trình nghệ thuật (kim tựtháp…); kim loại thì có đồng, vàng, còn sắt thì phải đưa từ bên ngoài vào

 Tất cả các điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh

Ai Cập sớm nhất Các ngành nghề như đánh bắt cá, nông nghiệp, thủ côngnghiệp và thương nghiệp đều phát triển ngay từ 3.000 năm trước Côngnguyên Đặc biệt, các di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình độ vươn lêntầm kỳ quan của thế giới như: các kim tự tháp, các kiệt tác về hội họa, điêukhắc và nghệ thuật ướp xác

1.2 Dân cư

Cư dân chủ yếu của Ai Cập ngày nay là người Arập, nhưng thời cổ đại, cư dân ởđây là người Libi, người da đen và có thể có cả người Xêmit di cư từ châu Á tới Conngười đã xuất hiện và sinh sống ở lưu vực sông Nin từ thời đồ đá cũ Những tàiliệukhoa học hiện đại đã xác minh rằng người Ai Cập thời cổ là những thổ dân châuPhi, hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc Những thổ dân này đi lại săn bắntrên lục địa, khi đến vùng đồng bằng sông Nin, họ định cư ở đây và theo nghề trồngtrọt và chăn nuôi từ rất sớm Về sau chỉ có một chi của bộ tộc Hamit từ Tây Á xâmnhập hạ lưu sông Nin, chinh phục thổ dân người châu Phi ở đây Trải qua một quátrình hỗn hợp lâu dài, người Hamit và thổ dân ở đây đã đồng hoá với nhau, hình thành

ra một bộ tộc mới, chính là người Ai Cập Họ thuộc chủng tộc Môngôlôit và Nêgrôit.Người Ai Cập chỉ có một ngôn ngữ chính là tiếng Arập Cấu trúc làng theo chiều dọc.Các thành viên trong xã hội không được bình đẳng Thức ăn của họ là lúa mì, lúamạch, đậu, trái cây : táo, quả hạnh, quả đấu là thức ăn phụ; thịt gia súc, thịt thú hoang :hươu, lợn, lừa rừng, các loại sữa, trứng và thuỷ sản Người Ai Cập ưa phục tùng, thích

ra lệnh Họ cần cù chăm chỉ Sống bên cạnh sa mạc và sông Nin nên họ có tính cáchchịu đựng, kiên nhẫn, dũng cảm, liều lĩnh Họ là những người tháo vát và lanh lợi

CHƯƠNG 2 AI CẬP CỔ ĐẠI QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

 Vào thời cổ đại, người dân Ai Cập sống thành bộ tộc Của cải do con ngườitạo ra là tài sản chung, không có tranh chấp, không có sở hữu riêng Vàokhoảng năm 4000 trước công nguyên, chế độ thị tộc ở Ai Cập bắt đầu tan rã.Thời đó, các cư dân ở sông Nin sống theo các công xã nhỏ Công xã nông thôn

là tổ chức kinh tế cơ sở của Ai Cập cổ đại Có thể nói rằng nông nghiệp có vaitrò quan trọng hàng đầu trong kinh tế của công xã nông thôn tuy vậy, nôngnghiệp thời kỳ này còn đang ở trình độ canh tác nguyên thuỷ Phương phápcanh tác còn lạc hậu Người ta xới đất lên rồi gieo hạt giống Mặt khác công cụ

Trang 5

sản xuất còn thô sơ, đơn giản, làm bằng đá, gỗ Tuy nhiên, do đất đai màu mỡnên cư dân vẫn thu hoạch được nhiều sản phẩm.

 Bên cạnh đó, hàng năm, người Ai Cập phải thường xuyên đối phó với các loạihình thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, lụt lội Do đó, họ rất chú trọng côngtác thuỷ lợi, xem đó như là một công tác trọng yếu của công xã nông thôn Đểhoàn thành tốt công tác thuỷ lợi, cần phải có sự đoàn kết, hợp lực của nhiềucông xã Các công xã phân tán không đáp ứng được nhu cầu phát triển sảnxuất Vì vậy nhiều công xã nông thôn đã hợp lại thành một liên minh công xãrộng lớn hơn, gọi là nôm để có khả năng huy động nhiều nhân công làm côngtác thuỷ lợi Mỗi nôm đều có thành thị và nông thôn riêng Có khoảng 40 nôm

ở Ai Cập, nằm dọc hai bên bờ sông Đầu thiên niên kỷ thứ IV trước côngnguyên, xã hội Ai Cập phân chia thành hai giai cấp đối kháng rõ rệt : chủ nô

và nô lệ Nguồn nô lệ chủ yếu là chiến tù, thuộc sở hữu chung của công xã,được sử dụng một cách rộng rãi trong các ngành thủ công nghiệp và nôngnghiệp, chủ yếu là các công trình thuỷ lợi Lao động trên đồng ruộng thì chủyếu là do nông dân tự do của công xã thực hiện

 Chủ nô bóc lột cả nô lệ và quần chúng nông dân công xã Họ là tầng lớp quýtộc thị tộ, đã tách ra khỏi đám dân tự do, trở thành giai cấp thống trị Giai cấpthống trị chủ nô Ai Cập đã tổ chức ra bộ máy nhà nước để cai trị nô lệ và nôngdân công xã

 Châu ở Ai Cập chính là hình thái nhà nước phôi thai Đứng đầu mỗi châu làmột chúa châu Chúa châu đồng thời cũng là thủ lĩnh quân sự, thẩm phán vàtăng lữ tối cao của châu Chúa châu đựoc coi như là một vị thần sống Đặcbiệt, mỗi châu có một tín ngưỡng tôn giáo riêng, thờ một vị thần riêng Giữacác châu thường xuyên có chiến tranh xảy ra nhằm thôn tính đất đai, cướp bóccủa cải và nô lệ của nhau Mặt khác, sự xúc phạm tín ngưỡng tôn giáo củanhau cũng là một nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

 Do yêu cầu thống nhất việc quản lý công tác thuỷ lợi trên phạm vi ngày càngrộng lớn , cùng với nguyện vọng chấm dứt những cuộc tranh chấp lâu dài vàtàn khốc nhằm thôn tính đất đai của nhau, nên dần dần các châu hợp thành mộtquốc gia thống nhất tương đối rông lớn Các châu ở miền Bắc thống nhấtthành vương quốc Hạ Ai Cập, còn các châu miền nam thống nhất thành vươngquốc Thượng Ai Cập Sau một quá trính đấu tranh lâu dài và tàn khốc, vàokhoảng năm 3200 trước công nguyên, Thượng và Hạ Ai Cập đã hợp lại thànhmột quốc gia Ông vua đầu tiên là Menes Kinh thành đầu tiên là Memphis Tổchức nhà nước lúc bấy giờ còn sơ khai nhưng đã mang đặc điểm của một nhànước chuyên chế Nhà nước Ai Cập cổ đại ra đời từ cuối thiên niên kỷ IVtrước công nguyên Từ đó cho đến năm 525 trước công nguyên, lịch sử Ai Cậpđược chia thành 5 thời kỳ chính

Trang 6

 Các triều đại trong lịch sử Ai Cập cổ đại đã trải qua:

 Sơ triều đại hay Tảo vương quốc (3100–2686 TCN)

 Cổ Vương quốc (2686–2181 TCN)

 Chuyển tiếp thứ Nhất (2181–2055 TCN)

 Trung Vương quốc (2055–1650 TCN)

 Chuyển tiếp thứ Hai (1650–1550 TCN)

 Tân Vương quốc (1550–1069 TCN)

 Chuyển tiếp thứ Ba (1069–664 TCN)

 Hậu nguyên (664–332 TCN)

 Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về 5 thời kỳ chính đó là Thời kỳ Tảo vươngquốc, Thời kỳ Cổ Vương quốc, Thời kỳ Trung Vương Quốc, Thời kỳ TânVương quốc và Thời kỳ Hậu nguyên

2.1 Sơ triều đại hay Tảo vương quốc ( 310-2686 TCN)

 Những di tích văn hóa vật chất của thời kì Cổ vương quốc có thể giúp chúng tahiểu một cách khái quát quá trình hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước ở

Ai Cập vào đầu thiên kỉ IV TCN Lúc này, cư dân ở lưu vực sông Nin đã sốngtheo từng công xã nhỏ: cùng với nghề chăn nuôi, sân bắn và đánh cá, ngànhnông nghiệp ngày càng chiếm địa vị quan trọng Tuy nhiên, trình độ canh táccòn rất lạc hậu Công cụ chủ yếu là những chiếc cuốc bằng đá Đến cuối thời

kì này, người Ai Cập mới biết đến đồng và chì, còn vàng và bạc thì đã được họ

sử dụng làm đồ trang sức từ khá sớm

 Nhưng nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi ở lưu vực sông Nin, nên mặc dùtrình độ sản xuất còn lạc hậu, ngành nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng,tạo ra sản phẩm thừa thường xuyên trong xã hội Mặt khác, việc trị thủy sôngNin cũng đòi hỏi các công xã phải liên kết với nhau Các liên minh công xãnhư thế ở Ai Cập gọi là các “Nôm” Mỗi Nôm có một nômmaccơ đứng đầu

 Do yêu cầu thống nhất quản lí công tác thủy lợi trên phạm vi ngày càng rộnglớn, do những cuộc tranh chấp đất đai và thôn tính lẫn nhau, dần dần, vào giữaThiên niên kỉ IV TCN:

 Các Nôm miền Bắc được thống nhất lại thành Vương quốc Hạ Ai Cập vớitrung lâm ở Bokđốt (Đamanhur)

 Các Nôm miền Nam được thống nhất thành Vương quốc Thượng Ai Cậpvới trung tâm ở Nebut (Ombos)

Trang 7

 Có Iẽ trong một thời gian dài, hai vương quốc này đã luôn luôn gây hấn vớinhau Người ta đã tìm thấy một phiến đá miêu tả vua Narmer đang chỉ tay Iênđầu kẻ thù và bên cạnh đó là dòng chữ: “Vua đã bắt từ đất nước ‘Hồ Garpuna’

6 nghìn tù binh” Cuối cùng, bằng con đường chiến tranh thôn tính, Mina đãthống nhất Thượng và Hạ Ai Cập thành Vương quốc Ai Cập thống nhất Mina,các sử gia Hy Lạp thường gọi là Menes, xuất thân từ vùng Tina thuộc miềnNam Ai Cập Hêrôđốt nói rằng Mina có công xây dựng kinh đô Memphít, cótường thành bao quanh mà ông gọi là “bức tường trắng”: trong thành Mina cònxây đền thờ thần địa phương

 Trong một khu hâm mộ ở gần “Bức tường trắng”, nhà khảo cổ học V.B Emêri

đã tìm thấy 5 cái giỏ đan trong đó có chứa tới 86 con dao, 35 dao nhỏ, 47 lưỡicuốc, 262 mũi kim và 75 mảnh đồng Một tài liệu cổ cũng cho biết dưới thờiPharaông Haxêhêmui (thuộc Vương triều II) người ta đúc tượng vua

“Haxêhêmui cao lớn” bằng đồng

 Các văn tự tượng hình thời kì Cổ vương quốc, bảng phổ hệ các vương triềucủa Manêtôn, sau đó là các tác giả Hy Lạp cổ đại có nhắc tới tên một sốPharaông thuộc hai vương triều đầu tiên trong lịch sử Ai Cập Sự tồn tại củahai vương triều này càng được khẳng định qua các tài liệu khảo cổ học

 Ở vùng Nêgađa và Abiđôxa thuộc miền Nam Ai Cập và ở Xackara thuộc miềnBắc, người ta đã tìm thấy những khu mộ táng rộng lớn của các Pharaông vớimột khối lượng lớn các hiện vật và các tài liệu văn tự cổ, trong đó có nhắc tớilên các ông vua đầu tiên này Manêtôn cũng có nói tới một số đời vua kếnghiệp sau Mina, nhưng hết sức khái lược và nhiều khi thiên về những cá tínhhơn là các hoạt động chính trị Người đầu tiên trong số các ông vua kế nghiệpMina là Atôtis – con trai Mina, rất say mê trong nghệ thuật chữa bệnh và thậmchí còn viết cả một cuốn sách về giải phẫu Ông vua đầu tiên của Vương triều

II là Bocto: trong thời ông trị vì, người ta đã tiến hành mở mang vùng đất ởBubaxtit Cũng theo Manêtôn các Pharaông thuộc Vương triều I trị vì tronghơn 250 năm, còn Vương triều II thì tồn tại trong gần 300 năm Như thế thờiTảo kì vương quốc phải kéo dài từ khoảng năm 3200 đến 2650 năm TCN.Điều này thể hiện sự mâu thuẫn trong những thông tin mà Manêtôn cung cấp,bởi lẽ Vương triều III – mở đầu thời Cổ vương quốc đã được thiết lập từ năm

2778 TCN Sau Menes, các vua thuộc hai Vương triều I và II đã nhiều lần gâychiến với các bộ lạc ở phía đông Ai Cập, sống ở miền Xinai, đánh chiếm vùng

mỏ đồng ở đó và lấy rất nhiều đồng đem về Ai Cập

 Tuy còn nhiều nét sơ khai, nhà nước Ai cập cổ đại đã được hình thành và đãmang nhiều đặc điểm của một nhà nước chuyên chế phương Đông Nó là mộttrong những dấu hiệu chứng tỏ cư dân Ai Cập cổ đại đã bước vào thời đại xãhội có giai cấp, thời đại văn minh

Trang 8

2.2 Cổ Vương quốc (2686–2181 TCN)

Thời Cổ vương quốc trong lịch sử Ai Cập cổ đại, bao gồm các vương triều từ thứIII đến thứ VI (khoảng năm 2900 – 2300 TCN) là thời kì hình thành và củng cố nhànước trung ương tập quyền và cũng là thời kì phát triển thịnh đạt đầu tiên về các mặtkinh tế, văn hóa và chính trị – quân sự của Ai Cập

2.2.1 Sơ lược các Vương triều thời Cổ vương quốc Ai Cập

Thời Cổ vương quốc trong lịch sử Ai Cập cổ đại, bao gồm các vương triều từ thứIII đến thứ VI (khoảng 2900 – 2300 năm TCN) là thời kì hình thành và củng cố nhànước trung ương tập quyền Đây cũng là thời kì phát triển thịnh đạt đầu tiên về các mặtkinh tế, văn hóa và chính trị – quân sự của Ai Cập Các vương triều I và II trước đóthuộc về thời kỳ Tảo vương quốc Qua bảng phổ hệ của Manêtôn, người ta có thể biếtkhá đầy đủ tên của các Pharaông thuộc 4 vương triều này, nhưng lại không biết được

gì nhiều về những chính sách đối nội hay đối ngoại của phần lớn các ông vua này

Vương triều thứ III

Vương triều thứ III (2778 – 2723 TCN) được mở đầu bằng ông vua có tên làGiêse (Djeser) Sau khi đã hoàn thành việc thống nhất Ai Cập, các Pharaông thuộcvương triều III và IV liên tiếp mở các cuộc tấn công xâm lược sang các vùng Nubi vàXinai nhằm mở rộng lãnh thổ và cướp bóc tài sản Trong suốt thời kì thống trị củamình, Giêse đã nhiều lần tiến quân ra vùng Đông Bắc và miền Nam Ai Cập Cạnh một

mỏ đồng trên bán đảo Xinai còn giữ lại được một bức phù điêu, miêu tả cảnh Giêsechiến thắng các bộ tộc người bản xứ Một tài liệu cổ văn cũng cho biết, Giêse đã tặngcho đền thờ thần Hnuma ở Ele-Elêphantina một khu đất thuộc Nubi mà người Ai Cậpmới chiếm được Chính sách xâm lược đó của Giêse còn được tiếp tục cho đến đờiPharaông cuối cùng của vương triều này là Huni

Vương triều thứ IV

 Người mở đầu cho Vương triều thứ IV (2723 – 2563 TCN) là Snephru(Xanphara) không chỉ thừa kế ngai vàng mà còn thừa kế cả chính sách bànhtrướng, xâm lược của các Pharaông vương triều trước Snephru đã đem quântấn công khu mỏ đồng ở Xinai và vùng miền Nam Ai Cập Bản cổ văn khắctrên đá Palerm cho biết khi đánh Nubi, Snephru đã bắt về 7.000 tù binh và200.000 súc vật Pharaông Kuphu (Kêốp) cũng đã nhiều lần tấn công sang bánđảo Xinai Trên vách đá gần Vađi – Marhara còn giữ lại bức phù điêu miêu tảcảnh chiến thắng của ông vua này trong cuộc chiến tranh với dân bản địa

 Trong chính sách đối nội, các Pharaông thuộc Vương triều III và IV ra sứccủng cố chính quyền trung ương tập quyền Một trong những biểu hiện sứcmạnh và quyền lực vô hạn của chính quyền Pharaông là việc xây dựng cáccông trình Kim tự tháp Hầu như các đời Pharaông của hai vương triều này

Trang 9

đều xây cho mình một Kim tự tháp với kích thước lớn nhỏ khác nhau.Pharaông đầu tiên của Vương triều III là Giêse xây Kim tự tháp của mình ởXackara Đó là một ngôi tháp 6 tầng, cao 60m Lớn nhất là hai ngọn Kim tựtháp ởờ Đaksura (cao 99m) và Kim tự tháp của Kuphu (Kêốp) cao tới 146m.Đây cũng là những Kim tự tháp hùng vĩ nhất trong số các Kim tự tháp còn lạiđến nay trên đất Ai Cập Hàng vạn người đã bị bắt đi làm khổ sai trong nhữngcông trình “thế kỉ” này và nhiều người trong số họ đã phải vùi thây trong cátbỏng của sa mạc Chỉ có một chính quyền chuyên chế hùng mạnh mới có thểhuy động nổi ngần ấy sức người, sức của phục vụ cho chiến tranh và các côngtrình xây dựng, đồng thời mới đủ sức trấn áp nổi sự phản kháng của nô lệ vàdân nghèo

Vương triều thứ V & VI

 Theo truyền thuyết, ông vua sáng lập ra vương triều V (2563 – 2423 TCN) làcon của một nữ tu sĩ với thần Ra – thần Mặt Trời Thế là quyền lực vô hạn củacác Pharaông đã được thần thánh hóa Như thế, các Pharaông của hai vươngtriều V và VI (2423 – 2263 TCN) càng có điều kiện kế tục một cách xuất sắcchính sách đối nội và đối ngoại của các bậc tiền bối của mình Điođor có kể lạirằng vào thời kì cuối của vương triều IV, nhân dân đã nổi dậy và “ném xác củacác Pharaông ra khỏi Kim tự tháp” của họ Có thể ông vua đầu tiên của vươngtriều V đã lên ngôi trong bối cảnh đó, sau khi đã đàn áp được sự phản khángcủa nô lệ và dân nghèo, rồi ông ta đã “viện” đến thần Ra để củng cố lòng tintrong dân chúng Bóc lột và đàn áp nhân dân trong nước, ra sức củng cố chínhquyền trung ương là một chính sách đối nội nhất quán mà các Pharaông củahai vương triều này đã theo đuổi

 Trong chính sách đối ngoại, hầu hết các Pharaông thời kì này đều tiến hànhchiến tranh xâm lược các nước láng giềng như Libi, Nubi Pharaông Ixexi(Vương triều V) tấn công sang vùng Xinai bằng cả quân thủy và quân bộ Uniscòn đưa quân sang tận Xiri Các Pharaông Pepi I và II (thuộc Vương triều VI)

đã nhiều lần viễn chinh sang Nubi và bán đảo Xinai Trong bản cổ văn của ôngquan trấn thành Una có miêu tả tỉ mỉ một cuộc viễn chinh rất lớn của quân AiCập sang vùng Palextin, họ đã chiến thắng và đã bắt tù binh ở đây về làm nô lệnhư thế nào

 Sau các cuộc chiến tranh xâm lược liên tiếp này, kết quả là không chỉ nhữngvùng xung quanh Ai Cập bị tàn phá nặng nề, mà còn làm cho chính thế lực củachính quyền Pharaông ngày càng suy yếu, dẫn tới thời kì phân liệt và cát cứsau khi vương triều VI sụp đổ

2.2.2 Sự phát triển của nền kinh tế Ai Cập thời Cổ vương quốc

Thủy lợi được chú trọng

Trang 10

Ngay từ thời Mênét, người Ai Cập đã tiến hành xây dựng các công trình thủy lợi

có quy mô to lớn Một nhà quý lộc có tên là Nêhêbu đã rất tự hào kể lại trong một bảnvăn bia rằng theo lệnh của vua và theo một kế hoạch đã có sẵn, ông ta đã cho đàonhiều kênh dẫn nước ở cả Bắc và Nam Ai Cập Hêrêđốt cũng nói rằng vùng châu thổsông Nin chằng chịt những kênh đào Nhà nước còn đặt ra chức nông quan có nhiệm

vụ trông nom các công trình thủy lợi trong nước

Nông nghiệp phát triển hơn

 Việc đánh chiếm các vùng mỏ đồng ở Xinai đã giúp cho người Ai Cập lấyđược rất nhiều đồng đem về chế tạo vũ khí và công cụ lao động Trong hầm

mộ của Pharaông Giêse người ta đã thấy nhiều công cụ lao động bằng đồngnhư búa, rìu, dao và dao khắc Mặc dù những công cụ này mới chỉ được làm từđồng nguyên chất còn khá mềm, cũng đã có tác dụng làm cho ngành sản xuấtnông nghiệp phát triển hơn một bước Trong các tài liệu văn tự cổ thời kì này

có nói tới những loại lúa mì đặc biệt ở Thượng và Hạ Ai Cập: nghề trồng nho,trồng cây ăn quả và trồng cây gai cũng được nói tới trong các văn tự cổ

 Do đất đai canh tác hẹp và khí hậu khô cằn, ngành chăn nuôi ở Ai Cập không

có điều kiện phát triển Vì thế, một trong những chiến lợi phẩm quan trọngtrong các cuộc chiến tranh là súc vật Song không vì thế mà ngành chăn nuôikhông được chú trọng Nhiều quý tộc, quan lại trong nhà có những đàn súc vậtlớn – chủ yếu là bò, cừu và dê Trên tường hầm mộ của các quý tộc quan lạithường có tranh phù điêu miêu tả các loại và số lượng sức vật mà ông ta có lúcsinh thời Đàn súc vật được coi là một tài sản lớn và quý giá

Thủ công, mỹ nghệ phát triển

 Nghề thủ công cũng phát triển Người Ai Cập đã biết cách nấu quặng và chếtạo đồng Kĩ thuật chế tác đá đã đạt tới trình độ hoàn mĩ Để xây dựng Kim tựtháp Kuphu (Koốp) người ta đã phải cưa, đẽo, gọt mài 2.300.000 phiến đá,mỗi phiến nặng tới 2,5 tấn Các phiến đá này được đẽo phẳng đến nỗi người tachỉ cần xếp chúng khít lại với nhau mà không cần có chất keo dính nào vàngày nay ta cũng chỉ có thể lách mũi dao mỏng vào giữa các khe đó mà thôi

 Những bức tranh phù điêu khắc trên vách đá các hầm mộ, trên tường Kim tựtháp miêu tả mọi cảnh sinh hoạt của đời thường, những tấm bia đá có khắc chữtượng hình được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên đất Ai Cập đủ chứng tỏ trình độtay nghề hết sức khéo léo của các nghệ nhân Ai Cập

 Nghề đóng thuyền cũng có những tiến bộ nhất định Trong bút tích của viênquan trấn thủ thành Una có nói tới việc đóng thuyền chở hàng “bằng gỗ dài 60cùi tay, rộng 30 cùi tay, được đóng xong trong 17 ngày” Nghề làm đồ gỗ, nhất

là nghề làm đồ trang sức từ vàng, bạc và các loại đá quý, rất được phổ biến ở

Ai Cập thời Cổ vương quốc Người Ai Cập thời kì này đã làm được những đồ

Trang 11

trang sức hết sức tinh xảo Trong hầm mộ của nữ hoàng Hetap – Heres (Vuơngtriều IV), người ta đã tìm thấy nhiều đồ trang sức quý giá, trong đó có chiếcvòng bạc có đính nhiều hạt đá quý và những hình chạm nổi tinh vi

Tiền tệ bắt đầu xuất hiện

Do sự phát triển của các ngành kinh tế, do tính chất chuyên môn hóa ngày càngcao đã làm cho quan hệ trao đổi buôn bán được đẩy mạnh Qua các bức tranh phù điêu

ta được biết các mặt hàng trao đổi trên thị trường lúc đó rất phong phú Đó là các sảnphẩm nông nghiệp như hạt ngũ cốc, bánh mì, hoa quả, cá, bơ… và các sản phẩm thủcông như đồ trang sức, gương, giày dép Việc buôn bán không chỉ dừng ở hình thứclấy vật đổi vật, mà tiền tệ cũng đã bắt đầu xuất hiện dưới dạng những mảnh kim loại.Người ta mua bán cả nô lệ và bất động sản, nhưng đó là trường hợp rất hạn hữu Chỉ

có một tài liệu tìm thấy ở Gidơ nói tới việc bán nhà, đổi lấy nhiều hiện vật khác trị giábằng 10 thanh kim loại Các tài liệu văn tự cổ cũng nói tới các chuyến buôn bán lớn ranước ngoài để mua về các loại gỗ quý và kim loại hiếm Trong một lần khai quật ởBiblos (Xiri), người ta đã phát hiện được những mảnh gốm có khác tên PharaôngKuphu và Menkaura và một bình kim loại có khác tên vua Unis Bức phù điêu trêntường đền thờ vua Sahura miêu tả một đoàn thuyền buồm Ai Cập sang châu Á để muahàng và nô lệ

Kết luận

Như thế, dù là chậm chạp, nhưng chắc chắn, nền kinh tế Ai Cập thời cổ vươngquốc đã có một bước phát triển mới Đó chính là cơ sở vững chắc cho sự ổn định vềchính trị và sự phát triển của một nền văn hóa phong phú ở các giai đoạn tiếp sau

2.2.3 Tổ chức nhà nước và quan hệ xã hội thời kỳ Cổ vương quốc

Tầng lớp thống trị

 Pharaông đứng đầu nhà nước và có quyền tối cao

 Đứng đầu bỏ máy nhà nước đó là Pharaông – “Ngài ngự trong cung điện”.Pharaông có quyền sở hữu lối cao toàn bộ đất đai trong cả nước và dùngruộng đất đó cùng với của cải và nô lệ để ban tặng cho bà con thân thích,cho quan lại và tăng lữ cấp cao Pharaông được coi như một vị thần sống.Mọi mệnh lệnh của vua đều trở thành pháp luật Bằng nhiều biện pháp, vuaquản lí chặt chẽ hệ thống quan lại ở trung ương và địa phương Vua cóquyền bãi nhiệm, bãi miễn hoặc trừng phạt bất cứ người nào Ngoài chứcnăng cai trị thần dân, Pharaông còn kiêm chức năng thẩm phán tối cao,thống lĩnh quân đội và đứng đầu tăng lữ

 Pharaông còn được coi là con của thần Ra – thần Mặt trời Sau khi vuachết, xác ướp được giữ lại trong các lăng mộ, tức là trong lòng các ngọnKim tự tháp hùng vĩ Dưới chân tường Kim tự tháp, người ta tạc tượng

Ngày đăng: 14/12/2022, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. LÊ SĨ GIÁO (chủ biên) và các tác giả, Dân tộc học đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: LÊ SĨ GIÁO (chủ biên) và các tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
2. NGUYỄN QUỐC HÙNG (chủ biên) và các tác giả, Những nền văn minh rực rỡ cổ xưa, Tập I : Văn minh Ai Cập, Tây Á, Ấn Độ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh rực rỡ cổ xưa, Tập I : Văn minh Ai Cập, Tây Á, Ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1993
3. TRỊNH NHU, Đại cương lịch sử thế giới cổ đại, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả: Trịnh Như
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1990
4. LƯƠNG NINH (chủ biên) và các tác giả, Lịch sử thế giới cổ đại, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả: LƯƠNG NINH (chủ biên) và các tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục, Hà Nội
Năm: 1997
5. VŨ DƯƠNG NINH (chủ biên) và các tác giả, Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: VŨ DƯƠNG NINH (chủ biên) và các tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. MAI LÝ QUẢNG (chủ biên) và các tác giả, 198 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, NXB Thế giới, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 198 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Tác giả: Mai Lý Quảng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2002
7. NGUYỄN QUANG QUYỀN, Các chủng tộc loài người, NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủng tộc loài người
Tác giả: NGUYỄN QUANG QUYỀN
Nhà XB: NXB Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1978
8. PHẠM HỒNG VIỆT, Một số vấn đề văn hoá thế giới cổ đại, NXB Thuận Hoá, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn hoá thế giới cổ đại
Tác giả: PHẠM HỒNG VIỆT
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
Năm: 1993
9. Almanach những nền văn minh thế giới, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Almanach những nền văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 1995
10. Những vấn đề lịch sử xã hội nguyên thuỷ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lịch sử xã hội nguyên thủỷ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1963
11. PH.ANGGHEN, Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: PH.ANGGHEN
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1972
12. PAUL KENNEDY, Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, NXB Thông tin Lí luận, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc
Tác giả: PAUL KENNEDY
Nhà XB: NXB Thông tin Lí luận
Năm: 1992
13. G.N.MACHUSIN, Nguồn gốc loài người, NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc loài người
Tác giả: G.N.MACHUSIN
Nhà XB: NXB Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1986
14. L.I.MEDVEDKO, Về phía Đông và phía Tây kênh Suez (tiếng Nga), NXB Khoa học, Matxcơva, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phía Đông và phía Tây kênh Suez (tiếng Nga)
Tác giả: L. I. Medvedko
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 1966

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w