MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 2 I Cơ sở lí luận 2 1 Sơ lược về học thuyết “Nho giáo” 2 2 Nội dung tư tưởng của Nho giáo 3 II Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học, giáo dục của văn minh Trung Quốc.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I Cơ sở lí luận: 2
1 Sơ lược về học thuyết “Nho giáo”: 2
2 Nội dung tư tưởng của Nho giáo: 3
II Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học, giáo dục của văn minh Trung Quốc thời trung đại: 4
1 Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học Trung Quốc thời trung đại: 4
2 Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực giáo dục Trung Quốc thời trung đại: 6
KẾT LUẬN 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 2ĐỀ BÀI: Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học, giáo dục của văn minh Trung Quốc thời trung đại.
MỞ ĐẦU
Nho giáo là một trong những trường phái chính của Trung Quốc từ thời cổ đại, tư tưởng Nho giáo của Khổng Mạnh chiếm địa vị đặc biệt quan trọng trong lịch
sử tư tưởng, nó ảnh hưởng sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc suốt hơn hai ngàn năm lịch sử Trong quá trình nghiên cứu về nền văn minh Trung Quốc thời trung đại, thấy được tư tưởng Nho giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn minh này, đặc biệt là lĩnh vực văn học và giáo dục Bởi vậy, trong bài tiểu luận
này em xin được trình bày về ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học, giáo
dục của văn minh Trung Quốc thời trung đại Trong quá trình làm bài có thể có những sai sót, em rất mong các thầy cô có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thiện tốt hơn về nhận thức của mình đối với môn Lịch sử Văn minh Thế giới
Em xin chân thành cảm ơn
NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận:
1 Sơ lược về học thuyết “Nho giáo”:
Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời
cổ đại đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở
ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến cuối thời Xuân Thu (TK XI-TK V TCN) thì được Khổng Tử (551-479 TCN) và các môn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử (313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển
là Tứ Thư và Ngũ Kinh.
Trang 3Khổng Tử chỉnh lý các sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu, về sau trở thành các tác phẩm kinh điển của Nho gia Do sách Nhạc đã bị thất truyền nên năm tác phẩm còn lại được gọi là Ngũ kinh Ngoài Ngũ kinh, trong hệ thống kinh điển của Nho gia còn có Tứ thư gồm bốn tác phẩm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học và Trung dung, trong đó Luận ngữ là cuốn sách do các học trò của Khổng Tử ghi chép
những lời của ông ứng đáp với học trò và những người đương thời Đây là tư liệu quan trọng để nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử
Tư tưởng của Khổng Tử bao gồm bốn lĩnh vực: triết học, luân lý, chính trị và giáo dục Về triết học, Khổng Tử và Mạnh Tử đều tin vào thiên mệnh Về đạo đức, Khổng Tử hết sức coi trọng chủ yếu vào chữ "nhân", Mạnh Tử coi trọng nhất là chữ "nghĩa" Về chính trị, Khổng Tử chủ trương đường lối trị nước phải dựa vào đạo đức, tức là đức trị Mạnh Tử nhấn mạnh hai vấn đề là nhân chính và thống nhất Về giáo dục, Khổng Tử là người đầu tiên sáng lập nên chế độ giáo dục tư thục
ở Trung Quốc Khổng Tử và Mạnh Tử cũng rất chú trọng tới phương pháp giảng dạy
Từ đời Hán, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá, giáo dục Trung Quốc và làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hai ngàn năm lịch sử
2 Nội dung tư tưởng của Nho giáo:
Nội dung Nho giáo chủ trương giáo hóa tầng lớp xã hội từ bậc quân vương đến kẻ thứ dân làm cho ai cũng được thấm nhuần đạo học thánh hiền, phát huy tính thiện sẵn có, tự sửa đổi, rèn luyện cho tốt đẹp hơn, người có đạo đức cảm hóa kẻ vô đạo, đem văn minh truyền bá khắp nơi
Trang 4Nho giáo đề cao chữ "nhân", chủ trương "lễ" trị, phản đối pháp trị, đề cao
tam cương ngũ thường Tam cương (Ba cương lĩnh cơ bản): quân thần (vua tôi),
phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng) Tam cương là ba cặp quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, trong đó vua là cương (chỗ dựa) của bề tôi, cha là cương của con, chồng là cương của vợ vì vậy bề tôi phải phục tùng vua, con phải phục tùng cha, vợ phải phục tùng chồng 1 Ngũ thường (Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức): nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín bao gồm lòng yêu thương muôn loài vạn vật; cử xử với người công bình theo lẽ phải; tôn trọng, hòa nhã cư xử với người; thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, sai; đúng; việc làm nhất quán với lời nói, giữ lời "nhất ngôn kí xuất, tứ mã
nan truy", đáng tin cậy Người phụ nữ theo Nho giáo phải có đủ tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử); tứ đức gồm công - dung - ngôn - hạnh.
Hơn nữa, trong Nho giáo rất đề cao người quân tử, quân tử phải tu thân, đạt đạo, có phương cách ứng xử đúng đắn; đạt ba đức " nhân - trí - dũng "; biết thi, thư, lễ, nhạc Ngoài tu thân, người quân tử phải hành đạo (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)
II Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học, giáo dục của văn minh
Trung Quốc thời trung đại:
1 Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực văn học Trung Quốc thời trung đại:
Văn học Trung Hoa ra đời sớm và đạt nhiều thành tựu lớn lao, nhất là các thể loại Kinh Thi, Thơ Đường, Tiểu thuyết Minh - Thanh…
Kinh Thi là tập thơ cổ nhất Trung Quốc, được các tác giả sáng tác trong
khoảng thời gian từ nhà Tây Chu cho đến giữa thời Xuân Thu (khoảng 500 năm)
1 NGuyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La (2013), Lịch sử thế giới trung đại, Nxb giáo dục Việt Nam
Trang 5Kinh Thi gồm 305 bài, chia làm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng Thơ Đường là đỉnh
cao của nền thơ ca Trung Quốc với những tuyệt tác không chỉ có giá trị to lớn về nội dung mà có giá trị nghệ thuật tuyệt vời Hơn 2.300 tác giả đã để lại cho hậu thế một lượng thơ ca khổng lồ (khoảng 48.000 bài thơ) Tiêu biểu nhất là ba nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, và Bạch Cư Dị Lý Bạch đã để lại cho đời nhiều áng thơ kinh điển
như: Hành lộ nan, Vọng lư sơn bộc bố, Mộng du thiên mụ ngâm ly biệt, … Ông
được người đời xưng tụng là “Thi Tiên” Những tác phẩm xuất sắc của Đỗ Phủ
như: Thạch hào lại, Bắc chinh, Ngũ bách tự, Phó Phụng Tiên huyện Vịnh Hoài,
Ông được người đời ca ngợi là “Thi Thánh” Bạch Cư Dị để lại cho hậu thế một gia
tài lớn về thi ca với 2.800 bài, tiêu biểu là: Tì bà hành, Trường hận ca, Mại thán ông, Khinh phì
Tiểu thuyết Minh Thanh: Thời Minh - Thanh, văn học Trung Quốc xuất hiện
một thể loại văn học mới - tiểu thuyết chương hồi rất phong phú về nội dung và
hình thức Tiêu biểu trong thời Minh là ba bộ tiểu thuyết: Tam quốc diễn nghĩa của
La Quán Trung, Thủy hử do Thi Nại Am sáng tác và Tây du ký của Ngô Thừa Ân.
Đến thời Thanh, giai đoạn từ thời khai quốc cho đến cuối thời Càn Long được xem
là thời kỳ cực thịnh của tiểu thuyết chương hồi Thời kỳ này tiểu thuyết nở rộ với
nhiều bộ nổi tiếng: Hồng Lâu Mộng, Nho lâm ngoại sử, Liêu trai chí dị,
Bên cạnh đó, từ đời Đường - Tống, Kịch cũng bắt đầu chiếm một vị thế nhất
định trong văn đàn nhưng phải đến những thời đại muộn hơn nữa mới đạt được
những thành tựu huy hoàng Những tác phẩm nổi tiếng nhất về kịch là Đậu Nga Oan (nỗi oan của nàng Đậu Nga) của Quan Hán Khanh (đời Nguyên), Tây sương
ký (dưới mái Tây hiên) của Vương Thực Phủ (đời Nguyên),…
Theo Nho giáo, người quân tử là con người mẫu mực, gương mẫu và lý tưởng
mà Khổng Tử luôn luôn chú tâm gây dựng cho người đời noi theo Trong xã hội có
Trang 602 dạng người: quân tử là quý, là hay; tiểu nhân là tiện là dở Quân tử là người có đức hạnh tôn quý; tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ Trong các kinh sách của Nho giáo không có chương nào giành để minh giải riêng về người quân tử, chỉ thấy nói đến mẫu người ấy rãi rác mà rất nhiều ở sách Luận Ngữ và một số ít ở sách Trung Dung, Kinh Dịch để đó là một phẩm giá tuyệt vời, một nhân cách cực cao, cực thượng, thấu lẽ trời và thông suốt sự đối nhân xử thế trên cõi đời này
Ngoài ra ta thấy Nho giáo có nhắc đến rãi rác những ý niệm, đạo lý mà sau này các Nho gia đúc kết thành: tam cương - ngũ thường; tam tòng - tứ đức, những giáo
lý hệ thuộc mà tối quan yếu, Nho gia cốt truyền dạy cho hậu thế Trên cơ sở những
tư tưởng triết học ấy đã hình thành mẫu người của Nho giáo là người quân tử mà lý tưởng sống được thể hiện tập trung trong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ
2 Ảnh hưởng của Nho Giáo trên lĩnh vực giáo dục Trung Quốc thời trung đại:
Về giáo dục, Khổng Tử có rất nhiều đóng góp quan trọng Ông đả phá chế độ:
“học tại quan phủ”, đề xướng mở trường tư thục và chủ trương người học không phân biệt giàu sang, hèn kém, đẳng cấp Ông hết sức đề cao việc học tập, chủ trương “học không biết chán, dạy không biết mỏi mệt” Theo ông, làm vua, quan cũng phải học, làm ruộng vườn cũng phải chứ không thể dựa vào cảm tính và lòng nhiệt thành Ông rất tôn trọng tri thức của bậc tiền nhân và cho rằng, học tập gương người đi trước và tiến lên mới có thể đạt được sự thành công Ông dạy học trò thái
độ thực sự cầu thị, không giấu dốt Câu nói nổi tiếng của ông: “Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết , như thế mới là người hiểu biết” đã trở thành châm
ngôn cho sự học tập 2
2 Nguyễn Văn Ánh (2015), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục Việt Nam.
Trang 7Chế độ giáo dục và nền học thuật trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc, quyền hành về kinh tế, chính trị đều nằm trong tay hoàng đế và triều đình trung ương, đại biểu cho quyền lợi của giai cấp phong kiến Vì thế, chế độ giáo dục và nền học thuật ở Trung Quốc trước hết là phục vụ cho các chính sách của chính quyền trung ương và quyền lợi của giai cấp phong kiến Nền giáo dục ở Trung Quốc khá phát triển, không những con em quý tộc quan lại, mà cả những gia đình
có chút ít tài sản cũng có thể cho con em đi học Tư tưởng học thuật chủ đạo của nền văn hoá phong kiến Trung Quốc là Nho giáo (do Khổng Tử sáng lập) Các kinh
điển Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh) được dùng làm sách giáo khoa ở các trường đại
học và làm nền tảng cho các học thuyết chính trị của chế độ phong kiến Nho giáo tuy xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng được giai cấp phong kiến tiếp nhận làm tư tưởng triết học chính thống của chế độ phong kiến là vì Nho giáo trước hết là một thứ triết học duy tâm (Nho giáo cho đạo đức của con người là nguồn gốc vạn vật) Nho giáo đồng thời lại là một học thuyết chính trị, dùng “lễ” (lễ nghi) và “pháp” (pháp luật) cai trị nhân dân Ngoài ra, Nho giáo còn biết tiếp thu những điểm sở trường của các học phái đối địch, bổ sung điểm yếu của mình để thích hợp với yêu cầu thống trị của từng giai đoạn
Với Nho giáo, học cũng có nghĩa là tu dưỡng đạo đức Học trước hết là để hiểu cách làm người Con người, như trên đã nói là con người trong quan hệ gia đình, họ hàng, trong quan hệ thầy trò, trong trật tự trên dưới của xã hội, trong quan
hệ với vua quan Làm người là cư xử đúng lễ nghĩa trong các quan hệ như vậy Những người bất hiếu, bất mục trong gia đình, vô lễ, vô phép, ngỗ ngược ngoài làng xóm, sống hám lợi, ít tình nghĩa, không chất phác không những bị chê trách
mà còn bị xử phạt cách này hay cách khác Thái độ chuộng đức và đề cao tu dưỡng của Nho giáo một mặt làm cho con người ngoan ngoãn dễ chấp nhận quân quyền,
Trang 8phụ quyền, và nam quyền có tính áp bức Nhưng mặt khác cũng làm làm cho con người ở đây có tinh thần hiếu học, có trách nhiệm, biết tự trách mình, vì nghĩa mà
hy sinh
Ngoài mục đích tu dưỡng đạo đức, việc học tập còn nhằm mục đích khác nữa
là bồi dưỡng tài năng để đảm đương việc nước, kế thừa chí hướng của Khổng Tử Phương châm giáo dục của Khổng Tử là học lễ trước, học văn hóa sau Ông nói:
"Các trò vào phải hiểu với cha mẹ, ra phải kính mến các anh, nói năng phải thận trọng và thành thực, yêu thương mọi người và gần gũi người có lòng nhân Sau khi thực hành đầy đủ các điều nói trên thì dành sức lực để học văn hóa” Phương châm giáo dục thứ hai của Khổng Tử là học đi đôi với hành, học để vận dụng vào thực tế Khổng Tử nói " Đọc kinh Thi nhưng giao chính quyền cho không làm được, đi sứ các nước không đối đáp được, tuy có học nhiều cũng chẳng ích gì " (Tử Lộ) Trong quá trình dạy học, Khổng Tử rất coi trọng phương pháp giảng dạy Khổng Tử chú ý dìu dắt học trò từng bước một để họ có thể suy nghĩ rồi tự rút ra kết luận Ông nói:
"Chưa thiết tha mong muốn hiểu biết thì chưa chỉ bảo, chưa đến mức muốn nói mà không nói được thì chưa gợi ý.”
Trong triết học Nho giáo, với nội dung đạo đức, luân lý phong phú, thống nhất với nhau đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đây có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh Nho giáo đã đóng góp hữu ích vào việc hoàn thiện và làm phong phú thêm kho tàng lý luận giáo dục đạo đức của nhân loại
KẾT LUẬN
Nho giáo thực sự là một hệ tư tưởng quan trọng trong xã hội Trung Quốc trung đại và đã góp phần to lớn vào đúc nặn nên diện mạo tinh thần dân tộc, văn hóa dân tộc Trung Quốc Như vậy, qua tìm hiểu về nền văn minh Trung Quốc trung
Trang 9đại em đã phần nào thấy được ý nghĩa quan trọng của Nho giáo trong sự ảnh hưởng của nó đến văn học, giáo dục của Trung Quốc thời trung đại Trôi đi cùng dòng lịch
sử và cho đến hiện tại những kết quả của sự phát triển nền văn minh ấy vẫn còn và
sẽ sống mãi với thời gian
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Quốc Hưng (2019), Ảnh hưởng của tư tưởng trị quốc Nho giáo đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay,
luận văn tiến sĩ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
2 PGS Đặng Đức An (2010), Đại cương lịch sử thế giới trung đại, tập II phương đông, Nxb Chính trị quốc gia.
3 Nguyễn Văn Ánh (2015), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục Việt
Nam
4 Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý (2007), Lịch sử Trung Quốc, Nxb Giáo
dục
5 Trần Xuân Hiệp, Trần Đình Hùng (2015), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb.
Thông tin và truyền thông
6 Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La (2013), Lịch sử thế giới trung đại, Nxb Giáo dục Việt Nam
7 Lương Ninh, Nguyễn Gia Phu (2009), Lịch sử văn hóa thê giới cổ-trung đại,
Nxb Giáo dục
beginners-guide-imperial-china/a/introduction-to-china?modal=1