1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn lịch sử văn minh thế giới đề tài thành tự văn minh ấn độ

26 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành tự văn minh Ấn Độ
Tác giả Bùi Việt Hà
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử văn minh thế giới
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 228,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦULý do chọn đề tài: Xã hội loài người phát triển từ thuở hoang dã cho đến ngày nay, có thể ước chừng 10.000 năm trong một không gian rộng lớn của Trái Đất và được các nhà khoa học c

Trang 1

Tiểu Luận Môn: Lịch sử văn minh thế giới

Đề tài: Thành tự văn minh Ấn Độ

Học viên: Bùi Việt Hà

Mã sinh viên 1955380022

Lớp tín chỉ: Truyền thông chính sách K39

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

Xã hội loài người phát triển từ thuở hoang dã cho đến ngày nay, có thể ước chừng 10.000 năm trong một không gian rộng lớn của Trái Đất và được các nhà khoa học chia ra nhiều thời đại: Cổ Đại, Trung Cổ, Cận Đại và Hiện Đại trong mỗi thời đại, xã hội loài người nổi lên một số vùng, mà ở đó xãhội cư dân ở điểm tập hợp được các giá trị tiên tiến vượt trội trong nhiều lĩnh vực – hình thành nền văn minh Riêng thời Cổ Đại có tám nền văn minh lớn được thống kê (các học giả vẫn tranh cãi về số lượng) gồm: nền văn minh Ai Cập Cổ Đại, nền văn minh Hy Lạp, nền văn minh La Mã, nền văn minh Tây Á, nền văn minh Ấn

Độ, nền văn minh Trung Hoa, nền văn minh Maya và nền văn minh Andes.Trong đó, nền văn minh Ấn Độ nổi tiếng về những nền văn minh cổ nhất thế giới Trải qua một giai đọan lịch sử dài từ thời Cổ Đại cho đến Trung Đại, văn minh Ấn Độ đã phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ trên tất cả các mặt: chữ viết, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, đặc biệt là các lĩnh vực nghệ thuật Tìm hiểu về nền văn minh Ấn Độ Cổ Trung Đại sẽ giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về nền văn minh này không chỉ đối với đất nước Ấn Độ nói riêng mà còn ảnh hưởng đến thế giới, trong đó có Việt Nam Nghiên cứu về vấn đề này, em xin chọn đề tài cho bài tập của minh như sau: “Vai trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu của văn minh Ấn Độ thời Cổ Trung Đại”

Đối tượng nghiên cứu:

- Nghiên cứu về vai trò và ý nghĩa của những thành tựu nền văn minhẤn Độ cổ trung đại

- Tổng quan về Ấn Độ

- Những yếu tố ảnh hưởng đến nền văn minh, những phát minh, vai tròvà ý nghĩa của những phát minh ấy

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Ấn Độ thời kì cổ trung đại

- Ngoài còn đề xuất một số ý kiến về việc lưu giữ và bảo tồn các nềnvăn minh ấy

Phương pháp nghiên cứu:

Trang 3

- Phương pháp xã hội học: quan sát và tiếp cận.

- Phương pháp điều tra khảo sát

ai muốn tìm hiểu về nềnvăn minh cổ đại này

Kết cấu của tiều luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đềtài còn được triển khai theo hai chương:

Chương một: Những cơ sở tạo nên nền văn minh Ấn Độ

Chương hai: Vai trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu của văn minh Ấn

Độ thời cổ trung đại

Trang 4

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Chương 1: Những cơ sở tạo nên nền văn minh Ấn Độ.

1.1 Khái niệm chung về văn minh Ấn Độ

Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loàingười, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa Ấn Độ là một trong những nền văn minh rực rỡ ở phương Đông nói riêng và là một trong những đỉnh cao của văn minh nhân loại nói chung Nền văn minh Ấn Độ nảy nở từ rất sớm với những thành tựu hết sức quý giá,trong đó có những thành tựu tiêu biểu

về các lĩnh vực như: chữ viết, vănhọc, nghệ thuật, khoa học tự nhiên và tư tưởng, tôn giáo…

1.2 Cơ sở hình thành nền văn minh Ấn Độ

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư

Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác Ở phía bắc, bán đảo bị chắn bởi dãy núi Hymalaya Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các con đèo nhỏ ở tây- bắc Ấn Đông nam và tây nam Ấn Độ giáp Ấn Độ dương

Hằng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phủ sa tới bồi đắp cho những cánh đồng

1.2.2 Các giai đoạn lịch sử chính

● Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn:

Trang 5

Thời kỳ này kéo dài từ đầu thiên niên kỉ III đến giữa thiên niên kỉ II TCN, được gọi là thời kỳ văn hóa Harappa

Thành phố Harappa cổ

Năm 1920 giới khảo cổ học đã phát hiện ra hai nền văn hóa đồ đá ở Ấn Độ: văn hóa Soan ở hạ lưu sông Ấn, văn hóa Madra ở miền Nam tập trung ở hai thành phố cổ Moohenrodaro và Harappa Công cuộc khai quật tìm thấy nhiều bản khắc chữ, những vận dụng sinh hoạt được chế tác tinh xảo, những con dấu bằng

đá có khắc hình động vật, hình vị thần 3 mặt Thành phố được xây dựng với quy hoạch mạch lạc Nghề thủ công phát triển cao: có những món đồ gốm, những kho mỹ nghệ bằng vàng bạc, những dụng cụ rất tốt bằng đồng thau, ngà voi và vải sợi được dùng để trao đổi thương mại

● Thời kỳ Vêda

Thời kỳ Vêda kéo dài từ giữa thiên niên kỷ II đến giữa thiên niên kỷ I Thời kỳ này được phản ánh trong bộ Vêda với 4 tập là Rig Vêda (gồm 1028 bài thơ ca ngợi thần linh được tăng lữ Balamôn ghi chép, đây là nguồn gốc triết lý của Hinđu giáo sau này), Xama Vêda (là tập hợp các bài ca dùng trong tế lễ, tri thức

về các giai điệu), Atacva Vêda (ghi chép những lời hướng dẫn về nghi lễ chủ yếu, khấn vái) Tập Vêda cũng ghi chép những nội dung xã hội phong phú như cách thức chữa bệnh, uy quyền của đẳng cấp Bàlamôn, quyền lực của nhà vua, những bài thơ tả cảnh ngụ tình Chủ nhân của thời kỳ lịch sử này là người Aryan sinh sống chủ yếu ở vùng lưu vực sông Hằng

Trang 6

Xã hội người Aryan chia làm bốn đẳng cấp (chế độ đẳng cấp Varna): Braman (tăng lữ, nhà vua và quý tộc), Ksatrya (quan lại, võ sĩ), Vaisya (dân tự do khác nhau), và Suđra (tiện dân nghèo khổ).

Chế độ đẳng cấp Varna lúc khởi nguyên mang ý nghĩa tổ chức và quản lý xã hội, góp phần xây dựng thể chế chính trị pháp quyền và thẩm quyền, có ý nghĩa tích cực Chế độ Varna quy định mọi người phải tuân thủ theo trật tự thiên định:đẳng cấp cao nhất là Bàlamôn, sau là đẳng cấp vương công quý tộc Koshatya, đẳng cấp Vaishya là của thương nhân, nông dân, thợ thủ công, và cuối cùng là đẳng cấp nô lệ Shudra Tầng lớp dưới phải tuân thủ tuyệt đối tầng lớp trên Nếu người đàn bà thuộc đẳng cấp Bàlamôn sống cùng người đàn ông của đẳng cấp Shudra sẽ sinh ra lớp người không được xã hội thừ nhận, đó chính là lớp người thuộc hạ đẳng Paria, người cùng khổ

● Thời kỳ các vương trều

Thời kỳ này kéo dài từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII Đạo phật hình thành và dần dần lớn mạnh Trên lãnh thổ Ấn Độ cổ đại, các nhà nước, các vương triều luôn luôn xung đột với nhau Các vương triều nổi lên ở mấy thời kỳ nhỏ:

- Thời kỳ hình thành các quốc gai miền Bắc Ấn Độ, khoảng từ đầu thế kỷ

VI TCN, xuất hiện những vương quốc lớn của người Aryan, gồm có 16 nước, trong đó có nước Magađa là mạnh nhất Sau đó đế quốc Ba Tư rồi quân đội Makêđôni là mạnh nhất Sau đó đế quốc Ba Tư rồi quân đội Makêđôni đã chếm đóng Ấn Độ

- Đế quốc Môrya (321-184 TCN) là triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử

Ấn Độ cổ đại Thời kỳ này Phật giáo trở thành quốc giáo Điều này được minh chứng bởi những di tích kiến trúc Phật giáo cổ nhất tìm được là chùa trong hang đá, kinh viện, tháp Phật (Stupa ở Sanchi thế kỷ III TCN).Những tri thức về chính sách nhà nước dười thời các vương triều được tìm thầy trong cuốn sách lịch sử viết bằng tiếng Sankrít Arthara Cuốn sách là khoa học chính thể bàn về lý thuyết và những nguyên tắc cai trị quốc gia, là nguồn thư lịch cổ rất có ý nghĩa, phản ảnh diện mạo sống xã hội

Quốc giáo thời này là Phật giáo Vua Môrya dã cho xây hơn 84.000 ngôi chùa, kèo theo vô số sư sãi tăng ni, làm thay đổi hẳn bộ mặt tinh thần xã hội, văn hóa phát triển rực rỡ Dưới triều quốc vương vĩ đại Ashôka, đạo Phật được tôn thờ

Trang 7

- Đế quốc Kushan (60-240) từ Trung Á đã xăm nhập miền tây bắc Ấn Độ vào khoảng giữa thế kỷ thứ I, lập nên những đế quốc bao trùm phần lớn phía bắc Ấn Độ, gồm cả vùng trung lưu sông Hằng và vịnh Bengal Nó bao gồm cả nhà nước Bactria cổ đại (ở miền Bắc Apganixtan ngày nay)

và Nam Tajikistan Dưới triều Kushan đạo Phật vẫn phát triển hưng thịnh Ấn Độ phát triển mạnh mẽ , đạt nhiều thành tựu xuất sắc trong nghệ thuật và khoa học Đất nước thống nhất, các trung tâm văn hóa – kinh tế xuất hiện

- Thời vương triều Gupsta – Harsha (thế kỷ III đến thế kỷ VII) là thời Ấn

Độ chủ yếu là bị ngoại xâm xâm lược

Đế quốc Gúpta (280-550) là một thời kỳ hoàng kim của Ấn Độ Điều này được ghi nhận bởi phức hợp chùa hang Ajanta Nó được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật bởi trình độ sử dụng màu sắc, sử dụng ánh sang, hình thể, bối cảnh một cách điêu luyện mà sau đó hang nghìn năm mới thấy xuất hiện ở hội họa phương Tây Qua những cung điện, vận dụng, y phục,

đồ trang sức phát hiện được trong phức hợp chùa hang cho thấy xã hội

Ấn Độ thời đó đã rất thịnh vượng, phát triển cao về mọi mặt

- Triều Harsha (590-647) là triều đại huy hoàng với những đóng góp quý báu cho lịch sử tư tưởng và văn hóa Ấn Độ Văn học – nghệ thuật rất pháttriển Phật giáo được bảo trợ nhiệt tình

Sau những thăng trầm lịch sử Ấn Độ liên tục thay đổi diện mạo vì những cuộc chiến tranh Sự xâm nhập của các dân tộc Hồi giáo đã làm nên cuộc hội nhập văn hóa đặc sắc, biểu hiện qua kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc…

Cột Ashoka

Trang 8

● Từ cuối trung cổ đến nay:

- Thời Hồi quốc Đêli (1206-1526): do các tộc người Thổ và Pashtun xâm chiếm các vùng Bắc Ấn và lập nên Hồi quốc Đêli Hồi quốc đã có sự khởiđầu của công cuộc phục hưng văn hóa Ấn Độ Do sự hòa trộn văn hóa Ấn- Hồi mà các công trình kiến trúc âm nhạc , văn học, tín ngưỡng, trang phục mang tính tổng hợp

- Thời Môgon (1526-1858): Năm 1526, Mông Cổ đánh chiếm Đêli thành lập 1 vương triều mới gọi là Môgôn Vua Akoba (1542-1605) cố gắng tạolập quan hệ hữu hảo với văn hóa Ấn Độ giáo Các hoàng đế tiếp theo thì

cố gắng hoàn thành sự thống trị của Hồi giáo.Vị hoàng đế thứ năm của triều Môgôn lá Shah Jahan (1628-1658) đã cho xây dựng Taj Mahah mang đậm phong cách Ấn - Hồi để tưởng niệm ái phi Mumtaz Mhal.Đến thế kỷ XIX, Ấn Độ dưới ách thống trị của thực dân Anh và vương triều Môgôn tan rã

- Công ty Đông Ấn Anh quốc xâm nhập vào Ấn Độ từ đầu thế kỷ XVII Sau đó nó dần dần tăng sự áp chế cả về kinh tế lẫn chính trị đối với người

Ấn Khoảng giữa thế kỷ XVIII người Anh đã đòi được quyền dân sự ở Bengal, đánh dấu sự khởi đầu công cuộc cai trị chính thức cho một thế kr tiếp theo Trong thời kỳ Anh-Ấn, có nhứng nạn đói khủng khiếp : người chết đoi lên tới cả chục triệu Văn hóa vì thế cũng kém phát triển Người

Ấn đã kiên trì đấu tranh những mãi đến năm 1947 họ mới giành được độclập

Chương 2: Vai trò và ý nghĩa của những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ấn Độ.

2.1 Những thành tựu văn minh cơ bản

2.1.1 Chữ viết và tiếng nói

Chữ viết Ấn Độ được hình thành rất sớm ở Harappa và Môhenjô Đarô, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được hơn 3.000 con dấu, trong đó có 22 dấu cơ bản Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chữ viết sông Ấn hoàn toàn không có quan

hệ với các chữ viết đã biết, cho đến nay vẫn chưa được dịch mã một cách chắc chắn

Đến thế kỷ VI TCN xuất hiện thêm kiểu chữ Kharosthi phỏng theo chữ của Lưỡng Hà Kiểu chữ này phát triển thành chữ Brami, sau đó cải tiến tiếp để

Trang 9

thành chữ Sancrit dùng để sửa chữa và thống nhất kinh Vêda Tiếng Sancrit ngày nay vẫn được dùng ở Ấn Độ và Nêpan Chữ Pali ra đời cùng đạo Phật, được đùng để chép Kinh Tiếng Hinđu là ngôn ngữ chính của vùng Bắc Ấn Phía Nam, chữ Tamil được dùng trong văn chương Trong giao tiếp dùng thổ ngữ Đraviđan.

Việc chuẩn hoá các ngôn ngữ này cũng như việc soạn thảo những bộ ngữ pháp đầu tiên đã được tiến hành vào thời kỳ Ấn Độ là thuộc địa của Anh Sau độc lậpnăm 1947, Hiến pháp Ấn Độ công nhận 15 ngôn ngữ chính thức, tiếng Hinđu vàtiếng Anh đóng vai trò chủ đạo Đài phát thanh phát trên 25 thứ tiếng, đồng Rubi in trên mười thứ tiếng

2.1.2 Văn học

Từ 3000 năm trước đây, những bộ kinh Vêda đã ra đời và sau đó là các kinh sách khác, cùng với những truyện thần thoại, cổ tích, sử thi, những bản trường ca Đó thực sự là những tác phẩm văn học đầu tiên của Ấn Độ hình thành nền văn học cổ xưa

Là đất nước nhiều ngôn ngữ, văn học Ấn Độ truyền thống cũng là một nền văn học đa ngữ Ở thời kì đầu, ngôn ngữ chủ yếu dùng để biểu đạt là tiếng Sanscrit (còn gọi là chữ Phạn) Ngôn ngữ này có nguồn gốc từ hệ Ấn - Âu, có nhiều quan hệ với các ngôn ngữ vùng Ba Tư và Trung Cận đông Tiếng Phạn cũng trảiqua 3 thời kỳ phát triển sinh động Cũng từ đó, nhiều thứ tiếng khác được coi là biến thái gần gũi của tiếng Phạn như tiếng Pracrit, tiếng Pali Tuy vậy, càng về sau, tiếng Phạn cổ điển càng suy thoái, nhường chỗ cho những thổ ngữ khác phát triển ngày 1 mạnh hơn, nhất là tiếng Hinđu và tiếng Bengali Cho đến nay tiếng Phạn được coi là một từ ngữ, xét về phương diện ngôn ngữ Song, tiếng Phạn có vai trò to lớn trong lĩnh vực của đời sống văn hoá, tinh thần truyền thống của Ấn Độ Riêng ở vùng Nam Ấn, nhóm ngôn ngữ Đraviden được sử dụng phổ biến hơn cả

Chữ viết được coi là một thành tự của nền văn học Ấn Độ cổ đại Vào thế kỷ IVtrước công nguyên, môn ngữ pháp Ấn Độ xuất hiện đã thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ học Ấn Độ Hai loại chữ điển hình là Kharosti và Brami Kharosti

có ảnh hưởng của chữ viết vùng Ba Tư, Lưỡng Hà, được ghép bằng 252 ký hiệu, viết từ phải sang trái Ngược lại, Brami được coi là chữ viết của thần Sáng tạo Brama, là chữ gốc của các loại chữ viết Ấn Độ sau này Chữ Brami được viết từ trái sang phải

Trang 10

Để viết chữ, người Ấn Độ cổ dùng que sắt và sau đó là bút sắt và mực, vuêts trên lá cây và vỏ cây đã được gia công kỹ Những trang viết đó được xâu thành dây như những quyển “sách” đồ sộ, lưu trưc trong các thư viện mà cưa kia đượcgọi 1 cách hình ảnh là “kho tàng của nữ thần ngôn ngữ” Phải gần 1000 năm saucông nguyên giấy viết mới xuất hiện ở Ấn Độ qua sự giao thương với bên ngoài.

Ngoài các kinh sách, hệ thống chứ viết ra đời đã làm nảy nở ở Ấn Độ một nền văn học nghệ thuật phong phú và giàu bản sắc Bộ kinh Vêda được đánh giá là các tác phẩm văn học xưa nhất của Ấn Độ và có thể xưa nhất của nhân loại.Kinh Vêda gồm có 4 bộ Đó là Rig Vêđa, Yagiuya Vêđa, Sama Vêđa, Ácthava Vêđa Trong mỗi bộ đều có phần kinh gốc, phần chú giải và phần phát triển, đề cao Phần chú giải (Bramana) và phần phát triển (Upanisat) được soạn vào những giai đoạn sau nên đôi khi được coi là những bộ kinh riêng biệt

Các bộ kinh Vêđa là tác phẩm văn học tôn giáo, vừa phản ánh những cố gắng vươn lên về mặt tư tưởng của con người nguyên thuỷ trước thiên nhiên và hiện tượng xã hội, vừa phản ánh khát vọng chinh phục và hoà đồng với thiên nhiên Những nội dung tư tưởng ấy được thể hiện qua cả những yếu tố hoang đường, thần bí

Upanisat là sự tiếp nối của bộ Vêđa và phát triển lên Upanisat gồm 13 bộ có ảnh hưởng sâu sắc tới các môn phái triết học sau này

Ngoài các kinh sách, còn có các điển lệ viết bằng chữ Phạn, phản ánh các vẫn

đề chính trị, xã hội, tâm lí, tình cảm ở Ấn Độ cổ đại Một cuốn sách không có tác giả và được coi là do vị thuỷ tổ loài người là Manu viết ra Nhưng cuốn sách

đã trải qua sự bổ sung, sửa đổi trong nhiều thế kỷ Cuốn sách này đã đặt nền móng pháp luật cho chế độ xã hội cổ đại Ấn Độ Bộ luật Manu mang nội dung

tư tưởng bảo vệ chế độ đẳng cấp và thể chế, quyền uy của đẳng cấp Bàlamôn.Muộn hơn, trong nền văn học Ấn Độ xưa còn phải kể đến các kinh sách Phật giáo (bộ Tam Tạng) và các kinh sách của các tôn giáo khác

Trong các tác phẩm văn học ở Ấn Độ cổ đại, văn xuôi và thơ chỉ là một Từ tâmhồn và lối sống nhân ái, khoáng đạt, giản dị, người Ấn luôn thể hiện các đề tài văn học dưới dạng thơ ca Ngay cả các lĩnh vực y học, toán học, hoá học , người Ấn Độ cũng đưa vào những cách diễn giải hoặc đặt vấn đề với các hình tượng, ví von đầy âm điệu và sống động Hầu hết các tác phẩm văn học đều

Trang 11

được trình bày dưới dạng những bài thơ, thậm chí là những bài thơ nghìn câu, với vô số ngụ ngôn dí dỏm và sâu sắc.

Nét đặc sắc cửa văn học Ấn Độ là trường ca Trường ca ra đời từ sớm và mang nội dung lịch sử nên còn được gọi là sử thi Những tập sử thi trường ca nổi tiếng

là Mahabharata và Ramayna Cùng với thời gian, hai bộ sử thi đó được bổ sung phong phú hơn và đồ sộ hơn Cốt truyện của các bộ sử thi là lấy chủ đề tình yêu

và chiến trận

Mahabharata (những chiến công vĩ đại của dòng họ Barata) là một bộ đại bách khoa toàn thư về đời sống văn hoá, xã hội và chính trị của Ấn Độ truyền thống Không chỉ về nội dung, bộ sử thi Mahabharata còn vĩ đại về kết cấu và nghệ thuật của tác phẩm Cốt truyện của sử thi chỉ chiếm chừng 1 phần 4 độ dài, còn tới 3 phần 4 độ dài tác phẩm là sự gắn kết bằng các câu chuyện phụ Nghĩa là bên cạnh những chuyện triết lý sâu xa là những câu ngụ ngôn đặc sắc, chuyện tình thú vị xem những tình tiết ly kỳ hấp dẫn

Tác phẩm này đã tồn tại qua hàng chục thế kỷ, được truyển khẩu qua các thế hệ người dân Ấn Độ và trở thành nguồn cảm hứng của các thể loại văn học

Ramayana (kỳ tích của hoàng tử Rama) là bộ sử thi lớn thứ hai của văn học Ấn

Độ cổ đại Tác phẩm được coi là của thần Narada kể lại cho đạo sĩ Vanmiki chép Vanmiki cũng là nhân vật nửa truyền thuyết Tuy vậy, Ramayana đã đượcnhiều người sáng tác và bổ sung qua nhiều năm tháng cho đến khi định hình như văn bản ngày nay

Nội dung chủ yếu của bộ sử thi nói về cuộc đời và mối tình ly kỳ, đầy trắc trở nổi chìm nhưng thắn thiết của hoàng tử Rama và nàng công chúa Sita xinh đẹp, thuỷ chung

Bộ sử thi Ramayana thể hiện một cách sinh động tâm hồn tình cảm trong sáng

và yêu thương, chở che và an ủi những nỗi đau của con người Bộ sử thi này được dịch ra nhiều thứ tiếng ở Ấn Độ và cũng là nguồn cảm hứng của các thể loại văn hoá khác nhau Ramayana cũng lan truyền hầu khắp các nước Đông - Nam Á

Hai bộ sử thi Mahabharata được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao Nhà phê bình văn học và sử học Pháp Mísơlê (thế kỷ XIX) đã viết: “Những bộ sử thiRamayana và Mahabharata chẳng khác gì những kim tự tháp khổng lồ, sừng sững Đứng trước những công trình đó, những tác phẩm nhỏ bé của chúng ta ở phương Tây sẽ phải kính cẩn nghiêng mình ”

Trang 12

Quần chúng nhân dân Ấn Độ là chủ nhân của nền văn học lâu đời và phong phú

ở Ấn Độ Ra đời từ khối quần chúng vĩ đại ấy, nhiều nhà văn, nhà thơ Ấn Độ thời cổ đại đã thể hiện tài năng to lớn rực rỡ Trong số họ, nổi bật gương mặt một tác giả: Kalidasa Ông là một nhà thơ lớn không chỉ của Ấn Độ mà của cả thế giới Ông sống vào khoảng thế kỷ V sau công nguyên

Vừa làm thơ vừa viết kịch, Kalidasa để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như trường

ca “Sự ra đời của Thần chiến trang Kumara” (8 bài thơ) và “Dòng dõi Ragu” (19 bài thơ); một bài đoản ca “Đám mây sứ giả” (khoảng 100 câu thơ); ba vở kịch “Malavica và Anhimitra”, “Uốcvasi phần thưởng của lòng dũng cảm”,

“Sơcuntola” Vở kịch “Sơcuntola” đã nổi tiếng ở cả phương Đông lẫn phương Tây Đông đảo người đọc bị cuốn hút bởi nội dung trữ tình, cảm động, lòng nhân đạo, nghệ thuật tình tế và ngôn ngữ trong sáng của nó

Ngoài ra trong nền văn học Ấn Độ truyền thống còn có nhiều tác gỉa nổi tiếng

và nhiều tác phẩm có giá trị lớn Đó là những vở kịch, những bài thơ trữ tình, truyện kể tự sự Các tác phẩm này không chỉ được viết nằng tiếng Phạn mà cònbằng các thứ tiếng địa phương ở Ấn Độ Những tên tuổi lớn trên văn đàn Ấn Độ

cổ đại là Basa (nhà soạn kịch) Sudraca (nhà soạn kịch) Amaru (nhà thơ) Bilana (nhà thơ) Narayana (nhà văn)

Sang thời cận - hiện đại, trước những biến động lịch sử lớn lao, văn học Ấn Độ truyền thống cũng có những đổi thay Nhiều dòng văn học mới xuất hiện nhưng vẫn giữ được những tinh hoa văn học truyền thống Vào đầu thế kỷ XX xuất hiện một ngôi sao lớn trên nền trời văn học Ấn Độ Rabindranat Tago Ông là một hiện tượng văn học mang tính quốc tế Các tác phẩm của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tâm linh, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế Ngày nay nền văn học Ấn Độ vẫn tiếp tục phát triển từ cội rễ là văn học truyền thống

1.1.1.1 Lễ hội

Lễ hội là một nhu cầu văn hóa thường xuyên của người Ấn Độ Thuở xa xưa, lễ hội chỉ mang chức năng tôn giáo hoặc có nguồn gốc từ những nghi lễ của tôn giáo, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các vị thần thánh Theo thời gian, số

lễ hội tăng lên Hầu như quanh năm đều có lễ hội diễn ra ở Ấn Độ Nhưng, nội dung tôn giáo của một số lễ hội lại mờ nhạt đi Có những lễ hội hầu như chỉ còntính chất thế tục

Trang 13

Lễ hội là nhu cầu tinh thần của người Ấn Độ và là nét đặc săc trong nền văn hóa

Ấn Độ truyền thống Lễ hội tạo nên hình tượng người vũ nữ uyển chuyển trong các điệu múa Những điệu múa của nữ thần Siva luôn có vị trí xứng đáng trong các lễ hội Vì vậy, tượng nữ thần Siva đang múa trở thành biểu tượng nghệ thuậtcủa Ấn Độ

Trong các lễ hội của Ấn Độ, các đám rước thần thường được tổ chức theo nghi thức truyền thống Bên cạnh đó là những trò chơi rất đời thường Yếu tố tôn giáo và yếu tố thế tục hòa quyện vào nhau tạo nên sức sống văn hóa lâu bền của

lễ hội Ở nhiều lễ hội ở địa phương, những biến thái trong các quan niệm tôn giáo của một số giáo phái được thể hiện rất đậm nét

Một số lễ hội lớn và được coi là quan trọng nhất của Ấn Độ luôn luôn có ý nghĩa linh thiêng như điểm tựa tinh thần của người dân Có những lễ hội thu húthang triệu, hàng chục triệu người ở những địa điểm nhất định như hội Hooli, hộiĐuxera, hội tắm nước thánh, hội chợ lạc đà, lễ hội đức thánh Brama, hội rước voi, hội nữ thần Gauri…

Hội lễ Hôli được tổ chức vào mùa xuân Trong ngày hội, người ta vẩy nước pha màu đỏ vào nhau để cầu may mắn Các hoạt động vui chơi thỏa thích diễn ra thâu đêm Người ta còn hòa cho vào nước đêm phun hoặc tưới để tưởng nhớ vị thần tình yêu là Karma Theo truyền thuyết, vị thần này bị Thần phá hoại Siva dùng con mắt thứ ba thiêu cháy thành tro

Lễ hội Đuxera (hội 10 ngày) là 1 trong những lễ hội lớn nhất và quan trọng nhấtcủa Ấn Độ Lễ hội diễn ra từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10 trong 10 ngày liên tục Lễ hội bắt nguồn từ truyền thuyết kể rằng Hoàng tử Rama đã đấu tranh chống lại quỷ dữ Ravana, với sự giúp đỡ của thần Đurga Vì vậy trong lễ hội người ta dựng những hình nộm lớn các con quỷ Ravana, Maganada và Kuma Karna Tượng nữ thần Duga được đặt trên cỗ xe lớn đẩy trên đường Người ta tổchức lễ rước và dâng lễ Phật cho thần Duga Hoa, thóc và nước được người ta tung lên tượng nữ thần Ngày thứ 10 là cao điểm của lễ hội Tượng nữ thần sẽ được thả xuống khúc sông được coi là linh thiêng Người ta đốt pháo thăng thiên, bắn mũi tên đỏ lửa vào các hình tượng quỷ để diễn mô phỏng lại sự tích Những hình tượng quỷ nổ tung và bốc cháy giữa tiếng reo hò của quần chúng.Hội Đuxera diễn ra ở nhiều vùng ở Ấn Độ Ở một số vùng, trong lễ hội này người ta còn tổ chức lễ rước voi Đầu voi được trang trí màu sắc, hình vẽ sặc sỡ

Ngày đăng: 17/10/2022, 17:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w