1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề ruộng đất nói chung và vấn đề thuế ruộng đất nói riêng,

123 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuế Ruộng Đất Triều Nguyễn Từ 1802 Đến 1840
Trường học Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 135,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nhà kinh điển đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về thuế nói chung như LêNin định nghĩa: “Thuế là cái mà nhà nước thu của dân mà không bù lại”.. Trong mỗi lần khán

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triều Nguyễn (1802 – 1945) – triều đại phong kiến cuối cùng tronglịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Nhà Nguyễn tồn tại trong vòng 143 nămvà tồn tại trong giai đoạn đất nước có nhiều chuyển biến quan trọng Lần đầutiên trong lịch sử Việt Nam một lãnh thổ trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi CàMau được xác lập Đây là thành quả vô cùng to lớn của dân tộc Việt Nam.Tuy nhiên, trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn đã đặt ra cho nhà Nguyễn nhữngthời cơ và thách thức trong việc quản lý đất nước Chính vì vậy, triều Nguyễnđược sự quan tâm của đông đảo các học giả nghiên cứu trong và ngoài nước.Khi nghiên cứu về triều Nguyễn đã có không ít những ý kiến trái ngược nhau,không thống nhất khi đánh giá về công tội của vương triều này Do đó, khiđánh giá về triều Nguyễn chúng ta cần có một cái nhìn khách quan và đánhgiá một cách toàn diện trên tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã

hội, ngoại giao… Do vậy, tôi chọn đề tài “Thuế ruộng đất triều Nguyễn từ

1802 đến 1840”, với mong muốn góp phần nghiên cứu một khía cạnh trong

kinh tế - xã hội của nhà Nguyễn và hy vọng có được cái nhìn toàn diện, đầyđủ hơn về vương triều này

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nói đến thuế nói chung và thuếruộng đất nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt Bởi cơ sở kinh tế chủ yếucủa Việt Nam là kinh tế nông nghiệp Trong đó, ruộng đất là nguồn tư liệusản xuất chính của quốc gia Nguồn lợi thu được từ thuế ruộng đất là mộtphần quan trọng để nuôi sống và duy trì bộ máy nhà nước Do đó, ngay từsớm các nhà nước phong kiến Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề ruộngđất, trong đó vấn đề tô thuế đối với các loại ruộng đất là một phần quan trọnghơn cả

Một số nhà kinh điển đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về thuế

nói chung như LêNin định nghĩa: “Thuế là cái mà nhà nước thu của dân mà

không bù lại” Hay C.Mác cho rằng: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà

Trang 2

nước” [3, 7] Theo giáo trình “Thuế Nhà nước” của trường Đại học Tài chính

- Kế toán Hà Nội thì “Thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của nhà

nước đối với các thế nhân và pháp nhân….nộp cho ngân sách nhà nước”[3,

10] Từ những định nghĩa trên ta thấy được tầm quan trọng của thuế đối vớiNhà nước Do đó, bất kỳ một nhà nước nào muốn tồn tại được đều cần cóthuế Thuế được coi là cơ sở kinh tế, là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho sựtồn tại của nhà nước Vì vậy, thuế nói chung và thuế ruộng đất nói riêng rađời là một tất yếu khách quan, nó vừa đảm bảo nguồn tài chính để đáp ứngnhu cầu chi tiêu của Nhà nước, đồng thời thuế cũng tác động sâu sắc đến đờisống kinh tế - xã hội

Ở nước ta, thuế ra đời khi hình thái nhà nước sơ khai đầu tiên xuấthiện Từ đơn giản trải qua thời gian chính sách thuế đã dần được hoàn thiệnhơn Thời kỳ nhà Nguyễn trị vì vẫn duy trì ba sắc thuế cơ bản đó là thuế điền(thuế ruộng đất), thuế đinh và thuế tạp dịch Trong đó, thuế ruộng đất là mộtphần quan trọng trong ngân sách nhà nước

Vương triều Nguyễn ra đời trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt, cùngmột lúc phải đối phó với rất nhiều khó khăn thử thách cả bên trong lẫn bênngoài Đứng trước yêu cầu khó khăn của đất nước về kinh tế, chính trị, xã hộithì vấn đề củng cố, khai hoang ruộng đất để tăng cường quyền sở hữu củanhà nước với ruộng đất, mở rộng diện tích đất canh tác, tăng sản lượng trongsản xuất nông nghiệp từ đó tăng mức thu thuế trên từng loại ruộng được nhàNguyễn quan tâm và giải quyết Do đó, đi sâu vào nghiên cứu chế độ ruộngđất của triều Nguyễn nói chung và thuế ruộng đất triều Nguyễn nửa đầu thế

kỷ XIX nói riêng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn và hiểu toàn diện hơn về cácmặt kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thời kỳ này

Bên cạnh đó, khi nghiên cứu chính sách thuế ruộng đất triều Nguyễn(1802 – 1840) sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu hơn về chế độ sở hữu ruộngđất của nhà nước phong kiến nói chung và chế độ ruộng đất dưới triều

Trang 3

Nguyễn nói riêng Từ đó, chúng ta sẽ rút ra được những nhận xét, đánh giá vềchính sách thuế của nhà nước với nhân dân lao động trong xã hội.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thuế ruộng đất triều

Nguyễn từ 1802 đến 1840” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Triều Nguyễn – triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam,một triều đại đã để lại cho lịch sử Việt Nam nhiều công trạng nhưng cũngnhiều sai lầm Đây là vương triều đã tốn khá nhiều giấy mực của giới sử họctrong và ngoài nước Chính vì vậy, nhắc đến triều Nguyễn thì đó là một đề tàihay hấp dẫn và thu hút được sự quan tâm của đông đảo học giả nghiên cứugần xa Nghiên cứu về nhà Nguyễn đã có rất nhiều công trình được công bố,trong đó nghiên cứu về tình hình ruộng đất hay chính sách khai hoang dướitriều Nguyễn cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề thuếruộng đất dưới triều Nguyễn lại chưa có một công trình nào nghiên cứu mộtcách có hệ thống và toàn diện

Qua quá trình sưu tầm tư liệu, tôi thấy có một số nguồn tư liệu đề cậpmột cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề mà tác giả nghiên cứu như sau:

Dưới thời phong kiến, trong số các nguồn sử liệu đề cập đến vấn đềruộng đất nói chung và vấn đề thuế ruộng đất nói riêng, trước tiên phải kểđến các nguồn tài liệu gốc (tài liệu chính thống) do Quốc sử Quán triềuNguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sựlệ, Minh Mệnh chính yếu (3 tập), Đại Nam nhất thống trí, Quốc triều chínhbiên toát yếu, Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loạichí…

“Đại Nam thực lục”, xuất bản năm 2007 – là bộ biên niên sử do Quốc

sử Quán triều Nguyễn biên soạn Bộ sử gồm hai phần Tiền biên và Chínhbiên, biên soạn dưới thời Tự Đức và các đời vua sau tiếp tục bổ sung cho đếntriều vua Khải Định Bộ sử ghi chép những sự kiện quan trọng xảy ra trênkhắp cả nước trong thời gian một năm, một tháng, một ngày Tác phẩm cung

Trang 4

cấp cho người đọc những tư liệu lịch sử quan trọng xảy ra trong cả nước trêntất cả các mặt Bên cạnh đó, tác phẩm còn cung cấp những tư liệu lịch sửquan trọng và khá toàn diện giúp người đọc hiểu được chủ trương, mục đíchkhai hoang của nhà nước Đồng thời, tác phẩm cũng đề cập đến chế độ tôthuế nói chung và thuế ruộng đất nói riêng Trong đó, có liệt kê những nămvua miễn giảm thuế cho các địa phương, cách đánh thuế, mức thu tô thuế đốivới các loại ruộng đất Đây là nguồn tư liệu gốc chính mà tác giả sử dụng chủyếu trong quá trình làm khóa luận Tuy nhiên, do cách viết theo lối biên niêncho nên những vấn đề nghiên cứu nằm rải rác ở nhiều tập sách khác nhau nênkhó theo dõi

Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Nội Các triều Nguyễn

biên soạn dưới thời Thiệu Trị (1843) và hoàn thành dưới triều Tự Đức(1851) Bộ sách này cho chúng ta cái nhìn toàn diện về tình hình kinh tế,chính trị, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Trong tập III, quyển 36 - 68của NXB Thuận Hóa, Huế, năm 2005 có quyển 37, quyển 40, quyển 41 giúpchúng ta hiểu hơn về thuế chính ngạch I, thuế chính ngạch V, trong đó có chếđộ ruộng đất, chế độ tô thuế, chính sách thuế khóa đối với ruộng đồn điềndưới triều Nguyễn

Tác phẩm “Quốc triều chính biên toát yếu” do Quốc sử Quán triều

Nguyễn biên soạn được NXB Thuận Hóa, Huế xuất bản in năm 1998 Tácphẩm ghi lại những điều chủ yếu và cơ bản trong các triều Vua Gia Long,Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức…Chính vì vậy chỉ cung cấp cho chúng tanhững nét khái quát về tình hình ruộng đất triều Nguyễn

Sử học thời Pháp thuộc, chúng ta phải nhắc đến tác giả Trần Trọng

Kim với tác phẩm “Việt Nam sử lược”, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí

Minh, năm 2005 (in lần thứ năm) Tác phẩm nghiên cứu lịch sử Việt Nam từthời thượng cổ đến khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị trên nước ta(1902) Tác giả biên soạn lịch sử theo thứ tự thời gian các triều đại, trongtừng triều đại tác giả không ghi chép sự kiện theo trình tự thời gian mà ghi

Trang 5

chép theo từng nội dung lớn Trong mỗi triều vua, tác giả có nhắc đến vấn đềthuế điền, hình thức thu thuế của nhà nước Với cách viết này của tác giả đãgiúp người đọc dễ nhận biết nội dung liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu

Tác phẩm “Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn”

của tác giả Nguyễn Thế Anh, NXB Lửa Thiêng, xuất bản năm 1971 có trìnhbày khá tổng quát về các vấn đề kinh tế, xã hội dưới triều Nguyễn Tác giả ítnhiều đề cập đến thể lệ thuế, chính sách ruộng đất công làng xã…

Từ sau Cách mạng tháng Tám, trong lịch sử chế độ phong kiến ViệtNam, vấn đề ruộng đất nói chung và vấn đề ruộng đất triều Nguyễn nói riêng,trong đó vấn đề thuế ruộng đất cũng được các nhà sử học quan tâm và nghiêncứu, có nhiều công trình được công bố như:

Cuốn “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước

1858”, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1958 Tác phẩm nghiên cứu khá toàn diện

mọi mặt của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858 về chính trị,kinh tế, xã hội…Trong đó, tác phẩm có đề cập sơ lược đến vấn đề tô thuếthời nhà Nguyễn trị vì về thời gian thu thuế và mức đánh thuế

Bên cạnh đó, chúng ta phải kể đến các cuốn giáo trình như:

Cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 3, từ đầu thế kỷ XVI

đến giữa thế kỷ XIX” của tác giả Phan Huy Lê, NXB Giáo Dục, Hà Nội,

1965 Tác phẩm gồm ba phần đó là từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX.Trong đó, ở phần III, tác giả có đề cập đến vấn đề địa tô và quy định đơn vị

đo lường tô thuế thời Nguyễn Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập được chi tiết vềchính sách thuế ruộng đất dưới thời Nguyễn

Sau năm 1975, có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về vấn đềnhà Nguyễn nói chung và vấn đề thuế ruộng đất nói riêng như:

Năm 1979, cuốn “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam ở nửa đầu thế

kỷ XIX” của tác giả Vũ Huy Phúc, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Tác giả

vạch ra bản chất chính sách ruộng đất của nhà nước triều Nguyễn, thiết chếvà kết cấu ruộng đất hình thành từ chính sách đó Trong đó, tác phẩm cũng đề

Trang 6

cập đến vấn đề tô thuế ruộng đất qua từng loại hình ruộng đất cụ thể Tácphẩm cũng đề cập đến tác động những chính sách của nhà nước đối với đờisống của người nông dân Việt Nam Đây thực sự là một tác phẩm có giá trịgiúp người đọc có nhiều định hướng khi nghiên cứu đời sống kinh tế - xã hộinông nghiệp trong thời kỳ này

Năm 1980, tác phẩm “Lịch sử Việt Nam, tập 2 (1427 – 1858)” của tác

giả Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, NXBGiáo Dục Tác phẩm có giành một số ít trang đề cập tới vấn đề tô thuế dướitriều Nguyễn Trong đó, có đề cập đến hình thức thu thuế

Trong loạt bài của tác giả Vũ Huy Phúc như: “Chế độ công điền công

thổ của nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử

số 62, năm 1964 Trong đó, tác giả có đề cập đến chế độ công điền công thổcủa nhà Nguyễn và những biện pháp cụ thể của nhà nước với loại đất này,trong đó có biện pháp đánh thuế ruộng đất công điền công thổ của nhàNguyễn

Hay trong bài: “Về ruộng đất công làng xã thời Nguyễn nửa đầu thế

kỷ XIX” cũng của tác giả Vũ Huy Phúc đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử,

số 4 năm 1981 Tác giả có đề cập đến vấn đề sở hữu của nhà nước với ruộngđất công làng xã và hình thức thu thuế với loại ruộng đất này

Bài của tác giả Nguyễn Đức Nghinh với nhan đề: “Về quyền sở hữu

ruộng đất khẩn hoang dưới thời Nguyễn” đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch

sử, số 5/6/1987 đã đề cập đến vấn đề sở hữu ruộng đất trực tiếp của nhànước, trong đó có vấn đề sở hữu ruộng đất đồn điền và tô thuế đối với ruộngđất này

Năm 1990, cuốn “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, tập

1” của Viện sử học, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, có đề cập một cách khái

quát vấn đề thuế, địa tô và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam, trong đó có đềcập qua cách thức đánh thuế ruộng đất dưới triều Nguyễn

Trang 7

Năm 1997, hai tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang đã xuất bản tác

phẩm: “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều

Nguyễn”, NXB Thuận Hóa Tác giả vẽ lại bức tranh cụ thể về tình hình nông

nghiệp và đời sống nông dân dưới các vua triều Nguyễn, về chính sách khaihoang ruộng đất trong đó vấn đề tô thế cũng được nhắc đến và minh chứngbằng các con số sinh động

Những năm sau đó, những bộ giáo trình thông sử như tác phẩm: “Đại

cương lịch sử Việt Nam, tập 1 từ nguyên thủy đến năm 1858” của tác giả

Trương Hữu Quýnh (chủ biên), NXB Giáo Dục, Hà Nội 2007 Sau đó là tác

phẩm “Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2” của tác giả Đinh Xuân Lâm (chủ

biên), NXB Giáo Dục, Hà Nội 2007 Năm 2008, tập thể tác giả Nguyễn CảnhMinh (chủ biên), Đào Tố Uyên, Võ Xuân Đàn cho ra đời cuốn giáo trình

“Lịch sử Việt Nam, tập 3”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội…Đây là những

cuốn giáo trình cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản và khái quátnhất về các đời vua triều Nguyễn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự,xã hội…Song liên quan đến đề tài chưa được đề cập nhiều và cụ thể

Năm 2001, Bộ tài chính - Tổng cục thuế cho ra đời cuốn “Thuế Việt

Nam qua các thời kỳ lịch sử”, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Tác phẩm đề

cập khái quát về hình thức tô thuế ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đếnthời kỳ nhà Nguyễn

Năm 2005, cuốn “Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới”, NXB

Đại học Sư phạm Hà Nội Đây là công trình tập hợp nhiều bài nghiên cứu củacác nhà sử học và nhiều nhà giáo giảng dạy lịch sử Việt Nam thời đại nhàNguyễn (1802 – 1945) Sự tồn tại của nhà Nguyễn suốt 143 năm trong dòngchảy lịch sử dân tộc đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới sử học nói riêng vàtrong giới khoa học xã hội Việt Nam nói chung Từ những cách tiếp cận khácnhau đã tạo ra cái nhìn và đánh giá vai trò của triều Nguyễn cũng khác nhau.Tác phẩm giúp người đọc có cái nhìn khách quan về lịch sử triều Nguyễn, tuynội dung của chính sách thuế ruộng đất không được đề cập nhiều song cũng

Trang 8

giúp người viết có những quan điểm và nhận định đúng đắn, khách quan hơnvề triều Nguyễn

Năm 2008, Kỷ yếu hội thảo khoa học về Chúa Nguyễn và vương triều

Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, tại Thanh Hóa,

tháng 10 năm 2008, NXB Thế giới cũng giành một số ít trang viết về thái độcủa nhà Nguyễn với vấn đề ruộng đất và vấn đề ruộng đất trong đối nội củanhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX

Ngoài những công trình chuyên khảo kể trên còn có rất nhiều giáotrình khác cũng góp phần đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề thuế ruộngđất triều Nguyễn như cuốn: Tiến trình lịch sử Việt Nam (Nguyễn QuangNgọc chủ biên), cuốn Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858 (TrươngHữu Quýnh chủ biên), giáo trình Lịch sử Việt Nam (tập 3) của Nguyễn CảnhMinh chủ biên…

Như vậy, từ việc điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề có thể thấy rằngvấn đề thuế ruộng đất triều Nguyễn chưa được đề cập đến một cách có hệthống và chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Những công trìnhnghiên cứu nói trên đã ít nhiều cung cấp một số nội dung về vấn đề thuếruộng đất triều Nguyễn, có nêu lên những nhận xét, đánh giá về chính sáchthuế của nhà Nguyễn, là nguồn tài liệu quý để tác giả tham khảo Do vậy,hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này, kế thừa thành quả của

người đi trước, tôi mong muốn nghiên cứu vấn đề “Thuế ruộng đất triều

Nguyễn từ 1802 đến 1840” một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện.

3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào nghiên cứu về một đối tượng cụ thể đó là:

“Thuế ruộng đất triều Nguyễn từ 1802 đến 1840”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 9

* Về thời gian: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu chính sách thuế ruộng đấttriều Nguyễn trong giai đoạn từ năm 1802 đến hết năm 1840 tức là từ khi GiaLong lên ngôi (1802) đến hết thời gian trị vì của vua Minh Mạng (1840).

* Về không gian: Trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, đề tàitập trung nghiên cứu chính sách thuế ruộng đất được áp dụng trong cả nướcthời kỳ từ Gia Long đến Minh Mạng trị vì

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ một số nội dung sau:

Thứ nhất, đề tài nghiên cứu những nét khái quát nhất về thuế ruộng đất

ở các giai đoạn trước triều Nguyễn, để qua đó hiểu được cơ sở, nền móng vàsự kế thừa của tô thuế triều Nguyễn

Thứ hai, đề tài đi sâu vào nghiên cứu nội dung của thuế ruộng đất triềuNguyễn dưới thời trị vì của vua Gia Long và vua Minh Mạng (1802 – 1840).Trên cơ sở đó rút ra một số nhận xét, đánh giá về thuế ruộng đất triềuNguyễn

Thứ ba, thông qua tìm hiểu vấn đề tô thuế ruộng đất triều Nguyễn, tácgiả có điều kiện rút ra những đánh giá, ảnh hưởng của chính sách thuế nóichung và thuế ruộng đất nói riêng đến đời sống kinh tế - xã hội triều Nguyễntrong thời kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (1802 – 1840)

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Để nghiên cứu về vấn đề thuế ruộng đất triều Nguyễn (1802 – 1840),tác giả dựa vào một số nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:

- Các loại tư liệu gốc: bao gồm các bộ sử của vương triều Nguyễn biênsoạn, trong đó quan trọng nhất là bộ “Đại Nam thực lục”, NXB Giáo Dục, HàNội, 2007 Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Viện sử học dịch củaNXB Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2005 Bộ Minh Mệnh chính yếu, bộQuốc triều chính biên toát yếu…

Trang 10

Ngoài ra, còn có các công trình sử học khác như “Đại Việt sử ký toànthư” do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn; bộ “Khâm định Việtsử thông giám cương mục” của Quốc sử Quán triều Nguyễn; “Lịch triều hiếnchương loại chí” của Phan Huy Chú; bộ “Đại Nam nhất thống trí” của Quốcsử quán triều Nguyễn…

- Các giáo trình, sách chuyên khảo về nhà Nguyễn

- Các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứulịch sử, Dân tộc học…

- Ngoài ra, một số tư liệu và thông tin về lịch sử triều Nguyễn trênmạng Internet

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình thực hiện,tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:

- Về phương pháp luận, tác giả dựa trên quan điểm của phương phápluận Macxit và quan điểm của Đảng để nhìn nhận và đánh giá vấn đề

- Về phương pháp cụ thể, khóa luận sử dụng hai phương pháp nghiêncứu chính là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic

+ Phương pháp lịch sử để dựng lại một cách khái quát về hệ thống thuếruộng đất triều Nguyễn trên cả nước trong thời gian 42 năm

+ Phương pháp logic: Trên cơ sở phân tích có thể rút ra một số nhậnxét, đánh giá về chính sách thuế ruộng đất của triều Nguyễn những mặt tíchcực và hạn chế, đồng thời chỉ rõ sự kế thừa, phát huy và những điểm khácbiệt so với triều đại trước Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện tác giả cònsử dụng phương pháp phân tích, phương pháp đối chiếu so sánh để làm sáng

tỏ vấn đề nghiên cứu

Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp nghiên cứu bổ trợ khácnhư: lập bảng thống kê, so sánh đối chiếu…

5 Đóng góp của khóa luận

Trang 11

Nghiên cứu đề tài “Thuế ruộng đất triều Nguyễn từ 1802 đến 1840”

tác giả mong muốn có một số đóng góp nhỏ khi nghiên cứu về triều đại cuốicùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam như:

Thứ nhất, khóa luận góp phần khôi phục lại một mảng bức tranh hoànchỉnh và có hệ thống về hệ thống thuế ruộng đất triều Nguyễn từ năm 1802đến năm 1840, từ đó giúp người đọc thấy được sự khác biệt cũng như sự thayđổi trong chính sách thuế của nhà nước qua hai triều đại

Thứ hai, thông qua việc tìm hiểu, khai thác nguồn tư liệu gốc và tư liệutham khảo người viết cố gắng dựng lại một cách cụ thể, đầy đủ và toàn diệnnội dung chính sách thuế ruộng đất của vương triều Nguyễn dưới thời GiaLong và Minh Mạng Thông qua đó, có thể rút ra một vài nhận xét, đánh giánhững mặt tích cực và hạn chế trong chính sách thuế của nhà nước

Thứ ba, thông qua việc phân tích những nội dung cụ thể chế độ thuếruộng đất đầu triều Nguyễn, rút ra được những tác động của thuế ruộng đấtđến đời sống kinh tế, xã hội và chứng minh các phong trào đấu tranh củanông dân đều xuất phát từ nguyên nhân trực tiếp là gánh nặng thuế má trongđó thuế ruộng đất là một phần quan trọng

Thứ tư, khi nhận thức hay đánh giá về công lao cũng như hạn chế củamột vương triều chúng ta cần có cái nhìn toàn diện trên tất cả các mặt vềchính trị, kinh tế, xã hội, ngoại giao, văn hóa…Vì vậy, việc đi sâu vào nghiêncứu đề tài thuế ruộng đất triều Nguyễn dưới thời Gia Long và Minh Mạng(1802 – 1840), tác giả mong muốn góp phần nhỏ vào việc đánh giá chung vềnhà Nguyễn

Ngoài ra, đề tài cũng là nguồn tài liệu bổ ích phục vụ cho quá trình họctập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ trung đại nói chung và vềkinh tế nông nghiệp triều Nguyễn nói riêng

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục phầnnội dung của khóa luận được kết cấu thành ba chương:

Trang 12

Chương 1 Khái quát về thuế ruộng đất giai đoạn trước triều Nguyễn Chương 2 Thuế ruộng đất triều Nguyễn dưới thời Gia Long và Minh

Mạng (1802 – 1840)

Chương 3 Tác động của chính sách thuế ruộng đất đến kinh tế - xã hội

triều Nguyễn từ 1802 đến 1840.

Trang 13

Nội dung Chơng 1 KháI quát về thuế ruộng đất giai đoạn

Sau khi Ngụ Quyờ̀n đánh tan quõn Nam Hán trờn sụng Bạch Đằng

(năm 938), nước ta bước vào thời kì mới thời kì thụ́ng trị của “phong kiến

dõn tộc”, cũng từ đõy nước ta đã chṍm dứt hơn mụ̣t nghìn năm phong kiờ́n

phương Bắc đụ hụ̣ Chính quyờ̀n của họ Khúc – Ngụ từng bước được thiờ́t lọ̃pvà củng cụ́ nờ̀n đụ̣c lọ̃p dõn tụ̣c Từ năm 981 đờ́n 1009, nhà Tiờ̀n Lờ cai trị đṍtnước và đã có nhiờ̀u biợ̀n pháp thúc đẩy viợ̀c củng cụ́ lãnh thụ̉, đụ́i phó vớingoại xõm thụ́ng nhṍt nước nhà

Năm 1010, Lý Cụng Uẩn lờn ngụi Hoàng đờ́, nhà Lý được thiờ́t lọ̃p đã

mở ra mụ̣t giai đoạn mới trong lịch sử dõn tụ̣c Sau khi lờn ngụi, Lý Cụng

Uẩn ban “Chiếu dời đụ” chuyờ̉n kinh đụ Hoa Lư ra Đại La, sau đụ̉i tờn thành

thành Thăng Long Đõy là mụ̣t trong những sự kiợ̀n có ý nghĩa vụ cùng tolớn, nó thờ̉ hiợ̀n sự phát triờ̉n vờ̀ mọi mặt của đṍt nước Từ đõy, Thăng Longtrở thành trung tõm chính trị, kinh tờ́, văn hóa của cả nước

Đờ́n năm 1054, Lý Thánh Tụng quyờ́t định đụ̉i tờn nước thành ĐạiViợ̀t Nhà Lý được củng cụ́ thờm mụ̣t bước Năm 1226, dưới sự điờ̀u khiờ̉ncủa Trõ̀n Thủ Đụ̣, Lý Chiờu Hoàng chính thức nhường ngụi cho Trõ̀n Cảnh.Vương triờ̀u Lý chṍm dứt sau 216 năm cõ̀m quyờ̀n, nhà Trõ̀n được thiờ́t lọ̃p.Nhà Trõ̀n thay nhà Lý mở ra mụ̣t thời kỳ tiờ́p tục phát triờ̉n cao hơn của xãhụ̣i Đại Viợ̀t Trong thờ́ kỷ XIII, chính quyờ̀n nhà Trõ̀n vững vàng, năng đụ̣ngvà tạo ra mụ̣t nờ̀n thụ́ng nhṍt ụ̉n định đṍt nước cho đờ́n giữa thờ́ kỷ XIV

Trang 14

Nhà nước Lý – Trần từng bước xây dựng bộ máy nhà nước quân chủchuyên chế trung ương tập quyền Đứng đầu chính quyền trung ương là vua.Vua là người có quyền hành tối cao trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quânsự, văn hóa, ngoại giao và tôn giáo Vua là người đại diện cho quyền thốngtrị của dòng họ cầm quyền và là người đại diện cho quốc gia thay trời trị dân.Giúp việc cho vua là một bộ máy quan lại gồm nhiều cấp bậc với các cơ quanvà chức quan chuyên trách Nhà Trần thiết lập thể chế chính trị đó là nềnquân chủ quý tộc Quan lại đều xuất thân từ quý tộc tôn thất nhà Trần Bộmáy hành chính từ trung ương tới địa phương ngày càng được củng cố vàhoàn thiện Nhà Trần thực hiện phương thức tuyển chọn quan lại theo chế độnhiệm tử, khoa cử và thủ sĩ Do đó, đội ngũ quan lại trong bộ máy nhà nướcchủ yếu là thành phần của chính quyền nhà Trần, trong đó chủ yếu là quý tộchọ Trần và sĩ phu Nho học tham gia Bộ máy nhà nước thời Lý – Trần mặcdù còn học tập nhiều từ mô hình của các triều đại phong kiến Trung Hoa,nhưng vẫn thể hiện rõ tính độc lập tự chủ của dân tộc trong thời đại mới

Nhà nước Lý – Trần là nhà nước quân chủ quý tộc và mang nặng tínhquan liêu, do đó giai cấp thống trị luôn có ý thức mang lại quyền lợi cho dònghọ cũng như bộ phận quan lại Nhà nước đã có nhiều chính sách đãi ngộ vàtạo địa vị về kinh tế cho bộ phận hàng ngũ quan lại, quý tộc để họ trungthành với nhà nước Chính điều này sẽ chi phối đến chính sách ruộng đất củanhà nước Đặc biệt trong pháp luật thời Trần có xác nhận và bảo vệ quyền tưhữu tài sản, trong đó quan trọng nhất là ruộng đất, chú trọng bảo vệ sản xuấtnông nghiệp, trong đó nguồn thu từ tô thuế ruộng đất là một phần quan trọngduy trì và nuôi sống bộ máy nhà nước

Năm 1400, Hồ Quý Ly ép vua Trần phải nhường ngôi cho mình vàthành lập vương triều Hồ (1400 – 1407) Ngay sau khi lên ngôi, Hồ Quý Lyđã đưa ra nhiều biện pháp cải cách quan trọng nhằm giải quyết tình trạngkhủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội cuối thời Trần Trong đó có nhữngcải cách quan trọng trong kinh tế và vấn đề tô thuế ruộng đất

Trang 15

Trong giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, nhân dân Đại Việt liêntiếp đương đầu đấu tranh chống lại các thế lực ngoại bang Hầu như không cómột thế kỷ nào, nhân dân Đại Việt được sống yên ổn trong hòa bình Thế kỷ

XI, nhân dân Đại Việt phải đương đầu chống lại sự xâm lược của quân Tống(1075 - 1077); thế kỷ XIII, nhân dân Đại Việt đấu tranh ba lần kháng chiếnchống quân Nguyên Mông (1258 - 1288), sang đến thế kỷ XV kháng chiếnchống quân Minh (1407 - 1428) Như vậy có thể thấy rằng, yêu cầu chốngngoại xâm, bảo vệ đất nước đã trở thành một yêu cầu bức thiết và thường trựccủa dân tộc ta trong mọi thời kỳ lịch sử Qua đây nó càng khẳng định thêm ýthức về một quốc gia Đại Việt thống nhất Trong mỗi lần kháng chiến chốngngoại xâm, tình hình ruộng đất, sản xuất nông nghiệp lại giữ vai trò quantrọng trong việc nuôi quân và tổ chức quân đội

Trong các thế kỷ X – XIV, để thắt chặt thêm mối quan hệ cũng như mởrộng lãnh thổ, các vua Đại Việt không ngừng mở rộng lãnh thổ xuống phíaNam Năm 1069, vua Champa là Chế Củ dâng đất ba châu Địa Lý, Ma Linhvà Bố Chính, nhà Lý đã mở rộng miền đất phía Nam xuống đến phía BắcQuảng Trị ngày nay

Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vuaChampa là Chế Mân Chế Mân đã dâng đất hai châu Ô và Lý để làm sính lễ.Sau này vua Trần Anh Tông đổi tên gọi của vùng đất mới là Thuận Hóa

Sang thời kỳ nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã nhiều lần đem quân đi đánhChampa bảo vệ phía Nam, đồng thời có thêm lực lược chống lại các thế lựcphương Bắc Năm 1042, vua Champa thua trận phải nộp đất Động Chiêm vàCổ Lũy cho nhà Hồ Sau này, nhà Hồ cho đổi tên hai châu đó thành các châuThăng Hoa và Tư Nghĩa

Như vậy, trong các thế kỷ X – XIV lãnh thổ Đại Việt không ngừngđược mở rộng Việc mở rộng lãnh thổ bên cạnh ý nghĩa mở mang diện tíchđất đai canh tác, phát triển sản xuất nông nghiệp nhưng nó cũng đặt ra cho

Trang 16

nhà nước phong kiến Việt Nam nhiều khó khăn thách thức trong việc quản lýcác vùng đất mới và duy trì sự ổn định cho đất nước

1.1.1.2 Kinh tế

a Nông nghiệp

Ruộng đất là nguồn tư liệu sản xuất chính của nhân dân lao động, đặcbiệt kinh tế nông nghiệp lại là ngành kinh tế chủ yếu của Đại Việt Có củngcố và phát triển sản xuất nông nghiệp thì nhà nước mới đảm bảo nguồn lợi từthuế ruộng đất để duy trì nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước Chính vìvậy, bên cạnh công việc xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước phongkiến ở thế kỷ X – XIV còn đưa ra nhiều biện pháp tích cực nhằm khuyếnkhích, phát triển kinh tế nông nghiệp Năm 1010, Lý Công Uẩn xuống chiếubắt tất cả những người đào vong phải trở về quê cũ Năm 1065, Lý ThánhTông cho thực hiện chiếu khuyến nông vào đầu xuân, Vua thường tiến hành

cày vài đường trong lễ “tịch điền” để khuyến khích nhân dân lao động sản

xuất Bên cạnh đó, nhà nước Lý – Trần ban hành nhiều đạo luật bảo vệ quyền

tư hữu tài sản, đặc biệt là ruộng đất, bảo vệ trâu bò nhằm giữ gìn sức kéotrong nông nghiệp Trong luật pháp nhà Lý có quy định người ăn trộm trâuhoặc giết trộm trâu bò đều phải bồi thường trâu và phạt đánh 80 trượng [38,143]

Bên cạnh đó, công tác trị thủy và sửa chữa đê điều cũng được nhà nướcphong kiến Việt Nam quan tâm Luật nhà nước thời Trần coi việc xây dựngvà sửa chữa đê điều là việc của toàn dân kể cả triều đình Năm 1077, nhà Lýcho đắp đê sông Như Nguyệt; Năm 1108, nhà Lý cho đắp đê Cơ Xá từ YênPhụ đến Lương Yên Nhà nước Lý – Trần còn đặt các chức chánh, phó Hà đêsứ để chuyên trông coi việc đắp đê Đây là một việc làm có ý nghĩa rất lớncủa nhà nước đối với nhân dân trong việc bảo vệ và sản xuất nông nghiệp.Nhà nước Lý – Trần – Hồ còn thực hiện chính sách khuyến khích sản xuấtnông nghiệp thông qua chủ trương khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, từđó củng cố cơ sở kinh tế và tài chính của nhà nước Trong đó nguồn lợi từ

Trang 17

thuế ruộng đất là một phần rất quan trọng trong những chủ trương của nhànước.

Như vậy, trong các thế kỷ X – XIV, nhà nước phong kiến Việt Nam rấtchú trọng và quan tâm tới công tác trị thủy, thủy lợi, có nhiều biện phápkhuyến khích sản xuất nông nghiệp Nhờ đó, nền kinh tế nông nghiệp đượcổn định, cơ sở kinh tế tài chính của nhà nước từ tô thuế được củng cố, tạo cơ

sở sức mạnh cho quốc gia trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, kinh tế nông nghiệp trong giaiđoạn này cũng có những khó khăn nhất định Sau mỗi cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm, nền kinh tế bị suy sụp và bị tàn phá nghiêm trọng Sauchiến tranh đất bị bỏ hoang nhiều, tình trạng chấp chiếm ruộng đất của bọnquan lại ngoại bang diễn ra phổ biến, nhân dân phải bỏ làng mạc quê hương

đi phiêu tán

Thực trạng trên ảnh hưởng không nhỏ đến tài chính quốc gia, vì vậyyêu cầu đặt ra đối với nhà nước phong kiến Việt Nam là làm cách nào đểphục hồi ruộng đất hoang hóa, khôi phục kinh tế nông nghiệp để củng cố cơ

sở kinh tế cho nhà nước, trong đó một phần thu từ thuế ruộng đất là nguồnthu chính đảm bảo cho bộ máy nhà nước tồn tại

Một trong những giải pháp để giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hộinói trên mà nhà nước phong kiến Việt Nam áp dụng đó là : tăng cường mởrộng diện tích đất đai thông qua chính sách khai hoang, vận động và kêu gọinhân dân phiêu tán trở về sản xuất, ổn định và phát triển kinh tế nông nghiệp

Tóm lại, kinh tế nông nghiệp có bước thăng trầm theo những biến cốcủa lịch sử dân tộc, những bước thăng trầm đó có ảnh hưởng trực tiếp tớinguồn lợi từ tô thuế ruộng đất của nhà nước phong kiến Việt Nam, chính vìvậy bằng mọi cách nhà nước đều có những biện pháp thích hợp để khắc phụcvà ổn định sự hoạt động của bộ máy nhà nước

b Thủ công nghiệp và thương nghiệp.

Trang 18

Trong giai đoạn từ thế kỷ X – XIV, thủ công nghiệp và thương nghiệpcó những bước phát triển nhất định, tạo điều kiện cho nền kinh tế Đại Việtvươn lên một tầm cao mới Trong đó phải kể đến một loạt các quan xưởngđược xây dựng để phục vụ cho nhu cầu của vua, quan trong triều đình Hoàngcung được ví như một hộ gia đình lớn có ruộng đất riêng lại có quan xưởngriêng Thời Lý – Trần, Thăng Long không những là trung tâm chính trị vănhóa mà còn là trung tâm kinh tế của cả nước với nhiều hoạt động buôn bánsôi nổi Thời Lý cảng Vân Đồn là quân cảng và thương cảng diễn ra các hoạtđộng trao đổi buôn bán chính thì sang thời Trần, Thăng Long vừa là nơi buôn

bán vừa là nơi làm thủ công nhưng vẫn mang vẻ “quốc tế của một đô thành”.

Bên cạnh đó còn nhiều trung tâm buôn bán khác như: Thanh Hoa, LạchTrường…

Trong thời kỳ này có rất nhiều làng nghề thủ công truyền thống ra đờinhư: Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh) chuyên làm gốm,Hoa Tràng (Nam Định ) chuyên luyện sắt, Làng Bưởi (Gia Lương, Bắc Ninh)chuyên đúc đồng….Các hoạt động thương nghiệp diễn ra rộng khắp và sôinổi Sự phát triển nền kinh tế hàng hóa thâm nhập vào cả nông thôn Hiệntượng mua bán ruộng đất diễn ra tương đối phổ biến, do đó có ảnh hưởng đếnđời sống của người nông dân

Bên cạnh đó, sau những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ngành kinh tếthủ công nghiệp và thương nghiệp cũng bị ảnh hưởng to lớn Sau kháng chiếnchống quân Nguyên – Mông, các xưởng thủ công bị tàn phá nghiêm trọng,sản xuất bị đình đốn Các hoạt động thương nghiệp cũng bị gián đoạn do phảitập trung vào đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ đất nước Chính thực trạngnày đã ảnh hưởng đã ảnh hưởng đến nguồn tài chính của quốc gia do vậy nhànước phong kiến càng đẩy mạnh hơn khôi phục, phát triển kinh tế nhà nướcđể đảm bảo nguồn thu từ tô thuế trong đó thuế ruộng đất là một phần quantrọng

Trang 19

Như vậy, trong các thế kỷ X – XIV, bộ máy quản lý nhà nước dầnđược củng cố và hoàn thiện từ trung ương đến địa phương Đại Việt về cơbản vẫn là một nước nông nghiệp Diện tích lãnh thổ không ngừng được mởrộng, quá trình khai hoang phục hóa ruộng đất vẫn được tiến hành Vấn đềnguồn lợi từ tô thuế vẫn là vấn đề mà nhà nước phong kiến Việt Nam hết sứcquan tâm nhằm ổn định tình hình chính trị trong nước.

1.1.2 Các hình thức sở hữu ruộng đất.

Trong những thế kỷ đầu độc lập, giai cấp thống trị đã lấy mô hình nhànước giai cấp phong kiến phương Bắc làm hình mẫu để xây dựng nhà nướccủa mình Tuy nhiên, do ý thức dân tộc sâu sắc, lại thường xuyên phải đươngđầu với những cuộc đấu tranh xâm lược nên việc xây dựng đất nước vữngmạnh là tinh thần chung của các triều đại phong kiến Việt Nam trong giaiđoạn thế kỷ X – XIV

Giống như nhà nước phương Đông lúc bấy giờ, Vua là người có quyềnlực tối cao của đất nước, ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà Vua Nhưngquyền sở hữu ruộng đất của nhà vua là quyền sở hữu trên danh nghĩa, trongthực tế sử dụng có nhiều hình thái chiếm hữu ruộng đất khác nhau và gắn liềnvới chế độ tô thuế khác nhau

Nhà nước phong kiến Việt Nam từng bước nắm lấy ruộng đất và biếnnó thành cơ sở, tạo nên nguồn thu tô thuế quan trọng và thường xuyên củanhà nước Trong các thế kỷ X – XIV có hình thức sở hữu ruộng đất như:

1.1.2.1 Ruộng đất thuộc sở hữu trực tiếp của nhà nước.

Thông thường có hai bộ phận cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu nhànước đó là ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý và ruộng đất công củalàng xã Bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu trực tiếp của nhà nước tồn tại như

tài sản của bản thân nhà vua và hoàng cung, một loại “tư hữu” đặc biệt mà

những hoa lợi bóc lột là của riêng hoàng đế Bộ phận ruộng đất do nhà nướctrực tiếp quản lý có ruộng đất sơn lăng, ruộng đất tịch điền, ruộng đất đồnđiền và một bộ phận gọi là ruộng quốc khố

Trang 20

a Ruộng đất Sơn Lăng.

Loại ruộng này có từ thời Lý, sang thời Trần vẫn còn tồn tại Đây làloại ruộng dùng vào việc thờ phụng tổ tiên dòng họ nhà Vua Ở các vùng cólăng mộ nhà Vua, ruộng đất được giao cho dân cày cấy và nộp một khoảnhoa lợi phục vụ việc thờ cúng, bảo vệ lăng mộ của các vua [40, 23] Cư dân ởđây được miễn mọi lao dịch Tuy nhiên, tổng diện tích của ruộng sơn lăng rấtnhỏ không có tác dụng gì đáng kể trong chế độ sở hữu ruộng đất nói chung

b Ruộng đất tịch điền.

Từ thời Lê Hoàn đã có loại ruộng này, sang đến thời Lý – Trần ruộngtịch điền vẫn được duy trì Nghi thức cày ruộng tịch điền là hoạt động khuyếnkhích sản xuất nông nghiệp Đây là loại ruộng do triều đình trực tiếp quản lý,ruộng được giao cho dân địa phương cày cấy, nộp tô dùng vào việc cúng tếtrời đất, các vị thần nông hoặc dùng cho nhà vua và hoàng cung Ruộng đấtnày nhỏ hẹp nên không ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp

c Ruộng đất đồn điền.

Đây là một trong những hình thức canh tác ruộng đất có từ lâu đời,ngay từ thời Bắc thuộc đã thấy xuất hiện dấu vết của đồn điền ở nước ta.Ruộng đất đồn điền do nhà nước mộ dân nghèo đến khai hoang, cày cấy Mộtphần thu hoạch được chia cho các hộ cày cấy, phần còn lại nhập vào kho đểcấp lương cho binh lính Ruộng đất đồn điền phát triển cả ở thời Lý – Trần

d Ruộng quốc khố.

Ruộng quốc khố hay được gọi là quốc khố điền là ruộng của nhà nướcmà hoa lợi thu hoạch được dự trữ trong kho của triều đình để dùng riêng chonhà vua và hoàng cung Ruộng quốc khố đã xuất hiện ở thời Lý – Trần ThờiTrần, ruộng quốc khố đặt ở Cảo Xã (Từ Liêm, Hà Nội) [38, 136] Người càycấy ruộng này thường là tù binh hoặc người bị tù, thân phận của họ rất thấpkém

Như vậy, ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý không chiếm sốlượng lớn, nhưng cũng là nguồn thu nhập đáng kể của triều đình

Trang 21

1.1.2.2 Ruộng đất công làng xã.

Ruộng đất công các làng xã trong những thế kỷ X – XIX còn được gọi

là “quan điền” hay “quan điền bản xã” Loại ruộng đất này chiếm phần lớn

trong các loại ruộng đất thời kỳ này Đối với loại ruộng đất này, nhà nướcthường giao cho các làng xã quản lý và chia cho nông dân cày cấy Trongtrường hợp này, nông dân là người lĩnh canh ruộng đất của nhà vua và cónghĩa vụ nộp tô thuế cho nhà nước Ruộng đất công làng xã rộng lớn cho nênđịa tô phải nộp trên ruộng đất này cũng chiếm phần chủ yếu trong các nguồnthu của nhà nước Điều đáng chú ý là mặc dù ruộng đất công ở các làng xãthuộc quyền sở hữu của nhà Vua nhưng nông dân cũng có những quyền hạnnhất định như: ruộng đất của thôn xã nào chỉ chia cho những người ở thôn xãđó, tùy theo phong tục của từng địa phương,không có tình trạng vua quanđuổi nông dân ra khỏi làng xã của họ để chấp chiếm ruộng đất của họ trừ khihọ phạm tội

1.1.2.3 Ruộng đất do nhà vua ban cấp.

Có thể nói chế độ ban cấp ruộng đất cho vương hầu, quý tộc đã có từtrước nhưng sang đến thời Lý chế độ này mới phát triển mạnh, dưới các hình

thức “thực ấp”, “thực phong” Sang đến thời Trần thì kiểu ban cấp này không

còn nữa Đối với thực ấp, nhà nước giao quyền thu tô thuế cho người đượcban cấp ruộng đất, người nông dân không bị lệ thuộc vào người được cấpruộng đất, có nghĩa là họ vẫn phải thực hiện chế độ lao dịch, đi lính cho nhànước, còn tô thuế thì nộp cho người được cấp ruộng đất Đối với hình thức

ban cấp “thực phong” nhà nước ban cấp cả người lẫn đất Người nông dân

phải nộp tô, chịu lao dịch đi lính cho người được cấp ruộng đất [40, 24]

Như vậy khi ban cấp thực phong, nhà nước mất quyền chi phối đối vớinông dân trong một thời gian nhất định Chính vì vậy, nhà Lý rất hạn chế ban

cấp theo hình thức “thực phong” Về nguyên tắc phần lớn các trường hợp

thực ấp, thực phong, ruộng đất được cấp vẫn thuộc quyền sở hữu của nhànước, người được cấp phong chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng trong một

Trang 22

thời gian nhất định và không phải là ruộng đất tư Tuy nhiên chỉ có trườnghợp đặc biệt, nhà vua ghi rõ việc ban cấp ruộng đất vĩnh viễn thì ruộng đấtmới trở thành ruộng đất tư Đơn cử như trường hợp vua Lý Thái Tông cấpvĩnh viễn cho Lê Phụng Hiểu hơn nghìn mẫu ruộng làm tư điền để biểudương công lao [38, 138]

Dưới thời nhà Trần còn có hình thức “thái ấp” Đây là chính sách ban

cấp ruộng đất và bổng lộc cho các vương hầu, quý tộc Trần Với hình thứcban cấp thái ấp người nông dân được cấp còn bị lệ thuộc theo quan hệ nông

nô, nô tỳ với người được phong cấp ruộng đất Về thực chất, thái ấp là vùngđất riêng của các quý tộc Trần

Bên cạnh đó ruộng đất nhà chùa cũng là một loại ruộng do nhà nướcban cấp cho các nhà chùa Bộ phận ruộng đất này tồn tại khá phổ biến vàothời kỳ đầu của chế độ phong kiến Việt Nam, nhất là dưới thời Lý, Trần khiPhật giáo đã phát triển đến giai đoạn toàn thịnh và trở thành chính giáo củanước ta thời kỳ đó

1.1.2.4 Ruộng đất tư nhân

Dưới thời Lý chế độ sở hữu tư nhân đã phổ biến và phát triển Trongcác văn bản pháp quy nhà nước đã ban hành những luật công nhận quyền tưhữu ruộng đất Bên cạnh đó, nhà nước còn công khai khẳng định quyền muabán ruộng đất của các tầng lớp xã hội Qua đây có thể thấy được nhà nước đãthừa nhận quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất

Đến thời nhà Trần, ruộng đất tư hữu còn phát triển thêm một bước.Việc mua bán ruộng đất chẳng những diễn ra giữa tư nhân với nhau mà diễn

ra cả giữa nhà nước với tư nhân Tháng 6 năm 1254, triều đình ra lệnh “bán

ruộng công, mỗi diện là năm quan tiền cho nhân dân làm của tư” [38, 201].

Việc làm này của triều đình nhà Trần đã mở rộng cho ruộng đất tư hữu pháttriển và sự thay đổi của các chủ sở hữu

Mặt khác, nhà Trần còn cho vương hầu, quý tộc được phép chiêu mộdân nghèo phiêu tán đi khai hoang để lập điền trang riêng Đây là một đặc

Trang 23

quyền mà nhà vua dành cho các vương tước, công chúa, phò mã, cung tần.Ruộng đất đã khai phá được đều coi là ruộng đất tư Chính vì vậy, điền trangthời Trần là biện pháp quan trọng có ý nghĩa quyết định tính chất loại hình sởhữu ruộng đất phong kiến quý tộc thời đó.

Mặc dù, vua Trần vẫn nói đất đai trong nước đều là của vua nhưng trênthực tế, chỗ nào đắp đê lấn vào ruộng đất tư của dân đều phải đo đạc, giá trịthành tiền và được đền bù [40, 26]

Tóm lại, trong các thế kỷ X – XIV, các loại hình sở hữu ruộng đất đãđược hình thành và phân chia khá rõ ràng Các loại hình sở hữu ruộng đất nàyđều là nguồn thu chính trong ngân sách của nhà nước phong kiến Việt Nam,chính vì vậy nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề tô thuế từ ruộng đất

1.1.3 Thuế ruộng đất của các nhà nước phong kiến Việt Nam (X – XIV).

Theo Từ điển Thuật ngữ Lịch sử phổ thông, do Phan Ngọc Liên chủ biên, các tác giả định nghĩa thuế điền như sau: “Thuế điền – thuế đánh vào

ruộng đất dưới thời triều đình phong kiến Hàng năm tùy theo diện tích và loại ruộng, chủ ruộng bắt buộc phải nộp một số tiền cho nhà nước Thông thường mức thuế ruộng công nặng hơn tư Mức thuế còn tùy thuộc vào từng loại ruộng và từng thời kỳ lịch sử” [13, 410].

Các tác giả cũng đưa ra định nghĩa địa tô như sau: “Địa tô là phần sản

phẩm thặng dư do nhân dân sản xuất, nộp cho địa chủ vì lĩnh canh ruộng đất Người nông dân làng xã cày ruộng đất công do nhà nước phong kiến phân cho theo chế độ quân điền cũng phải nộp tô cho nhà nước Tô ở đây tức

là thuế ruộng Nhà nước về mặt kinh tế trở thành địa chủ Địa tô thời phong kiến và thời thực dân Pháp đô hộ nước ta nhìn chung nộp bằng sản phẩm (thóc, lúa) cũng có khi được quy thành tiền để nộp tô (khi trong xã hội sản xuất hàng hóa phát triển mạnh)” [13, 171].

Tô thuế ruộng đất là một hình thức bóc lột của nhà nước với nhân dânlao động đã có từ lâu đời Trong các thế kỷ X – XIV do đặc điểm tình hình

Trang 24

ruộng đất khá phức tạp và đa dạng nên dẫn đến những quy định khác nhau về

tô thuế Từ thời nhà Ngô đến nhà Tiền Lê, chế độ thuế ruộng đất đã có,nhưng dưới thời Lý – Trần – Hồ chế độ này được quy định chặt chẽ, rõ ràngtheo đẳng, hạng đối với ruộng đất công, ruộng đất tư

Đối với ruộng quốc khố thời Trần, mỗi người cày 3 mẫu, mỗi năm nộp

300 thăng thóc [38, 191] Đây là một mức bóc lột khá nặng nề dưới hình thức

tô thuế hiện vật

Đối với biện pháp ruộng đất công làng xã, năm 1242 nhà Trần định

phép tô thuế đầu tiên: “Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc Có 1 - 2

mẫu thì nộp tiền 1 quan, có 3 - 4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc” [38, 193] Tuynhiên những con số trên vẫn chưa thể xác định chính xác đây là tô thuế ruộng

công hay tô thuế ruộng tư Sách An Nam chí nguyên có ghi: “Thời Lý – Trần

công điền có hai loại và chia làm ba hạng để đánh thuế… Ruộng thác đao nộp thuế mỗi mẫu 1 thạch thóc, trung đẳng mỗi năm nộp thuế 3 mẫu 1 thạch thóc, hạ đẳng mỗi năm nộp thuế 4 mẫu 1 thạch thóc, còn đối với ruộng đất của dân thì mỗi mẫu thu 3 thăng thóc ” [38, 193 - 194] Như vậy, tô thuế thời

kỳ này chủ yếu đánh vào ruộng công Nhân đinh cày ruộng công làng xã phảinộp bằng thóc theo diện tích chia và thêm một số tiền nhất định Mức tô thuếnăm 1242 do nhà nước đặt ra được xem là rất nặng, với giá ruộng đất thì mỗimẫu giá từ 5 – 10 quan Như vậy, hàng năm người nông dân phải nộp số tiềnbằng từ 1/10 đến 1/5 mẫu ruộng (đối với loại chỉ có 1 mẫu) hoặc từ 1/10 đến1/20 mẫu ruộng (đối với loại có 2 mẫu) [35, 163 - 164]

Sang thời nhà Hồ, để tăng cường sức mạnh của chính quyền trungương và cải thiện mọi mặt của đất nước năm 1397 Hồ Quý Ly ban hành

chính sách “hạn danh điền” Theo đó, tất cả những chủ sở hữu tư nhân chỉ

được phép giữ lại làm của riêng một lượng diện tích ruộng không quá 10 mẫu[38, 253] Đây là chính sách nhằm xóa bỏ loại hình kinh tế “đại điền trang”,một nhân tố cản trở quá trình củng cố và thống nhất tập trung quân lực của

Trang 25

nhà nước Về thuế ruộng đất thời Hồ, trước đó nhà nước chỉ thu 3 thăng thóc/mẫu ruộng tư, mức thuế này được đặt ra từ thời Lý, sau lần đo đạc ruộng đấtvà lập sổ điền tịch đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1392 Nhà Hồ đã điều chỉnhmức thuế ruộng tư lên 5 thăng/mẫu ruộng [38, 254] Với loại ruộng bãi dâu,loại ruộng có quan hệ đến sản xuất thủ công, nhà nước thu với mức từ 3 quanđến 5 quan/mẫu, tức là mức thuế được giảm 60% Dưới thời Trần mỗi mẫuruộng bãi dâu nộp 7 – 9 quan tiền đồng Nhưng sang thời Hồ nộp theo tiềngiấy (1 quan tiền đồng bằng 1 quan 2 tiền giấy), hạng thượng đẳng nộp 5quan, trung đẳng nộp 4 quan, hạ đẳng nộp 3 quan [12, 217].

Như vậy, nhờ nguồn thu từ thuế ruộng đất mà ngân quỹ nhà nước ngàycàng nhiều, nhà nước phong kiến Việt Nam đã cho mở thêm các lò đúc tiền,xưởng rèn đúc vũ khí, xưởng may quần áo cho vua quan, binh lính Tuynhiên, do phải đương đầu với các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm nhưnhững năm kháng chiến chống quân Nguyên – Mông (thế kỷ XIII) và nhữngnăm loạn lạc xảy ra ở giai đoạn cuối của mỗi triều đại làm cho nền kinh tếquốc gia có lúc trống rỗng Sự bất ổn về tài chính đã gây ra những biến độngtrong nội bộ chính quyền và dẫn đến sự sụp đổ của các triều đại phong kiến.Nhưng những triều đại kế tiếp sau được thiết lập lại đẩy mạnh tăng cườngbóc lột nhân dân bằng chính sách thuế khóa nặng nề hơn

1.2 Chính sách thuế ruộng đất đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI.

1.2.1 Bối cảnh lịch sử.

1.2.1.1 Chính trị.

Năm 1428, sau hơn hai mươi năm kháng chiến chống quân Minh giànhthắng lợi, Lê Lợi – vị lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lên ngôihoàng đế, đặt tên nước là Đại Việt, mở đầu triều đại nhà Lê (sử thường gọi là

Lê sơ) Đất nước bước vào thời kỳ yên bình, phát triển

Sau khi nhà Lê được thành lập, các vua Lê nhanh chóng bắt tay vàokhôi phục kinh tế, chính trị trong nước góp phần xây dựng một nhà nướcmới Với mong muốn nâng cao địa vị của vương triều mình, nhà Lê đã tiến

Trang 26

hành một loạt cải cách nhằm khôi phục và phát triển đất nước sau những nămchiến tranh kéo dài với quân Minh Dưới thời Lê sơ, đặc biệt dưới thời LêThánh Tông chế độ giáo dục, thi cử đạt đến đỉnh cao toàn thịnh cho nên quanlại phần lớn xuất thân qua khoa cử Nhà Lê sơ xây dựng bộ máy hành chínhquốc gia theo thiết chế quân chủ chuyên chế - quan liêu khác với thể chếquân chủ quý tộc thời Trần Vua vẫn giữ những chức năng cơ bản của thờitrước nhưng với quyền lực tập trung hơn, quyết đoán hơn

Hệ thống hành chính thời Lê sơ có tính tập trung từ dưới lên trên, từđịa phương đến trung ương và đề cao quyền hành toàn diện của người đứngđầu nhà nước Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với một quốc gia thốngnhất trên cơ sở nông nghiệp, kinh tế hàng hóa chưa phát triển

Trong thời kỳ nhà Lê sơ để đảm bảo sự trung thành của bộ máy quanlại, nhà Lê đã có nhiều chính sách động viên khuyến khích như ban hành chếđộ bổng lộc Trong đó chính sách lộc điền được ban hành nhằm đem lạiquyền lợi kinh tế cho bộ phận quý tộc quan lại Thời Lê sơ, lãnh thổ Đại Việtđược mở rộng bao gồm một dải đất rộng lớn từ vùng đất Lạng Sơn đến tậnvùng núi Thạch Bi (giáp Phú Yên ngày nay)

Đầu thế kỷ XVI, chính quyền Lê sơ bước vào giai đoạn suy yếu Saukhi Lê Hiến Tông mất, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực lên thaysong đó đều là những ông vua bất tài, ăn chơi sa đọa Một sứ thần Trung

Quốc đã nhận xét về vua Lê Tương Dực rằng: “Nhà vua tính hiếu dâm như

tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa” [38, 338] Từ đây, xã hội Đại Việt

mất dần cảnh thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân sống cực khổ

Trong nội bộ giai cấp cầm quyền liên tiếp xảy ra các cuộc thanh trừng,giết hại lẫn nhau để tranh giành quyền lực Cùng lúc đó, các thế lực phongkiến nổi dậy, xuất hiện nhiều phe phái chống đối nhau trong nội bộ triềuđình Trong đó nổi lên các thế mạnh như: những người thuộc tôn thất nhà Lê,họ ngoại (Nguyễn Hoằng Dụ) ở Thanh Hóa, họ Trịnh (Trịnh Duy Sản vàTrịnh Tuy) ở Thanh Hóa; họ Mạc đứng đầu là Mạc Đăng Dung

Trang 27

Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, nhà Mạc đã có những cố gắngnhất định để ổn định tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên,nhà Mạc tồn tại trong một bối cảnh luôn có sự chống đối của các cựu thầnnhà Lê Năm 1533, Nguyễn Kim dựa vào sự giúp đỡ của Ai Lao, tuyển mộquân và đã tôn Lê Duy Ninh con trưởng của Lê Chiêu Tông lên làm vua Mộttriều đình mới của nhà Lê hình thành ở Thanh Hóa, mở đầu sự nghiệp trunghưng của nhà Lê.

Trong suốt một thời gian dài từ năm 1527 – 1592 trên nước ta xảy racuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Lê – Mạc mà trong lịch sử vẫnthường gọi là chiến tranh Nam – Bắc triều Cuộc chiến tranh đã gây ra baođau thương, mất mát trong cảnh chém giết lẫn nhau đồng thời còn tàn phánghiêm trọng nền kinh tế trong nước gây ra hàng loạt trận đói kéo dài, đấtnước luôn trong tình trạng bất ổn

Như vậy, bối cảnh chính trị Đại Việt từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷXVI luôn trong tình trạng bất ổn, chiến tranh Nam – Bắc triều kéo dài đã tácđộng đến mọi mặt đời sống nhân dân Yêu cầu đặt ra cho nhà nước phongkiến Việt Nam phải có những chính sách kinh tế - xã hội phù hợp để giảiquyết cuộc khủng hoảng và ổn định tình hình xã hội

1.2.1.2 Kinh tế.

Sau hơn 20 năm chiến tranh chống quân Minh xâm lược, nền kinh tếĐại Việt bị tàn phá nghiêm trọng vốn đã bị suy yếu trong những thập kỷ cuốiTrần Đồng ruộng, làng xóm bỏ hoang, nhân dân phiêu tán Chính vì vậy, sauchiến tranh nhà nước rất quan tâm đến việc bảo vệ khuyến khích phát triểnnông nghiệp Đây cũng là cơ sở để nhà nước tăng cường việc thu thuế từruộng đất của người nông dân để giải quyết sự thiếu hụt trong ngân sách nhànước

Nhà nước khuyến khích nhân dân khai phá ruộng đất bỏ hoang và giúp

đỡ nhân dân cày cấy Bên cạnh đó, nhà Lê sơ rất chăm lo đến thủy lợi, đêđiều Nhà nước đặt chức quan Hà đê sứ để phối hợp với các quan phủ, huyện

Trang 28

trông coi, sửa đắp đê điều Năm 1467, nước biển dâng cao làm vỡ các đêngăn ở các phủ Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương Nhà nước đãcử quan đi khám xét, bồi đắp lại và cho khai thêm một số kênh ở Thanh Hóa,Nghệ An, Thuận Hóa Dưới thời Lê sơ, công việc đắp đê còn được quy địnhtrong văn bản pháp luật…

Tuy nhiên, trong chiến tranh với quân Minh nền kinh tế Đại Việt đã bịsuy sụp nhiều, do đó nhà nước phải đối mặt với nhiều vấn đề trong kinh tếnông nghiệp như tình trạng khủng hoảng về ruộng đất ở nước ta Nhà Minhđã chiếm đoạt ruộng đất công làng xã, thiết lập các đồn điền và chia cắt chobọn quan lại, bọn ngụy quan, nên ruộng đất cũng bị thu hẹp Bên cạnh đó, sauchiến tranh Lê Lợi cho 25 vạn quân về quê, nên vấn đề đặt ra với nhà nước

Lê sơ là giải pháp chia ruộng đất cho những người tham gia kháng chiến đểhọ cày cấy… Một trong những giải pháp mà nhà nước mà nhà nước Lê sơ đãáp dụng đó là mở rộng diện tích ruộng đất bằng chính sách khai hoang, phụchóa Thông qua đó tăng sản lượng nông nghiệp và nhà nước cũng theo đótăng mức thu thuế ruộng đất đối với nhân dân lao động

Trong giai đoạn chiến tranh Nam – Bắc triều, nhìn chung nền kinh tếĐại Việt rơi vào khủng hoảng trầm trọng Nhà nước không chú ý đến pháttriển kinh tế cũng như đời sống nhân dân Chính điều này ảnh hưởng sâu sắcđến nguồn tài chính quốc gia

Tình hình công thương nghiệp trong những thế kỷ XV – XVI cũng cónhững biến chuyển nhất định so với thời kỳ trước Tuy nhiên, sau chiến tranhcông thương nghiệp Đại Việt bị tàn phá khá nặng nề Nhiều xưởng thủ côngbị chiến tranh phá hủy, các hoạt động thương nghiệp bị đình trệ do đất nướcliên tiếp xảy ra tình trạng bất ổn về chính trị Bởi vậy sau chiến tranh một mặtnhà nước đã khôi phục nhiều ngành nghề thủ công, nhưng mặt khác nhà nướcphong kiến Việt Nam vẫn chú ý đến phát triển sản xuất nông nghiệp và tăngcường nguồn thu từ tô thuế ruộng đất của nông dân để bổ sung cho ngân sáchnhà nước

Trang 29

Như vậy, trong các thế kỷ XV – XVI tình hình kinh tế Đại Việt nhìnchung vẫn là nền kinh tế lấy nông nghiệp là hoạt động sản xuất chính Cácyếu tố bất ổn về chính trị, xã hội đã tác động đến đời sống nhân dân nóichung và tình hình ruộng đất nói riêng Vậy nhà nước phong kiến đã cónhững giải pháp gì để nhanh chóng ổn định tình hình trong nước và duy trì sựtồn tại trong bộ máy nhà nước.

1.2.2 Các loại sở hữu ruộng đất.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng để đảm bảo an toàn cho sảnxuất, các vua đầu triều Lê sơ đã ban lệnh cho các làng làm sổ ruộng đất vàtrên cơ sở đó nhà nước chủ động phân phối ruộng đất cho nông dân

1.2.2.1 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước.

Tất cả những ruộng đất nhà nước tịch thu được của chính quyền đô hộvà bọn ngụy quan, ruộng đất không chủ đều thuộc sở hữu nhà nước Ruộngđất thuộc sở hữu nhà nước chiếm số lượng lớn và có hai loại đó là ruộngquốc khố và ruộng đồn điền

* Ruộng quốc khố hay ruộng công do nhà nước trực tiếp quản lý, dướithời Lê sơ ruộng đất chiếm số lượng lớn Trong các làng xã được chia thànhhai loại: xã chỉ có ruộng công và xã vừa có ruộng công vừa có ruộng tư xenlẫn Điều này cho thấy, các làng xã đều có ruộng công nhưng có xã không córuộng tư Ruộng công trong thời kỳ này chia cho mọi người theo phẩm tướcđối với quan lại và thứ bậc xã hội đối với nhân dân trong làng xã [40, 32].Việc nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn duy trì ruộng đất công bởi nó cóquan hệ mật thiết với quyền lợi của nhà nước phong kiến Đối với ruộng đấtcông, nhà nước được thu cả tô lẫn thuế, còn đối với ruộng đất tư nhà nước chỉđược thu thuế

Chính vì vậy để đảm bảo nguồn thu lớn và tăng nguồn ngân sách chokinh tế nhà nước, nhà nước phong kiến luôn coi trọng bảo vệ ruộng đất côngthường xuyên sai quan đo đạc lại ruộng đất, lập sổ điền cẩn thận, đầy đủ đểcó căn cứ thu tô thuế Nhà nước còn dựng cột mốc phân chia ranh giới giữa

Trang 30

ruộng đất công và ruộng đất tư, đồng thời còn đặt ra nhiều quy định nghiêmcấm chiếm đoạt, mua bán ruộng đất công

Theo Phan Huy Chú, vua Lê đã quy định: “Dấu ruộng đất công và

đầm ao không nộp tô thuế, nếu chỉ một mẫu trở lên thì xử biếm (giáng bậc); năm mẫu trở lên thì xử đồ (đi đầy) ; từ năm mươi mẫu trở lên xử lưu (xử tội) Chiếm số ruộng đất quá số hạn định được phép một mẫu bị đánh 80 trượng;

10 mẫu xử biếm một tư (giáng một cấp) Bán ruộng đất nhà nước cấp hoặc thuộc khẩu phần được chia xử 60 trượng, biếm hai tư (giáng hai cấp) Bán

đợ ruộng đất như trên xử 60 trượng và phải chuộc lại ruộng đất” [2, 223].

Như vậy, nhà nước rất quan tâm đến ruộng đất công để đảm bảo quyềnlợi trực tiếp của nhà nước với loại ruộng đất này

* Ruộng đồn điền: Đây là ruộng đất do nhà nước tổ chức khai hoangthành lập Lực lượng chủ yếu trong các đồn điền là người bị tù tội, nông dânlưu tán nghèo đói Lập đồn điền là một trong những chính sách nông nghiệpquan trọng của nhà nước phong kiến Lê sơ ban hành nhằm tăng thêm lươngthực, nông sản, thực phẩm cho nhu cầu đời sống nhân dân và tạo ra nhiều củacải cho đất nước

Năm 1481, Lê Thánh Tông chính thức cho mở rộng quy mô thành lậpcác cơ sở đồn điền ở các địa phương để mở rộng nguồn tích trữ của nhà nước

“Tân Sửu, năm thứ 12[1481]… Lập sở đồn điền Lời chiếu rằng: lập sở đồn

điền là để hết sức làm ruộng, rộng nguồn tích trữ của nhà nước Vậy hạ lệnh đồn điền các xử định làm thượng, trung, hạ ba bậc” [12, 380].

Như vậy, Lê thánh Tông có quy định rõ ràng về đồn điền chia làm baloại: thượng đẳng điền, trung đẳng điền, hạ đẳng điền

Tính từ cuối thế kỷ XV đến những năm đầu thế kỷ XVI, theo thống kêthời Lê Thánh Tông đã thành lập được 43 sở đồn điền trong phạm vi cả nước.Trong các đồn điền thường có chức Chánh phó sứ đồn điền sứ chịu tráchnhiệm trông coi mộ phu, khoanh đất khai phá, lập đồn điền, giao cho nhữngngười tham gia khai phá cày cấy nộp tô Với 43 sở đồn điền là nguồn thu

Trang 31

nhập quan trọng của nhà nước, bảo đảm nguồn thu tô thuế cho nhà nước.Đồng thời cũng giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang, phục hồi kinh tếnông nghiệp vì vậy nhà nước Lê sơ luôn bảo vệ và duy trì ruộng đất đồn điền.

1.2.2.2 Ruộng đất do nhà vua ban cấp.

Dưới thời nhà Trần, nhà nước ban hành chế độ “thái ấp” ban cấp ruộng

đất cho các vương hầu quý tộc Sang thời Lê sơ, đặc biệt dưới thời Lê Thánh

Tông được thay thế bằng chế độ “lộc điền” và có hai loại: loại cấp vĩnh viễn

gọi là ruộng thế nghiệp thường dành cho các vương hầu, công chúa; loại cấpmột đời gọi là ruộng ân tứ Đối với loại ruộng cấp vĩnh viễn, nhà vua thườngnhường quyền sở hữu cho người được cấp ruộng đất và dần dần trở thànhruộng đất tư Đối với ruộng ân tứ, nhà vua chỉ nhường quyền thu tô và sửdụng trong thời hạn nhất định

Dưới thời Lê Sơ, ruộng đất mà vua ban cấp cho vương hầu, quan lạichiếm vị trí khá lớn trong tất cả các loại ruộng đất Một thân vương (bà congần của vua) được cấp 1386 mẫu ruộng đất, trong đó 486 mẫu được cấp vĩnhviễn [2, 73] Như vậy, chế độ lộc điền của nhà Lê sơ có tác dụng củng cố bộmáy quan liêu, củng cố cơ sở xã hội của nhà nước phong kiến (giai cấp địachủ) và là giải pháp xác lập quan hệ sản xuất địa chủ, tá điền và chế độ bóclột địa tô

1.2.2.3 Ruộng đất công làng xã.

Loại ruộng đất này đã tồn tại từ những thế kỷ trước và duy trì đến thế

kỷ XV ở các làng xã với tỷ lệ khác nhau Dưới thời Lê Thánh Tông, để thốngnhất việc phân chia ruộng đất công trong phạm vi cả nước, vua đã ban hànhphép quân điền Theo phép quân điền, cứ sáu năm ruộng đất công làng xãđược chia lại một lần cho các thành viên trong xã từ quan Tam phẩm đến cônhi quả phụ đều được chia ruộng công Mọi người cày cấy ruộng công đềuphải nộp tô cho nhà nước Riêng quan lại từ tứ phẩm trở lên do lộc điền ít nênkhông phải nộp tô [38, 325]

Trang 32

Với chính sách quân điền có tác dụng giải quyết vấn đề ruộng đất trongnông nghiệp, tạo điều kiện củng cố nền kinh tế tiểu nông, thúc đẩy sản xuất,phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp trong cả nước Nhưng với chínhsách quân điền, nhà nước phong kiến đã trói buộc người nông dân vào ruộngđất để bóc lột tô thuế và chịu mọi gánh nặng sưu dịch của nhà nước

1.2.2.4 Ruộng đất tư hữu.

Đến thế kỷ XV – XVI, ruộng đất tư hữu ngày càng mở rộng, trong bộphận ruộng đất này có ba loại: ruộng của nông dân tư hữu, ruộng của địa chủvà một số ít điền trang Trong thời kỳ này bộ phận ruộng tư hữu của địa chủngày càng phát triển cùng với sự gia tăng của hàng ngũ quan lại Ruộng tưhữu của địa chủ ngày càng lấn áp ruộng đất công

Như vậy, với các loại sở hữu ruộng đất như trên, nhà nước phong kiếnViệt Nam vẫn tiếp tục căn cứ vào số ruộng đất này để thu tô thuế của nhândân, đảm bảo nguồn tài chính nuôi sống bộ máy nhà nước

1.2.3 Thuế ruộng đất của nhà nước thời Lê Sơ và Nam – Bắc triều.

Trong các thế kỷ XV – cuối thế kỷ XVI, nhà nước phong kiến ViệtNam vẫn tiến hành thu thuế đối với từng loại ruộng đất và mức độ nặng nhẹkhác nhau Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, ruộng đất thời Lê sơ chịu thuếtheo ba loại: thượng đẳng 60 thăng thóc và 6 tiền/ mẫu; trung đẳng 40 thăngthóc và 4 tiền; hạ đẳng 20 thăng thóc và 3 tiền Tô thuế thời kỳ này chỉ thuđối với ruộng đất công và lần đầu tiên đã xuất hiện thu thuế bằng tiền, mặcdù phần nộp bằng thóc vẫn là chủ yếu [10, 138]

Năm 1498, nhà nước thu thuế đối với bãi dâu và chia làm hai loại: nửatrồng dâu, nửa trồng hoa màu: 1 quan 2 tiền/ mẫu; ruộng chuyên trồng dâu: 1cân 8 lạng tơ / mẫu, quy ra tiền mỗi cân tơ là 8 tiền [10, 139]

Trong thời kỳ nhà Lê sơ, theo các nguồn tài liệu không thấy ghi chépvề việc nhà nước thu thuế ruộng tư Đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đềnày:

Trang 33

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng nhà Lê là đại diện cho quyền lợi của giaicấp địa chủ dân tộc vì cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi được giai cấp địa chủ ủnghộ Đại bộ phận quan lại chủ yếu được chọn lựa qua thi cử, nhiều con em địachủ có điều kiện vào quan trường khác với thời Lý – Trần, quan lại phần lớnxuất thân từ quý tộc theo kiểu cha truyền con nối Chính vì vậy, sau khi nắmđược chính quyền, nhà Lê phải có một số khoan nhượng với giai cấp địa chủ(thổ hào).

Thứ hai, trong thời kỳ này, tuy ruộng đất tư đã phát triển nhưng doruộng công chiếm ưu thế, nguồn cung cấp tô thuế của ruộng công còn nhiềuđủ đáp ứng chỉ tiêu của nhà nước nên không đánh thuế ruộng tư Nhưng có ýkiến khác cho rằng, thuế ruộng tư thường nhẹ hơn thuế ruộng công, miễnthuế ruộng tư chưa ảnh hưởng đến công quỹ nhà nước mà còn tranh thủ đượcsự đồng tình, ủng hộ của người có ruộng để phát triển sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung, thời kỳ này cuộc sống của người nông dân dễ chịu hơn sovới các triều đại trước, đặc biệt dưới thời Lê sơ Bởi xã hội tương đối ổnđịnh, nhà nước Lê sơ quan tâm nhiều đến sản xuất nông nghiệp, đem lạinhững quyền lợi tối thiểu cho người nông dân với chính sách quân điền Bên

cạnh đó, quân đội thời Lê sơ còn theo chế độ “ngụ binh ư nông”, bình

thường vẫn cày cấy sản xuất, được chia khẩu phần ruộng thay lương, khi cóchiến tranh tham gia quân đội thì được nhà nước cấp tiền lương và phụ cấp.Chế độ tô thuế thời kỳ này cũng không quá khắt khe nên nhân dân có cuộcsống khá ổn định

1.3 Thuế ruộng đất thế kỷ XVI – XVIII.

1.3.1 Yếu tố tác động đến chính sách thuế ruộng đất của nhà nước trong thế kỷ XVI – XVIII.

1.3.1.1 Chính trị.

Cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII là những thế kỷ có nhiều biến cốtrong lịch sử phong kiến Việt Nam Tình trạng Nam – Bắc triều chấm dứt chưa

Trang 34

được bao lâu thì xảy ra sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài Một cuộcchiến tranh mới lại bùng nổ, đất nước liên tiếp có những bất ổn về chính trị

Năm 1592, sau khi dẹp xong các tàn dư của nhà Mạc, chiếm lại ThăngLong, Trịnh Tùng rước vua Lê về Đến đầu thế kỷ XVII, một nhà nước mớiđược thành lập dưới triều Lê – Trịnh Vùng đất từ Đèo Ngang trở ra Bắcthuộc quyền cai trị của nhà nước Lê – Trịnh, trong sử thường gọi là ĐàngNgoài Còn nhà Nguyễn làm chủ vùng đất từ nam sông Gianh trở vào gọi làĐàng Trong

Năm 1599, tiết chế Trịnh Tùng buộc vua Lê phải phong cho mình chức

Đô Nguyên soái Tổng quốc chính, tước Thượng phụ Bình An vương Vớichức tước mới, Trịnh Tùng có điều kiện thâu tóm quyền hành trong tay Tuynhiên, để thực hiện nắm chắc mọi quyền bính trong tay, các chúa Trịnh đãthành lập thêm một hệ thống quan lại riêng gọi là Vương Phủ Chúa Trịnh

cũng nắm luôn toàn bộ nền tài chính quốc gia, vua Lê chỉ còn là “bù nhìn”,

tồn tại trên danh nghĩa Tình trạng chính quyền vua Lê – Chúa Trịnh là sảnphẩm đặc biệt trong lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XVI – XVII

Đến đầu thế kỷ XVII, sau khi Nguyễn Hoàng mất (1613), chúa NguyễnPhúc Nguyên lên thay, quan hệ giữa họ Nguyễn với chính quyền Lê – Trịnhbị cắt đứt hoàn toàn Các chúa Nguyễn đã trả về Bắc hết các quan mà trướcđây vua Lê – Chúa Trịnh đã cử vào làm quan ở Đàng Trong, đồng thời cònđình chỉ mọi việc nộp thuế hàng năm cho vua Lê Bên cạnh đó, chúa Nguyễncòn xây dựng quân đội chống lại các cuộc tấn công của chúa Trịnh ChúaNguyễn xây dựng chính quyền riêng của mình theo phương thức khác, mởđầu thời kỳ tách biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong

Các chúa Nguyễn vừa chiến đấu chống chúa Trịnh để bảo vệ vùng biêngiới phía Bắc (Quảng Bình), vừa mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Đếngiữa thế kỷ XVIII, họ Nguyễn đã làm chủ một vùng đất rộng lớn từ Nam dảiHoành Sơn cho đến mũi Cà Mau Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu về mọi mặt,các chúa Nguyễn cũng xây dựng các chính sách thu tô thuế, động viên sức

Trang 35

đóng góp của nhân dân và tạo một nền tài chính quốc gia ngày càng lớnmạnh.

Sang đầu thế kỷ XVIII, chế độ quân chủ chuyên chế ở Đàng Ngoàibước vào thời kỳ khủng hoảng Tình hình chính trị bất ổn, giai cấp thống trịbước vào con đường ăn chơi sa đọa, không chăm lo cho đến việc triều chính,

bỏ bễ nhiệm vụ quản lý đất nước và không quan tâm đến đời sống nhân dân.Mâu thuẫn trong tập đoàn vua Lê – chúa Trịnh ngày càng sâu sắc chém giếtlẫn nhau: mâu thuẫn giữa Trịnh Lệ - Trịnh Sâm, Trịnh Sâm – Thái tử Lê Duy

Vĩ Trịnh Sâm phế con trưởng là Trịnh Khải đưa con của Đặng Thị Huệ làTrịnh Cán còn ít tuổi lên thay Năm 1782, khi Trịnh Sâm chết, Trịnh Khảicùng đồng bọn âm mưu giết nhóm Hoàng Đình Bảo trừ Đặng Thị Huệ, phếTrịnh Cán Nhưng âm mưu không thành, Trịnh Khải bị bắt giam Trịnh Cánđược lập làm chúa nhưng do ít tuổi nên quyền hành rơi vào tay quận côngHoàng Đình Bảo

Mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Lê – Trịnh kéo dài khoảng haitháng thì diễn ra cuộc bạo loạn của quân Tam phủ, giết chết Hoàng ĐìnhBảo, phế truất Trịnh Cán, đưa Trịnh Khải lên ngôi chúa Tình hình chính trịtiếp tục rối ren, quân Tam phủ thả sức tung hoành, nhân dân gọi đó là “loạnkiêu binh”

Trước tình hình chính trị rối ren ấy, phong trào nông dân Tây Sơnbùng nổ và giành thắng lợi Phong trào Tây Sơn đã lần lượt đánh bại cả batập đoàn phong kiến thống trị vua Lê – Chúa Trịnh (Đàng Ngoài), chúaNguyễn (Đàng Trong), tiêu diệt bọn xâm lược Xiêm La và nhà Thanh (TrungQuốc) Phong trào Tây Sơn đã giành lại chủ quyền dân tộc, khôi phục thốngnhất đất nước Triều đại Tây Sơn được thiết lập và đề ra những cải cách tiếnbộ khôi phục tình hình đất nước sau nhiều năm chiến tranh Từ cuối năm

1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế thành lập một vương triều riêng trênvùng đất từ Thuận Hóa (Bắc đèo Hải Vân) trở ra Bắc Vua Quang Trung đãnhanh chóng ổn định tình hình xã hội, phục hồi sản xuất, phát triển nông

Trang 36

nghiệp mở rộng buôn bán trong và ngoài nước Cùng với đó, nhà nước cũngxem xét lại chế độ tô thuế để củng cố nguồn tài chính quốc gia

Cuối thế kỷ XVIII vương triều Tây Sơn bị đánh bại, đầu thế kỷ XIXtriều Nguyễn được thành lập Lịch sử phong kiến Việt Nam bước sang mộttrang sử mới với nhiều thay đổi

Như vậy, trong suốt thế kỷ XVI – XVIII tình hình chính trị trong nướcxảy ra nhiều bất ổn đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội Nhà nướcphong kiến phải có những chính sách kinh tế - xã hội phù hợp để giải quyếtcuộc khủng hoảng xã hội lúc bấy giờ và ổn định đất nước

1.3.1.2 Kinh tế - xã hội

Từ cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII tình hình kinh tế, xã hội Đại Việtgặp nhiều khó khăn do bất ổn về chính trị, đất nước luôn trong tình trạng loạnlạc, chiến tranh kéo dài

Cuối thế kỷ XVI, ruộng công làng xã đã dần bị bọn cường hào địaphương lũng đoạn nên ngày càng thu hẹp Tình hình đó làm cho chế độ lộcđiền của nhà Lê – Trịnh bị phá sản, trong các làng xã xuất hiện tình trạng ẩnlậu ruộng đất công, khai giảm diện tích ở nông thôn và hình thành một bộphận cường hào nông thôn độc quyền chi phối ruộng đất công

Sang thế kỷ XVIII vấn đề ruộng đất ở Đàng Ngoài trở nên cấp thiết.Tình trạng chiếm đoạt, xâm lấn ruộng đất của giai cấp địa chủ đối với nôngdân làng xã hết sức phổ biến Cường hào địa chủ địa phương không nhữngchiếm đoạt ruộng đất tư của dân mà còn lũng đoạn ruộng đất công của nhànước Chính sách quân điền của nhà nước không còn tác dụng bảo đảm ruộngđất cho nông dân cày cấy Năm 1728, chúa Trịnh Cương đã phải kêu lên

rằng: “Ruộng đất rơi hết vào tay nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có

một miếng đất cắm rùi” [38, 395] Bên cạnh đó ruộng đất tư hữu phát triểncao độ Việc mua bán ruộng đất, kiện tụng ruộng đất diễn ra phổ biến Cácchúa Trịnh đã có một số biện pháp hạn chế sự phát triển của ruộng tư song đóchỉ là những biện pháp tình thế Do hậu quả của sự phát triển mạnh của chế

Trang 37

độ tư hữu về ruộng đất, sự quan tâm của nhà nước không còn như trước nêndẫn đến tình trạng nhân dân phiêu tán, bỏ làng đi “tha phương cầu thực”.

Tình trạng chấp chiếm ruộng đất của giai cấp địa chủ làm cho vấn đềruộng đất trở nên gay go Đến giữa thế kỷ XVIII, ở Đàng Trong xảy ra tìnhtrạng, ruộng công hoặc có người đem bán hoặc cầm cố, bỏ hoang số còn lạibị nhà giàu xâm chiếm khiến người nông dân nghèo không có miếng đất cắmrùi, cày cấy Ở Đàng Trong bên cạnh ruộng công làng xã còn có loại ruộngquan điền trang và quan đồn điền Về thực chất đây là ruộng tư của chúa

Theo Lê Quý Đôn: “ Chúa Nguyễn lấy làm của tư, cho dân cày cấy hoặc

thuê người cày cấy, mỗi kỳ sai người coi gặt, cho thuyền chở về để sung vào kho của Chúa, cấp ngụ lộc cho người trong họ và bề tôi trên dưới” [38, 361].

Sang thời kỳ nhà Tây Sơn, sau khi đánh bại quân Thanh thống nhất đấtnước, vương triều mới của Nguyễn Huệ thừa hưởng một di sản khá nặng nề

do triều đại cũ để lại trong đó tình hình kinh tế, xã hội là vấn đề cơ bản Năm

1789 “Chiếu khuyến nông” được ban bố đã đúc kết lại: “Từ lúc trải qua loạn

lạc đến nay, binh lửa liên miên bận rộn, lại thêm đói kém, nhân khẩu lưu tán, đồng ruộng bỏ hoang Số đinh điền thực trưng mười phần không còn được 4,5 …” [38, 431] Trước tình hình đó vấn đề đặt ra cho chính quyền Quang

trung là làm gì để hồi phục nhanh chóng nền sản xuất nông nghiệp, ổn địnhtình hình xã hội từ đó xây dựng một quốc gia giàu mạnh Chính quyền QuangTrung đã có những giải pháp cố gắng giải quyết vấn đề ruộng đất cuối thế kỷXVIII ở Đàng Ngoài, nhanh chóng phục hồi sản xuất, phát triển nông nghiệpvà có những điều chỉnh chế độ tô thuế nhằm củng cố ngân sách quốc gia

Tình hình công thương nghiệp: Trong các thế kỷ XVI – XVIII đã cónhững bước phát triển vượt bậc so với thời kỳ trước trong lĩnh vực thủ côngnghiệp và thương nghiệp Tuy nhiên, do sự nhũng nhiễu cướp đoạt tùy tiệncủa bọn quan lại phụ trách quan thuế và tàu vụ, cùng với tình hình xã hội bấtổn nên cuối thế kỷ XVIII nền công nghiệp bị suy sụp

Trang 38

Mặt khác ở thế kỷ XVIII, người nông dân phải thường xuyên đối mặtvới cảnh hạn hán, mất mùa, thiên tai, đói kém Ở Đàng Trong có tới 40 nămdiễn ra cảnh thiên tai, đói kém, nhân dân phiêu tán Người nông dân bị bần

cùng “tức nước vỡ bờ” đã tham gia vào các cuộc khởi nghĩa bảo vệ cuộc

sống và đòi tự do Trong thời kỳ này có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ

ra như khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, NguyễnDanh Phương, Hoàng Công Chất…Tiêu biểu nhất là phong trào nông dânTây Sơn Chính vì vậy, thế kỷ XVIII vẫn được xem là “thế kỷ của phong tràonông dân”

Như vậy, tình hình kinh tế, xã hội ở các thế kỷ XVI – XVIII có nhiềubiến động Tình trạng phát triển mạnh của ruộng đất tư hữu, ruộng công làngxã ngày càng bị thu hẹp Trước tình hình đó, nhà nước phong kiến Việt Namphải có những biện pháp nhằm hạn chế sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất,đồng thời mở rộng diện tích công bằng việc vận động nhân dân khai hoang,phục hóa Đây là cơ sở để nhà nước phong kiến có những thay đổi về chế độ

tô thuế tăng nguồn thu cho nhà nước

1.3.2 Chế độ thuế ruộng đất từ cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII 1.3.2.1 Chế độ thuế ruộng đất ở Đàng Ngoài

Trong tình hình đất nước liên tiếp xảy ra chiến tranh, ngân quỹ nhànước bị thiếu hụt, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã tăng cường bóc lột nông dânbằng cách tăng mức thu thuế đối với các loại ruộng đất

Về thuế ruộng đất công: năm 1664, nhà nước ban hành hai lệ thuế khácnhau Lần thứ nhất, ruộng đất công được chia thành ba loại: [36, 118]

- Ruộng quan (công) thu thuế 10 thăng/mẫu

- Ruộng cấp tứ, thế nghiệp, đồn điền… nộp 40 thăng/ mẫu

- Ruộng thông cáo, chiếm xạ… nộp 20 thăng/ mẫu

Sau khi nhà nước ban hành phép “Bình lệ” lệ thuế lần hai cũng được

ban hành:

Trang 39

- Ruộng công làng xã chịu thuế theo ba hạng: 1 quan – 8 tiền – 6tiền/ mẫu

- Ruộng công thần, sứ thần, khẩu phần binh lính được miễn thuế

- Ruộng điện huy văn, quan khố: 18 thăng/ mẫu

Bên cạnh đó theo sử cũ ghi: “lệ cũ nộp thóc, nay cho nộp tiền, cứ 100

thăng nộp 3 quan” [36, 118].

Theo ghi chép của Phan Huy Chú, lệ thuế năm 1670 thì ruộng đất phải

nộp cả tiền lẫn thóc: [36, 119].

hạng nhất

Tiền hạng nhì

Tiền hạng ba

Ruộng công khẩu phần 30 thăng 1 quan 8 tiền 6 tiền

tiền

1 quan 1tiền

9 tiền

Ruộng miễn hoàn Không 5 tiền 4 tiền 3 tiền

Ruộng thông cáo, chiếm

xạ

20 thăng 6 tiền 5 tiền 4 tiền

tiền

1 quan 1tiền

9 tiền

tiền

1 quan 8tiền

1 quan 6tiền

Năm 1722, chúa Trịnh đưa ra chính sách thuế mới, hợp các loại ruộngđất thành hai loại ruộng công và ruộng tư, xóa bỏ lệ miễn thuế cho ruộng tưtồn tại hơn 300 năm qua Theo đó, nhà nước định rõ: [38, 358]

1 vụ 8 tiền (1/3 là thóc) 1 vụ 2 tiền

2 vụ 8 tiền (2/3 là thóc) 2 vụ 3 tiền

Năm 1728, nhà nước định lại thuế như sau: [36, 122]

Trang 40

Ruộng công (mẫu) Mức tô Ruộng tư (mẫu) Mức

lầy

lầy

1tiền

tiền

Đối với loại đất bãi nhà nước chia thành năm loại đánh thuế từ 4 tiền –

1 quan 3 tiền/ mẫu Các hạng ruộng kỵ, ruộng hậu, ruộng tế… phải nộp thuế

điều trần của Bùi Sĩ Tiêm năm 1730: “Người cày ruộng ấy (tư, tạm chia lại

cho nông dân không đất) chiếu số thóc thu được lấy ra 1/10 để nộp thuế, còn bao nhiêu chia đôi, một nửa đem nộp cho người chủ cũ…” [36, 124] Qua

đây có thể thấy mức thuế thông thường trong xã hội đương thời là 50% thuhoạch, nhiều nơi thuế ruộng đất tư cao hơn 50%

Như vậy, mức tô thuế ở Đàng Ngoài không ngừng tăng lên, diện đánhthuế được mở rộng từ ruộng chân núi, ruộng sâu lầy, ruộng mặn, ruộng củađền, chùa, tế tự, hậu thần, hậu phần đến ruộng đất tư Hình thức tô thuế bằng

Ngày đăng: 06/07/2023, 17:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2008). Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triềuNguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
2. Phan Huy Chú (2007). Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2007
3. Hồ Tuấn Dung (2002). Chính sách thuế của thực dân Pháp ở Bắc kỳ từ 1897-1945. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thuế của thực dân Pháp ở Bắc kỳ từ1897-1945
Tác giả: Hồ Tuấn Dung
Năm: 2002
4. Nguyễn Khắc Đạm (1977). Thêm một số ý kiến về chế độ ruộng đất và tô thuế thời Lý – Trần. Nghiên cứu lịch sử, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm một số ý kiến về chế độ ruộng đất vàtô thuế thời Lý – Trần
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Năm: 1977
5. Nguyễn Khắc Đạm (1981). Về vấn đề ruộng công và ruộng tư trong lịch sử Việt Nam. Nghiên cứu lịch sử, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề ruộng công và ruộng tư tronglịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Năm: 1981
6. Trần Văn Giàu (1958). Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858 (Sơ khảo). NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhàNguyễn trước 1858 (Sơ khảo)
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1958
7. Đỗ Đức Hùng (1999). Tác động của thiên tai lũ lụt đối với các cuộc bạo động ở nông thôn Bắc Bộ dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX.Nghiên cứu lịch sử, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của thiên tai lũ lụt đối với các cuộcbạo động ở nông thôn Bắc Bộ dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Đỗ Đức Hùng
Năm: 1999
8. Hội khoa học Việt Nam (2008). Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX. NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học ChúaNguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đếnthế kỷ XIX
Tác giả: Hội khoa học Việt Nam
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2008
9. Trần Trọng Kim (2005). Việt Nam sử lược. NXB Tổng hợp thành phốHồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phốHồ Chí Minh
Năm: 2005
10. Phan Huy Lê (1959). Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Lê sơ (thế kỷ XV). NXB Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Lê sơ(thế kỷ XV)
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Văn Sử Địa
Năm: 1959
11. Phan Huy Lê (1965). Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 3 (thời kỳ khủng hoảng và suy vong). NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1965
12. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2004). Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2. NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2004
13. Phan Ngọc Liên (Cb) (2009). Từ điển Thuật ngữ Lịch sử phổ thông.NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ Lịch sử phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Cb)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
14. Phan Ngọc Liên (Cb) (2005). Lịch sử nhà Nguyễn – Một cách tiếp cận mới. NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Nguyễn – Một cách tiếp cậnmới
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Cb)
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2005
15. Bùi Quý Lộ (1998). Vấn đề ruộng đất trong phong trào đấu tranh của nông dân đồng bằng ven biển Bắc Bộ dưới triều Nguyễn . Nghiên cứu lịch sử số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ruộng đất trong phong trào đấu tranh củanông dân đồng bằng ven biển Bắc Bộ dưới triều Nguyễn
Tác giả: Bùi Quý Lộ
Năm: 1998
16. Nguyễn Cảnh Minh, Đào Tố Uyên, Võ Xuân Đàn (2008). Giáo trình lịch sử Việt Nam, tập 3 (từ đầu thế kỷ XVI đến 1858). NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhlịch sử Việt Nam, tập 3 (từ đầu thế kỷ XVI đến 1858)
Tác giả: Nguyễn Cảnh Minh, Đào Tố Uyên, Võ Xuân Đàn
Nhà XB: NXB Đại học Sưphạm Hà Nội
Năm: 2008
17. Nguyễn Cảnh Minh, Đào Tố Uyên (2009). Một số chuyên đề lịch sử cổ trung đại Việt Nam. NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử cổtrung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cảnh Minh, Đào Tố Uyên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
18. Nguyễn Đức Nghinh (1981). Về vấn đề ruộng đất và phong trào nông dân ở thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Nghiên cứu lịch sử, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề ruộng đất và phong trào nôngdân ở thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Đức Nghinh
Năm: 1981
19. Nội các triều Nguyễn (2005). Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập III. NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
Tác giả: Nội các triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2005
20. Nhiều tác giả (2007). Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn. NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn hóaSài Gòn
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê các quyết định miễn thuế ở các địa phương - Vấn đề ruộng đất nói chung và vấn đề thuế ruộng đất nói riêng,
Bảng th ống kê các quyết định miễn thuế ở các địa phương (Trang 88)
Bảng giảI  thích từ viết tắt - Vấn đề ruộng đất nói chung và vấn đề thuế ruộng đất nói riêng,
Bảng gi ảI thích từ viết tắt (Trang 122)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w