1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng cặp phạm trù cái riêng cái chung để giải quyết vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế ở việt nam

13 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục đào sâu và vận dụng nó vào hoạt động để giải quyết vấn đề thực tiễn, nhóm chúng em xin vận dụng cặp phạm trù cái riêng cái chung để giải quyết vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lậ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM Môn: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

-* -Chủ đề 01:

Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù

“cái riêng và cái chung”, hãy vận dụng để nhận thức và giải

quyết một vấn đề của thực tiễn.

Lớp : 4616 - N08 Nhóm: 01

Hà Nội - 2021

Trang 2

MỞ ĐẦU

Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học đóng vai trò là cơ sở lý luận,

là “hạt nhân” của thế giới quan, định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử Từ khái niệm tổng quát về triết học đã cho thấy triết học Mác – Lênin cũng đã thừa hưởng và đáp ứng tính cơ bản và cốt yếu của triết học nói chung Triết học Mác – Lênin cung cấp cho con người thế giới quan duy vật biện chứng dưới góc nhìn đa chiều đa diện để đưa ra những lập luận bao quát nhất và những giải pháp hữu hiệu nhất Triết học Mác – Lênin được xây dựng trên cơ sở trong đó có 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3 quy luật của phép biện chứng duy vật Sau đây, thông qua bài viết này, nhóm chúng em xin đi sâu hơn vào 1 trong 6 cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin, đó là cặp phạm trù “cái riêng và cái chung”

Có thể nói “cái riêng và cái chung” là cặp phạm trù cơ bản, đặc trưng nhất trong hệ thống các cặp phạm trù của phép biện chứng, sự nhận thức thường bắt đầu từ nó Cái riêng và cái chung có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng trong thực tế Nhận thức được cái riêng, cái chung và hiểu được ý nghĩa phương pháp luận của nó để có thể nắm vững cái nền tảng cơ bản cốt lõi đồng thời dễ dàng xác định được phương hướng hoạt động và phát triển Tiếp tục đào sâu và vận dụng nó vào hoạt động để giải quyết vấn đề thực tiễn, nhóm chúng em xin

vận dụng cặp phạm trù cái riêng cái chung để giải quyết vấn đề xây dựng nền

kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Trang 3

NỘI DUNG

I Lý thuyết về cái chung, cái riêng

1 Khái niệm phạm trù

Phạm trù có thể hiểu là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt,

những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định Mỗi trường phái khác nhau lại có quan điểm về phạm trù khác nhau

2 Định nghĩa

Để hiểu được nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” để vận dụng trên thực tiễn, trước tiên cần hiểu khái niệm thế nào là cái chung và cái riêng

Cái riêng được định nghĩa là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện

tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định

Còn cái chung được hiểu là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

VD: Một trường học có 8 lớp 12, mỗi lớp ấy là một cái riêng đồng thời mỗi

lớp ấy đều phải tham gia giảng dạy, đều phải tham gia các hoạt động của trường Việc mà mỗi lớp đều phải làm đó là cái chung

3 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung

Có thể thấy, giữa cái riêng và cái chung có mối quan hệ biện chứng với nhau:

Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng để bộc

lộ cái chung đó Cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng mà chỉ tồn tại trong cái riêng

Chẳng hạn như giữa các sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội có cái chung

là đều học ở trường Đại học Luật Hà Nội, đều là sinh viên của trường Đại học Luật Hà Nội Khi đó, học ở Đại học Luật Hà Nội, là sinh viên Đại học Luật Hà Nội là những cái chung đều có ở những sinh viên trường Đại học luật Hà Nội và

Trang 4

chắc chắn nó phải tồn tại trong một sinh viên , tạo nên cái riêng của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội

Thứ hai, “cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung” Tức

cái riêng tồn tại độc lập, nhưng sự độc lập này không có nghĩa là cô lập với những cái khác Thông qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn sự chuyển hóa,

cái riêng của loại này có liên hệ với những cái riêng của loại khác Bất cứ cái

riêng nào cũng tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định, tương tác với

môi trường, hoàn cảnh ấy, do đó đều tham gia vào các mối liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật, hiện tượng khác xung quanh mình Các mối liên hệ qua lại này cứ trải rộng dần, gặp gỡ rồi giao thoa với các mối liên hệ qua lại khác, kết quả là tạo nên một mạng lưới các mối liên hệ mới, trong đó có những mối liên hệ dẫn đến một hoặc một số cái chung nào đó

Thứ ba, “cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung”.

Bởi vì “cái chung” được rút ra từ “cái riêng”, nên rõ ràng nó là một bộ phận của “cái riêng” Mặt khác, bên cạnh những thuộc tính được lặp lại ở các sự vật khác, bất cứ “cái riêng” nào cũng còn chứa đựng những đặc điểm, thuộc tính

mà chỉ “cái riêng” đó mới có Tức là, bất cứ “cái riêng” nào cũng chứa đựng

những “cái đơn nhất”.

4.Ý nghĩa phương pháp luận

4.1 Phải xuất phát từ cái riêng để tìm cái chung.

“cái chung” chỉ tồn tại trong và thông qua “cái riêng”, nên chỉ có thể tìm hiểu, nhận thức về cái chung trong cái riêng chứ không thể ngoài cái riêng Để phát hiện, đào sâu nghiên cứu cái chung, ta phải bắt đầu nghiên cứu từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người

4.2 Cần nghiên cứu cải biến cái chung khi áp dụng cái chung vào từng trường hợp cái riêng.

Trang 5

cái chung tồn tại như một bộ phận của cái riêng, bộ phận đó tác động qua lại với những bộ phận còn lại của cái riêng mà không gia nhập vào cái chung, nên bất cứ cái chung nào cũng tồn tại trong cái riêng dưới dạng đã bị cải biến Tức là, luôn có sự khác biệt một chút giữa cái chung nằm trong cái riêng này

cái chung nằm trong cái riêng kia Sự khác biệt đó là thứ yếu, rất nhỏ, không làm thay đổi bản chất của cái chung Do đó, bất cứ cái chung nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng lẻ cũng cần được cải biến, cá biệt hóa Nếu không chú ý đến sự cá biệt hóa, đem áp dụng nguyên xi cái chung, tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ rơi vào sai lầm của những người giáo điều, tả khuynh.

Ngược lại, nếu xem thường cái chung, tuyệt đối hóa cái đơn nhất, thì lại rơi vào sai lầm của việc chỉ bảo tồn cái vốn có mà không tiếp thu cái hay từ bên ngoài Đó là sai lầm của những người xét lại, bảo thủ, trì trệ, hữu khuynh

4.3 Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn đề riêng.

Vì cái riêng gắn bó chặt chẽ với cái chung, không tồn tại bên ngoài mối liên

hệ dẫn tới cái chung, nên nếu muốn giải quyết những vấn đề riêng một cách hiệu quả thì không thể bỏ qua việc giải quyết những vấn đề chung

Nếu không giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề mang ý nghĩa lý luận thì sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện Nếu bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung thì ta sẽ không có định hướng mạch lạc

II Vận dụng

1 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam là một câu chuyện phát triển thành công Những cải cách kinh tế từ năm 1986 kết hợp với những xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp Việt Nam phát triển từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng một thế hệ

Sau hơn 30 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hiện cả nước

có khoảng 334 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 26.600 dự án còn hiệu lực Theo

Trang 6

đó, khu vực FDI đã ngày càng phát triển, trở thành một trong những khu vực năng động nhất của nền kinh tế FDI đã đóng góp lớn trong việc gia tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam Đến nay, khu vực FDI chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; góp phần tăng thu ngân sách, tạo việc làm cho người dân, ổn định tình hình xã hội

Riêng năm 2018, Việt Nam đã thu hút 1.918 dự án cấp phép mới, với số vốn đăng ký đạt hơn 13,481 tỷ USD, tăng 18,1% về số dự án và 0,2% về vốn đăng

ký so với năm 2017

FDI có vai trò quan trọng, trở thành “điểm sáng” của nền kinh tế Việt Nam FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin Đây là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn cũng như thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bất chấp những khó khăn từ rào cản thương mại, sự gia tăng bảo hộ của các nước hay căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chinh phục “đỉnh cao” mới Từ năm 2016 đến nay, tăng trưởng kinh tế luôn đạt cao hơn mức bình quân của giai đoạn 2011-2015, các chỉ số kinh tế vĩ mô đều tích cực, nhất là đầu tư nước ngoài và xuất nhập khẩu Năm 2018, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 7,08%, mức cao nhất trong vòng 10 năm và có khả năng tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 7% vào năm 2019

Đặc biệt đại dịch Covid-19Chính phủ đã thực hiện tốt vai trò quản lý và kiến tạo Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đang được nâng lên Đáng chú ý, các chỉ số

về kết quả hội nhập kinh tế đã đạt được ở mức cao Theo báo cáo của Chính phủ, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tính chung cả giai đoạn

2016-2020, đạt 167,8 tỷ USD

Trang 7

Hiện đã có hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào Việt Nam Vốn FDI vào Việt Nam chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam từ 2018 đến 2020 Đến nay

đã có hơn 70 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thành công là nhân tố trọng yếu để tăng cường nội lực của đất nước

2 Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế là một yếu tố khách quan

2.1 Cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại.

Sau khi kiện toàn bộ máy nhà nước, chấm dứt chiến tranh bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải đưa nền kinh tế nhanh chóng vượt ra khỏi khủng hoảng xã hội như đối mặt với nạn “giặc đói, giặc dốt”, khan hiếm hàng hóa, nền kinh tế bao cấp bị đình trệ kiệt quệ sau chiến tranh, thụ động, Trung Quốc chưa từ bỏ dã tâm với 2 quần đảo và các tỉnh vùng biên giới cùng theo đó là lệnh bao vây cấm vận các nước chủ nghĩa chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ

 Lúc này, cái chung thể hiện ở chỗ đặc điểm chung của các nước xã hội chủ nghĩa là đi lên xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và Việt Nam cũng ý thức được tầm quan trọng của việc làm này

2.2 Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú và đa dạng; cái chung là cái cục bộ, sâu sắc và bản chất

 Phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng

Điều này thể hiện ở việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng và thực sự cần thiết để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong hiện tại và mãi mãi về sau ở việc:

Thứ nhất, trong hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta chưa làm tốt việc đảm bảo

độc lập, tự chủ, còn phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường

Chẳng hạn Trung Quốc: Về xuất khẩu các mặt hàng nông,lâm,thủy sản tươi sống của Việt Nam thì thị trường Trung Quốc chiếm tỉ lệ áp đảo, đối với Trung

Trang 8

Quốc thì Việt Nam là nước nhập siêu Vì vậy, chỉ cần nền kinh tế của Trung Quốc biến động thì Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không nhỏ

 Chính vì vậy cần phải xây dựng nền kinh tế có tính ĐỘC LẬP

Thứ hai, chưa thể hiện sự đồng bộ, nhất quán trong việc xây dựng nền kinh tế

độc lập tự chủ, hội nhập kinh tế quốc tế từ trung ương đến địa phương, giữa các ban ngành, doanh nghiệp và trong cả nhân dân cũng đa phần chưa có hiểu biết nhiều

Thứ ba, vẫn còn lúng túng khi chưa thể triển khai 1 chiến lược cụ thể, tổng

quát về hội nhập kinh tế quốc tế còn chưa thực sự chủ động nên đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội to lớn

VD: Trong xuất khẩu, Việt Nam bị thua ngay cả ở những mặt hàng chủ lực

như gạo, cà phê Do đó cần phải xây dựng nền kinh tế có tính TỰ CHỦ

Từ những vấn đề trên, Đảng đã nhận thức rõ hơn được vấn đề mà VN ta đang gặp phải và hoạch định ra những chủ trương, chính sách hợp lý để xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ

2.3 Việc xây dựng nền kinh tế VN độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế là yếu tố “khách quan”

Điều này được thể hiện ở việc Đảng cộng sản VN thấy điều này thực sự cần thiết và là phương án tối ưu nhất để khôi phục và phát triển nền kinh tế theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Không chỉ vậy nó đáp ứng được yêu cầu khi Việt Nam hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới: tự chủ và độc lập; đảm bảo được lợi ích tối đa cho nhân dân - yếu chỉ xuyên suốt trong quá trình hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam

Quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập kinh tế đã được trải qua các thời kỳ lịch sử, và tiếp tục được triển khai và phát huy trong tương lai sắp tới của Việt Nam Điều này được thể hiện rõ nét trong Đại hội XIII của Đảng Đảng đã thể hiện tư duy mới cũng như nội hàm mới về xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ

Trang 9

Thứ nhất, đó là hướng tiếp cận mới của Đại hội XIII về xây dựng nền kinh tế

Việt Nam Thực tế trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta, một mặt, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của tiến trình cách mạng Trong đó, vấn đề khát vọng độc lập dân tộc và phát triển luôn là nguồn mạch trong tư duy cũng như trong chỉ đạo thực tiễn của Đảng Trong thời kỳ đổi mới, khía cạnh phát triển càng trở nên nổi bật trong suốt hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng ta

Mặt khác, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là 1 trong 3 nội dung cốt lõi của hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Điều này vừa thể hiện cách tiếp cận mới phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, vừa thể hiện tư duy mới trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

Thứ hai, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đòi hỏi thích ứng với nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; không tách rời việc hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phù hợp với tầm nhìn về bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là cao nhất, song lại không trái với các nguyên tắc phát triển phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đang ký kết Đồng thời, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ không phải là nền kinh tế khép kín, mà là nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập Đây là sự nhất quán trong cách tiếp cận của Đại hội XIII, là điểm mới so với các văn kiện tại các kỳ đại hội trước của Đảng ta Đặc biệt là trong thời gian tới, dự báo toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc; luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn; kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19; sự điều chỉnh chính sách, quan hệ đối ngoại của các nước lớn trong khu vực và trên thế giới diễn biến khó đoán định

Thứ ba, những điểm mới về nội dung xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ

được bao quát, thống nhất từ việc độc lập, tự chủ về đường lối tới các biện pháp

Trang 10

thực hiện để bảo đảm nền kinh tế độc lập, tự chủ Đại hội XIII chỉ rõ: “Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững vị thế, cân đối ngân sách, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia”

 Từ phương pháp luận “cái chung - cái riêng” , Đảng đã thực sự nhận thức đúng đắn, triệt để và hợp lý từ đó có những chủ trương, chính sách áp dụng vào tình hình kinh tế Việt Nam

3 Các giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế

Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước

Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài

Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, qua đó, vừa khai thác tiềm năng, lợi thế của các thị trường, vừa tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động

Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung tháo gỡ các “nút thắt” trong phát triển kinh tế là cơ sở hạ tầng lạc hậu, nguồn nhân lực chất lượng thấp và hệ thống thể chế kinh tế còn nhiều bất cập

Đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại, đảm bảo độc lập, tự chủ về kinh tế trong tình hình mới, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Đồng thời,

Ngày đăng: 12/04/2022, 22:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w