Bài viết sau đề cập đến cơ cấu nguồn vốn hiện tại và khả năng huyđộng, sử dụng vốn đầu tư cho kinh tế giai đoạn 2001-2005 và đặc biệt là đi sõu vào phõn tớch hoạt động của hệ thống NH -
Trang 1Lời mở đầu
Để thực hiện mục tiờu tăng trưởng và phỏt triển nền kinh tế trong thời
kỳ mở cửa và hội nhập thỡ một trong những vấn đề quan trọng và cầnthiết đú chớnh là vốn đầu tư
Với nền kinh tế cũn nhỏ hẹp, non yếu, sản xuất hàng húa chỉ đủ phục
vụ cho tiờu dựng vỡ thế tỉ lệ tiết kiệm là thấp Bờn cạnh đú, với thúi quencủa người Việt Nam tiết kiệm tức là để dành( dự trữ tiền, tài sản, vậtphẩm quý hiếm, vàng, kim loại quý ) thỡ huy động phần tiết kiệm dànhcho đầu tư là rất ớt và mới mẻ, dẫn dến tỡnh trạng thiếu vốn đầu tư, gõykhú khăn lớn trong phỏt triển kinh tế Vấn đề đặt ra ở đõy chớnh là tăngkhối lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhằm nõng cao năng lực nội sinhtiến tới tăng trưởng và phỏt triển bền vững
Bài viết sau đề cập đến cơ cấu nguồn vốn hiện tại và khả năng huyđộng, sử dụng vốn đầu tư cho kinh tế giai đoạn 2001-2005 và đặc biệt là
đi sõu vào phõn tớch hoạt động của hệ thống NH - kờnh huy động và phõn
bổ vốn đầu tư quan trọng trong tương lai
Bài viết bao gồm những nội dung chính sau đây: Phần I: Vốn đầu t là và vai trò của hệ thống ngân hàng
trong tăng trởng và phát triển kinh tế, đa ra các vấn đềliên quan đến sự tăng trởng; phát triển; vai trò của vốn
đầu t và khái quát chung về hệ thống ngân hàng
Phần II: Đánh giá thực trạng của hệ thống ngân hàng
trong việc thu hút, phân bổ nguồn vốn, nêu lên tìnhhình thực hiện vốn đầu t nói chung và trong hệ thốngngân hàng nói riêng giai đoạn 2001 – 2005
Trang 2Phần III: Đề xuất kế hoạch thu hút và phân bổ nguồn
vốn trong hệ thống ngân hàng giai đoạn 2006 – 2010 đó
là các giải pháp kiến nghị và định hớng trong giai đoạntới
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song thời gian có hạnnên không thể tránh khỏi sự sai sót Em rất mong nhận đ-
ợc những ý kiến đóng góp của Thầy cô và bạn bè để bàiviết có thể hoàn chỉnh hơn
Trang 3Phần I: Vốn đầu tư và vai trò của hệ thống NH trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
I Việt Nam-nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
Tiến trình phát triển của Việt Nam từ nền kinh tế tập trung chuyểnsang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Đây là giai đoạn quá
độ của Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế thị trường phát triển Chínhtrong giai đoạn này thì việc huy động các nguồn lực để tạo nên sự tăngtrưởng và phát triển là một việc làm hết sức cần thiết Để thực hiện đượcmục tiêu này chúng ta phải đi vào tìm hiểu bản chất và các nhân tố ảnhhưởng đến quá trình đó
1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế
-Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm( hay giatăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định
Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nềnkinh tế tạo ra Do vậy để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùngmức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kỳ sau so với thời
kỳ trước Đó là mức tăng (%) hay tuyệt đối hàng năm, hay bình quântrong một giai đoạn
-Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên( hay tăng tiến)
về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó baogồm cả sự tăng thêm vêc qui mô sản lượng( tăng trưởng) và sự tiến bộ về
cơ cấu kinh tế- xã hội
Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biếncủa nền kinh tế, từ trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn Do vậykhông có tiêu chuẩn chung về sự phát triển Để nói lên trình độ phát triển
Trang 4cao, thấp khác nhau giữa các nền kinh tế trong mỗi thời kỳ, các nhà kinh
tế học phân quá trình đó ra các nấc thang; kém phát triển, đang phát triển
và phát triển gắn với nấc thang đó là những giá trị nhất định, mà hiện tạichưa có sự thống nhất hoàn toàn
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.
Như ta đã biết sự gia tăng sản lượng hiển nhiên đã cho thấy tăngtrưởng được tạo ra từ quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất là quá trình các nguồn lực( nguồn các đầu vào)được kết hợp theo các cách thức nhất định, nhằm tạo ra các sản phẩm cóích( sản lượng - đầu ra) theo nhu cầu của xã hội Như vậy việc sử dụngcác nguồn đầu vào có quan hệ nhân quả tới sản lượng- đầu ra Nói cáchkhác sự tăng trưởng hay sự gia tăng sản lượng phải xác định cách thức sửdụng các luồng đầu vào và trong đó vốn; lao động; công nghệ là nhữngyếu tố đầu vào quan trọng nhất quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế
Trong điều kiện năng suất không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ làm tăngthêm sản lượng, hoặc trong khi số lao động không đổi, tăng vốn bìnhquân đầu người lao động, cũng sẽ làm gia tăng sản lượng
1.2.2 Lao động
Lao động là yếu tố sản xuất Nguồn sức lao động được tính trên tổng
số người ở tuổi lao động và có khả năng lao động trong dân số Nguồnlao động với tư cách là yếu tố đầu vào trong sản xuất, cũng giông như
Trang 5các yếu tố khác được tính bằng tiền, trên cơ sở gía cả lao động được hìnhthành do thị trường và mức lương quy định
1.2.3 Công nghệ
Những thành tựu công nghệ mới là đầu vào đóng vai trò cực kỳ quantrọng bằng sự tiến bộ của các nước NIC trong mấy chục năm gần đây, donhững thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa lại Những kỹ thuật vàcông nghệ mới ra đời là do sự tích lũy kinh nghiệm trong lịch sử và đặcbiệt là được tạo ra từ những trí thức mới - sự phát minh, đem áp dụngcác quy trình sản xuất hiện tại Sự chuyển nhượng và ứng dụng nhữngphát minh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, rõ ràng làlợi thế lịch sử của các dân tộc, các nước kém phát triển
2 KHH vốn đầu tư trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1 Kế hoạch
Kế hoạch là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốcdân, nó là sự cụ thể hóa các mục tiêu định hướng phát triển theo từngthời kỳ bằng hệ thống các chỉ tiêu mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp địnhhướng phát triển và hệ thống các chính sách, cơ chế áp dụng cho thời kỳ
Trang 6Sự thay đổi của tiết kiệm NSNN thường phục thuộc vào các yếu tố: sựtăng giảm tổng số thu NSNN ( nguồn thu của nước ta hiện nay chủ yếuthông qua hệ thống thuế, sự tăng giảm khoản thu thuế thay đổi gắn với sựtăng trưởng của nền kinh tế); việc bán tài nguyên, bán hay cho thuê một
số tài sản thuộc khu vực nhà nước; sự tăng giảm chi tiêu thường xuyêncủa NSNN
- Vốn được tiết kiệm từ các doanh nghiệp Nhà nước (phần lợi nhuậncòn lại để bổ sung vào vốn kinh doanh) cũng là nguồn vốn quan trọng đểphát triển kinh tế Ở nước ta nguồn vốn này còn thấp, trong một sốtrường hợp, nhiều khi trở thành gánh nặng cho NSNN
b Nguồn vốn tín dụng
- Của các trung gian tài chính: Được thành lập nhằm đa dạng hóa hoạtđộng tài chính, thực hiện chủ trương phát huy nội lực và nhất là tạo thêmkênh huy động vốn mới để bổ sung cho dịch vụ NH truyền thống Tuynhiên các trung gian tài chính mới được thành lập gần đây nên hạn chế
về quy mô, phạm vi và nghiệp vụ hoạt động
- Hệ thống Ngân hàng: Là một trong những trung gian tài chính song
nó chiếm vị trí quan trọng cả về quy mô tài sản và về thành phần nghiệp
vụ Nó là trung tâm tiền tệ, tín dụng, thanh toán, đóng vai trò nòng cốttrên thị trường vốn và thị trường tiển tệ
c Nguồn vốn của dân cư và khu vực tư nhân
- Vốn trong dân cư: bao gồm tiết kiệm từ thu nhập trong nước; từ thunhập của những người đi học tập, lao động, công tác ở nước ngoài; tiếtkiệm của bộ phận dân cư có thu nhập do thân nhân từ nước ngoài gửi về.Nguồn tiết kiệm trong dân cư là bộ phận chủ yếu, có ý nghĩa quyết định Hiện nay có khoảng 96,23% dân Việt Nam có tiết kiệm trong khi đólượng huy động vào đầu tư chiếm 30% còn lại là mua vàng, đồ trang sức,
để dành tiền nguồn vốn này luôn là một tiềm năng, một tiềm lực tài
Trang 7chính, song nó chỉ được huy động vào đầu tư phát triển khi Nhà nước cómột chính sách đúng đắn và rõ ràng
- Vốn của các doanh nghiệp kinh doanh ngoài quốc doanh là phần lợinhuận tiết kiệm được từ các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân Phầnvốn này còn hạn chế đòi hỏi phải có sự nỗ lực trong phát triển khu vực tưnhân với hiện trạng quy mô hầu như còn nhỏ hẹp và lạc hậu về côngnghệ
2.2.1.2 Vốn nước ngoài
a Vốn viện trợ ODA
Là nguồn vốn do các địa phương, chính phủ của một số nước, tổ chứctài trợ quốc tế viện trợ cho không hoặc ưu đãi nhằm tạo ra những ràngbuộc về mặt chính trị, kinh tế
- Viện trợ là các khoản cho không, đó là các khoản viện trợ khônghoàn lại nhằm tạo ra sự phụ thuộc và các ràng buộc, do đó cần phải cóquan điểm giảm bớt hoặc xóa bỏ phần cho không và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn
- Viện trợ theo hình thức vay mượn ưu đãi là những khoản viện trợđược thanh toán theo lãi suất hoặc thời gian, xu hướng ở đây là tăngnguồn viện trợ này lên
Việc tiếp nhận viện trợ phụ thuộc vào nhiều nhân tố Đó là những điềukiện xuất phát từ mục tiêu chính trị, kinh tế hay nhân đạo của các nước,hoặc các tổ chức cấp viện trợ và khả năng thích ứng, chấp nhận của nước
ta Viện trợ là nguồn bổ sung quan trọng từ nước ngoài cho nguồn vốntrong nước và vấn đề đáng quan tâm của nước ta đối với các khoản việntrợ là tình trạng giải ngân và các điều kiện liên quan khi tiếp nhận việntrợ
b Đầu tư gián tiếp, vay nợ nước ngoài và đầu tư trực tiếp
Trang 8- Đầu tư gián tiếp nước ngoài là phần vốn đầu tư do người nước ngoàimua cổ phiếu hoặc trái phiếu ở nước ta và không làm công việc quản lý.Đây là hình thức đầu tư nước ngoài rất quan trọng của thế kỷ XIX và đầuthế kỷ XX Con đường chủ yếu là đi vay thông qua các NHTM hoặcthông qua các khoản tín dụng thương mại Thường các khoản này phảichịu lãi suất cao so với viện trợ chính thức của các nước công nghiệp và
so với lãi suất trên thị trường quốc tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) do các công ty tư nhân nước ngoài
bỏ vốn, công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, chuyên gia sangcác nước khác để khai thác một số lĩnh vực nào đó nhằm mục tiêu thu lợinhuận Có thể trong quá trình tiếp nhận đầu tư chúng ta giải quyết đượcvấn đề thiếu vốn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thực hiện đượcchuyển giao công nghệ , khai thác thế mạnh về tài nguyên song cũng cóthể nguồn lực bị khai thác hết công suất, khả năng tái đầu tư thấp, dẫnđến sự phát triển kinh tế không bền vững và có thể không thực hiện đượcchuyển giao công nghệ Do đó, cần phải đa dạng hóa các nhà đầu tư, chủđộng sử dụng các nhà đầu tư; tăng cường năng lực cạnh tranh nhằm tạo
sự hấp dẫn để thu hút lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càngnhiều hơn
2.2.2 KH vốn đầu tư
2.2.2.1 Khái niệm
Kế hoạch vốn đầu tư là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch pháttriển, nó xác định quy mô, cơ cấu tổng nhu cầu vốn đầu tư xã hội cần có
và cân đối với các nguồn bảo đảm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng
và phát triển kinh tế trong thời kỳ kế hoạch
2.2.2.2 Nhiệm vụ của kế hoạch vốn đầu tư trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 9- Kế hoạch vốn đầu tư là kế hoạch một yếu tố nguồn lực có liên quantrực tiếp và là tiền đề quan trọng nhất để thực hiện kế hoạch tăng trưởngkinh tế Các nhà kinh tế học trong các học thuyết của mình: K Marx,Harrod- Domar, W Rostow đều cho rằng hình thành vốn là chìa khóađối với sự phát triển
- Kế hoạch vốn đầu tư là kế hoạch khối lượng tài chính (tiền) cần thiết
để thực hiện kế hoạch tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tàisản quốc gia, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế và hiệnđại hóa đất nước
3 Sự cần thiết phải có vốn đầu tư trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Vốn là một trong số các nhân tố sản xuất có tầm quan trọng quyếtđịnh đối với hoạt động của một nền kinh tế Vốn biểu hiện dưới dạng vậtchất và gía trị Về mặt vật chất, vốn bao gồm các loại máy móc thiết bị,nhà xưởng, nguyên vật liệu, nhiên liệu, thành phẩm, hàng hóa tồn kho làloại nhân tố "đầu vào" đồng thời bản thân nó lại là kết quả " đầu ra" củahoạt động kinh tế Vốn luôn vận động và chuyển hóa hình thái vật chấtcũng như từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ Vốn tiền tệ là "trunggian" cần thiết đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục
Trong nền kinh tế thị trường bên cạnh vốn tồn tại dưới dạng vật chất,còn có các loại tồn tại dưới dạng tài sản vô hình nhưng có giá trị như:bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu, lợi thế cửa hàng
- Hoạt động kinh tế, vốn là nhân tố không thể thiếu được Trong điềukiện hiện nay, vốn càng có ý nghĩa hết sức to lớn Trình độ khoa học vàcông nghệ hiện đại đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn trong hoạt độngkinh tế, và cũng nhờ đó mà sức sản xuất và của cải vật chất của xã hộităng lên đáng kể Một nước có thể hạn chế tài nguyên, song nền kinh tế
có thể phát triển mạnh mẽ nhờ có khối lượng vốn lớn với trình độ công
Trang 10nghệ hiện đại Ngược lại, đất nước có thể có tài nguyên dồi dào nhưngthiếu vốn, thiếu có sở vật chất - kỹ thuật hiện đại thì sẽ khó có điều kiện
để khai thác và sử dụng các nguồn tiềm năng của đất nước
Trong điều kiện hiện nay nhu cầu thiếu vốn không phải là khó khănkhông giải quyết được Nhu cầu về vốn có thể đáp ứng bằng nhiềunguồn; có thể tự cấp, hoặc thu hút nguồn vốn khác nhau thông qua hoạtđộng của hệ thống tài chính Vấn đề là phải biết lựa chọn chiến lược,chính sách và các giải pháp hợp lý trong việc thu hút, huy động và sửdụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước cũng như nguồn vốn nước ngoài
II Hệ thống Ngân hàng - kênh huy động và phân bổ vốn đầu tư trong tăng trưởng và phát triển trong nền kinh tế
1 Khái quát về hệ thống Ngân hàng.
1.1 Ngân hàng là trung gian tài chính
Hãy xét một thế giới giản đơn không có hoạt động của NH, trong thếgiới như vậy; những khoản tiết kiệm của dân chúng chỉ có thể được sửdụng hoặc là dưới dạng tiền mặt; hoặc là đầu tư chứng khoán vào cáccông ty Các công ty phát hành chứng khoán để đầu tư vào các tài sảnthực như: nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu và qui mô luồng vốn từnhững người tiết kiệm chuyển đến các công ty nhìn chung là rất thấp docác nguyên nhân: chi phí giám sát hoạt động của công ty rất tốn kém; chiphí chuyển nhượng ( thanh khoản) các chứng khoán công ty cao; rủi robiến động giá cả chứng khoán trên thị trường
Không có sự tồn tại của NH khiến cho dân chúng giảm động lực tiếtkiệm, tăng tiêu dùng và hoặc là tiết kiệm ở dạng tiền mặt
Hệ thống NH tồn tại cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ nhữngngười có nhu cầu đầu tư đến các công ty
Trang 111.2 NH là đối tượng và đồng thời là các trung gian chuyển tải chính sách tiền tệ
Các NH thông qua hoạt động có tính đặc thù của mình đã thực hiệnchuyển tải chính sách tiền tệ từ ngân hàng trung ương đến toàn bộ nềnkinh tế Như vậy các NH đã trở thành một kênh đặc biệt, thông qua đó
mà ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ lên toàn bộ nền kinh tế
1.3 Phân bổ tín dụng
Lý do làm cho hệ thống NH trở nên đặc biệt là vì các ngân hàng lànguồn chính để tài trợ, cung cấp tính dụng cho một số lĩnh vực nhất địnhđược xác định là có nhu cầu đặc biệt về vốn
Bên cạnh đó hệ thống NH còn đưa ra các dịch vụ có tính đặc thù vàhiệu quả đem lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế Bất kỳ một sự trục trặcnào trong thanh toán của NH cũng đủ sức làm bế tắc và gây thiệt hại chonền kinh tế
2 Vai trò của NH trong thu hút và sử dụng vốn đầu tư
2.1 Chuyển vốn từ những người tiết kiệm sang cho những người đầu tư
Với sự tồn tại của hệ thống NH, số tiền chưa sử dụng của dân cưkhông còn là tiền chết, cất giấu đâu đó trong nhà, dưới gầm giường màđược ký gửi vào hệ thống NH và hưởng lãi suất NH với tư cách là trunggian tài chính sẽ hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận bằng cách lấy tiềnnhận gửi đem cho vay các doanh nghiệp, những nhà đầu tư với một mứclãi suất nhất định và thu phần chênh lệch Như vậy NH đã chuyển mộtcách có hiệu quả nhất các nguồn vốn trong tích lũy của xã hội từ ngườicho vay tới người cần vay
Trang 122.2 Cung cấp dịch vụ đặc biệt cho các công ty và cá nhân
Hiện nay hệ thống NH đã đẩy mạnh việc đưa ra các loại hình thứccung cấp dịch vụ cho khách hàng: hệ thống thanh toán qua NH, tăngcường các tiện ích của NH, việc gửi tiền vào NH giờ đây được thỏa thuậnbằng một mức lãi suất thích hợp, dịch vụ ghi nợ nội địa( thẻ ATM), cungcấp dịch vụ internet cho toàn bộ hệ thống của NH, thực hiện cho vay quamạng, giao kiều hối tận nhà, lập NH thông tin cho các doanh nghiệp nhỏ,cho vay vốn kinh doanh trả góp lãi suất cố định Như vậy có thể khẳngđịnh rằng giờ đây hoạt động NH không còn đơn thuần là nhận tiền gửi vàcho vay nữa mà đang dần dần phát triển với nhiều hình thức đa dạng hơnđiều đó cho thấy hệ thống NH Việt Nam đang bước vào các lĩnh vực mớinhằm nâng cao vị thế của mình là một kênh huy động vốn hiệu quả, phùhợp với nhu cầu hiện tại và tương lai của nền kinh tế thị trường
2.3 Quản lý và thực hiện hoạt động kinh doanh tín dụng-tiền tệ, cung ứng và điều hòa lưu thông tiền tệ
NHNN với chức năng quản lý mọi hoạt động kinh doanh tín dụng- tiền
tệ, cung ứng và điều hỏa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền
NHTM thực sự trở thành các đơn vị kinh doanh tín dụng- tiền tệ.Thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, đầu tư vốn, kinh doanh chứngkhoán, kinh doanh ngân hàng quốc tế, làm dịch vụ cho khách hàng và cáckinh doanh khác
Trang 13Phần II: Đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống NH
trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn
I Đánh giá thực hiện kế hoạch vốn đầu tư trong giai đoạn
2001-2005
1 Khả năng huy động vốn đầu tư.
1.1 Đánh giá kế hoạch thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội.
Cân đối vốn đầu tư phát triển liên tục được cải thiện qua các năm, tỷ lệ
huy động vốn đầu tư trơng GDP tăng từ 34% (2001) lên 36,9% (2005)
Bảng1: Vốn đầu tư trong GDP giai đoạn 2001-2005
Đơn vị: %
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Ta thấy tổng vốn đầu tư trong nền kinh tế giai đoạn 2001-2005 đạt
khoảng 960,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13-15,8% so với chỉ tiêu kế hoạch đề
ra Điểu đó chứng tỏ khả năng huy động vốn trong giai đoạn này đẵ tăng
nhanh
Cơ cấu về vốn đổi mới theo hướng từng bước xóa bỏ bao cấp trong
đầu tư Nhờ đó tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách giảm đi trong khi tỷ
trọng vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực dân cư
tăng lên đáng kể
Trang 14Nguồn vốn trong nước đã được khai thác khá hơn, chiếm trên 70%tổng vốn đầu tư, vượt chỉ tiêu dự kiến, nhờ đó tạo điều kiện tốt hơn đểtập trung đầu tư vào những chỉ tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn,giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa họccông nghệ, đặc biệt là xây dựng kết cấu hạ tầng Vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài chiếm khoảng 16,4% là một mức khá cao song có phần giảmsút trong những năm gần đây Cần có những cơ chế, chính sách thôngthoáng thuận lợi hơn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trongnhững năm tới
Bảng 2: Kế hoạch vốn đầu tư giai đoạn 2001-2010
đơn vị: nghìn tỷ đồng( giá năm 2000)
Trang 15Điểm mạnh mẽ trong 5 năm qua là sự tăng lên về vốn đầu tư của khuvực tư nhân và hộ gia đình Tỷ trọng của khu vực này trong tổng vốn đầu
tư xã hội đã tăng từ 23,7% (2001) lên 28,7% (2005) Tỷ trọng vốn củacác doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng đã vượt hẳn của các DNNN và
tổ chức tín dụng Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đã đóngvai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với pháttriển kinh tế ở địa phương
Bảng 3: Vốn đầu tư toàn xã hội 2001-2005
Đơn vị: nghìn tỷ đồng( giá năm 2000)
% trị số % trị số % trị số % trị số % trị số Tổng VĐT
vốn NN
40,4 64,8 38,9 67,3 39,3 74,4 42,3 91,3 42,4 100,4 vốn tín dụng
17,1 27,5 17,4 60,1 13,1 24,8 11,2 24,2 10,0 23,7 Vốn dân cư và TN
23,5 37,8 25,3 43,8 26,7 50,6 27,4 49,2 28,7 67,9 FDI
19,0 30,0 18,5 32 16,6 31,4 15,8 34,1 14,3 33,9 nguồn khác
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
1.2 Nguồn vốn trong nước
1.2.1 Chủ trương của chính phủ:
Chính phủ coi nguồn vốn trong nước đóng vai trò chủ đạo do xuấtphát từ quan điểm nội lực là chính và khả năng thực tế của Việt Nam chophép Nguồn vốn trong nước có mạnh thì chúng ta mới có thể đảm bảođược vấn đề phát triển bền vững
Trang 161.2.1 Cơ cấu nguồn vốn trong thu hút vả sử dụng
Vốn trong nước bao gồm: Từ ngân sách, các doanh nghiệp, hộ giađình
Trong đó: Vốn từ Ngân sách dùng cho đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triểnnông nghiệp nông thôn, đầu tư vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tưphát triển các lĩnh vực xã hội
Nguồn vốn này được lấy từ tiết kiệm của NSNN (thu- chi) muốn tăngnguồn vốn này cần phải tăng thuế bằng việc cải cách chính sách thuế( mởrộng diện thu thuế, thay đổi cách thức thu và quản lý thuế) hoặc là giảmchi thường xuyên trong đó chủ yếu là lương do dó cần phải tịnh biên lại
bộ máy Nhà nước, biên chế theo định mức công việc, theo phương thứctrả lương, thực hiện khoán chi cho khu vực hành chính
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp( doanh nghiệp Nhà nước, doanhnghiệp tư nhân) Đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ( kinh
tế, xã hội) Muốn tăng nguồn vốn này lên cần phải tăng tiết kiệm bằngcách tăng khấu hao hoặc tăng lợi nhuận Vấn đề đặt ra ở đây là phải nângcao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp tư nhân do bản thân họ tự tính toán
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước nâng cao hiệu quả bằng việc sắp xếplại doanh nghiệp( xóa bỏ một số doanh nghiệp làm ăn thu lỗ, kém hiệuquả; cổ phần hóa những doanh nghiệp còn lại)
Chính phủ cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình an, ổn định;tạo cơ hội bỏ vốn ( cơ hội sinh lời cho vốn đầu tư) để chuyển phần tiếtkiệm của các doanh nghiệp vào đầu tư một cách hiệu quả
Vốn đầu tư từ các hộ gia đình được tính bằng thu nhập khả dụngtrừ đi các khoản chi tiêu Muốn tăng nguồn vốn này lên thì ta phải tăngthu nhập và tăng chi tiêu song phần tăng thu nhập phải luôn lớn hơn rấtnhiều so với phần chi tiêu tăng lên Đồng thời có chính sách về lãi suất,
Trang 17tạo môi trường thuận lợi cho việc gửi tiền, rút tiền nhằm thu hút lượngtiền trong dân cư bỏ vào đầu tư.
1.3 Nguồn vốn nước ngoài
1.3.1 ODA
Thu hút ODA (2001-2005) thực hiện theo đúng chủ trương của chínhphủ đó là ưu tiên sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội.Nhiều công trình quan trọng được tài trợ bằng ODA đã góp phần cơ bảncải thiện và phát triển một bước cơ sở hạ tầng kinh tế, trước hết là giaothông vận tải và năng lượng điện
ODA đã tài trợ cho một số lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, dân số vàphát triển, chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng trẻ em, nướcsạch và vệ sinh môi trường
Tình trạng sử dụng ODA hiện nay vẫn còn chậm trong quá trình giảingân do
- Quy trình thủ tục trong nước còn phức tạp, sự khác biệt giữa các nhàtài trợ và phía Việt nam, việc chậm trễ trong tái đinh cư và giải phóngmặt bằng,
- Thiếu quy hoạch trong vận động và sử dụng ODA( văn bản về quản
lý và sử dụng ODA thiếu tính đồng bộ, nhất quán, minh bạch)
- Công tác theo dõi đánh gía dự án bị buông lỏng
1.3.2 FDI
Vốn đầu tư nước ngoài có phần giảm sút trong những năm gần đây docòn gặp nhiều khó khăn trong môi trường đầu tư chưa đủ thông thoáng,thuận lợi, nhất quán và ổn định Giá một số đầu vào ( xăng dầu, cướcviễn thông, cước vận tải biển ) nói chung còn cao hơn nhiều nước trongkhu vực, làm tăng giá thành và hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng
Trang 18hóa dịch vụ nước ta và làm giảm sức hấp dẫn của Việt Nam đối với nhàđầu tư nước ngoài
Cơ cấu đầu tư nước ngoài ngày càng phù hợp với sự chuyển dịch cơcấu kinh tế ở nước ta Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đónggóp 12% GDP của cả nước, thu hút 35 vạn lao động trực tiếp và hàngchục vạn lao động gián tiếp Bên cạnh đó là tình trạng các dự án rút vốn
về nước Các nhà quản lý quỹ muốn huy động vốn vào Việt Nam nhưng
để thực hiện được là khó khăn do có nhiều rào cản:
- Chính phủ: chưa có một hành lang pháp lý cụ thể với hệ thống chínhsách rõ ràng, minh bạch đối với hoạt động đầu tư
- Doanh nghiệp: tâm lý ỷ lại vào Nhà nước, chưa tạo được sự an tâmcho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
- Nhà đầu tư sở thích đầu tư vào Việt Nam còn hạn chế do mức khốngchế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt nam còn hạn chế,chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là nhà đầu tư chiếnlược
2 Hiệu quả sử dụng vốn
2.1 Tỉ lệ đầu tư cho các lĩnh vực
Vốn đầu tư được sử dụng cho các lĩnh vực như sau:
- Lĩnh vực kinh tế chiếm 70,9% trong đó: nông, lâm, ngưnghiệp(13,1%), công nghiệp và xây dựng ( 43,8%), giao thông- bưu điện( 13,9%) Như vậy có thể thấy rằng vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh tế làchủ yếu và đã có những chuyển biến tích cực
- Lĩnh vực xã hội chiếm 25,6% trong đó; giáo dục đào tạo(3,8%), vănhóa thể thao(1,8%), khoa học công nghệ (0,9%)
- Quan tâm nhiều hơn đến vùng nghèo, xã nghèo
Trang 192.2 Thực trạng đầu tư cho các ngành, thành phần kinh tế, và các vùng kinh tế
2.2.1 Cơ cấu đầu tư vào các ngành và các lĩnh vực
Đối với ngành giao thông vận tải và bưu điện chiếm 14% trong đó đầu
tư bằng nguồn Ngân sách chiếm 27,5% tổng nguồn vốn Ngân sách Tậptrung đầu tư cho đường quốc lộ, đường trục quan trọng, hạ tầng giaothông nông thôn
- Đối với ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thủy lợi chiếm khoảng13,1% tổng vốn đầu tư xã hội và 22,6% vốn ngân sách Chú trọng đếnchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn Thủy lợi tập trungvào kiểm soát lũ, phát triển đồng bằng Sông Hồng, các hồ chứa nước
- Công nghiệp và xây dựng chiếm 44,6% chú trọng vào các ngành mũinhọn để tăng năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh một số sản phẩmhàng hóa
- Đầu tư vào các ngành khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế,văn hóa, xã hội, khoảng 8%
- Đầu tư cho các ngành khác như công cộng, cấp thoát nước, quản lýnhà nước, thương mại, xây dựng, du lịch khoản 20%
2.2.2 Thành phần kinh tế
- Vốn đầu tư vào khu vực kinh tế quốc doanh chiếm chủ yếu và đang
có xu hướng giảm dần chiếm khoảng 57% tổng vốn đầu tư xã hội
- Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh đã tăng nhanh trong giaiđoạn qua từ 23, 5% (2001) lên 26,7% (2003)
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 16-17% tổng vốnđầu tư xã hội
2.2.3 Vùng kinh tế:
Trang 20Do điều chỉnh cơ cấu đầu tư nên quy mô đầu tư của các vùng đềutăng Tỷ trọng đầu tư ở các vùng núi, vùng khó khăn tăng, tỷ trọng đầu tư
ở các vùng núi phía Bắc chiếm 8,3% so với vốn đầu tư toàn xã hội, vùngBắc Trung Bộ là 8%, Duyên hải Miền Trung 12,4%, vùng Tây Nguyên 5,3%
II Đánh giá thực trạng thu hút và phân bổ nguồn vốn của hệ thống Ngân hàng giai đoạn 2001-2005.
1 Nguồn vốn tín dụng
1.1 Các công ty tài chính
Hiện nay có 7 công ty tài chính đang hoạt động thì có đên 5 công tythuộc về các tổng công ty được thành lập trong nỗ lực tích tụ vốn, tậptrung chuyên môn hóa để nâng cao sức cạnh tranh cho các tổng công ty
và đơn vị thành viên Các công ty này thường có lợi thế cạnh tranh so vớicác NHTM trong việc thẩm định dự án có hiểu biết chuyên ngành sâuhơn và khả năng tiếp cận các nguồn thông tin về nội bộ tổng công ty vàcác đơn vị thành viên Tuy nhiên các công ty này chỉ đáp ứng đượcnguồn vốn trong nội bộ công ty ở một mức độ nhất định
1.2 Quý hỗ trợ phát triển
Với số vốn điều lệ 3000 tỷ đồng do ngân sách Nhà nước cấp Quỹ hỗtrợ phát triển phục vụ nhu cầu tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các đốitượng nằm trong chính sách phát triển của nhà nước như y tế, cơ khí, chếbiến nông sản Vì vậy một mặt quỹ hỗ trợ phát triển tạo điều kiện chomột số ngành nghề phát triển, mặt khác trong chừng mực nhất định làmméo mó thị trường tín dụng
Trang 211.3 Các công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện
Chủ yếu các công ty này huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cưnhưng không thực hiện hoạt động cho vay trực tiếp mà chuyển giao sốvốn huy động được sang quỹ hỗ trợ phát triển và giải ngân theo các hoạtđộng của Quỹ Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện chỉ làm dịch vụ huyđộng vốn cho ngân sách nhà nước hay còn được coi là một tổng đại lýcho Chính phủ trong biệc huy động tiết kiệm
1.4 Các công ty bảo hiểm
Trên cơ sở cân đối các nguồn thu và chi trả bảo hiểm xã hội, số dư tạmthời được Quỹ chuyển cho vay đối với Ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ hỗtrọ phát triển quốc gia Năm 2003 ở Việt Nam có 19 công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ
Việc thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng phi ngânhàng phản ánh tính đa dạng, đan xen của Thị trường tài chính Việt Namtrong thời kỳ đầu phát triển và nhằm đàp ứng nhu cầu vốn của các đốitượng ở các phân đoạn thị trường nhất định mà hoạt động của các NHTMchưa vươn tới Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ việc huy động vốn với các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng đặt ra yêu cầu hoàn thiện và phát triểntrong hoạt động của các NHTM, nâng cao chất lượng dịch vụ, áp dụngtiến bộ kỹ thuật…
2 Hệ thống Ngân hàng
2.1 Thành phần
2.1.1 Ngân hàng trung ương
a Là Ngân hàng của các Ngân hàng
Ngân hàng trung ương hoạt động không vì mục đích tìm doanh lợi.Chức năng, nhiệm vụ của nó là cung ứng và điều hòa khối lượng tiền tệ,
Trang 22điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng, kiểm soát hệ thống ngân hàng,bảo vệ giá trị của đồng tiền trong nước Nó là trung tâm tác động toàn bộhoạt động tín dụng, ký thác, tiết kiệm của các ngân hàng trung gian vàcác định chế tài chính Có được vai trò này do quyền tự nhiên đặt địnhcho nó, do khả năng sử dụng một cách linh hoạt những biện pháp có tínhcách đòn bẩy kinh tế trong việc kiểm soát và điều hòa khối lượng tiền tệ
và tín dụng
b Đóng vai trò cho Ngân hàng chính phủ
- NHTW chịu trách nhiệm kiểm soát lượng tiền cung ứng cho nền inh
tế và tài trợ cho bội chi ngân sách, cụ thể là ngân hàng trung ương phảigiữ vững ổn định tiền tệ, thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, chốnglạm phát, bảo đăm sự tăng trưởng kinh tế
- NHTW chỉ đạo chính sách tiền tệ, tín dụng, giám sát các ngâng hàng
và các thị trường tiền tệ, thị trường tài chính
2.1.2 Ngân hàng thương mại.
a Trung gian tín dụng
Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối người cung và cầu vốn trong
xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng
nó mội cách sinh lợi sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi.Tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhucầu tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế Hoạt động tín dụng củaNHTM đã góp phần khắc phục các hạn chế đó NHTM huy động và tậptrung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nềnkinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác, trên có sở số vốn đãhuy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất,kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, góp phẩn đảm bảo sựvận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng
Trang 23kinh tế NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay, hay nói cáchkhác nghiệp vụ tín dụng của NHTM là đi vay để cho vay.
Ngày nay, sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện nhữngkhía cạnh khác của chức năng này NH có thể đứng làm trung gian giữacông ty(khi phát hành cổ phiếu) và những nhà đầu tư: chuyển giao cácmệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua bán tráiphiếu công ty NH làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vayvốn trên thị trường Như vậy Ngân hàng không chỉ làm trung gian tàichính giữa người gửi tiền và người vay tiền, mà còn làm trung gian giữangười đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường
b Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng là thủquỹ của các doanh nghiệp, tức là NH nhập tiền vào tài khoản hay chi trảtiền theo lệnh của chủ tài khoản Với tư cách là thủ quỹ, NH có đủ điềukiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của kháchhàng Khi khách hàng gửi tiền, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cấtgiữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất là đốivới những khoản thanh toán có gía trị lớn Mọi quan hệ thanh toán đượcthực hiện bằng cách các chủ thể mở tài khoản tại NH và yêu cầu NH thựchiện các khoản chi trả hoặc ủy nhiệm cho NH thực hiện việc thu nhậncác khoản tiền vào tài khoản của mình
Khi làm trung gian tài chính, NH tạo ra những công cụ lưu thông tíndụng và độc quyền quản lý các công cụ đó( sec, giẩy chuyển ngân, thẻthanh tóan ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩynhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.Ngày nay, NH không chỉ làm trung gian tài chính mà còn quản lý cácphương tiện thanh toán Đây là vai trò quan trọng và ngày càng chiếm vịtrí quan trọng, phù hợp vói sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Trang 24NHTM từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính và các phương tiện
kỹ thuật khác, tạo điều kiện thanh toán bù trừ được nhanh chóng, giảmbớt chi phí và đạt độ chính xác cao
c Tạo ra tiền trong hệ thống NH
Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tíndụng và thanh toán trong hệ thống NH, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệthống NHTW của mỗi nước NH đã tạo ra tiền "bút tệ" đó là khả năngbiến mức tiền gởi ban đầu tại một NH đầu tiên nhận được tiền gửi thànhmột khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tíndụng thanh toán qua nhiều NH
NHTM tạo được bút tệ xuất phát từ tiền của NHTW Nếu không có sựràng buộc nào, thì khả năng tạo bút tệ là vô hạn, tuy nhiên dưới sự kiểmsoát của NHTW, NHTM chỉ tạo ra được tiền" bút tệ" trong một giới hạnnhất định Chức năng tạo tiền của NHTM chỉ thực hiện được nếu vốn màNHTM huy động đã cho vay được và số tiền vay đó phải được luânchuyển trong hệ thống NHTM, do đó nếu NHTM không tạo tiền có nghĩa
là NHTM đã không tạo điều kiện thuận lợi cho qúa trình sản xuất vàtrong nhiểu trường hợp, sản xuất không thực hiện được, nguồn tích lũy từlợi nhuận và các nguồn khác bị hạn chế, các đơn vị sản xuất kinh doanhcòn có khả năng phải gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn do thừa vốn( tạmthời )
Trang 25có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các NHTM tại NHTW,
từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của các NH này
NHTW mua bán trái phiếu sẽ tăng khối lượng dự trữ của NH trunggian, vì NH này cần dự trữ nên đem bán trái phiếu hoặc bán trái phiềuvới lãi suất thấp để cho vay sinh lời nhiều hơn Khi dự trữ của NH thặng
dư, NH trung gian có thể mở rộng khả năng cho vay gấp n lần tùy theo tỉ
lệ dữ trữ bắt buộc đối với NH trung gian Đồng thời với việc mua tráiphiếu của chính phủ với giá cao và lãi suất hạ xuống kích thích doanhnghiệp đi vay, tức là một cách tăng thêm khối lượng tiền tệ
Khi muốn giảm bớt khối lượng tiển tệ, NHTW bán trái phiếu củachính phủ trên thị trường Hậu quả là dự trữ của các NH trung gian tạicác NHTW giảm xuống, khả năng cho vay của các NH trung gian bị thuhẹp
NHTW cấp tín dụng cho NH trung gian qua nhiều hình thức Hìnhthức thông dụng và cổ điển là chiết khấu các thương phiếu của NH trunggian Khi nhận chiết khấu hoặc tái chiết khấu NHTW làm tăng khốilượng tiền tệ.Việc nâng cao hoặc làm giảm mức lãi suất tái chiết khấu,NHTW có thể khuyến khích giảm hoặc tăng mức cung tiền tín dụng củaNHTM đối với nền kinh tế, đồng thời thông qua đó cũng giảm hoặc tăngmức cung tiền tệ Nếu chính sách khuyến khích, NHTW hạ thấp lãi suất
Trang 26chiết khấu NH trung gian trong trường hợp này đi vay rẻ, nên có khuynhhướng cũng giảm bớt lãi suất tiền vay, miễn là còn hưởng được lãi suấtsai biệt giữa hai lãi suất đó Ngược lại, khi muốn giảm bớt có hội làmtăng khối lượng tiền tệ NHTW nâng lãi suất chiết khấu áp dụng chonhững cuộc vay mượn của NH trung gian, gián tiếp áp lựa NH này nânglãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt những có hội cho vay
c Đưa ra tỉ lệ dự trữ bắt buộc
NHTW được giao quyền bắt buộc các NH trung gian phải ký gởi tạiNHTW một phần của tổng số tiền gởi mà họ nhận được từ dân cư và cácthành phần kinh tế theo một tỉ lệ nhất định Phần bắt buộc ký gửi đó gọi
là dự trữ bắt buộc NHTW ấn định tỷ lệ đó khi tăng khi giảm tùy theotình hình Mục đích của việc bắt buộc dự trữ như vậy là để giới hạn khảnăng cho vay của NHTM, tránh trường hợp NH này ham kiếm lợi nhuậnbằng cách cho vay qúa mức, có thể phương hại tới quyền lợi của người
ký gởi tiền ở NH Việc tập trung dự trữ bắt buộc còn là một phương tiện
để NHTƯ có thêm quyền lực điều khiển hệ thống NH, tạo sự lệ thuộccủa NHTM đối với NHTW Khả năng cho vay của NHTM bị hạn chế sẽbuộc họ phải đi vay lại ở NHTW NHTW là người cho vay sau cùng củamọi NH và là cứu tinh của họ trong những trường hợp khẩn cấp nhưtrường hợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiển gởi của công chúng
- Lãi suất tiền vay và tiền gởi NH: Tác động đến lãi suất tiền vay vàtiền gởi NH bằng cách áp dụng lãi suất tái chiết khấu Các nước đang
Trang 27phát triển ấn định một mức lãi suất tiền gởi và tiền vay ở mức tối đa vàgiao cho NHTW quyền điều chỉnh các mức lãi suất đó
- Kiếm soát tín dụng tiêu dùng: Khi nền kinh tế trong giai đoạn sảnxuất nhiều, thì thể thức bán hàng trả góp tất sẽ phổ biến và NHTW sẽthấy lúc nào cần áp dụng sự can thiệp của mình
2.2.2 NHTM
a Nghiệp vụ nợ( huy động vốn)
Nhận tiền gửi
- Tiền gửi không kỳ hạn
+ Tiền gửi dùng séc là loại tiền gửi dùng để chi trả các séc và hốiphiếu Loại tiền gửi này có nơi không hưởng lãi, có nơi hưởng lãi nhưngrất thấp Các loại tiền gửi này thường xuất phát từ doanh nghiệp để làmphương tiện giao dịch
+ Tiền gửi rút tự động là loại hình tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu,không giới hạn số tiền gửi vào hay rút ra được thực hiện qua máy rúttiển, máy nhận rút và chuyển tiền tự động
+ Tiền gửi tiết kiệm là tiền gởi vào tài khoản tiết kiệm còn gọi là tàikhoản dùng sổ Đó là những khoản tiền nhỏ, ổn định tương đối lâu trongtài khoản, được hưởng lãi tương đối cao hơn lãi tiền gửi thông dụng Nókhông dùng để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, trên nguyên tắckhông sử dụng thể rút tiền
Trang 28+ Tiền gửi dưới dạng mua chứng chỉ tiền gửi định kỳ giao dịch được
Đó là các loại kỳ phiếu mà mệnh giá do các định chế tài chính quy định.+ Loại tiền gửi tiết kiệm có phân kỳ là một khoản tiền gửi được ký gửivào những thời điểm nhất định diễn tiến trong một thời gian nhất định.Phát hành trái phiếu trung hạn, dài hạn
- Cả hai loại trái phiếu đều có mang lãi suất, mang chiết khấu Loại cómang lãi suất thường kèm theo phiếu lãnh lãi Loại có chiết khấu khôngghi lãi suất nhưng có giá phát hành thấp hơn mệnh giá Sai biệt là lãi suấtchiết khấu
Các nghiệp vụ ký thác ủy trị
- Ngân hàng nhận ủy thác từ các khách hàng để quản trị các tài sản ủythác Có thể phân làm hai loại: tiền và hiện vật Phần đông khách hàng ủythác bằng tiền, ký gửi vào một tài khoản, ủy thác cho NH quản trị mộtmình hay với người khác Ngoài ra NH còn được ủy thác tài sản củangười quá cố của vị thành niên NH cũng được ủy thác quỹ dự phòngcủa các công ty, chi trả các tiền hưu cho viên chức công ty
b Nghiệp vụ có( sử dụng vốn)
- Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt Duy trì khả năng thanh khoản của NH đểđáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng.NHTM phải duy trì một bộ phận vốn để dự trữ, mức dự trữ này phụthuộc vào quy mô hoạt động của NH, mối quan hệ giữa thanh toán bằngtiền mặt và chuyển khoản, thời vụ cảu các khoản chi tiền mặt
Các khoản dự trữ không sinh lời song NH bắt buộc phải dự trữ do luật
NH quy định; bản thân NH cũng thấy rõ sự cần thiết phải giữ lại một íttiền mặt để đảm bảo an toàn cho hoạt động còn lại
+ Dự trữ sơ cấp Dự trữ sơ cấp bao gồm dự trữ tiền mặt và tiền gửi :tiền mặt tại quỹ; tiền gửi tại NHTW; tiền gửi tại các NH đại lý và cácNHTM khác; ngân quỹ đang trong qúa trình thu nhân
Trang 29+ Dự trữ thứ cấp Là khoản dự trữ bổ sung để đáp ứng nhu cầu chi trảmang tính chất tạm thời vụ và chu kỳ được dự kiến trước và các nhu câuđột xuất không dự kiến trước Dự trữ này dưới dạng chứng khoán mangtính chất ít rủi ro về tín dụng và lãi suất; thời gian đáo hạn ngắn; mangtính thanh khoản cao( tín phiếu kho bạc, hối phiếu chấp nhận thanh toán,thương phiếu thuộc thị trường mở).
- Đầu tư vào chứng khoán
Là loại hình phổ biến nhất trong tài sản có của các NHTM tại các nướcđang phát triển Chứng khoán là một loại phiếu nợ được in trên giấy dướihình thức của một chứng từ: phiếu nợ hay trái phiếu, cổ phiếu
- Nghiệp vụ cho vay Là hoạt động kinh doanh chủ chốt cảu NHTM đểtạo ra lợi nhuận
+ Cho vay tiền là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kếtgiao cho người đi vay một khoản tiền và người đi vay cam kết hoàn trảsau thời hạn nhất định Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phầnchênh lệch đó là lãi vay Lãi vay tỉ lệ với khối lượng tiền vay Loại chovay này chứa đựng rủi ro cao, bởi nó thiếu cơ sở đảm bảo bằng nhữnghành vi thương mại thực hiện, nghĩa là khách hàng nhận tiền vay sau đómới đưa vào sử dụng( có thể sử dụng trái với mục đích)
+ Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền Hình thức này dựatrên cơ sở mua bán các công cụ tài chính( hối phiếu, lệnh phiếu, ký hóaphiếu ) tạo ra nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu của NH Cho vay nàyliên quan đến luật pháp thủ tục tố tụng khác với các văn bản pháp lý vềcho vay ứng trước và đem lại lợi nhuận cao, ít rủi ro hơn
- Tín dụng qua chữ ký NH không ứng tiền mà chỉ cam kết sẽ trả mộtkhoản nợ cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả được
c Nghiệp vụ môi giới trung gian
- Dịch vụ cho khách hàng
Trang 30+ chuyển vốn Dịch vụ này đem lại lợi tức xuất phát từ các hoa hồngchuyển ngân Nó giúp chuyển tiền từ người cho vay qua người vay tiền ởhai nơi khác nhau mà không phải giao tiền mặt
+ Hoạt động điện tử liên quan đến NH Gồm việc nối mạng các máy vitính NH và máy vi tính của khác hàng, chủ yếu là công ty, để đổi cácthông tin dữ liệu
+ Các dịch vụ khác: bảo đảm tín dụng, mua các khoản sẽ thâu của cáccông ty, phát hành thẻ tín dụng, làm dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ thuêmua, cho thuê tủ sắt
3 Thực trạng hoạt động của hệ thống NH
3.1 Môi trường trong nước và ngoài nước
3.1.1 Môi trường trong nước
- Nền kinh tế thị trường- đa dạng các thành phần và hội nhập
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi một thị trường tàichính ổn định và phát triển
Với đặc điểm một nền kinh tế thị trường đa dạng các thành phần sởhữu dẫn đến đa dạng về loại hình kinh tế Tuy nhiên chủ trương của nước
ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN vì thế mà thành phầnkinh tế NN hiện nay vẫn còn được ưu tiên rất nhiều Điều đó cũng đồngnghĩa với hoạt động NH hiện nay còn chú trọng đối với việc cung ứngnguồn vốn cho những DNNN mà chưa chú trọng tới khu vực tư nhân.Đây cũng là một điểm hạn chế trong hoạt động của NH vì hiện nay khuvực tư nhân là khu vực có tiềm năng lớn, nhưng không có điều kiện pháthuy
Hoạt động NH tập trung chủ yếu vào khu vực NN song lợi nhuận màkhu vực này mang lại là không cao Bên cạnh đó khu vực tư nhân thiếu