Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để giải thích hiện tượng biến 2.1.1 Về nguyên nhân khách quan do sự biến đổi của tự nhiên 6 2.3 Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với
Trang 1MỤC LỤC
1 Cơ sở lí luận chung nhìn từ góc độ triết học: 4
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 4
2 Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để giải thích hiện tượng biến
2.1.1 Về nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) 6
2.3 Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với Thế giới
Trang 2PHẦN I - LỜI MỞ ĐẦU
Mọi sự vật, hiện tượng trên trái đất đều vận động và phát triển theo 02
nguyên lý của phép biện chứng duy vật: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến (là
nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên
hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới) và nguyên
lý về sự phát triển (là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật))
Khí hậu trái đất của chúng ta cũng không ngoại lệ nằm ngoài hai nguyên
lý đó Không chỉ hiện tại mới diễn ra quá trình biến đổi khí hậu mà từ khi trái đất được hình thành đã có quá trình biến đổi, rõ rệt nhất là vào thời kỷ Phấn trắng với sự thay đổi lạnh đột ngột của thời tiết dẫn đến sự tuyệt chủng của không ít loài sinh vật, trong đó có khủng long Khí hậu trái đất hàng ngày, hàng
giờ đều có sự thay đổi, sự thay đổi này không phải ngẫu nhiên mà xét về nguyên
lý mối liên hệ phổ biến phải có sự ràng buộc, tác động lẫn nhau Theo nguyên
lý sự phát triển khí hậu trái đất đang ngày càng nóng lên, sự thay đổi đó là do
sự nhận thức của chúng ta vào thế giới quan này làm cho trái đất có nhiều biến đổi Việc biến đổi có lợi hay có hại là nhận thức vào thế giới quan đó và cải tạo chúng theo hướng có lợi hay có hại
Trái Đất là ngôi nhà chung của tất cả các loài sinh vật, trong đó có con người Trong quá trình sống, con người luôn luôn có nhiều tham vọng cải thiện cuộc sống của mình, từ đó đã cải tạo tự nhiên tạo ra của cải vật chất, khai thác tận thu các nguồn khoáng sản (nước, than đá, dầu mỏ, quặng sắt ) Cũng chính con người cải tạo, khai thác tự nhiên quá mức nên ngôi nhà chung của nhân loại bị tàn phá một cách khủng khiếp” Trái Đất - nơi nương náu và sinh trưởng của muôn loài, hiện nay đang bị đe doạ bởi những vấn đề toàn cầu nóng bỏng
Trang 3đó là ô nhiễm môi trường, dịch bệnh tràn lan, dân số tăng nhanh Nhất là vấn
đề ô nhiễm môi trường, nó đang từng ngày từng giờ gióng lên những hồi chuông báo động, cảnh tỉnh hành động của con người Cũng bởi con người chỉ biết hối
hả khai thác giới tự nhiên mà quên đi giới hạn chịu đựng của nó đang đặt ra bao nỗi lo đến thắt lòng
Môi trường đã và đang là vấn đề cấp bách của mọi thời đại, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ, tương lai phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trái đất chúng ta cũng vận động, khí hậu cũng vận động thay đổi, nhưng tại sao không thay đổi theo hướng có lợi cho con người, tất cả các loài sinh vật mà thay đổi theo hướng có hại đe doạ đến cuộc sống chúng ta?
Đó là câu hỏi đặc ra mà chúng ta phải giải quyết vấn đề theo cách nhìn của Triết học
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có tồn tại nữa hay không khi chúng ta đang đứng trước thực trạng cạn kiệt tài nguyên rừng bị chặt phá bừa bãi dẫn đến bão lụt xảy ra thường xuyên, ngày càng nhiều sinh vật có tên trong sách đỏ, lượng rác thải ra ngày càng nhiều gây ô nhiễm không khí, đất, nguồn nước, ánh sáng Điều đó đặt ra cho chúng ta câu hỏi làm thế nào để đất nước của chúng ta luôn được xanh- sạch- đẹp? Giải pháp nào để cải thiện môi trường của nước ta hiện nay? Mỗi chúng ta cần suy nghĩ và hành động như thế nào
để bảo vệ môi trường sống quanh chúng ta? trách nhiệm của chúng ta là gì ?
Để hiểu rõ hơn những vấn đề trên, với tầm hiểu biết của mình, em đã
chọn đề tài: “Vận dụng cặp phạm trù Nguyên nhân - kết quả để nói về vấn đề
biến đổi khí hậu đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng” với mong
muốn góp một tiếng nói riêng vào vấn đề nóng bỏng của toàn xã hội và để rèn luyện kỹ năng nhìn nhận vấn đề dưới góc độ triết học!
Trang 4PHẦN II – PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận chung nhìn từ góc độ triết học
1.1 Cặp phạm trù Nguyên nhân và Kết quả
Nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lenin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng hai phạm trù giữa cái Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó với Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra, qua đó phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, Triết học Mác-Lenin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là: Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người
có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và
tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt
Trang 5động thực tiễn chủ thể cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực
Từ những lý luận trên, để làm rõ vấn đề hơn ta tìm hiểu cụ thể “nguyên nhân là gì”, “Kết quả là gì”, “Thế nào là Biến đổi khí hậu”
* Nguyên nhân là gì?
Là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra những biến đổi nhất định ở sự vật đó
Khí hậu bị biến đổi do 2 nhóm nguyên nhân:
Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm:
sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi
vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển
Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát
từ sự khai thác sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên, thay đổi mục đích sử dụng đất, nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người
* Kết quả là gì?
Là những biến đổi xuất hiện ở sự vật do nguyên nhân tạo ra
Có rất nhiều loại nguyên nhân, một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả và ngược lại Khi xét đến mối liên hệ nhân quả cụ thể thì nguyên nhân có trước kết quả, còn trong cả quá trình gồm nhiều liên hệ nhân quả nối tiếp nhau thì nhân và quả có thể chuyển hoá vị trí cho nhau một cách biện chứng
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến khí hậu Trái Đất bị biến đổi Từ trường trục quay của Trái Đất cũng biến đổi, từ đó thời tiết giữa các mùa trong năm cũng không còn tuân theo quy luật tự nhiên như trước đây Xảy ra nhiều
Trang 6thảm hoạ thiên tai như động đất, sóng thần, mưa lớn gây ngập lụt nặng cho nhiều thành phố lớn trên thế giới
* Biến đổi Khí hậu Trái Đất là gì?
Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập
kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu
Khí hậu Trái Đất đang bị biến đổi, thời tiết, mưa, bão không còn theo quy luật của mùa nằng, mùa mưa như trước đây mà ngay cả mùa nắng vẫn có mưa và bão Trước đây con người nghiên cứu quy luật của tự nhiên để áp dụng trong mọi mặt đời sống hằng ngày Con người biết thời tiết khí hậu như thế nào
để trồng và nuôi con gì tốt nhất Ngay cả các tướng lĩnh các nước trên thế giới điển hình là Trung Quốc, thời tam quốc diễn nghĩa giữa các nước đánh với nhau phải nghiên cứu các vì sao, hướng gió như thế nào để có lợi cho ta và có hại nhiều cho địch Cả Việt Nam ta cũng thế, thời nhà Ngô, nhà Trần đều vận dụng quy luật của thuỷ triều để đánh giặc và có những chiến thắng lẫy lừng trên Sông Bạch Đằng khiến quân thù khiếp sợ
2 Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để giải thích hiện tượng biến đổi khí hậu
2.1 Nguyên nhân biến đổi khí hậu
2.1.1 Về nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên)
Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu do tự nhiên bao gồm thay đổi cường
độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất Số Sunspots
Trang 7xuất hiện trung bình năm từ năm 1610 đến 2000 Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất (Nguồn: NASA)
Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất Cụ thể là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỷ năm cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30% Như vậy có thể thấy khoảng thời gian khá dài như vậy thì sự thay đổi cường độ sáng mặt trời là không ảnh hưởng đáng kể đến biến đổi khí hậu
Núi lửa phun trào – Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian
vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất
Đại dương ngày nay – Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua
sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển
Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất – Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ đạo Trục quay có góc nghiêng 23,5 ° Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đến biến đổi khí hậu
Trái Đất chúng ta luôn vận động và xoay quanh hệ mặt trời Từ khi hình thành cho đến nay khí hậu, môi trường sống của Trái Đất luôn luôn thay đổi Khi Trái Đất vừa được hình thành trên Trái Đất chưa có đại dương và cũng không có oxy trong khí quyển Sinh vật sơ khởi của Trái Đất chỉ là các tế bào,
Trang 8qua quá trình quang hợp đã tạo ra rất nhiều oxy Từ đó dẫn đến thực vật và động vật ra đời Như vậy từ khi Trái Đất hình thành đến khi có thực vật và động vật môi trường sống luôn được cải thiện và khí hậu bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển cũng thay đổi theo
Điển hình như thời kỳ Kỷ Băng Hà với sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ, Trái Đất trở nên lạnh đi như một quả địa cầu tuyết dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật do sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ Trái Đất Về nguyên nhân của sự thay đổi nhiệt độ này đến nay cũng là một câu hỏi lớn đang đặc ra,
vì nó phụ thuộc vào nhận thức của con người vào thế giới quan ấy Trong đó giả thuyết giả thuyết "trục trái đất nghiêng" được đa số mọi người ủng hộ Theo
đó, quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời (và cả chính Mặt Trời quanh Ngân Hà) đã bị thay đổi Người ta gọi sự thay đổi này là chu kỳ Milankovitch
Đến thời kỳ Kỷ Phấn Trắng khí hậu là rất ấm đến mức không có băng tại hai địa cực Mực nước biển cao hơn nhiều so với ngày nay và các khu vực lớn của lớp vỏ Trái Đất đã bị các biển nông bao phủ, với khí hậu ấm áp đã tạo điều kiện để các loài thực vật sinh sôi nẩy nở, đặc biệt là các thực vật có hoa phát triển thịnh vượng
Với 02 kỷ Băng Hà và kỷ Phấn Trắng vừa nêu trên, để thấy được sự biến đổi khí hậu do yếu tố tự nhiên tác động đều có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của sinh vật Có lúc thì sự ảnh hưởng của khí hậu, biến đổi của Trái Đất theo hướng có lợi cho môi trường sống, có lúc thì có hại cho môi trường sống Với vấn đề nêu ra, để từ đó ta có cái nhìn nhận về sự vận động, biến đổi của khí hậu trên Trái Đất này, từ đó đưa ra được ý thức đúng mà cải tạo môi trường sống ngày càng có lợi cho con người
2.1.2 Về nguyên nhân chủ quan (con người)
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất
Trang 9Trái đất chịu sự tác động mạnh mẽ của con người hàng nghìn năm qua, các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của con người với số lượng không ngừng tăng lên, nhất là từ thế kỉ 18 thời kì nhảy vọt về công nghiệp, khoa học kĩ thuật Cho tới ngày nay các nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt, không những thế nó còn mang lại những hậu quả hết sức nặng nề khi con người chỉ biết khai thác mà không biết bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tất cả các lĩnh vực: Công nghiệp, Lâm nghiệp, Giao thông vận tải và Năng lượng hạt nhân
Về Công nghiệp: Các nhà máy, xí nghiệp hàng ngày thải ra hàng tấn bụi, khí SO2, NO2, CO Nồng độ bụi có xu hướng tăng theo thời gian và hầu hết đều vượt quá giới hạn cho phép nhiều lần
Về Lâm nghiệp: Những vụ chặt phá rừng, cháy rừng với quy mô lớn cũng thải ra một lượng bụi khí và CO2 khá lớn làm biến đổi khí hậu
Về Giao thông vận tải: Hoạt động lưu hành của các phương tiện giao thông hàng ngày thải vào khí quyển rất nhiều khói bụi, làm cho các thành phần chất khí trong khí quyển thay đổi hàm lượng một cách rõ rệt
Về Năng lượng hạt nhân: Một vụ nổ hạt nhân sẽ cho ra hàng tấn bụi khí,
số bụi khí này bay vào khí quyển làm thay đổi hàm lượng các chất có trong không khí
Tất cả mọi hoạt động của con người đều ảnh hưởng đến khí hậu Trái Đất
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc
và 48 lần ở Ấn Độ Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6
tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu Trung Quốc
là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada
600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với
Trang 107 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua Một
số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nước đang phát triển cũng phải cam kết theo Công ước Biến đổi khí hậu
Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2 Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/năm, Singapo 12,4 tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn)
Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu; các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra
về bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto
2.2 Hệ quả của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu mang theo nhiều hệ luỵ cho con người, các điều kiện sống của con người và sinh vật bị thay đổi đáng kể trong đó có một số hiện tượng như:
Mực nước biển dâng:
Nước biển dâng cao là do nhiệt độ trên trái đất ngày càng tăng Nhiệt độ tăng khiến các tảng băng tan nhanh hơn, làm mực nước biển và đại dương trên toàn thế giới tăng theo