Trước đây quy định thực giờ văn bị gò bó theo năm bước lên lớp và đề cao việc dạy học của giáo viên... chỉ nghe và ghi chép..[r]
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu của chương trình Ngữ văn lớp 6 nói riêng, chương trình Ngữ vănTHCS nói chung là góp phần đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu CNH – HĐH đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng ta đã đề ra Hướng tới việc tạo ra những công dân có vốn kiến thức hiện đại có những kĩ năng đáp ứng yêu cầu cao, có đủ phẩm chất đạo đức tốt, có phẩm chất tốt, có lối sống lành mạnh và văn hóa Để thực hiện mục tiêu đó Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo chương trình, SGKTHCS mới là một yêu cầu bức thiết chứ không chờ đợi đến khi nào có đầy đủ điều kiện mới vận dụng một cách đầy đủ
Ngoài ra để việc giảng dạy ở trường THCS đạt hiệu quả cao Chúng tôi luôn xem việc nghiên cứu chương trình nội dung SGK lớp 6 là một việc làm thiết thực
Thứ nhất: chúng tôi có điều kiện tiếp cận trực tiếp qua chuyến thực tập và từ đó biết được những khó khăn, biết được những cái hợp lí của chương trình SGK để có những bước chuẩn bị trước khi ra trường trức tiếp giảng dạy
Thứ hai: chúng tôi có điều kiện tiếp cận thực tế qua chuyến thực tập và biết được những khó khăn mà giáo viên phổ thông đang đối mặt, để từ đó chúng tôi có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ khi ngồi trên trường Sư phạm
Với những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài này nhằm nắm bắt kịp thời những đổi mới của chương trình trong SGK từ đó tạo điều kiện tốt nhất cho các
em phát huy hết khả năng của mình trong học tập
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK Ngữ văn 6 và PPDH môn Ngữ văn 6 ở trường THCS
- Nghiên cứu để tìm hiểu PPDH, từ đó vận dụng vào việc soạn bài, lên lớpcó hiệu quả Từ những đề tài này, chúng tôi mong muốn có cái nhìn cụ thể về
Trang 2chương trình SGK Ngữ văn 6 để làm cơ sở cho việc giảng dạy sau này, giúp chúng tôi có thêm một số kinh nghiệm trong việc tìm hiểu chương trình cũng như việc đổi mới PPDH ở trường THCS
3 Đối tượng nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chúng tôi nghiên cứu nội dung chương trình SGK ngữ văn 6
- Chúng tôi tìm hiểu tiến trình đổi mới PPDH môn Ngữ văn 6 ở trường THCS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là khảo sát tìm hiểu chương trình SGK lớp 6 và PPDH chương trình ngữ văn trường THCS Qua đó, chúng tôi hiểu và vận dụng vào việc dạy học ở trường THCS và đề ra được vài giải pháp có tính thiết thực, có thể vận dụng vào việc rèn luyện và bồi dưỡng cho bản thân
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này chúng tôi chỉ chú ý đến nghiên cứu nội dung chương trình SGKNgữ văn lớp 6 ở trường THCS, các trường hợp khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này
5 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu những tài liệu về chương trình SGK môn Ngữ văn ở trường THCS và những tài liệu khác có liên quan…nhằm để triển khai nghiên cứu thực tiễn cũng như để phân tích lý giải kết quả thu được
- Phương pháp thực hành ứng dụng; chúng tôi soạn giảng một số tiết Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn lớp 6 theo phương pháp hiện nay
- Phương pháp so sánh đối chiếu: sau khi trình bày các thao tác cụ thể để soạn giảng nói chung và soạn giảng một số tiết cụ thể một số bài Văn học, TiếngViệt, Tập làm văn lớp 6 Chúng tôi so sánh đối chiếu với phương pháp dạy học truyền thống để có thể rút ra những ưu khuyết điểm
Trang 3- Phương pháp quan sát: dự giờ dạy học Ngữ văn của GV ở trường THCS
An Hiệp và dạy một số tiết theo yêu cầu của đề tài này
6 Kế hoạch nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này trong thời gian từ 18/02/2008 đến 4/04/2008
B NỘI DUNG CHÍNHCHƯƠNG 1: TÌM HIỂU NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 6
1 Phần văn học:
1.1 Nội dung chương trình
Trang 4a.Truyện dân gian:
- Truyền thuyết: gồm 5 truyện, dạy trong 5 tiết ở trong các tuần 1, 2, 3, 4 (Con rồng cháu tiên, Bánh Chưng bánh Dày, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thuỷ Tinh,Sự tích Hồ Gươm)
- Cổ tích: gồm 5 truyện, dạy trong 5 tiết ở các tuần 5, 6, 7, 8, 9 ( Sọ Dừa Thạch Sanh, Em bé thông minh,Cây bút thần, Ông lão đánh cá và con cá vàng)
- Ngụ ngôn: gồm 4 truyện dạy trong 3 tiết ở trong các tuần 10, 11 ( Ếch ngồi đáy giếng, Thấy bói xem voi, Đeo nhạc cho mèo, Chân, tay, mắt, miệng)
- Truyện cười: gồm 2 truyện dạy trong 1 tiết tuần 12 (Treo biển ,Lợn cưới áo mới)
-Ôn tập truyện dân gian: gồm 2 tiết ở tuần 13
b.Truyện trung đại:
Gồm 3 truyện dạy trong 3 tiết ở các tuần 14, 15, 16 (Con hổ có nghĩa,
Mẹ hiền dạy con, Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng)
c.Truyện kí hiện đại:
- Truyện: gồm 4 truyện dạy trong 10 tiết ở các tuần 18, 19, 20, 21 (Bài họcđường đời đầu tiên, Bức tranh của em gái tôi, Vựơt thác, Buổi học cuối cùng)
- Thơ có yếu tố tự sự: gồm 2 bài dạy trong 4 tiết ở 2 tuần 22, 23(Đêm nay Bác không ngủ, Lượm)
Trang 5-Kí: gồm 4 văn bản dạy trong 8 tiết ở các tuần 24, 25, 26, 27(Cô Tô, Cây tre, Lòng yêu nước, Lao xao).
1.1.2.2 Văn bản nhật dụng: Gồm 3 văn bản, dạy trong 6 tiết ở các tuần
29, 30, 31(Cấu Long Biên-chứng nhân lịch sử, Bức thư thủ lĩnh của người da đỏ,Động Phong Nha)
1.2.3 Chương trình ngữ văn địa phương : gồm 4 tiết dạy trong các tuần
17 (học kì I) và 33 (học kì II) chung với Tập làm văn
Ngoài ra chương trình còn giành một số tiết để ôn tập, cho kiểm tra tổng hợp cuối năm (tuần 32)
sử văn học, giàu tính chất văn chương Nhược điểm của nó là còn nặng tính chất lí thuyết (1 tiết khái quát về văn học dân gian, 1 tiết ôn tập theo cụm thể loại VHDG) Chương trình xây dựng độc lập nên không hổ trợ cho việc dạy Tập làm văn (văn tả cảnh, phát biểu cảm nghĩ) các văn bản thơ, truyện cũng không được dùng làm ngữ liệu cho việc dạy các kiến thức Tiếng Việt nên hai phân môn không có sự tác động tương hổ
Chương trình Văn học sách Ngữ văn 6 chủ yếu chọn các văn bản tự sự và sắp xếp theo cụm thể loại và một số Văn bản nhật dụng nên góp phần hỗ trợ đắc
Trang 6lực cho vệc rèn luyện kĩ năng phân tích và tạo lập văn bản tự sự, văn bản nhật dụng trong chương trình Tập làm văn 6 Đồng thời, các văn bản và chú thích là những ngữ liệu rất tốt cho việc dạy các tri thức Việt ngữ trong chương trình dạy Tiếng việt Tuy nhiên do yêu cầu cấu trúc theo loại thể nên chưong trình Ngữ Văn 6 chỉ có 2 tác phẩm thơ có yếu tố tự sự nên hơi giảm chất văn, có thể làm giảm thú học văn của một số học sinh yêu thích tác phẩm trữ tình hơn tự sự Theo ý kiến riêng của chúng tôi, để đáp ứng yêu cầu trên của học sinh, nên chọn thêm một số bài học thêm thuộc thể loại trữ tình có đề tài gần gủi với hệ thốngthể loại đã chọn( Ví dụ:Chọn bài thơ “truyện cổ nước mình” dùng để đọc thêm sau các truyện dân gian ).
2 PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT
2.1 Nội dung chương trình
2.1.1.Thời lượng
* Chương trình hiện hành:
Tổng số tiết 67 tiết/năm, phân riêng cho từng phân môn Từ ngữ và ngữ pháp
Kì I: 34 tiết Từ ngữ 17 tiết, Ngữ pháp 17 tiết
Kì II: 32 tiết Từ ngữ 16 tiết, Ngữ pháp 16 tiết
* Chương trình đổi mới:
Tổng số tiết 35 tiết/năm, phân chung trong phân môn Tiếng Việt, không tách riêng thành Từ ngữ và Ngữ pháp
Học kì 1: 18 tiêt
Học kì 2: 17 tiết
Nhìn chung so với chương trình hiện hành, số giờ học Tiếng Việt trong chương trình SGK đổi mới rút xuống ít hơn
2.1.2 Nội dung:
* Chương trình Tiếng Việt hiện hành dạy cho HS những nội dung sau:
- Từ ngữ gồm:
Trang 7+ Từ và cấu tạo từ(từ đơn,từ phức, từ láy, nghĩa của từ láy, từ ghép Hán - Việt).
+ Nghĩa của từ, từ đống âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, yếu tố Hán – Việt…), mở rộng vốn từ Hán – Việt
+ So sánh, nhân hóa, điệp ngữ
+ Các vấn đề khác (từ Hán Việt, chữa lỗi dùng từ)
- Ngữ pháp gồm:
+ Phân loại câu theo mục đích nói
+ Câu đơn hai thành phần
+ Câu đặc biệt
+ Câu tỉnh lược
+ Từ loại ( danh từ, động từ, tính từ )
+ Danh từ bổ ngữ Cụm danh từ
+ Động từ và bổ ngữ cụm động từ
+ Tính từ và bổ ngữ cụm tính từ
+ Phần hô đáp, phần phụ chú
+ Ôn tập
* Chương trình đổi mới:
- Cụm bài về từ
+ Từ và cấu tạo từ ( từ đơn, từ phức )
+ Các lớp từ ( từ thuần Việt và từ vay mượn
+ Từ loại ( Danh từ và cụm danh từ, Số từ, Lượng từ, Chỉ từ, Động từ và cụm động từ )
+ Các vấn đề khác ( từ Hán – Việt, chữa lỗi dúng từ )
- Cụm bài về câu:
+ Thành phần chính của câu (thành phần chính và thành phần phụ của câu,chủ ngữ và vị ngữ)
+ Các kiểu câu( câu trần thuật đơn, câu có từ là )
Trang 8+ Chữa lỗi về vị ngữ và chủ ngữ (câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, câu thể hiện sai mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chủ ngữ với vị ngữ).
- Dấu câu ( dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm phẩy )
- Cụm bài về tu từ :
- Kiến thức Tiếng Việt thường được trình bày theo hướng quy nạp Từ ví dụ cụ thể được Hs rút ra kết luận và từ đó HS sẽ luyện tập bằng hệ thống câu hỏibài tập, và thường đặt ra các ví dụ cụ thể : chữa lỗi từ để HS tiếp nhận được một cách nhanh chóng, dể hiểu
- Ở chương trình SGK lần này, do tính tích hợp nên có sự thay đổi trong cách biên soạn Cuụ thể sự thay đổi đó là :
+ Bám sát văn bản chung để khai thác và rèn luyện, học tập Một mặt cung cấp tri thức Tiếng Việt, mặt khác làm sáng tỏ hơn cho việc đọc hiểu văn bản của giờ văn
+ Mức độ kiến thức và cách trình bày hết sức rõ ràng, tinh giản, nhẹ nhàng, dễ hiểu
+ Tăng cường luyện tập, thực hành bằng hệ thống bài tập – câu hỏi
3 PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
3.1 Nội dung chương trình
3.1.1 Thời lượng :
* Chương trình hiện hành :
Trang 9- Văn bản trần thuật.
+ Các nội dung chính : Tìm hiểu chung về văn trần thuật
+ Các hình thức luyện tập : Trần thuật miệng, Trần thuật viết, dựng đoạn
- Văn miểu tả
+ Tìm hiểu chung về văn bản miêu tả
+ Các hình thức luyện tập Tìm hiểu đề, tập quan sát, tìm ý, Tập làm dàn bài, dựng đoạn, viết bài
- Văn bản cảm nghĩ
+ Tìm hiểu chung về văn bản cảm nghĩ
+ Các hình thức luyện tập : Tập nói về phát biểu cảm nghĩ, bài viết về phát biểu cảm nghĩ
- Văn viết thức
+ tìm hiểu chung
+ Các hình thức luyện tập : Tập làm dàn ý, tập viết bài văn viết thư
* Chương trình đổi mới
SGK Ngữ văn 6 lần này chỉ tập trung chủ yếu vào hai kiểu bài : Tự sự và miêu tả
3.1.2.1 Về kiểu văn bản tự sự
- Khái niệm văn bản tự sự
- Các nội dung chính : tìm hiểu chung ; sự việc và nhân vật trong bài tữ sự ; Lời văn, đoạn văn tự sự ; Ngôi kể và lời kể trong văn tự sự ; Thứ tự kể
- Các hình thức luyện tập : luyện nói ( kể chuyện ) ; Luyện viết ( kể lạ chuyện cổ đã học ; kể chuyện đời thường ; Kể chuyện sáng tạo ; Thi kể chuyện
3.1.2.2 Về kiểu văn bản miêu tả.
- Khái niệm văn bản miêu tả
- Các nội dung chính : Tìm hiểu chung ; Quan sát ; Tưởng tượng ; So sánhvà nhận xét ; phương pháp tả cảnh ; phương pháp tả người
Trang 10- Các hình thức luyện tập, luyện nói, luyện viết ( viet61 bai2 ta3 canh3 ; viết bài tả người ; viết bài miêu tả sáng tạo ; viết bài văn kết hợp kể chuyện và miêu tả ) Tập làm thơ 4 chữ và 5 chữ có sữ dụng các yếu tố kễ và miêu tả.
3.1.2.3 Văn bản điều hành
Tập viết đơn ( khi nào phải viết đơn, các loại đơn, các loại đơn, cách viết đơn, lỗi về đơn từ và cách khắc phục )
+ Chương trình chú trọng kĩ năng thực hành, luyện tập
- Chương trình đổi mới đưa thêm nội dung tập làm thơ 4 chữ, 5 chũ cho
HS với mục tiêu làm cho Hs nắm chắc hơn đặc điểm của thể loại thơ 4 chũ, 5 chữ trong các văn bản các em đã học
- Nội dung trong chương trình đổi mới đã thể hiện được tính tích hợp của các phân môn Do hệ thông văn bản đọc hiểu chiếu cố đặc điểm của văn học sử (Chẳng hạn, văn học lớp 6 nặng về văn học dân gian, văn học cố ) Cho nên để thuận lợi cho việc học Tập làm văn, SGK phải cung cấp nhiều văn bản phụ, chủ
Trang 11yếu là văn bản ngắn và gần gũi với yêu cầu tập làm văn của các em Các câu hỏi gợi mở cho HS tìm hiểu văn bản, tiến đến thực hành nói và viết Cách ra đề trong Tập làm văn trong cuốn sách này cũng có phần đổi mới, tính khái quát cao hơn, kiểu loại cũng đa dạng hơn.
3.2 Nhận xét.
Trong SGK lớp 6, phần văn bản tự sự được soạn súc tích hơn Tuy không đặt riêng kiẻu bài trần thuật mà nội dung rèn luyện kĩ năng kể lại những kiểu vănbản tự sự đã sử dụng các hình thức luyện tập tóm tắc và kể lại Các văn bản tự sựvà miêu tả được bố trí nhiều giờ hơn, gần như cả một học kì cho một kiểu văn bản, do vậy mà cơ hội học và luyện tập được kĩ càng hơn Việc đưa bài văn tự sự( kể chuyện ) trước khi học ở lớp 7 này chuyển xuống học ở lớp 6 Thoạt nhìn cócảm giác khó cho lớp 6 trước đây cũng đã học kiểu bài trần thuật Do vậy, khôngquá sức đối với HS
Tập làm văn tự sự ở lớp 6 cung cấp các kiến thức về nhân vật, sự việc, bố cục, lời văn, đoạn văn, ngôi kể, thự tự kể, tự sự đời thường, tự sự tưởng tượng sáng tạo Các kiến thức đó, một mặt tạo điều kiện cho Hs nắm được nhiều khả năng biến hóa của tự sự, mặt khác cũng tác động ngược trở lại, giúp HS học tốt các phần đọc hiểu các văn bản tự sự trong chương trình ngữ văn 6
Trang 12CHƯƠNG 2 : ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ
VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.
1 Phương pháp dạy học
1.1.Định hướng cơ bản :
Đề cao vai trò chủ động tích cực của học sinh trong hoạt động nhận thứcvà ứng dụng các kiến thức kĩ năng văn học Giáo viên không còn là người chỉ biết truyền thụ kiến thức, kĩ năng văn học cho học cho học sinh mà có cả vai trò tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tìm tòi, khám phá để hiểu, cảm vận dụng các kiến thức kĩ năng văn học đúng hướng, đúng cách tránh suy diễn, phỏng đoán hay nhắc lại Học sinh sẽ được hiểu, cảm cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học, bọc lộ sự hiểu, cảm ấy bằng ngôn ngữ và tình cảm của lứa tuổi mình ; các kỹ năng đọc, phân tích, bình giá, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói, viết sẽ được hình thành chắc chắn và bền vững
1.2 Cơ sở của việc đổi mới PPDH văn.
-Căn cứ vào mục tiêu của chương trình môn văn THCS
-Căn cứ vào đặc trưng của môn văn
-Căn vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS khi tiếp nhận văn có nhiều điểm khác với học sinh tiểu học
Trang 131.3 Những biểu hiện tích cực của đổi mới PPDH văn ở THCS.
Trong tiếp nhận và cảm thụ kiến thức văn học : tình trạng chung của việcdạy học văn ở THCS hiện nay là : Học sinh tiếp nhận và cảm thụ kiến thức văn học phải qua một khâu trung gian là giáo viên Theo tinh thần đổi mới, vai trò trung gian của giáo viên cần giảm đến tối thiểu Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học(TPVH), giáo viên(GV), học sinh (HS)cần thay đổi theo mô hình sau :
TPVH HS (chủ động trực tiếp)
Giáo Viên (tổ chức, hướng dẫn) Với vai trò tổ chức hướng dẫn, giáo viên phải huy động linh hoạt tài năng nghệ thuật sư phạm để các hoạt động học tập văn học của học sinh được tích cực ở mức tối đa, đạt hiệu quả cao nhất
- Trong sự vận dụng các phương pháp dạy học văn học : để đảm bảo tính khoa học nghệ thuật cho giờ văn Đổi mới PPDH thực chất là sự vận dụng linh hoạt sáng tạo tất cả các PPDH nhằm phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong học tập văn của tất cả các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung, bình, yếu, kém Đổi mới PPDH học không có nghĩa là từ bỏ PPDH truyền thống hoặc đọc tôn PPDH mới Vấn đề không phải là bản thân các phương pháp mà là sự vận dụng chúng một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chổ Đổi mới PPDH văn có nghĩa là : tất cả các phương pháp như : thuyết giảng, bình giảng, nêu vấn đề, đàm thoại, đọc diễn cảm, thảo luận, tự tìm hiểu nghiên cứu điều được vận dụng trong dạy học văn theo quy luật hoạt động bên trong của chủ thể học sinh Như vậy đổi mới PPDH văn có sự thay đổi về bản chất, từ thông báo tái hiện sang tổ chức cho học sinh tiếp nhận, cảm thụ,vận dụng kiến thức, kĩ năng văn học
Trang 14Sự vận dụng một số PPDH văn ở THCS :
- Phương pháp dọc diễn cảm được chú trọng khai thác trong các giai đoạn tiếp xúc ban đầu với tác phẩm nhằm tạo ấn tượng và hứng thú tích cực Nó không chỉ là hoạt đông thuần túy đọc mẫu của GV mà còn là sự đọc có vận độngcủa tư duy, tình cảm HS để các em có thể nhập vai, tái tạo lại hình tượng văn học, nắm được cốt truyện và chủ đề tư tưởng của tác phẩm
- Phương pháp thuyết giảng, bình giảng vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học văn ở trường THCS Phương pháp này có thể khắc phục được khả năng tư duy khái quát, tổng hợp của HS THCS với mặt dày tri thức, chiều sâu cảm xúc, GV có thể cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng mà bản thân HS không thể tự khám phá, tìm hiểu được Phương pháp này cũng đảm bảo cho việctruyền thụ những thông tin văn học cần thiết trong một thời lượng cho phép của một giờ lên lớp, nhất là đối tượng HS yếu
Các phương pháp dạy học khơi dậy tính tích cực của HS trong tiếp nhận và cảm thụ văn học ( đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận, ) được chú trọng vận dụng với tinh thần tạo không khí dân chủ cho giờ học, đề cao năng lực tự suy nghĩ của bản thânđối với mỗi đối tượng HS GV khi vận dụng các PPDH này sẽ mất nhiều công sức đầu tư cho việc định hướng các hoạt động của HS Có thể sửdụng các câu hỏi tương ứng với từng giai đoạn học tập như : câu hỏi tạo ấn tượng thẩm mỹ, câu hỏi phát hiện các bản chất hiện tượng văn học, câu hỏi kích thích tư duy liên tưởng, tưởng tượng hay phân tích đánh giá, câu hỏi khái quát, tổng kết các vấn đề văn học, câu hỏi trắc nghiệm trong phiếu bài tập Khi vận dụng PPDH này có một khó khăn là làm sao để HS có thể diễn đạt bằng ngôn Ngữ những suy diễn của mình Khơi dậy sự tích cực trong học tập văn ở HS là đã khó, giúp HS bộc lộ thì lại càng khó hơn nhiều GV phải tập cho HS biết nói
ra những gì mà nó biết rõ, những gì mà nó suy nghĩ nhiều và sâu sắc Từ khâu chuẩn bị soạn giáo án, GV phát hiện lựa chọn những tình huống HS sẽ trả lời để uốn nắn kịp thời và đảm bảo thời lượng cho giờ học, vừa phát huy được sự vận
Trang 15động tích cực của trí lực HS Điều khó khăn đối với GV là khi vận dụng phương pháp nêu vấn đề, giờ học có thể bị trầm lắng xuống và ồn ào, khó chủ động về thời gian Vì vậy, GV phải có sự chuẩn bị công phu, nắm được các diễn biến tìnhcảm qua sự bộc lộ của HS, vận dụng linh hoạt các biện pháp sư phạm để vận dụng, điều hành các hoạt động dạy và học văn.
1.1.4 Những yêu cầu đặt ra đối với GV văn ở trường THCS theo tinh thần đổi mới PPDH.
- GV phải nắm chắc nội dung bài giảng và những vấn đề có liên quan đến tác giả, tác phẩm GV khi lên lớp phải thực sự hiểu, rung động với tác phẩm mà mình sẽ dạy chứ không phải là hiểu biết, cảm nhận, cập nhật từ các tài liệu và sách hướng dẫn mà GV đã học Tầm kiến thức của GV phải cao hơn những gì mà SGK có, những vấn đề đặt ra trong bài học lại không thoát ly những yêu cầu
cơ bản của bài học
- GV phải có những kĩ năng sư phạm để có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp biện pháp dạy học để hướng dẫn HS trong quá trình học tập có hiệu quả
Theo định hướng đổi mới PPDH, quy trình giờ văn không gò bó cứng nhắc mà dnh2 cho GV môt khoảng trống sáng tạo trong việc vận dụng các
PPDH Tương ứng với các nội dung văn học được khai thác trong giờ học, GV phải định ra được một hệ thống các thao tác sư phạm để dẫn dắt HS chiếm lĩnh tác phẩm một cách có hứng thú
- GV phải biết nghe thông tin từ phía HS để điều chỉnh cách dạy và uốn nắn quá trình tiếp nhận, cảm thụ đi đúng hướng
- GV phải rèn luyện cho HS có nhu cầu và khả năng bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của mình về tác phẩm qua hoạt động trao đổithảo luận với GV, với bạn Để
HS có được nhu cầu này, Gv phải có công tạo nề nếp cho HS trong mỗi giờ văn Lúc đầu phải có thể ép buộc HS nói, viết, dù đúng, sai, sau cùng là động viên khích lệ HS nghĩ kĩ để nói, viết đúng và mức độ coa là nói, viết hay
Trang 161.2 Thực trạng dạy học Ngữ văn ở trường THCS hiện nay.
truyền đạt lại cho HS sao cho hấp dẫn để các em cò thể ghi nhớ, tái hiện và đồngcảm Những nội dung này chưa thật sự là kết quả của sự hiểu, cảm của chình Gv mà có khi là sự vay mượn, mô tả từ các tài liệu tham khảo, các sách hướng dẫn giảng dạy có sẵn Không ít GV cho rằng dạy văn tốt là phải nói hay, hùng biện tốt để nhồi nhét kiến thức vào đầu óc của HS Do chưa nhận xét được đầy đủ nhiệm vụ kép của giờ văn làvừa cho HS thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm vừa giúp HS có cơ hội được rèn luyện nâng cao kĩ năng, năng lực văn học, vừa giáo dục tư tưởng tình cảm cho HS nên các GV còn chưa mạnh dạn đổi mới cáchdạy học Thực ra với PPDH truyền thụ kiến thức có sẵn Giáo viên có thể chủ động trong việc cung cấp kiến thức, và cũng có những thành công ở những tác phẩm mà giáo viên thực sự hiểu, cảm, hứng thú hoặc đã có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm Hạn chế cơ bản của phương pháp dạy học này là sự áp đặt cách hiểu, cách cảm của giáo viên tới học sinh là bỏ qua khả năng tích cực, sáng tạo trong nhận thức và cảm thụ văn học của mỗi cá nhân học sinh Hậu quả là học sinh khó có được sự đồng cảm sâu sắc với tác phẩm văn học
1.2.2 Về phía học sinh:
Hạn chế lớn nhất là thụ động trong quá trình học tập: quen nghe chép, ghi,nhớ và tái hiện lại những gì mà giáo viên nói với những biểu hiện sau: