package connectDB; import java sql Connection; import java sql DriverManager; import java sql SQLException; public class ConnectDB { public static Connection con = null; private static ConnectDB insta[.]
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC DƢỢC
Hậu Giang – Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Giảng viên hướng dẫn:
THS NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN
Hậu Giang – Năm 2021
Trang 3Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo các bộ môn ở Trường Đại học
Võ Trường Toản đã truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại nhà trường
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn giúp đỡ động viên tôi trong học tập, công tác và cuộc sống
Đặc biệt tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Tuyền
đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả
Lê Thiều Nhật Thuận
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thiều Nhật Thuận
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 4
1.1.1 Định nghĩa huyết áp 4
1.1.2 Định nghĩa tăng huyết áp 4
1.1.3 Chẩn đoán tăng huyết áp 5
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp 5
1.2 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng huyết áp 8
1.2.1 Những nét cơ bản trong điều trị tăng huyết áp 8
1.2.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp 12
1.3 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam 18
1.3.1 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở các nước trên thế giới 18
1.3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở Việt Nam 19
1.4 Các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú 20
1.4.1 Yếu tố cá nhân 20
1.4.2 Yếu tố về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân 21
1.4.3 Yếu tố hỗ trợ gia đình và xã hội 22
1.4.4 Yếu tố dịch vụ y tế 22
1.5 Sơ đồ khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân 23
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 25
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 25
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu 26
2.5 Phương pháp chọn mẫu 26
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.7 Các biến số trong nghiên cứu 27
2.8 Các tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu 28
2.9 Phương pháp hạn chế sai số 31
2.10 Phương pháp phân tích số liệu 32
2.11 Đạo đức nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 33
3.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 38
3.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 42
3.3.1 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp bằng thuốc 42
3.3.2 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp bằng các biện pháp thay đổi lối sống 50
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 56
4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân tăng huyết áp 56
Trang 84.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú
tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 62
4.2.1 Thực trạng về tuân thủ điều trị thuốc 62
4.2.2 Thực trạng tuân thủ thay đối lối sống 63
4.3 Các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại Học Võ Trường Toản năm 2021 66 KẾT LUẬN 70
KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các ngƣỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo [22], [24] 5
Bảng 2.1 Đánh giá tuân thủ dùng thuốc theo thang điểm Morisky 8 28
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ thay đổi lối sống 30
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân tăng huyết áp theo đặc điểm cá nhân 34
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân tăng huyết áp theo việc nhận đƣợc sự hỗ trợ, nhắc nhở tuân thủ điều trị tăng huyết áp 35
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân tăng huyết áp theo điều kiện tiếp cận 36
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân tăng huyết áp theo sự hỗ trợ của cán bộ y tế 37
Bảng 3.5 Tỷ lệ các yếu tố về tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân 38
Bảng 3.6 Tỷ lệ phân bố các yếu tố tuân thủ thay đổi lối sống của bệnh nhân tăng huyết áp 39
Bảng 3.7 Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp 40
Bảng 3.8 Tỷ lệ tuân thủ thay đổi lối sống của bệnh nhân tăng huyết áp 41
Bảng 3.9 Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của bệnh nhân tăng huyết áp 41
Bảng 3.10 Mô hình hồi quy đơn biến phân tích mối liên quan giữa 42
Bảng 3.11 Mô hình hồi quy đơn biến phân tích mối liên quan giữa tuân thủ điều trị thuốc với các yếu tố thông tin về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân 44
Bảng 3.12 Mô hình hồi quy đơn biến phân tích mối liên quan giữa 45
Bảng 3.13 Mô hình hồi quy đa biến phân tích các yếu tố liên quan đến 47
Bảng 3.14 Mô hình hồi quy đơn biến phân tích mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi lối sống với các yếu tố thông tin chung của bệnh nhân 50
Bảng 3.15 Mô hình hồi quy đơn biến phân tích mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi lối sống với các yếu tố thông tin về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân 52
Bảng 3.16 Mô hình hồi quy đơn biến phân tích mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi lối sống với các yếu tố thông tin về tiếp cận dịch vụ y tế 53
Bảng 3.17 Mô hình hồi quy đa biến phân tích các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ thay đổi lối sống của bệnh nhân 54
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nhóm tuổi 33 Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo giới tính 33
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là một trong những vấn đề thách thức của nền y học thế giới [65] Đây là bệnh mạn tính âm thầm gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm Bệnh không những gây chết người mà còn để lại những di chứng nặng nề, làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội [19] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp ngày càng tăng Năm 2018, số người bị tăng huyết áp trên thế giới là 1 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 1,56 tỷ (chiếm tỷ lệ 29,2% dân số thế giới) vào năm 2025 [14], [47] Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm của hơn 10 triệu người mắc bệnh vào năm
2015 [14] Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp theo điều tra dân số về các bệnh không lây truyền trên đối tượng năm 2015 là 18,9% Nếu không có các biện pháp dự phòng, số lượng người bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam sẽ là 25 triệu vào năm 2025 [36]
Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp là liên tục, suốt đời và quan trọng nhất là phải tuân thủ đúng theo hướng dẫn của bác sĩ [22] Sự tuân thủ là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong điều trị Tuân thủ điều trị bao gồm phải thực hiện việc uống thuốc đều đặn theo y lệnh của bác sĩ và đồng thời thực hiện tích cực các biện pháp thay đổi lối sống [1] Nếu bệnh nhân không tuân thủ điều trị sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến các cơ quan khác và có thể dẫn đến tử vong [28] Ngược lại, nếu điều trị đúng sẽ giảm được nhiều biến chứng nguy hiểm, bao gồm 40% nguy cơ tai biến mạch máu não và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim Từ
đó, góp phần nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân [62]
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy kết quả của việc tuân thủ điều trị còn khá thấp Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) năm 2013, tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trên thế giới đạt tỷ lệ thấp chỉ từ 20%-30% [30] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Công Trưởng trên bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại khoa nội tim mạch bệnh viện quận 2 thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân là 41,2% [25] Một nghiên cứu khác của Ngô Vương Hoàng Giang và
Trang 12cộng sự trên bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang năm 2020 cho kết quả việc tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân đang điều trị ngoại trú trong việc tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ thay đổi lối sống lần lượt là 49,5% và 40,5% [16]
Để góp phần đánh giá đúng thực trạng tuân thủ điều trị và những yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021” Nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp
quản lý mới và các chương trình giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao việc tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết
áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa huyết áp
Huyết áp là số đo áp lực của dòng máu được đẩy ra bởi lực co bóp của cơ tim lên thành động mạch Khi áp lực lên thành mạch càng cao thì lực co bóp của cơ tim
càng mạnh Đơn vị đo của huyết áp là mili mét thủy ngân (mmHg) [3]
Huyết áp được chia ra thành huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu) là mức huyết áp cao nhất do lực co bóp của tim tạo nên Ngược lại, huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương) là trị số huyết
áp giữa những nhịp đập khi tim nghỉ ngơi
Huyết áp bị ảnh hưởng bởi sức co bóp của tim, độ quánh của máu, thể tích máu lưu thông và sức đàn hồi của thành mạch [44]
1.1.2 Định nghĩa tăng huyết áp
Tăng huyết áp là khi trị số huyết áp của một người trưởng thành (>18 tuổi) luôn cao hơn trị số huyết áp bình thường (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trương) Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) và hướng dẫn điều trị tăng huyết áp của
Bộ Y tế ban hành năm 2015, tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu >140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương >90mmHg (trị số huyết áp này phải được đo theo đúng quy trình tại bệnh viện hoặc phòng khám và huyết áp phải được đo trong lúc ngồi ít nhất 2 lần mỗi lần khám và ít nhất 2 lần khám khác nhau – phụ lục 3) [12], [22]
Trong y học, tăng huyết áp chủ yếu được phân chia theo căn nguyên của bệnh bao gồm các loại tăng huyết áp như sau:
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: là huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và huyết
áp tâm trương <90 mmHg, thường gặp chủ yếu ở người cao tuổi [64] Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương gia tăng theo tuyến tính cho đến khoảng 60 tuổi Sau đó, huyết áp tâm trương sẽ giảm dần trong khi huyết áp tâm thu tiếp tục tăng theo thời gian [33]
Tăng huyết áp áo choàng trắng: là huyết áp bệnh nhân thường xuyên tăng
khi đi khám tại bệnh viện hoặc phòng khám gặp bác sĩ hoặc cán bộ y tế có mặc áo
Trang 15blouse, trong khi huyết áp đo hàng ngày trong 24 giờ lại bình thường Bệnh nhân bị tăng huyết áp áo choàng trắng là khi huyết áp phòng khám ≥140/90 mmHg sau khi
đi khám nhiều lần và huyết áp trung bình 24 giờ <135/85 mmHg [19], [51]
Tăng huyết áp ẩn giấu: là trường hợp huyết áp bệnh nhân bình thường tại
bệnh viện hoặc phòng khám khi có sự hiện diện của nhân viên y tế nhưng lại tăng huyết áp ở những nơi khác Trường hợp này hiếm gặp hơn tăng huyết áp áo choàng trắng Tuy nhiên, tăng huyết áp ẩn giấu rất nguy hiểm do có tổn thương cơ quan đích và nguy cơ tử vong cao hơn những trường hợp tăng huyết áp khác [19], [61]
1.1.3 Chẩn đoán tăng huyết áp
Dựa vào số đo huyết áp tại phòng khám và huyết áp ngoài phòng khám (huyết áp tại nhà, huyết áp liên tục), tiền sử cá nhân và gia đình, khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng để xác định nguyên nhân tăng huyết áp, đánh giá các yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích và các bệnh đi kèm [14]
Bảng 1.1 Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo [22], [24]
tâm thu
Huyết áp tâm trương
1 Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 mmHg ≥ 90mmHg
2 Đo bằng máy đo huyết áp tự động 24
3 Tự đo tại nhà (đo ít nhất 3 lần, lấy
kết quả trung bình 2 lần cuối)
≥135 mmHg ≥85 mmHg
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp
1.1.4.1 Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được
Tuổi
Huyết áp càng tăng khi tuổi càng cao, đặc biệt với nam giới >55 tuổi và nữ giới >65 tuổi Tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp ở nhóm đối tượng trên 60 tuổi là 60% Nguyên nhân chủ yếu là do lối sổng tỉnh tại ít vận động, trọng lượng cơ thể
Trang 16tăng và các thành mạch bị lão hóa xơ cứng làm giảm tính đàn hồi dẫn đến tăng huyết áp [47], [64]
Tiền sử bệnh tăng huyết áp của gia đình bệnh nhân
Bệnh nhân có người thân cùng huyết thống trong gia đình bị tăng huyết áp có nguy cơ cao bị mắc bệnh tăng huyết áp Tính di truyền được nghiên cứu qua nhiều quần thể Nghiên cứu của Priyanga vào năm 2015 trên 5000 người trưởng thành ở Sri Lanka cho thấy tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp (ông/bà, cha/mẹ hoặc anh/chị/em) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tần suất mắc bệnh tăng huyết
1.1.4.2 Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
Ăn mặn
Sự liên quan giữa lượng muối và tần suất bệnh tăng huyết áp được khảo sát trong một nghiên cứu lớn thực hiện trên 10079 người (bao gồm cả nam và nữ) ở 52 quốc gia khác nhau trên thế giới Kết quả cho thấy sự tương quan giữa lượng natri bài tiết trong ngày và chỉ số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương
Lượng muối ăn vào mỗi ngày có thể làm gia tăng thể tích tuần hoàn, làm tăng cung lượng tim dẫn đến tăng huyết áp Bên cạnh chế độ ăn với hàm lượng muối cao còn tác động gây tăng huyết áp theo những cơ chế khác như làm tăng Canxi nội bào, đề kháng Insulin và điều hòa lên thụ thể Angiotensin trên động vật thí nghiệm Lượng muối ăn vào nhiều sẽ dẫn tới sự tăng oxy hóa và tổn thương thận Đây cũng là nguyên nhân gây tăng huyết áp [9]
Trang 17Thuốc lá
Khói thuốc lá vào cơ thể sẽ tác động nhanh chóng tới tim và mạch máu Nhịp tim có thể tăng tới 30% trong 10 phút đầu hút thuốc Sự kích thích này làm mạch máu co bóp lại dẫn đến tim phải hoạt động nhiều hơn để luân chuyển oxy Nhịp tim
sẽ giảm từ từ nếu tiếp tục hút thuốc, nhưng không bao giờ trở lại bình thường nếu như vẫn tiếp tục
Các chất hóa học trong thuốc lá cũng làm giảm tác dụng của các thuốc hạ áp Các chất này kích thích gan sản xuất enzyme vào trong máu làm giảm tác dụng điều
Thừa cân, béo phì
Tăng cân làm gia tăng tần suất mới mắc bệnh tăng huyết áp Nghiên cứu đoàn hệ trên 80000 phụ nữ cho thấy sự gia tăng >5 kg ở người >18 tuổi làm tăng nguy cơ tăng huyết áp cao hơn 60% so với người tăng cân <2 kg Người tăng cân
≥10 kg có nguy cơ tăng huyết áp cao gấp 2,2 lần các nhóm còn lại Theo Kannel và cộng sự, tăng mỗi 4,5 kg sẽ làm tăng huyết áp tâm thu khoảng 4 đến 5 mmHg
Cơ chế tăng huyết áp do béo phì bao gồm:
+ Sự gia tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm
+ Sự gia tăng hoạt động hệ Renin
+ Gia tăng Aldosterone
+ Gia tăng Insulin
+ Gia tăng axit béo tự do
+ Giảm nitric oxide
Trang 18Hoạt động thể lực
Lối sống tỉnh tại ít vận động là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tăng huyết
áp Điều này đã được chứng minh qua nghiên cứu của Martinez và cộng sự [32] Việc vận động hàng ngày từ 30 đến 45 phút được nhiều nghiên cứu chứng minh làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch, đặc biệt là tăng huyết áp [35]
Đái tháo đường
Đái tháo đường làm tăng nguy cơ dẫn đến bệnh tăng huyết áp Người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp cao gấp 2 lần người không mắc bệnh Vì vậy, cần phải điều trị tốt bệnh đái tháo đường để góp phần khống chế bệnh tăng huyết áp kèm theo [50]
1.2 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng huyết áp
1.2.1 Những nét cơ bản trong điều trị tăng huyết áp
1.2.1.1 Mục tiêu điều trị tăng huyết áp
Mục tiêu điều trị là đạt được “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”
Mức huyết áp mục tiêu là <140/90 mmHg đối với người không có bệnh mắc kèm Bệnh nhân đái tháo đường và bệnh thận mãn tính thì mức huyết áp mục tiêu là
<130/80 mmHg [1]
Cần xác định điều trị tăng huyết áp là điều trị lâu dài và suốt đời [19]
Giảm tối đa các biến chứng và nguy cơ tử vong do tăng huyết áp gây ra
Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và bệnh mắc kèm (nếu có)
Trang 191.2.1.2 Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần được điều trị sớm, theo dõi lâu dài
và điều trị đúng đủ hàng ngày [1]
Phải từ từ đưa huyết áp về mức mục tiêu Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để có biện pháp điều chỉnh kịp thời [1], [18]
Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu [1], [18]
Kết hợp điều trị thuốc với chế độ sinh hoạt hợp lý [1], [10]
Chọn thuốc ít tác dụng phụ và phù hợp đối tượng bệnh nhân [1]
Phải cân nhắc từng bệnh nhân, các bệnh kèm theo, các yếu tố nguy cơ và tác dụng phụ của thuốc để có chế độ dùng thuốc hợp lý [19]
1.2.1.3 Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc
Hiện nay, có 5 nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp cơ bản là lợi tiểu thiazid, chẹn kênh Calci, ức chế men chuyển dạng Angiotensin, đối kháng thụ thể Angiotensin và chẹn bêta giao cảm Các thuốc đều có thể lựa chọn để điều trị khởi đầu, điều trị duy trì, đơn độc hoặc phối hợp trên bệnh nhân Các thuốc chẹn bêta giao cảm, đặc biệt khi phối hợp với lợi tiểu thiazid, không nên lựa chọn cho các bệnh nhân mắc các hội chứng chuyển hóa hoặc bệnh nhân có nguy cơ cao đái tháo
đường [18]
Việc nhấn mạnh đến loại thuốc nào được chọn đầu tay hiện không có nhiều ý nghĩa do phần lớn bệnh nhân phải phối hợp thuốc Tuy nhiên, cần lưu ý đến tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân vì hiện nay có nhiều chứng cứ ủng hộ cho việc
ưu tiên lựa chọn nhóm thuốc này hơn là nhóm thuốc khác trong từng điều kiện cụ thể [18]
Trang 20Trong phạm vi các thuốc hiện có, việc chọn thuốc nào, phối hợp như thế nào
và tránh thuốc nào sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm [18]:
- Kinh nghiệm sử dụng nhóm thuốc đó trên bệnh nhân cho thấy phù hợp hay không phù hợp
- Tác dụng đặc hiệu của nhóm thuốc trên nguy cơ tim mạch của bệnh nhân
- Sự có mặt của tổn thương cơ quan đích, bệnh tim mạch, bệnh thận, hoặc đái tháo đường cũng sẽ giúp chọn hay tránh dùng một số nhóm thuốc
- Một số bệnh cảnh lâm sàng khác của bệnh nhân có thể làm hạn chế sử dụng một số nhóm thuốc nhất định
- Tương tác với các thuốc bệnh nhân đang dùng
- Giá thành của thuốc
Cần rất lưu ý đến các tác dụng không mong muốn của thuốc vì đây là yếu tố
cơ bản dẫn đến bệnh nhân không tuân thủ điều trị [18]
Cần duy trì tác dụng hạ huyết áp suốt 24 giờ Hiệu quả này có thể được kiểm tra bằng cách theo dõi huyết áp tại thời điểm đáy (trước khi dùng liều thuốc tiếp theo) hoặc theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ [18]
Các thuốc có tác dụng 24 giờ với liều duy nhất trong ngày có ưu thế hơn vì lịch dùng thuốc đơn giản, làm tăng tuân thủ điều trị cho bệnh nhân [18]
Chọn thuốc khởi đầu [22]:
+ Tăng huyết áp độ 1: có thể lựa chọn một thuốc trong số các nhóm: lợi tiểu thiazid liều thấp, ức chế men chuyển, chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài hoặc chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định)
+ Tăng huyết áp từ độ 2 trở lên: nên phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của Angiotensin II hoặc chẹn bêta giao cảm)
+ Từng bước phối hợp các thuốc hạ áp cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazid 12.5mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích chậm (nifedipin chậm (retard) 10-20mg/ngày), ức chế men chuyển (enalapril 5mg/ngày; perindopril 2,5-5 mg/ngày)
Trang 21Theo Viện nghiên cứu tim mạch Châu Âu, việc kết hợp thuốc cần chú ý đến
2 nhóm đối tượng bị tăng huyết áp [64]:
+ Người già: chẹn kênh canxi kết hợp với lợi tiểu thiazid
+ Phụ nữ: chẹn bêta giao cảm kết hợp với chẹn kênh canxi nhóm DHP, tránh dùng nhóm ức chế thụ thể Angiotensin
Đối với bệnh nhân bị tăng huyết áp đồng thời mắc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành và suy tim), lựa chọn ưu tiên là thuốc ức chế men chuyển kết hợp với chẹn bêta giao cảm
Việc kết hợp 3 thuốc được áp dụng cho khoàng 30% bệnh nhân tăng huyết
áp Thường là sự kết hợp của ba thuốc: chẹn kênh canxi, lợi tiểu thiazid và ức chế thụ thể Angiotensin
1.2.1.4 Điều trị không dùng thuốc (thay đổi lối sống)
Hiệu quả của việc điều trị không dùng thuốc (bao gồm hạn chế ăn mặn, giảm cân, hạn chế rượu/bia và tăng cường hoạt động thể lực) đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu [38], [46]
Các biện pháp điều trị không dùng thuốc áp dụng cho cả người bệnh tăng huyết áp và có huyết áp bình thường cao để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng và nguy cơ tim mạch [14]
Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Thực hiện chế độ ăn có lợi cho tim như tiết thực DASH (Diet Approach to Stop Hypertension) để có cân nặng mong muốn đối với người bị tăng huyết áp và tiền tăng huyết áp [14]
+ Giảm ăn mặn đối với bệnh nhân tăng huyết áp và tiền tăng huyết áp (<5 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày) [12], [14]
+ Tăng cường rau xanh và hoa quả tươi [12], [22]
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no [22]
+ Bổ sung kali ưu tiên ăn giàu chất kali cho tăng huyết áp và tiền tăng huyết
áp, ngoại trừ có bệnh thận mạn, tăng kali máu hay dùng thuốc giữ kali máu [14]
Trang 22Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối
cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
[12], [14]
Cố gắng duy trì vòng bụng <94 cm ở nam và <80 cm ở nữ [14]
Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) (1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh) [12], [14]
Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào và tránh nhiễm độc khói thuốc [12], [14]
Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày [12], [14], [22]
Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý [22]
Đo huyết áp tại nhà mỗi ngày vào những khung giờ nhất định hoặc khi có biểu hiện bất thường đem lại hiệu quả đáng kể Việc này nhằm theo dõi nhịp sinh học của tăng huyết áp Từ đó, tìm ra thời gian dùng thuốc hạ áp tối ưu [14]
Tránh bị lạnh đột ngột [22]
1.2.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) về việc tuân thủ điều trị, “sự tăng hiệu quả của các biện pháp can thiệp về việc tuân thủ điều trị có thể tác động đáng kể đến sức khỏe của dân số hơn bất cứ cải tiến nào trong những điều trị y tế chuyên biệt” [55] Ngược lại, nếu không tuân thủ điều trị y tế sẽ dẫn đến hậu quả nguy hiểm và có thể dẫn đến tử vong [28]
1.2.2.1 Khái niệm tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Theo khuyến cáo của Bộ Y tế trong việc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp, việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp được chia ra thành 2 phần [22], [62]:
- Tuân thủ điều trị thuốc
- Tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống
Trang 23a) Tuân thủ điều trị thuốc
Tuân thủ điều trị thuốc là phải sử dụng thường xuyên, đầy đủ và liên tục tất
cả các thuốc được kê trong đơn theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ và cán bộ y tế Việc sử dụng thuốc phải ngay cả khi ở mức huyết áp bình thường và không được tự ý thay đổi loại thuốc và liều lượng thuốc [45]
b) Các biện pháp thay đổi lối sống [12], [22]
Tuân thủ chế độ ăn (giảm ăn mặn, giảm chất béo/cholesterol, tăng cường kali…)
Tuân thủ hạn chế rượu/bia (ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày cho nam và ít hơn 2 cốc/ngày cho nữ)
Tuân thủ ngưng hút thuốc là/thuốc lào
Tuân thủ luyện tập thể dục thể thao (luyện tập ở mức vừa phải đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút/ngày)
Tuân thủ đo và ghi lại trị số huyết áp hằng ngày (5-7 lần/tuần)
1.2.2.2 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ ra rằng số lượng bệnh nhân tăng huyết áp không tuân thủ điều trị rất phổ biến Điều này gây ra những hậu quả
vô cùng nguy hiểm cho người bệnh
Hội tim mạch học quốc gia Việt Nam thống kê nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh tăng huyết áp làm tăng nguy cơ cao dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như bệnh động mạch vành tăng gấp 3 lần, suy tim tăng gấp 6 lần, đột quỵ tăng gấp 7 lần người bình thường Các biến chứng của tăng huyết áp có thể diễn biến cấp tính hoặc
âm thầm do vậy cần tuân thủ điều trị tốt để phòng ngừa và tăng hiệu quả điều trị [10]
Tăng huyết áp có thể gây tử vong hay để lại những di chứng nặng nề do ảnh hưởng đến các cơ quan đích trong cơ thể bao gồm:
Trang 24+ Suy tim tăng huyết áp: là nguyên nhân thứ hai gây suy tim sau bệnh mạch vành Lúc đầu là suy tim tâm trương, sau đó sẽ ảnh hưởng đến chức năng tâm thu
+ Bệnh mạch vành: bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ hay nhồi máu cơ tim [9], [19]
Mắt
Phân loại Keith-Wargener-Barker về biến đổi ở võng mạc khi soi đáy mắt được sử dụng rộng rãi Đây là vị trí duy nhất để có thể quan sát được sự biến đổi của động mạch và tiểu động mạch Phân độ được chia như sau:
+ Độ 1: lòng động mạch co nhỏ ngoằn ngoèo (bình thường đường kính bằng 2/3 đường kính tĩnh mạch)
+ Độ 2: (dấu S.Gunn) bắt chéo động mạch tĩnh mạch
+ Độ 3: độ 2 + tình trạng phù nề xuất tiết, xuất huyết võng mạc
+ Độ 4: độ 3 + phù gai thị
Những tổn thương do tăng huyết áp có thể xảy ra cấp tính và việc điều trị hạ
áp tốt giúp phục hồi tổn thương [9]
Trang 251.2.2.3 Đánh giá tuân thủ điều trị
a) Tuân thủ điều trị tăng huyết áp bằng thuốc Việc đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân rất quan trọng nhằm giúp cán
bộ y tế và nhà quản lý có những nhận định đúng đắn để đưa ra được hướng điều trị
và biện pháp can thiệp kịp thời trong điều trị tăng huyết áp
Trên thế giới chưa có tiêu chuẩn nhất định cho việc đo lường tuân thủ Có rất nhiều phương pháp được đề ra nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), một phương pháp tốt đòi hỏi các tiêu chuẩn bao gồm: dễ
sử dụng, tin cậy, hiệu quả và có chi phí thấp Nói chung, tuân thủ điều trị có thể được đánh giá bằng hai phương pháp chính: phương pháp chủ quan và phương pháp khách quan [29]
Trong các thang đo khách quan, cần có sự lựa chọn một công cụ tự khai báo
có độ tin cậy cao Việc này sẽ giúp cho việc thực hiện nghiên cứu có kết quả khả thi hơn
Trang 26Vào năm 2008, Morisky và cộng sự phát triển thang điểm đánh giá sự tuân thủ của Morisky dựa trên bảng câu hỏi bao gồm 8 mục với câu trả lời có hoặc không - MAQ (Medication Adherence Questionnaire) - để đánh giá về sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp Bộ tiêu chuẩn này có độ nhạy và độ tin cậy bên trong cao [45]
Theo một nghiên cứu tại Thái Lan của Rapin Polsook hợp tác với Đại học Indiana của Hoa Kỳ đã kiểm chứng mức độ tin cậy bên trong của thang đo MMAS-
8 là rất cao và khuyến nghị sử dụng thang đo này cho khu vực Đông Nam Á [53]
Năm 2011, trong công trình nghiên cứu đánh giá các thang đo tuân thủ điều trị tăng huyết áp, tác giả Lavsa SM đã khuyến nghị dùng thang đo tuân thủ MMAS-
8 do đặc tính đơn giản với câu hỏi ngắn và trực tiếp mang tính dung hòa giữa độ nhạy cảm và độ tin cậy Các thang đo khác như BMQ (Brief medication questionnaire) và MARS (Medication adherence rating scale) chỉ mạnh hơn trong các nghiên cứu bệnh lý trầm cảm và rối loạn tâm thần [40]
Ngoài ra, thang đo MMAS-8 này hiện được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước trở thành tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá việc tuân thủ sử dụng thuốc [66] Vì vậy, nghiên cứu chọn thực hiện theo phương pháp khách quan qua việc sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân MMAS-8
Thang điểm MMAS–8 gồm các câu hỏi sau:
1 Thỉnh thoảng ông/bà có quên sử dụng thuốc hạ áp hay không?
2 Trong suốt 2 tuần qua, có ngày nào ông/bà quên sử dụng thuốc hay không?
3 Ông/bà có bao giờ giảm liều hoặc ngừng sử dụng thuốc hạ áp mà không báo với bác sĩ bởi vì ông/bà cảm thấy tệ hơn khi sử dụng thuốc huyết áp?
4 Khi ông/bà đi du lịch hoặc rời khỏi nhà, thỉnh thoảng ông/bà có quên mang theo thuốc hạ áp không?
5 Hôm qua ông/bà có sử dụng thuốc hạ áp hay không?
6 Khi ông/bà thấy huyết áp của ông/bà dưới mức kiểm soát, thỉnh thoảng ông/bà có ngưng sử dụng thuốc hạ áp hay không?
Trang 277 Sử dụng thuốc hạ áp hàng ngày là một bất tiện thực sự đối với vài người Ông/bà có bao giờ cảm thấy phiền phức khi theo sát kế hoạch điều trị huyết áp của ông/bà không?
8 Ông/bà có thường thấy khó khăn trong việc nhớ sử dụng tất cả các loại thuốc hạ áp của ông/bà không?
Mỗi câu hỏi trong bộ câu hỏi được đánh giá theo thang điểm là 0 và 1 điểm tương ứng với câu trả lời có hoặc không theo từng câu hỏi Mức độ tuân thủ được tính theo tổng số điểm đạt được thông qua 8 câu hỏi (tương ứng là 8 điểm) và được xếp loại như sau:
8 điểm: tuân thủ tốt
6-7 điểm: tuân thủ trung bình
0-5 điểm: tuân thủ kém/không tuân thủ [45]
Nhưng để phù hợp với các nghiên cứu của Việt Nam, nghiên cứu này được chia thành 2 loại là tuân thủ và không tuân thủ dựa vào tổng số điểm như sau:
6-8 điểm: tuân thủ
0-5 điểm: không tuân thủ [27]
b) Tuân thủ thay đổi lối sống Bên cạnh việc tuân thủ sử dụng thuốc, sự thay đổi tích cực trong cuộc sống của người bệnh đóng góp vai trò quan trọng trong hiệu quả điều trị tăng huyết áp
Nghiên cứu sử dụng các yếu tố thay đổi lối sống sau để đánh giá tuân thủ điều trị trong việc thay đổi lối sống của bệnh nhân
1 Chế độ ăn từ khi phát hiện tăng huyết áp
2 Hút thuốc lá hoặc thuốc lào từ khi phát hiện tăng huyết áp
3 Uống rượu hoặc bia từ khi phát hiện tăng huyết áp
4 Chế độ làm việc và sinh hoạt từ khi phát hiện tăng huyết áp
5 Chế độ luyện tập thể dục thể thao hay đi bộ (5-7 ngày/tuần) từ khi phát hiện tăng huyết áp
6 Đo và ghi số đo huyết áp vào sổ theo dõi
Trang 28Chế độ thay đổi lối sống được phân loại thành tuân thủ và không tuân thủ thông qua câu trả lời của 6 câu hỏi
Mỗi câu hỏi có một hoặc nhiều lựa chọn Điểm sẽ được tính nếu câu trả lời đạt Câu trả lời đạt khi bệnh nhân chọn đủ lựa chọn đúng tùy theo từng câu hỏi Lựa chọn sai hoặc không đủ câu trả lời đúng sẽ không có điểm Điểm sẽ được tính cho từng câu
Có tổng cộng 6 câu trả lời đạt tương ứng với 6 câu hỏi Mỗi câu trả lời đạt sẽ được 1 điểm, nếu không sẽ không có điểm Tuân thủ điều trị thay đổi lối sống được xếp là tuân thủ khi bệnh nhân trả lời đạt ít nhât 4 câu hỏi (tương ứng với 4 điểm)
1.3 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở các nước trên thế giới
Có khá nhiều nghiên cứu đã thực hiện về thực trạng tuân thủ điều trị và một
số vấn đề liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp cho rất nhiều kết quả khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều có chung nhận định là tỷ lệ tuân thủ tăng huyết áp của người bệnh còn thấp
Ở Châu Mỹ, nghiên cứu của Ya-Hui Hsu trên người Mỹ gốc Hoa năm 2010 trong cộng đồng cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc tốt là 54% [37]
Ở Châu Phi, nghiên cứu của Osamor Pauline năm 2011 ở Tây Nam Nigeria cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp chung của người bệnh tăng huyết áp là 51% [48]
Nghiên cứu của Asgedom và cộng sự ở Ethiopia cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc là 61,8 [27]
Ở Châu Âu, Virginie Korb-Savoldelli và cộng sự năm 2012 đã thực hiện nghiên cứu tại Pháp dựa trên thang điểm MMAS-8 Tỷ lệ tuân thủ điều trị cao, trung bình và thấp lần lượt là 44,2%, 38,2%, và 17,6% [39]
Nghiên cứu của Alfredo Dias de Oliveira-Filho vào năm 2013 ở Brazin và Phần Lan sử dụng thang điểm MMAS-8 Kết quả cho thấy điểm số tuân thủ trung
Trang 29bình là 5,78, bao gồm tỷ lệ tuân thủ thấp, trung bình và cao lần lượt là 46%, 33,6%,
và 20,4% [31]
Nghiên cứu của Panjak Gupta và cộng sự năm 2017 trên 1348 bệnh nhân tăng huyết áp ở hai nước Châu Âu (Anh và cộng hòa Czech) cho kết quả có 58,4%
và 69,5% bệnh nhân tuân thủ điều trị [34]
Một nghiên cứu khác vào năm 2020 của Agnieszka Pluta và cộng sự ở Ba Lan cho kết quả tuân thủ điều trị tăng huyết áp dùng thuốc tốt theo thang điểm MMAS-8 cao, trung bình và thấp lần lượt là 31%, 36% và 33% [52]
Ở Châu Á, nghiên cứu của Gabrielle K Y Lee vào năm 2013 tại Hồng Kông, Trung Quốc cho kết quả điểm trung bình của MMAS-8 là 6,7 ± 1,4 Số người tuân thủ điều trị thuốc tốt là 65,1% [41]
Nghiên cứu của Sajid Mahmood và cộng sự tại Pakistan trong hai năm 2017 đến 2018 trên 776 bệnh nhân bị tăng huyết áp Trong đó có 62,3% người bệnh tuân thủ tốt, còn lại 37,7% là không tuân thủ điều trị [43]
Nghiên cứu của Lian Wu ở trên 448 bệnh nhân tăng huyết áp ở Trung Quốc năm 2019 cho kết quả chỉ có 27,46% bệnh nhân tuân thủ điều trị tăng huyết áp cả về việc tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ thay đổi lối sống [49]
1.3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm 2011 được thực hiện bằng việc lựa chọn ngẫu nhiên 260 bệnh nhân từ 4 phường ở thành phố Hà Nội, cho thấy tỷ lệ thực hành tuân thủ điều trị tăng huyết áp là 44,8% [26]
Nghiên cứu của Bùi Thị Mai Tranh năm 2012 tại bệnh viện Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị là 25% [2]
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đức năm 2012 về thực trạng tuân thủ điều trị tại bệnh viện Bạch Mai cho kết quả cả tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị tăng huyết
áp là 85,6% Trong đó, tỉ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc là 75,8% [6]
Kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh trên bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước vào năm 2013 cho kết quả tuân thủ điều trị chung đạt 33,4% Trong đó, tuân thủ điều trị thuốc đạt 56,3% [7]
Trang 30Theo nghiên cứu của Phạm Hoài Nam vào năm 2016 về thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp có 33,3% bệnh nhân thực hiện tuân thủ điều trị tốt [15]
Theo nghiên cứu của Kim Sóc Kha (2017), tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 48,57% Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc điều trị tăng huyết áp là 94,86% [11]
Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền và cộng sự thực hiện vào năm 2018,
có 39,9% bệnh nhân tuân thủ điều trị chung Trong đó, tuân thủ điều trị thuốc đạt 91,7% và tuân thủ thay đổi lối sống đạt 43,6% [4]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm và cộng sự năm 2017, kết luận của nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp là 79,6% [23]
Nghiên cứu của Võ Thanh Phong (2018) cho kết quả trong tuân thủ điều trị thuốc là 53,7% và tuân thủ thay đổi lối sống là 91,7% [20]
Trong nghiên cứu của Trần Công Trưởng năm 2018 cho kết quả cả tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân là 41,2% [25]
Theo nghiên cứu của Đỗ Duy Tân năm 2019, tỷ lệ người tuân thủ điều trị tăng huyết áp chung đạt 56% Trong đó, tuân thủ điều trị thuốc đạt 72% [21]
Theo nghiên cứu của Lâm Thị Hạnh tại bệnh viện Kiến An Hải Phòng năm
2020 cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc là 56,2% [8]
Nghiên cứu của Ngô Vương Hoàng Giang tại Trung tâm Y tế huyện Thoại Sơn năm 2020, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc đạt 49,5%
và tuân thủ thay đổi lối sống đạt 40,5% [16]
1.4 Các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết
áp đang điều trị ngoại trú
Có nhiều yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết
áp bao gồm: yếu tố cá nhân, tình trạng bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân và tiền sử gia đình, sự hỗ trợ của gia đình-xã hội và dịch vụ y tế
1.4.1 Yếu tố cá nhân
Tuổi và giới tính
Đối tượng là người bệnh tăng huyết áp lớn tuổi có mối quan tâm và tuân thủ điều trị tăng huyết áp tốt hơn những người trẻ tuổi Nữ giới có tỷ lệ tuân thủ điều trị
Trang 31tăng huyết áp cao hơn nam giới Nghiên cứu của Virginie Korb-Savoldelli và cộng
sự tại Pháp năm 2012 và của Gabrielle K Y Lee vào năm 2013 tại Hồng Kông, Trung Quốc, chỉ ra rằng độ tuổi là có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong việc tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân (bệnh nhân lớn tuổi có tỷ lệ tuân thủ cao) [39], [41] Nghiên cứu của Lian Wu ở trên 448 bệnh nhân tăng huyết áp ở Trung Quốc năm 2019 và Ngô Vương Hoàng Giang tại Trung tâm Y tế huyện Thoại Sơn năm
2020 đều cho kết quả tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở nữ giới cao hơn nam giới [16], [49]
Trình độ học vấn
Người bệnh có trình độ học vấn cao có khả năng nhận thức tốt hơn về bệnh tăng huyết áp Nghiên cứu của Agnieszka Pluta và cộng sự ở Ba Lan (2020), Phạm Hoài Nam vào năm 2016 và Đặng Thị Thu Huyền (2018) đều cho thấy bệnh nhân
có trình độ học vấn cao (trung học cơ sở hoặc cao hơn) có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn các nhóm khác [15], [52]
Nghề nghiệp hiện tại
Bệnh nhân đã nghỉ hưu hoặc hiện tại không đi làm có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn bệnh nhân đang đi làm Điều này được chứng minh qua nghiên cứu của Đỗ Duy Tân năm 2019 với tỷ lệ tuân thủ của nhóm người đã nghỉ hưu hoặc hiện tại không đi làm cao gấp 2 lần nhóm đang đi làm [21]
Biến chứng của bệnh tăng huyết áp
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đức năm 2012 cho thấy bệnh nhân có biến chứng của bệnh tăng huyết áp có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn bệnh nhân không có biến chứng [6]
Trang 32Tiền sử bệnh tăng huyết áp của gia đình bệnh nhân
Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền (2018) đưa ra kết luận bệnh nhân có người thân cùng huyết thống trong gia đình mắc bệnh tăng huyết áp, tuân thủ điều trị tốt hơn những bệnh nhân không có người mắc bệnh tăng huyết áp trong gia đình [4]
1.4.3 Yếu tố hỗ trợ gia đình và xã hội
Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội
Theo khuyến cáo về chẩn đoán và tuân thủ điều trị tăng huyết áp của Hội tim mạch học Việt Nam năm 2018, bộ y tế đã đề ra các chiến lược nhằm cải thiện tuân thủ điều trị thuốc, tuân thủ thay đổi lối sống và chăm sóc đối với bệnh nhân tăng huyết áp Các chiến lược này nhằm cung cấp các thông tin cần thiết về bệnh tăng huyết áp cho bệnh nhân Tuy nhiên, nó cần có sự hỗ trợ của gia đình và xã hội [14] Nghiên cứu của Trần Công Trưởng (2018) chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân được sự hỗ trợ từ gia đình (nhắc nhở tuân thủ điều trị) có tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt hơn nhóm không được hổ trợ [25] Riêng nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh (2013) cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hỗ trợ quan tâm từ các tổ chức xã hội và việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp [7]
1.4.4 Yếu tố dịch vụ y tế
Điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế
Thời gian trung bình chờ để được khám bệnh và nhận thuốc là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp Nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh (2013) cho thấy bệnh nhân có thời gian trung bình chờ nhanh có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn 2,81 lần bệnh nhân phải chờ lâu hơn [7] Nghiên cứu của Ngô Vương Hoàng Giang tại Trung tâm Y tế huyện Thoại Sơn năm 2020, thời gian chờ ngắn tỷ lệ thuận với việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân [16]
Số tiền đi lại cho một lần khám ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp Điều này được chứng minh trong nghiên cứu của Lâm Thị
Trang 33Hạnh (2020) Người bệnh cho rằng số tiền đi lại rẻ hoặc phù hợp có tỷ lệ tuân thủ cao hơn nhóm người bệnh cho rằng số tiền đi lại mắc [8]
Hướng dẫn của cán bộ y tế
Việc hướng dẫn, giải thích và nhắc nhở thường xuyên của cán bộ y tế với bệnh nhân tăng huyết áp về bệnh tăng huyết áp, chế độ uống thuốc, ăn-uống, sinh hoạt và khám bệnh định kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh (2013) và cộng sự cho thấy những bệnh nhân được cán bộ y tế quan tâm trao đổi thường xuyên có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao gấp 3,46 lần so với nhóm không được quan tâm trao đổi [7] Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền (2018), Đỗ Duy Tân (2019) và Lâm Thị Hạnh (2020) cũng cho thấy việc được cán bộ y tế hướng dẫn và giải thích điều trị tăng huyết áp làm tăng tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân [8]
1.5 Sơ đồ khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Sau khi tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu xây dựng
sơ đồ khung lý thuyết mô tả các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú như sau
Trang 34(1) Giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp hiện tại, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh sống, người quan tâm nhắc nhở tuân thủ điều trị
(2) Thời gian mắc bệnh tăng huyết áp, tiền sử bệnh tăng huyết áp của gia đình bệnh nhân, biến chứng của bệnh tăng huyết áp
(3)
Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện, chi phí đi lại cho mỗi lần khám, người chi trả chi phí điều trị tăng huyết áp, thời gian trung bình chờ để được khám bệnh và nhận thuốc, thông tin cán bộ y tế hướng dẫn về bệnh tăng huyết áp, mức độ được cán bộ
y tế nhắc nhở tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp
Thông tin chung
của bệnh nhân (1)
Thông tin về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân (2)
Thông tin về tiếp cận y tế điều trị ngoại trú (3)
Tuân thủ điều trị thuốc Tuân thủ thay đổi
lối sống
Tuân thủ điều trị chung
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân ≥18 tuổi được chẩn đoán là tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại Học Võ Trường Toản năm 2021
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân trên 18 tuổi tăng huyết áp đang đến điều trị ngoại trú và đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân có khả năng trả lời phỏng vấn: đọc, nghe, hiểu tiếng Việt và có khả năng đối thoại trực tiếp
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân tăng huyết áp nhưng không thể tham gia nghiên cứu được (biến chứng nặng, bệnh tâm thần, suy tim nặng,…)
Bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp nhưng ưu tiên điều trị bệnh khác
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản
Địa chỉ: Quốc lộ 1A, xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích
Trang 362.4 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ:
( ⁄ ) ( )Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
α: mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 =1,96
p: tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân Chọn p = 0,412 theo nghiên cứu của Trần Công Trưởng năm 2018 với tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân là 41,2% [25]
d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,07
Kết quả tính cỡ mẫu n = 190 Để tăng độ chính xác, nghiên cứu lấy thêm 10% cỡ mẫu, do vậy cỡ mẫu cần cho nghiên cứu làm tròn là 213
Số lượng mẫu thu thực tế thu được là 243
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Chọn những bệnh nhân tăng huyết áp trên 18 tuổi đến khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học
Võ Trường Toản thỏa điều kiện để mời tham gia nghiên cứu
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được chuẩn bị sẵn (phụ lục 2)
Bộ câu hỏi bao gồm 5 phần với thứ tự như sau:
- Thông tin chung của bệnh nhân
- Thông tin về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân
- Thông tin về tiếp cận dịch vụ y tế điều trị ngoại trú của bệnh nhân
- Thông tin về thực hành tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân
- Thông tin về thực hành tuân thủ thay đổi lối sống của bệnh nhân
Trang 37Quy trình thu thập số liệu:
- Liên hệ với khoa ngoại trú của bệnh viện Trường Đại học Võ Trường Toản
- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người bệnh tăng huyết áp trong thời gian người bệnh chờ khám bệnh hoặc chờ nhận thuốc
2.7 Các biến số trong nghiên cứu
Các biến số được chia thành 5 nhóm chính trình bày chi tiết ở phụ lục 1, bao gồm các nhóm biến số dựa theo khung lý thuyết như sau:
Thông tin chung của bệnh nhân
- Người quan tâm nhắc nhở tuân thủ điều trị
Thông tin về bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân
- Thời gian mắc bệnh tăng huyết áp
- Tiền sử bệnh tăng huyết áp của gia đình bệnh nhân
- Biến chứng của bệnh tăng huyết áp
Thông tin về tiếp cận y tế điều trị ngoại trú
- Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện
- Chi phí đi lại cho mỗi lần khám
- Người chi trả chi phí điều trị tăng huyết áp
- Thời gian trung bình chờ để được khám và nhận thuốc
- Thông tin cán bộ y tế hướng dẫn về bệnh tăng huyết áp
- Mức độ được cán bộ y tế nhắc nhở tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp
Thông tin về thực hành tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân: 8 câu hỏi từ
D1 đến D8 theo thang điểm MMAS–8
Trang 38Thông tin về thực hành tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống của bệnh nhân: 6 câu hỏi về thông tin về thay đổi lối sống của bệnh nhân từ câu E1 đến E6
2.8 Các tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu
Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Theo khuyến nghị của Bộ Y tế về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp năm 2010”, trong nghiên cứu này bệnh nhân được coi là tuân thủ điều trị tăng huyết áp khi tuân thủ cả chế độ dùng thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống
Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị thuốc
Tuân thủ điều trị thuốc được đánh giá dựa vào thang điểm MMAS–8 bao gồm 8 câu hỏi
Bảng 2.1 Đánh giá tuân thủ dùng thuốc theo thang điểm Morisky 8
(PA)
Đáp án PA (điểm số)
1 Thỉnh thoảng ông/bà có quên sử dụng
thuốc huyết áp hay không?
1 Có
2 Không
PA1: 0 điểm
PA2: 1 điểm
2 Trong suốt 2 tuần qua, có ngày nào
ông/bà quên sử dụng thuốc huyết áp hay
3 Ông/bà có bao giờ tự ý giảm liều hoặc
ngừng sử dụng thuốc huyết áp mà không
báo với bác sĩ bởi vì ông/bà cảm thấy tệ
hơn sau khi sử dụng thuốc huyết áp?
1 Có
2 Không
PA1: 0 điểm
PA2: 1 điểm
4 Khi ông/bà đi du lịch hoặc rời khỏi
nhà, thỉnh thoảng ông/bà có quên mang
theo thuốc huyết áp hay không?
1 Có
2 Không
PA1: 0 điểm
PA2: 1 điểm
Trang 395 Hôm qua ông/bà có sử dụng thuốc
huyết áp hay không?
1 Có
2 Không
PA1: 1 điểm
PA2: 0 điểm
6 Khi ông/bà thấy huyết áp của ông/bà
dưới mức kiểm soát, thỉnh thoảng ông/bà
có hay ngưng sử dụng thuốc hay không?
1 Có
2 Không
PA1: 0 điểm
PA2: 1 điểm
7 Sử dụng thuốc huyết áp hàng ngày là
một bất tiện thực sự đối với vài người
Ông/bà có bao giờ cảm thấy phiền phức
khi theo sát kế hoạch điều trị huyết áp
của ông/bà hay không?
1 Có
2 Không
PA1: 0 điểm
PA2: 1 điểm
8 Ông/bà có thường thấy khó khăn trong
việc nhớ sử dụng tất cả các loại thuốc
huyết áp của ông/bà hay không?
1 Có
2 Không
PA1: 0 điểm
PA2: 1 điểm
Mỗi câu hỏi trong bộ câu hỏi được đánh giá theo thang điểm là 0 và 1 điểm
Sự tuân thủ được tính theo tổng số điểm đạt được thông qua 8 câu hỏi (tương ứng là
8 điểm) và được phân loại như sau:
6-8 điểm: tuân thủ
0-5 điểm: không tuân thủ
Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ thay đổi lối sống:
Tuân thủ thay đổi lối sống được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau:
Trang 40Bảng 2.2 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ thay đổi lối sống
đúng
Câu trả lời đạt
E1
Từ khi phát hiện tăng huyết áp, ông/bà thực hiện chế độ ăn uống như thế nào?
5 Vẫn ăn uống bình thường
Chọn 1,2,3
và 4
Chọn từ 3-4 câu trả lời đúng
E2
Từ khi phát hiện tăng huyết áp, ông/bà có hút thuốc lá/ thuốc lào không?
1 Chưa bao giờ hút
2 Có hút nhưng dừng hoàn toàn hoặc đã giảm lượng thuốc hút đáng kể
3 Có hút nhưng chưa giảm hoặc giảm không đáng kể
Chọn 1 hoặc 2
Chọn ít nhất
1 câu trả lời đúng
E3
Từ khi điều trị tăng huyết áp, ông/bà có thường xuyên uống rượu/bia không?
1 Có, nam <3 cốc/ngày,
nữ <2 cốc /ngày (1 Cốc tiêu chuẩn tương đương
330 ml bia, hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30 ml rượu nặng)
2 Có, nam ≥3 cốc, nữ ≥2 cốc/ngày
3 Không
Chọn 1 hoặc 3
Chọn ít nhất
1 câu trả lời đúng