1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

6-Trần Duy Lạc.pdf

96 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Công Nghệ Sản Xuất Sản Phẩm Tất Cho Người Bị Bệnh Suy Tĩnh Mạch
Tác giả Trần Duy Lạc
Trường học Công ty Cổ phần - Viện Nghiên Cứu Dệt May
Chuyên ngành Nghiên cứu công nghệ sản xuất sản phẩm tất cho người bệnh suy tĩnh mạch
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ CÔNG THƯƠNG CÔNG TY CỔ PHẦN – VIỆN NGHIÊN CỨU DỆT MAY BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ Đề tài NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẢN PHẨM TẤT CHO NGƯỜI BỊ BỆNH SUY TĨNH MẠCH Cơ qua[.]

Trang 1

1

BỘ CÔNG THƯƠNG CÔNG TY CỔ PHẦN – VIỆN NGHIÊN CỨU DỆT MAY

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương

Cơ quan chủ trì: Công ty Cổ phần - Viện Nghiên Cứu Dệt May

Chủ nhiệm đề tài: ThS Trần Duy Lạc

Thời gian thực hiện: tháng 1/2017 đến tháng 6/2019

HÀ NỘI –2019

Trang 2

2

BỘ CÔNG THƯƠNG CÔNG TY CỔ PHẦN – VIỆN NGHIÊN CỨU DỆT MAY

Trang 3

1

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

TT Họ và tên Cơ quan/tổ chức

1 Ô Trần Duy Lạc Công ty CP - Viện Nghiên Cứu

Trang 4

- Làm chủ công nghệ sản xuất các sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch

Vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sợi bông, sợi Polyester, Polyamit và Spandex

- Địa điểm nghiên cứu: Công ty Cổ phần Xương Rồng Xanh

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2019

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các chủng loại và yêu cầu kỹ thuật của các loại sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch;

- Nghiên cứu các tính chất sợi dệt, lựa chọn nguyên liệu để sản xuất sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch;

- Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số cho sản phẩm tất chống suy tĩnh mạch dùng cho nam, nữ giới độ tuổi từ 35-60;

- Nghiên cứu thiết kế và xây dựng quy trình công nghệ sản xuất các loại sản phẩm tất dành cho bệnh nhân bị suy tĩnh mạch;

- Thực nghiệm sản xuất các sản phẩm tất dành cho bệnh nhân bị suy tĩnh mạch;

- Đánh giá các đặc tính kỹ thuật các sản phẩm tất chống suy tĩnh mạch (độ nén, thay đổi kích thước sau giặt, quản lý ẩm, chỉ tiêu kéo giãn )

Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết:

+ Tài liệu về tính chất nguyên liệu để sản xuất sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch;

+ Tài liệu về yêu cầu kỹ thuật của các sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch; + Tài liệu về dây chuyền sản xuất thiết bị dệt nhuộm và hoàn tất bít tất cho người

Trang 5

3

+ Nghiên cứu thực nghiệm mẫu nhỏ trong phòng thí nghiệm để xác định thông số công nghệ;

+ Thí nghiệm các chỉ tiêu kỹ thuật trong phòng thí nghiệm, hiệu chỉnh các thông

số công nghệ để đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu chất lượng sản phẩm;

+ Lựa chọn phương pháp, công nghệ tối ưu Thực nghiệm sản xuất mẫu lớn trên quy mô công nghiệp, hoàn thiện quy trình sản xuất;

+ Phân tích, đánh giá các kết quả sản phẩm thực nghiệm

Sản phẩm:

- Quy trình công nghệ sản xuất tất tĩnh mạch dành cho người bị bệnh suy tĩnh mạch;

- Hướng dẫn lựa chọn sản phẩm tất cho người bị bệnh suy tĩnh mạch;

- Tất tĩnh mạch: 2.010 đôi

Kết quả chỉ tiêu chất lượng vải thành phẩm của đề tài

Tất tĩnh mạch cho người bệnh suy tĩnh mạch

T

T Chỉ tiêu pháp thử Phương Yêu cầu Kết quả

1 Độ bền màu giặt (cấp) Phai màu ISO105CO3

3 Thay đổi kích thước

sau giặt và làm khô (%)

Trang 6

4

Kết luận

Nội dung chính đã tiến hành:

1 Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất tất tĩnh mạch dành cho người bị bệnh suy tĩnh mạch;

2 Lựa chọn mặt hàng, thiết kế và triển khai dệt mặt hàng phù hợp tại Công ty

Cổ phần Xương Rồng Xanh, các chỉ tiêu cơ lý hóa đạt yêu cầu đặt ra của đề tài;

3 Lựa chọn được nguyên liệu sợi, hóa chất, thuốc nhuộm phù hợp để xử lý cho sợi để sản xuất tất tĩnh mạch;

4 Thử nghiệm mẫu nhỏ trong phòng thí nghiệm, xây dựng quy trình công nghệ tẩy nhuộm hoàn tất sợi để dệt tất cho người bị bệnh suy tĩnh mạch, hiệu chỉnh thông số cho phù hợp với các điều kiện hiện có tại các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam;

5 Ứng dụng triển khai sản xuất tất cho bệnh nhân suy tĩnh mạch (sản xuất dệt, nhuộm và hoàn tất 2010 đôi);

6 Quá trình thí nghiệm và sản xuất thử nghiệm cho thấy hoàn toàn có sản xuất tất cho người bị suy tĩnh mạch vào sản xuất công nghiệp

Trang 7

5

MỤC LỤC

TT CÁC DANH MỤC TRONG BÁO CÁO Trang

DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA ĐỀ TÀI

TÓM TẮT NHIỆM VỤ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG, NGOÀI NƯỚC 12

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.2.1 Thiết kế quy trình sản xuất tất cho người suy tĩnh mạch 29 2.2.2 Lựa chọn công nghệ và quy trình nhuộm sợi dệt tất 29

2.2.3.2 Nghiên cứu một số kiểu dệt tất tĩnh mạch cơ bản 34

2.3 Xây dựng các hệ thống cỡ số (nam và nữ) sản phẩm tất tĩnh mạch 38

2.3.2 Phân tích thông kê số đo nhân trắc nam giới liên quan đế sản phẩm tất 40 2.3.3 Phân tích thông kê các kích thước nữ giới liên quan đến sản phẩm tất 44

Trang 8

6

3.1.2 Công nghệ nấu tẩy, nhuộm, hoàn tất sợi Polyamit và bông 56 3.1.2.1 Công nghệ nấu tẩy, nhuộm, hoàn tất sợi Polyamit 56 3.1.2.2 Công nghệ nấu tẩy, nhuộm, hoàn tất sợi bông pha Crabyon 66 3.2 Thiết kế quy trình và thông số công nghệ dệt 77

cá chân Trong biểu đồ đường nét liền là đường áp lực lý tưởng 16 Hình 1.5 Các vị trí cụ thể cần thực hiện các phép đo để xác định kích cỡ tất cho

bệnh nhân, hoặc nếu cần phải có tất tùy chỉnh 16 Hình 1.6 Hình vẽ cấu trúc sợi cài có tác dụng nén và sợi dệt có tác dụng tạo vòng ở

Hình 1.7 Thiết bị đo áp lực nén tất tĩnh mạch SATRA STD 579 của Anh 20 Hình 1.8

a- Các điểm đo áp lực tương ứng để mức độ nén của tất giảm dần từ điểm

B, C lên đến điểm cao nhất là điểm G b- Lực nén giảm dần trong tất tĩnh mạch đàn hồi y tế

25

Trang 9

7

Hình 2.9 Phân bố các kích thước chiều dài bàn chân nam giới Việt Nam 40 Hình 2.10 Phân bố kích thước chiều dài bàn chân nữ giới Việt Nam 44

Hình 3.3 Quy trình nhuộm cho thành phần Polyamit 53

Hình 3.5 Quy trình nhuộm và giặt cho thành phần bông 54 Hình 3.6 Quy trình nhuộm cho thành phần Polyamit 58 Hình 3.7 Quy trình giặt cho thành phần Polyamit trong PTN 58

Hình 3.9 Quy trình nhuộm cho thành phần Polyamit màu Navy 60

Hình 3.11 Quy trình nấu tẩy và giặt sau nấu tẩy sợi Polyamit 64

Hình 3.13 Quy trình giặt sợi Polyamit màu Navy ngoài máy lớn 65

Hình 3.15 Mức độ tận trích của thuốc nhuộm Sumifix Supra 69 Hình 3.16 Mức độ tận trích của thuốc nhuộm Drimaren 70 Hình 3.17 Quy trình nhuộm hoạt tính màu Navy trong PTN 72 Hình 3.18 Sơ đồ công nghệ nấu tẩy, giặt sau nấu tẩy sợi bông Crabyon màu Navy 75 Hình 3.19 Sơ đồ công nghệ nhuộm hoạt tính sợi bông Crabyon màu Navy 76 Hình 3.20 Cấu trúc vải Single cài sợi bọc mỗi hàng 81

MỤC LỤC BẢNG

Trang 10

8

Bảng 1.1 Phân loại tất tĩnh mạch và áp lực tối đa tương ứng (ở mắt cá chân) 15

Bảng 1.4 Tiêu chuẩn quốc tế về tỉ lệ áp lực nén của tất tĩnh mạch 25 Bảng 2.1 Trích dẫn kết quả các số đo nhân trắc nam giới Việt Nam 39 Bảng 2.2 Trích dẫn kết quả các số đo nhân trắc nữ giới Việt Nam 39 Bảng 2.3 Hệ số tương quan giữa các kích thước liên quan đến tất Nam 35-60 41

Bảng 2.4 Hàm hồi quy giữa vòng cổ chân

và các kích thước liên quan đến sản phẩm tất Nam 35-60 42 Bảng 2.5 Hệ thống kích thước các cỡ số tất tĩnh mạch nam giới Việt Nam 43 Bảng 2.6 Hệ số tương quan giữa các kích thước liên quan đến tất Nữ 35-60 46

Bảng 2.7 Hàm hồi quy giữa vòng cổ chân

và các kích thước liên quan đến sản phẩm tất Nữ 35-60 46 Bảng 2.8 Hệ thống cơ số tất tĩnh mạch cho nữ giới Việt Nam 47

Bảng 3.2 Đơn nấy tẩy, nhuộm màu xanh (Blue) cho sợi Polyamit 51 Bảng 3.3 Đơn nấy tẩy, nhuộm màu xanh (Blue) cho bông 52 Bảng 3.4 Chất lượng màu sợi nhuộm sau thử nghiệm 55

Bảng 3.6 Đơn nhuộm 2 (lựa chọn thuốc nhuộm cho thành phần Polyamit) 57

Bảng 3.8 Kết quả đo màu ghép thành phần polyamit 61

Bảng 3.14 Đơn nhuộm thí nghiệm đánh giá khả năng tận trích của thuốc nhuộm 69

Trang 11

9

Bảng 3.18 Đơn nấu tẩy sợi bông/Crabyon màu Navy 74

Bảng 3.20 Yêu cầu kỹ thuật sợi dùng cho dệt kim và chỉ tiêu chất lượng sợi thực tế

Trang 12

10

Với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, sản phẩm của ngành dệt may ngày nay không chỉ đáp ứng cho quần áo thời trang mà còn phát triển hơn để tạo ra những sản phẩm, công cụ hỗ trợ phục vụ cho các ngành khác chẳng hạn như ngành y tế Một trong

số các mặt hàng đang được các nhà sản xuất dệt may quan tâm phát triển để tạo sản phẩm phục vụ cho ngành y tế đó là các sản phẩm tất sử dụng cho bệnh nhân bị suy tĩnh mạch

Bệnh suy tĩnh mạch mãn tính là một bệnh rất phổ biến trên thế giới Tại Mỹ hơn

80 triệu người mắc bệnh liên quan đến tĩnh mạch và hơn 60% người mắc bệnh này ở tuổi trưởng thành Ở các nước châu Á tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh suy tĩnh mạch cũng đã tăng lên do sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống Ở Nhật Bản tỷ lệ mắc bệnh hơn 40%, thấp hơn so với Mỹ và châu Âu nhưng cao hơn so với châu Phi

Việc xác định chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và

sự xuất hiện của các u máu Có nhiều phương pháp điều trị bệnh hiệu quả, trong các phương pháp điều trị bệnh nhân, người ta thường được kết hợp với việc đeo tất tĩnh mạch đàn hồi y tế (tất tĩnh mạch) Tất tĩnh mạch là phương pháp chủ lực để giúp máu tĩnh mạch lưu thông Áp lực nén của tất có thể làm giảm sưng nhanh chóng và làm giảm các triệu chứng bệnh, hỗ trợ các biện pháp điều trị nội khoa và phòng ngừa tái phát Những bệnh nhân bị phù nề, suy tĩnh mạch giảm albumine máu cũng có thể được cải thiện từ việc sử dụng tất tĩnh mạch, do tác dụng nén của tất có thể làm giảm sưng

Hiện tại, các sản phẩm dệt may phục vụ hỗ trợ điều trị bệnh nói chung và bệnh suy tĩnh mạch nói riêng chưa được sản xuất tại Việt Nam trên quy mô công nghiệp Các sản phẩm này chủ yếu được sản xuất tại nước ngoài và nhập khẩu về Việt nam Nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp dệt may trong nước từ việc nghiên cứu thiết kế mặt hàng, quy trình công nghệ sản xuất tất tĩnh mạch dành cho người bị bệnh suy tĩnh mạch, Công ty CP - Viện Nghiên Cứu Dệt May đề xuất đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất sản phẩm tất cho người bị bệnh suy tĩnh mạch” trên dây chuyền thiết bị sẵn có của Việt Nam nhằm đa dạng hóa sản phẩm dệt may trong nước đồng thời giúp cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tăng sức cạnh tranh

II MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

- Phát triển và tạo ra dòng sản phẩm dệt mới phục vụ ngành y tế góp phần hạn chế nhập khẩu

- Làm chủ công nghệ sản xuất các sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch

Cụ thể:

Trang 13

11

- Xây dựng quy trình công nghệ nhuộm sợi phục vụ sản xuất các sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch

- Xây dựng quy trình công nghệ dệt tất cho người bị suy tĩnh mạch

- Xây dựng quy trình công hoàn tất tất cho người bị suy tĩnh mạch

- Sản xuất tất cho người bị suy tĩnh mạch

Trang 14

12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG, NGOÀI NƯỚC

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

Tĩnh mạch là một mạng lưới gồm các cấu trúc hình ống, vận hành theo cơ chế các tĩnh mạch nhỏ ở xa sẽ dẫn máu về các tĩnh mạch lớn hơn, gần tim hơn, sau đó đổ

về tim Suy tĩnh mạch được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu trở về tim Sự trao đổi chất giữa mao mạch và mô bị xáo trộn gây ra hiện tượng thoát dịch khỏi tĩnh mạch, làm phù chân, gây ra sự ứ đọng các sản phẩm chuyển hóa tại các mô của da và lớp dưới da, lâu dần có thể dẫn tới thay đổi dinh dưỡng tại da, gây ra chàm và loét tĩnh mạch Suy tĩnh mạch gây nên tình trạng những tĩnh mạch giãn to, ngoằn ngoèo dưới da hoặc viêm ở các mô xung quanh Biểu hiện thành triệu chứng phù mắt cá chân, viêm da và lở loét ở cẳng chân, chủ yếu là ở vùng gần mắt cá chân

Hình 1.1: Hình ảnh tổn thương da theo phân độ của người bệnh

Nén, được coi là một trong những chức năng quan trọng nhất trong quá trình chữa bệnh (Oess, 2004) phục vụ nhiều người, do lý do đó mà người ta sử dụng tất tĩnh mạch Suy tĩnh mạch mãn tính (CVI), biểu hiện qua các triệu chứng như: phù, chứng tăng sắc tố trên mô, trên da, mắt cá chân có thể thu nhỏ, teo da trắng, và loét chân (Neumann 1998 theo trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann 2003), là những tình trạng nghiêm trọng có thể được kiểm soát với tất tĩnh mạch Sự co và giãn cơ bắp chân trong khi đi bộ bình thường cung cấp năng lượng cần thiết để đưa máu từ chân ngược lên và cuối cùng là về tim Van của tĩnh mạch có nhiệm vụ ngăn cản dòng máu chảy ngược lại Tỷ lệ máu trong tĩnh mạch chảy ngược lại ở chân là một chỉ số để biết sự hoạt động của van tốt thế nào, do tốc độ sẽ chậm hơn đáng kể khi van không có đủ khả năng (Pahlavan, Hampton, 2004) Khi các van này bị hư hỏng, hoặc trở nên kém (Hình 1.2), làm tăng áp lực của dòng máu chảy ngược trên hệ thống tĩnh mạch và cuối cùng

có thể dẫn đến vô số các biến chứng Van hỏng là khi các đỉnh van không còn đáp ứng được, hoặc là chúng bị hư hỏng hoặc bị xẹp lại hoàn toàn (Johnson, 2002) Trong CVI, các bơm trong cơ bắp chân không có khả năng làm giảm áp lực tĩnh mạch trong quá

Trang 15

13

trình đi bộ, áp lực gia tăng này, thường được gọi là chứng tăng huyết áp tĩnh mạch, cuối cùng dẫn đến tăng áp lực mao dẫn (Van Geest, Franken, Neuman, 2003)

Hình 1.2: Van tĩnh mạch thông thường với van tĩnh mạch bị hỏng

Mức độ nghiêm trọng của CVI có thể phân loại theo hệ thống phân loại CEAP được công nhận trên bình diện quốc tế Hệ thống này nghiên cứu biểu hiện lâm sàng, nguyên nhân gây bệnh, giải phẫu, và các khía cạnh sinh lý bệnh Những bệnh nhân bị phù nề, suy tĩnh mạch giảm albumine máu cũng có thể được hưởng lợi từ tất tĩnh mạch, do tác dụng nén của tất có thể làm giảm sưng Van Geest cùng cộng sự (2003)

đã xác định việc suy động mạch là việc chống chỉ định quan trọng nhất của liệu pháp nén, trong khi các chống chỉ định khác đối với liệu pháp nén bao gồm: "ngẽn mạch sâu cấp tính mà không có bổ sung hiệu quả, bệnh tim sung huyết nặng, dị ứng tiếp xúc với các thành phần của vật liệu sử dụng trong tất, dải băng gạc và các vết loét không xác định, chẳng hạn như ung thư biểu mô" theo chỉ định của Neumann (1996, 1998 như trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003)

Thật không may, do sự tuân thủ kém của bệnh nhân trong điều trị nén, các vết loét ứ tĩnh mạch thường tái diễn Do bệnh mãn tính, vết loét chân có thể phát triển thành DVT (huyết khối tĩnh mạch sâu ), một căn bệnh đe dọa cuộc sống Đối với du khách di chuyển thường xuyên, hội chứng hạng phổ thông, thường được gọi là ECS cũng như DVT và dẫn tới tạo dạng cục máu đông hình thành trong khi ngồi lâu ở những vị trí chật hẹp như khách hạng phổ thông Hiện tượng này cùng với việc thiếu tập luyện và thiếu nước làm giảm dòng máu trở của tĩnh mạch và minh họa bằng bộ ba yếu tố sinh lý bệnh của Virchow trong sự hình thành huyết khối là; tổn thương nội mạc, dòng máu trong ven bị suy giảm, và gây nên hiện tượng nghẽn mạch do đông tụ máu (Hình 1.3)

Trang 16

14

Hình 1.3: Ba triệu chứng của Virchow trong sự hình thành huyết khối

Những nghiên cứu khác nhau, được tài trợ bởi viện Phlebology và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, đã xâu chuỗi ECS liên quan đến việc tử vong trên máy bay và sau chuyến bay, và đề xuất rằng thời gian bay là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển DVT (Ewing, 2005) Việc đứng trong thời gian dài cũng có thể dẫn đến giãn tĩnh mạch

và các vấn đề lưu thông máu ở chân Phụ nữ mang thai, đàn ông và phụ nữ hay phàn nàn việc chân bị mỏi hoặc cảm thấy nặng nề, những người vừa trải qua phẫu thuật thẩm mỹ, nạn nhân bị bỏng, và vận động viên thể thao đều cần sử dụng tất tĩnh mạch (Oess, 2004)

Chứng giãn tĩnh mạch, thường do tình trạng yếu tĩnh mạch di truyền, là tín hiệu sớm của suy tĩnh mạch Việc tăng áp lực do thời gian đứng lâu hoặc gắng sức hoặc giảm sự hỗ trợ từ các mô xung quanh tĩnh mạch có thể dẫn đến giãn tĩnh mạch Phụ nữ mang thai, người béo phì, và người già dễ bị tăng áp lực này hơn những người khác Ở giai đoạn này việc sử dụng tất tĩnh mạch là lý tưởng vì nó có thể ngăn ngừa tình trạng tồi tệ hơn (Pah-Lavan, Hampton, 2004) Một nghiên cứu năm 2003 cho thấy rằng tất tĩnh mạch có tác dụng tương tự, liên quan đến tỷ lệ chữa bệnh và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, như phẫu thuật tĩnh mạch nông (Guest cùng các công sự, 2003 như được trích dẫn của Pah-Lavan, Hampton, 2004)

Hemosiderin là một hiện tượng ngả màu nâu trên da của phụ nữ mang thai do tĩnh mạch được kéo giãn dưới áp lực cao và cho phép các tế bào hồng cầu để đi vào các mô Sắt từ các tế bào hồng cầu sau đó lắng đọng trên các mô và làm nhuốm màu lên da Vết sẹo phát sinh trên cẳng chân là những mảng trắng nhỏ ở mô không có máu gây đau đớn và là một dấu hiệu cảnh báo chứng loét tĩnh mạch (Pah-Lavan, Hampton, 2004)

Trang 17

15

Cuối cùng, cũng có thể sử dụng tất tĩnh mạch cho nạn nhân bỏng cấp độ hai và

ba để ngăn ngừa và điều trị các vết sẹo phì đại và sẹo lồi cũng như khi điều trị co cứng

và biến dạng khớp (Weinert, 2003) Tất tĩnh mạch có thể tạo thuận lợi làm lành các vết bỏng nhanh hơn và làm các vết sẹo phẳng và mềm hơn mà không cần điều trị gì thêm (Larson cùng cộng sự, 1971 trích dẫn của Wienert, 2003)

1.1.1 Các dạng tất tĩnh mạch

Tất tĩnh mạch được gọi là "tất tĩnh mạch đàn hồi y tế" (MECS) MECS được coi

là một phần của giai đoạn 2 trong chế độ điều trị nén hai giai đoạn Giai đoạn 1 là để giảm phù nề và/hoặc chữa lành các vết loét ở chân bằng dải băng không đàn hồi, và giai đoạn 2 là việc duy trì nén qua MECS CEN (Ủy ban Tiêu chuẩn hóa Châu Âu) đã phân loại bốn dạng tất tĩnh mạch trên cơ sở áp lực tác dụng mức B (mắt cá chân) (Bảng 1.1)

Cấp I (nhẹ): tác động áp lực trong khoảng 15-21 mmHg ở mắt cá chân và rất hữu ích để phòng huyết khối, phụ nữ mang thai cũng có thể sử dụng tất ở cấp độ này, nhưng do mức nén này rất nhỏ nên không được sử dụng trong các điều trị y tế khác (Van Geest cùng nhóm nghiên cứu, 2003)

Bảng 1.1: Phân loại tất tĩnh mạch và áp lực tối đa tương ứng (ở mắt cá chân)

Chú thích: mmHg là áp suất đo bằng milimet thủy ngân

Cấp II (trung bình): Sử dụng áp lực trong khoảng 23-32 mmHg ở mắt cá chân

và rất hữu ích đối với phù nề nhẹ ở CVI, sau khi xơ hoá, trong trường hợp phụ thuộc phù nề, và ở tình trạng giãn tĩnh mạch không phù nề (Van Geest cùng nhóm nghiên cứu, 2003)

Cấp III (mạnh): Sử dụng áp lực trong dải 34-46 mmHg và rất hữu ích cho những người có xu hướng trung bình đến mạnh để tạo thành phù nề ở CVI, tình trạng giãn tĩnh mạch phù nề, sau khi chữa bệnh loét tĩnh mạch, sau chứng viêm quầng, và ở hội chứng sau huyết khối (Van Geest cùng nhóm nghiên cứu, 2003)

Trang 18

Trắc đồ nén (Hình 1.4) cho thấy sự thay đổi áp lực khi nó di chuyển lên từ mắt

cá chân lên đầu đùi Tất tĩnh mạch luôn có áp lực lớn nhất ở mắt cá chân và giảm dần dần khi nó di chuyển lên đến chân và hông, hoặc bất cứ vị trí cuối cùng nào mà tất kéo đến, có thể là đầu gối, hoặc đùi Khi đo tất tĩnh mạch bệnh nhân phải là người không bị phù nề và đo trong tư thế nằm ngửa Cần tiến hành đo tại các vị trí đo cụ thể (Hình 1.5), mà phù hợp với CEN, từ mắt cá chân lên đầu đùi (từ A đến G) Do chiều dài tất sẽ khác nhau với nhiều dạng điều trị khác nhau, chỉ thực hiện các phép đo thích hợp Huyết khối tĩnh mạch chân và phù nề bạch huyết sâu ở chân thường yêu cầu các phép

đo từ A-G, trong khi CVI chỉ có thể yêu cầu đo đến D

Hình 1.4: Đường áp lực dành cho tất tĩnh

mạch Lượng áp lực tối đa dồn hết vào

mắt cá chân Trong biểu đồ đường nét liền

là đường áp lực lý tưởng

Hình 1.5: Các vị trí cụ thể cần thực

hiện các phép đo để xác định kích cỡ tất cho bệnh nhân, hoặc nếu cần phải

có tất tùy chỉnh

Trang 19

17

1.1.2 Cấu trúc và vật liệu tất tĩnh mạch

Có thể dệt MECS theo hai cách khác nhau, tất dệt kim phẳng và tất dệt kim tròn, mỗi loại có những ưu nhược điểm khác nhau cho bệnh nhân, cùng với các tính chất nén khác nhau "Tất cả MECS phải kín, và được dệt kim, gót tất phù hợp với các dạng kết cấu thích hợp và đặc tính căng" (Neumann, 2000 như trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003)

Tất dệt kim phẳng: là loại tất tĩnh mạch có đường may, và có thể có kích thước tiêu chuẩn hoặc tùy chỉnh Tất dệt kim phẳng, không phải là sản phẩm có tính thẩm

mỹ, nhưng thường có độ vừa vặn hơn so với tất dệt kim tròn, và có thể đem lại áp lực chính xác hơn "Đạt được tính chất này bằng cách dệt một loại vòng sợi mà không ảnh hưởng đến sức căng sợi Khâu hai cạnh với nhau và may đường may thành phẩm tất" (Neumann, 1996 trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann 2003) Những loại tất này có thể dệt từ "sợi đàn tính” hoặc dệt kim có cài sợi đàn tính Sợi đàn tính được cài tối thiểu từ mỗi hàng vòng thứ hai" Nếu không sử dụng sợi cài khi đó phải sử dụng

"độ nhỏ tối thiểu 156 dtex trong ít nhất mỗi hàng vòng khác" (Neumann, 2000 như được trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003) Có thể thay đổi hình dạng của loại tất này bằng cách thay đổi số kim sử dụng trong quá trình dệt Loại tất này linh hoạt hơn, và do vậy dùng không quá khó khăn

Tất dệt kim tròn: Loại tất tĩnh mạch này không có đường may, thường mỏng hơn so với tất dệt kim phẳng, và có thể có kích thước tiêu chuẩn hoặc tùy chỉnh Những đặc tính này là những ưu điểm khiến cho tất dệt kim tròn được bệnh nhân ưa thích

"Trong quá trình sản xuất việc điều chỉnh kích thước được tiến hành bằng cách thay đổi sức căng sợi Chính vì thế, áp lực tạo ra từ tất dệt kim tròn sẽ không bao giờ được chính xác như áp lực của tất dệt kim phẳng "(Neumann, 1996 như được trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003) Những tất này "có sợi đàn tính hoặc sợi đàn tính được cài vào vải” Có thể thay đổi hình thù của loại tất này bằng cách thay đổi độ sít của các hàng vòng và sức căng của sợi dệt (Neumann, 2000 như trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003) Việc mặc đối với loại tất này, do thiếu độ căng, nói chung là khá khó khăn

Tất lưới cũng có thể dùng được, cắt ra từ một loại vải lưới và may lại, bệnh nhân thấy được những loại tất này chí ít cũng có tính thẩm mỹ Những tất này chỉ có thể dùng được khi có sự tùy chỉnh trên sản phẩm Tất co giãn một chiều là dạng khác của tất tĩnh mạch tùy chỉnh Tất này có cấu trúc tương tự như tất dệt kim tròn, nhưng là loại vật liệu nặng hơn đáng kể Các loại tất tĩnh mạch bao gồm cao đến đầu gối, cao đến đùi, và dài hết chân, dành cho nam và nữ giới và các dạng cho phụ nữ trong thời

kỳ mang thai Đối với tất mà thấp dưới đầu gối, có thể có vị trí ngón cái tùy chọn kín

Trang 20

1.1.3 Chất liệu thường được sử dụng để sản xuất tất tĩnh mạch (tất tĩnh mạch)

Tất tĩnh mạch thường chứa hai loại sợi là sợi đàn tính và sợi đàn tính Sợi có độ bền cao, chi số sợi dao động từ 310 dtex đến 1.880 dtex, được cài và cung cấp áp lực

và độ đàn hồi cần thiết được coi là sản phẩm y tế trong khi sợi đàn tính và sợi không đàn tính mảnh hơn tạo thành kiểu dệt và lớp phủ của tất

Sợi cài cũng chịu trách nhiệm tạo ra mức độ thoải mái của tất, như là lớp tiếp xúc với da Và những sợi này thường chứa khoảng 85% polyamit, 10% cotton, 5% chất liệu khác như sợi filament hoặc xơ vi mảnh như Tactel® cho tính mềm dẻo (Oess, 2004) Polyamit, Supplex®, nếu thường sử dụng trong tất tĩnh mạch vì nó trông và cảm giác tương tự như bông, nhưng khô nhanh, có độ bền màu tốt hơn, và cho khả năng chịu mài mòn tốt hơn so với bông Supplex® cũng không hỗ trợ cho vi khuẩn phát triển như sợi bông, một loại xơ xenlulo tự nhiên, rất dễ nhạy cảm với vi khuẩn như nấm mốc Xơ elastan đã thay thế cho việc sử dụng cao su trong tất tĩnh mạch và mang lại lợi ích như nén chính xác hơn, khả năng chống oxy hóa bởi tia UV, mức độ thoải mái cao hơn (ít hạn chế), mặc dễ dàng hơn, ổn định độ bền và nén trên các điều kiện khác nhau

và tổng thể được cải tiến phù hợp Sợi elastane mảnh hơn, có độ bền tốt hơn (tuổi thọ dài lâu hơn), và không gây dị ứng latex (Oess, 2004)

Các chất liệu khác thấy được trong tất tĩnh mạch tạo thêm sức quyến rũ cho sản phẩm bao gồm hỗn hợp silicone làm cho vải trơn trượt hơn, và do đó dễ mặc hơn Xơ

vi mảnh, chẳng hạn như Tactel®, và sợi đa xơ được cho là đem lại các khía cạnh vật lý của hàng dệt kim bao gồm khả năng thoáng khí, mát lạnh, thoải mái, và kích thước chính xác Coolmax®, sợi tổng hợp có tiết diện bốn rãnh, có khả năng dẫn mồ hôi và hơi ẩm thoát ra khỏi cơ thể thông qua tác động mao dẫn và ra bề mặt bên ngoài của tất,

là nơi nó có thể bay hơi và như vậy điều hòa được nhiệt độ cơ thể bệnh nhân Tactel®

Trang 21

19

cũng có những lợi ích tương tự cho bệnh nhân (Oess, 2004) Sợi monofilament nylon 6 dạng đặc biệt có tiết diện dẹt, có độ nhỏ 17 và 22 dtex, có giá trị độ bền cao, trong khi các tính chất của spandex cho phép tất có thể kéo giãn và hồi phục Tất cả những đặc tính của sợi được sử dụng trong tất tĩnh mạch tạo ra sự thoải mái cao hơn, điều đó đặc biệt quan trọng cho việc mặc trong thời gian dài, mang lại tính thẩm mỹ cao hơn cho hàng may mặc Salzmann, một nhà sản xuất tất tĩnh mạch sử dụng công thức sau cho tất của họ: 40% Tactel®, 30% Lycra, 20% cotton và 10% X-Static® (xơ bạc) (Các phương pháp xử lý tất bằng áp lực, 2002)

1.1.4 Tác động của tất tĩnh mạch khi sử dụng

Liệu pháp nén là một hình thức chữa bệnh mà đã được sử dụng từ thời Hippocrates (450-350 TCN) và đã được ghi nhận trong suốt nhiều thế kỷ như một liệu pháp để điều trị các bệnh như giãn tĩnh mạch và loét chân Khi phát hiện ra cao su, và khả năng bọc "sợi cao su với các loại sợi khác" (Van Geest cùng nhóm nghiên cứu, 2003) là một mảng của tất tĩnh mạch, với mức độ nén khác nhau, có thể bắt đầu được khai thác Có thể sử dụng liệu pháp nén "trong việc hỗ trợ điều trị phẫu thuật giãn tĩnh mạch hoặc liệu pháp xơ hóa áp lực hoặc liệu pháp duy trì ở những bệnh nhân sau khi bị loét tĩnh mạch chân đã lành hoặc ví dụ, phù bạch huyết" (Van Geest, cùng nhóm nghiên cứu, 2003), nhưng cấp độ nén tối ưu cần thiết để ngăn ngừa loét vẫn chưa được biết (Nelson cùng nhóm nghiên cứu, 2006) Nó đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng mà tất tĩnh mạch cũng có thể làm giảm căn bệnh huyết khối tắc mạch

Cơ chế hoạt động của liệu pháp nén, và tất tĩnh mạch đó, là kết quả từ áp lực đè lên chân Là ứng dụng bên ngoài mà áp dụng nén lên da nhằm hỗ trợ cho các hệ thống tĩnh mạch nông, áp lực này ép một phần tĩnh mạch để thu hẹp trong khi phần khác đóng lại hoàn toàn Kết quả là, giảm thiểu thể tích máu trong tĩnh mạch, và hoạt động bơm cơ bắp chân có thể làm việc tốt hơn và máu có thể dễ lưu thông đến tim, và do đó

có sự oxy hóa mô cao hơn và vi tuần hoàn tốt hơn ( Van Geest, cùng nhóm nghiên cứu, 2003)

Van Geest cùng nhóm nghiên cứu, 2003 cho rằng có thể sử dụng tất tĩnh mạch như để điều trị ngắn hạn, mặc dù có một số nguồn khác cho rằng sẽ điều trị theo cách khác Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi không sử dụng tất, thay đổi hoàn toàn các bệnh

cơ bản, chẳng hạn như sửa chữa hoặc cải tiến van ở chức năng cơ bắp chân, nhưng không rõ ràng (Ruckley, 1992 như trích dẫn của Johnson, 2002) Do tỷ lệ tái phát cao

ở các vết loét chân và các chứng đau chân khác nên tất tĩnh mạch được coi là một lựa chọn điều trị suốt đời

Tất tĩnh mạch có hiệu quả cao, với độ co giãn giới hạn của nó, tạo ra áp lực dưới mọi tình huống, áp lực này bao gồm tư thế nằm ngửa khi bệnh nhân nằm xuống, hoặc

Trang 22

20

ngồi Do đó cần tháo bỏ tất tĩnh mạch vào ban đêm và mặc lại ngay khi thức dậy vào buổi sáng, để tránh bất kỳ biến chứng với dòng chảy của động mạch (Callam, Ruckley, Dale, Harper, 1987 như trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann 2003) Áp lực lớn nhất ở mắt cá chân làm tăng vận tốc máu trong hệ thống tĩnh mạch Với sự tuần hoàn máu tăng lên như vậy sẽ làm giảm sưng tấy và và các bệnh khác có liên quan đến chân

1.1.5 Một số tất tĩnh mạch trên thị trường

- Phân tích các cấu trúc đặc trưng (thành phần nguyên liệu, chi số sợi, kiểu dệt, mật độ, tại các vị trí khác nhau như bàn chân, cổ chân, bắp chân)

- Đo áp lực nén từng vị trí cổ chân, bắp chân

Thiết bị thử nghiệm đo áp lực nén của tất tại Trung tâm thí nghiệm- Viện Nghiên Cứu

Dệt May và được thực hiện đo theo tiêu chuẩn BS 6612:1985 của Anh

Hình 1.7: Thiết bị đo áp lực nén tất tĩnh mạch SATRA STD 579 của Anh

➢ Tất Relaxsan (Ytaly)

Độ nén: 20 mmHg

Kiểu dệt: Ống tất dệt Single cài sợi bọc, gót và ngón dệt Single hai mặt

Tỉ lệ nguyên liệu: 60% bông, 28% PA, 10% SPD

Khối lượng: 58g/ đôi

Tất cao đến gối

Trang 23

21

Bảng 1.2: Thông số đo tất Relaxsan

TT Vị trí đo tất

Kích thước (cm)

Mật độ Chiều dài vòng sợi

(mm/40 kim)

Áp lực nén

Chi số sợi

Tự

do

± 0,2

Kéo căng

± 0,5

Dọc/

Hv/c

m

Ngang/ Cv/cm

Ne 30/1 bông

5 Bàn chân

Dài bàn 19

13 9 180 150 100 Rộng bàn 8 18

6 Gót và

ngón

Ne30/1 bông+

75PA

Trang 24

22

➢ Tất Mediven(Đức)

Độ nén: 20 mmHg;

Kiểu dệt: Ống tất, bàn tất dệt Single cài sợi bọc, lòng bàn - gót và ngón dệt nổi vòng

Tỉ lệ nguyên liệu: 88,81% PA, 11,19% SPD

Khối lượng: 74,06g/ đôi

Tất cao đến gối

Trang 25

23

Bảng 1.3: Thông số đo tất Mediven(Đức)

TT Vị trí đo tất

Kích thước (cm)

Mật độ Chiều dài vòng sợi

(mm/40 kim)

Áp lực nén

11 8

75D/4 PA + sợi bọc 30/40/2 PA + sợi bọc 200/20/2

Rộng ống 9,5 23

3 Ống

giữa

Dài ống 12

11,5 9

Rộng ống 8 17,5

12 11,5

Rộng ống 7 14,5

4 Gót và

70/75/2 PA+ 100/2 PA

Trang 26

24

➢ Nhận xét một số loại tất tĩnh mạch phân tích

Với các kết quả thông số được phân tích ở trên, cho thấy:

Về hình dáng: Tất được thiết kế với độ nén cao nhất ở cổ chân, cổ chân bó chặt tuy

nhiên không quá bó chặt bàn chân Sợi bọc đàn hồi được cài ở hầu hết các vị trí chiều dài chân Tất được đáp gót chân và ngón chân lại (dệt thành hình) cho vừa khít và tạo

thành hình các đường viền bàn chân

Áp lực nén: Áp lực lớn nhất trên bề mặt là cổ mắt cá chân Mỗi vị trí tất độ giãn và chu

vi thay đổi theo các vị trí tương ứng (chu vi 3 vòng cổ chân, bắp giữa và bắp gối) Quy luật ảnh hưởng của các yếu tố tạo lực ép do (tổ hợp sợi, chiều dài vòng sợi, độ giãn chu

vi ống tất) nên mức nén giảm dần theo chiều dài tất

Tất Relaxsan tỉ lệ áp lực nén giảm dần từ cổ mắt cá chân lên đến ống trên theo áp lực giảm dần như sau: 20 - 17 - 14 mmHg tương ứng với tỉ lệ áp lực giảm dần là 100 –

85 – 70%

Tất Mediven tỉ lệ áp lực nén giảm dần từ cổ mắt cá chân lên đến ống trên theo áp lực giảm dần như sau: 20,93 – 16,01 – 14,47 mmHg tương ứng với tỉ lệ áp lực giảm dần (100 – 76,5 – 69,1%)

Về nguyên liệu: Bông là nguyên liệu chính để sản xuất tất tĩnh mạch (chiếm tới 70-

80%) Sợi bông thường được dệt cùng với các loại sợi có khả năng hút ẩm như xơ tổng hợp như Polyeste hoặc Polyamit, hoặc được phối trộn bông với loại sợi có tính kháng

khuẩn như crabyon, sợi bạc, sợi tre

Vị trí cổ tất dệt thường được dệt với sợi bọc lõi Spandex chi số to hơn so với các vị trí còn lại của tất Sợi tạo vòng (sợi nền) thường là sợi bông hoặc sợi PA, có thể dệt sợi đơn hoặc chập hai đến ba sợi dệt cùng trên một kim dệt

Về cấu trúc : Tại mỗi vị trí của chiều dài tất tương ứng với chân được thiết kế dệt linh

hoạt và thích nghi với mỗi vị trí bàn chân, đặc biệt là làm giảm ma sát và không tạo áp lực lên da Vị trí ống chân thường được sử dụng kiểu dệt Single cài sợi bọc Vị trí mặt

bàn tất được dệt kiểu dệt mắt chim, mắt lưới tạo cảm giác thông gió

Kiểu dệt đâm bông nổi vòng sợi làm đệm tất vào chân, gót và ngón chân đồng thời bảo vệ chân khỏi bị tổn thương Lớp đệm lót dày và xốp từ sợi nền sẽ làm giảm áp lực nén và ma sát

Yêu cầu kỹ thuật tất tĩnh mạch

Tất lý tưởng cho người bị bệnh tĩnh mạch cần có những yêu cầu kỹ thuật chung như sau:

Trang 27

25

* Lực tác dụng của tất lên các vùng của chân

Để xác định những điểm khác biệt giữa số đo chân của người bệnh tĩnh mạch, dưới đây là thống kê các điểm đo có khoảng áp lực tương ứng để mức độ nén của tất giảm dần từ điểm B, C lên G Cụ thể tại hình 2.1

Hình 1.8: a- Các điểm đo áp lực tương ứng để mức độ nén của tất giảm dần từ điểm B,

C lên đến điểm cao nhất là điểm G b- Lực nén giảm dần trong tất tĩnh mạch đàn hồi y

tế

Tất tạo áp lực từ mắt cá chân và giảm dần khi lên đầu gối bằng cách cung cấp áp lực ở các vùng riêng biệt Bảng 1.4 dưới đây trình bày các tiêu chuẩn quốc tế về áp lực của một số nước

Bảng 1.4: Tiêu chuẩn quốc tế về tỉ lệ áp lực nén của tất tĩnh mạch

Các tiêu

chuẩn

Anh Đức Mỹ Đài Loan

Đơn vị: % (Điểm B mắt cá chân là mức nén mốc 100%)

Trang 28

26

Đường may có thể cọ xát da và gây ra phồng rộp hoặc loét Hầu hết tất tĩnh mạch sản xuất ra mà không có đường may nhằm không gây áp lực lên da Không nên có đường may rời cho tất cả các chi tiết, sản phẩm được nối với nhau bằng những đường

nối vô hình, dải băng đàn hồi không in dấu vết lên chân và không ta ̣o cảm giác bó chă ̣t lên ngón và gót chân

- Sợi có khả năng quản lý ẩm tốt (thấm hút tốt, thoát ẩm nhanh và thoáng khí);

- Thân thiện với da;

Trang 29

27

- Phương án 1: Đưa chất kháng khuẩn lên tất;

- Phương án 2: Sử dụng các nguyên liệu sợi có khả năng kháng khuẩn

Phương án một dễ thực hiện ngay cả với quy mô nhỏ Tuy nhiên, phương án này cho độ bền kháng khuẩn không cao chỉ sau vài lần giặt khả năng kháng khuẩn giảm đi nhiều

Phương án 2: giá nguyên liệu đắt hơn nguyên liệu thông thường Tuy nhiên độ bền kháng khuẩn cao gần như đảm bảo hết tuổi thọ của tất

Độ nén

- Tất cần có độ nén phù hợp với từng tình trạng mức độ của người bệnh

- Tất cần tạo độ dốc áp lực (Chặt ở cổ chân và lỏng dần khi lên đến cao)

- Gót tất cần phù hợp với các dạng kết cấu thích hợp và đặc tính căng

- Đủ áp lực để điều trị và duy trì áp lực trong thời gian dài, chất liệu loại sợi chất lượng cao, độ bền lâu, không kích ứng da, đem lại cảm giác thoải mái cho người

sử dụng

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Tại Việt Nam, theo thống kê gần đây số bệnh nhân được chuẩn đoán suy tĩnh mạch, có trên 50% bệnh nhân ở tuổi lớn hơn 50 và gần 70% là phụ nữ

Việc ứng dụng tất tĩnh mạch trong ngành dệt may ở Việt Nam phục vụ y tế là rất mới mẻ và còn hạn chế

Gần đây trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội có một luận văn thạc sỹ kỹ thuật do PGS TS Vũ Thị Hồng Khanh hướng dẫn, nội dung nghiên cứu mới dừng ở chỗ khảo sát thị trường người dùng và cấu trúc của loại sản phẩm tất tĩnh mạch Tiếp đó là đề tài: Nghiên cứu thiết kế quy trình, dệt và xử lý hoàn tất sản phẩm bít tất chuyên dụng và các băng ép sử dụng trong ngăn ngừa và điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch, do PGS TS

Vũ Thị Hồng Khanh làm chủ nhiệm, đề tài này đã đưa ra được quy trình công nghệ dệt tất nén cho phụ nữ Việt Nam mắc bệnh suy tĩnh mạch và quy trình công nghệ dệt băng

ép chữa bệnh suy tĩnh mạch trên cơ sở là sử dụng sợi màu có sẵn trên thị trường

Hiện nay, hầu hết các sản phẩm tất phục vụ người bị bệnh suy tĩnh mạch trên thị trường đều phải nhập khẩu Việc lựa chọn sản phẩm tất phục vụ người bệnh đảm bảo

ổn định nguồn cung ứng dụng cụ hỗ trợ y tế dành cho bệnh nhân bị suy tĩnh mạch có ý nghĩa thiết thực

Tóm lại:

Trang 30

28

- Trên cơ sở phân tích tình hình nghiên cứu, xét trong điều kiện phát triển về khoa học và công nghệ trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài đã được trình bày ở mục trên có thể thấy tình hình nghiên cứu và sản xuất công nghiệp các sản phẩm tất cho bệnh suy tĩnh mạch đã phát triển ở một số nước trên thế giới, tuy nhiên tại Việt Nam chưa có một cơ sở sản xuất nào công bố sản xuất trên quy mô công nghiệp

- Tất tĩnh mạch được sử dụng công nghệ dệt kim đan phẳng hoặc dệt kim đan tròn Tuy nhiên, để đơn giản hơn là sử dụng công nghệ dệt kim đan tròn

- Nguyên liệu để sản xuất tất cho bệnh suy tĩnh mạch khá đa dạng nhưng trên nguyên lý là sợi có tính tiện nghi cao như dễ thấm hút, khô nhanh và ưu tiên tính năng kháng khuẩn kết hợp với sợi co giãn Spandex

- Cần phải thiết kế mật độ sợi ở các vị trí tất khác nhau để điều chỉnh mức nén theo độ dốc từ mắt cá chân trở lên sao cho càng lên cao càng giảm độ nén

- Mỗi cấp độ bệnh khác nhau yêu cầu độ nén của tất khác nhau

- Hiện tại Việt Nam việc sản xuất tất tĩnh mạch ở quy mô công nghiệp chưa có nơi nào làm

Trang 31

29

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lý thuyết:

+ Tài liệu về tính chất nguyên liệu để sản xuất sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch;

+ Tài liệu về yêu cầu kỹ thuật của các sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch;

+ Tài liệu về dây chuyền sản xuất thiết bị dệt nhuộm và hoàn tất bít tất cho người bị suy tĩnh mạch;

+ Tài liệu về hệ thống cỡ số nam nữ các sản phẩm tất cho người bị suy tĩnh mạch độ tuổi 35-60;

+ Tài liệu về các thông số ảnh hưởng đến lực nén tác động lên phần chân của người bị suy tĩnh mạch

- Nghiên cứu thực nghiệm:

+ Nghiên cứu thực nghiệm mẫu nhỏ trong phòng thí nghiệm để xác định thông số công nghệ;

+ Thí nghiệm các chỉ tiêu kỹ thuật trong phòng thí nghiệm, hiệu chỉnh các thông số công nghệ để đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu chất lượng sản phẩm;

+ Lựa chọn phương pháp, công nghệ tối ưu Thực nghiệm sản xuất mẫu lớn trên quy

mô công nghiệp, hoàn thiện quy trình sản xuất;

+ Phân tích, đánh giá các kết quả sản phẩm thực nghiệm

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế quy trình sản xuất tất cho người suy tĩnh mạch

Qua tham khảo tài liệu và kinh nghiệm thực tế, quy trình chung sản xuất tất cho người suy tĩnh mạch như sau:

Sợi mộc → Đánh côn xốp → Tiền xử lý (nấu giặt) → Nhuộm màu → Làm mềm sợi → Tách nước → Sấy khô → Đánh ống giấy → Thiết kế kiểu dệt → Sắp xếp cam, kim theo yêu cầu của kiểu dệt → Lắp sợi, cài sợi chun Spandex → Dệt tất → May khứu → Định hình tất → Kiểm thành phẩm → Đóng gói

2.2.2 Lựa chọn công nghệ và quy trình nhuộm sợi dệt tất

Trang 32

30

2.2.2.1 Lựa chọn công nghệ nhuộm sợi

Hàng may mặc, nhất là các sản phẩm mặc ngoài, để có được đa dạng mẫu mã (tạo hoa văn và đa gam màu) phần lớn được dệt từ sợi đã nhuộm màu để sản xuất vải kẻ và hoa văn Vì vậy vải dệt từ sợi màu trở thành sự lựa của nhiều nhà sản xuất các sản phẩm may thời trang hiện nay

Mặt khác, với công nghệ sản xuất sản phẩm tất đại đa số áp dụng theo phương pháp dùng sợi đã nhuộm màu để dệt tất vì: nếu tất dệt sử dụng sợi chưa nhuộm màu để dệt thì sau khi nhuộm phải qua công đoạn nhuộm màu Khi đó sẽ phải xử lý tất ở nhiệt

độ cao, thời gian xử lý tất dài gây biến dạng nhiều sản phẩm việc định hình tất sau nhuộm sẽ gặp rất nhiều khó khăn và chi phí nhuộm sản phẩm bao giờ cũng cao hơn chi phí nhuộm sợi trước khi dệt

Hiện nay, trên thế giới đang áp dụng các công nghệ nhuộm sợi màu chính như sau:

- Nhuộm sợi dạng guồng (con sợi)

- Nhuộm sợi dạng côn (bobin)

- Nhuộm sợi dạng trục (beam)

Với mỗi một công nghệ nhuộm có những ưu nhược điểm khác nhau và phù hợp với công nghệ sản xuất một số mặt hàng vải khác nhau Trong số các công nghệ nhuộm sợi đó thì công nghệ nhuộm sợi dạng bobin là được sử dụng nhiều nhất trong các nhà máy sản xuất tất Chính vì thế nhóm thực hiện đề tài sẽ lựa chọn công nghệ nhuộm sợi dạng bobin

Sợi mộc sau khi sản xuất ra muốn được nhuộm cần trải qua công đoạn chuyển sợi về dạng côn xốp để quá trình tiền xử lý, nhuộm màu được đều Sợi sau khi nhuộm thường bị khô, cứng chưa đưa ngay lên dệt được cần phải qua công đoạn làm mềm sợi tăng khả năng dệt đặc biệt là sợi dùng cho dệt kim Chính vì thế quy trình công nghệ

nhuộm sợi dạng bobin được thực hiện như sau:

Sợi mộc Đánh ống xốp Nhuộm, làm mềm, sấy Đánh ống cứng

2.2.2.2 Lựa chọn lớp thuốc nhuộm để nhuộm sợi

➢ Lựa chọn lớp thuốc nhuộm để nhuộm thành phần bông

Xơ sợi bông có thể nhuộm màu được bằng các lớp thuốc nhuộm như: thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm lưu hóa, thuốc nhuộm hoàn nguyên tùy theo yêu cầu về chất lượng màu sắc của sản phẩm cần nhuộm mà lựa

Trang 33

31

chọn loại thuốc nhuộm nào cho phù hợp Với mỗi lớp thuốc nhuộm có những ưu nhược điểm riêng, trong số các lớp thuốc nhuộm đó lớp thuốc nhuộm hoạt tính hay được sử dụng nhất để nhuộm cho bông, chính vì thế trong nghiên cứu này tập trung vào lớp thuốc nhuộm hoạt tính

Mục tiêu của đề tài là các sản phẩm tất cho người giãn tĩnh mạch, các mẫu tất của đề tài nghiên cứu được dệt từ sợi “Bông/Polyamit” cài với sợi Spandex để tạo ra tính chất co giãn và độ nén cho tất thích hợp đề bổ trợ cho việc điều trị bệnh giãn tĩnh mạch Việc lựa chọn nhóm thuốc nhuộm hoạt tính là thích hợp nhất bởi các lý do sau:

- Thuốc nhuộm hoạt tính vừa đạt được yêu cầu độ bền màu, độ tươi sáng;

- Công nghệ nhuộm tương đối đơn giản, dễ nhuộm;

- Các điều kiện kỹ thuật nhuộm khác như: môi trường nhuộm với độ kiềm không quá cao, có thể hạn chế thấp nhất mức độ ảnh hưởng đến tính chất của thành phần Polyamit cũng như sợi Spandex

➢ Lựa chọn lớp thuốc nhuộm để nhuộm thành phần Polyamit

Cấu tạo hóa học của Polyamit rất giống len vì mạch Polipeptit là cấu trúc cơ bản của chúng Tuy nhiên Polyamit có số lượng các nhóm hoạt hóa ít hơn, nhất là nhóm

−NH2 có khả năng gắn với R−SO3 của thuốc nhuộm anion Hơn nữa số lượng các nhóm −NH2 cuối mạch có thể thay đổi từ lô sợi này sang lô khác làm thay đổi tính chất nhuộm màu Xử lý hóa học hay xử lý nhiệt như “nhiệt định hình” hoặc “làm dún” (texturing) tiếp xúc với không khí có thể làm thay đổi số lượng các nhóm trên và như thế ảnh hưởng đến ái lực của xơ sợi đối với thuốc nhuộm Để nhuộm Polyamit sử dụng các loại thuốc nhuộm sau:

Thuốc nhuộm phân tán

Thuốc nhuộm axit

Thuốc nhuộm phức kim loại

Nhuộm bằng thuốc nhuộm phân tán cho Polyamit

Thuốc nhuộm phân tán thích hợp nhất để nhuộm Polyamit là những thuốc nhuộm chuyên dùng được sản xuất bởi các hãng khác nhau, như Synten S (Boruta, Ba Lan) hay Ostacet P (Tiệp) Những thuốc nhuộm loại này có khả năng lên màu rất tốt, phủ sọc (strippiness) Polyamit tối đa, nhưng độ bền màu ướt chỉ ở mức trung bình Đây

là các thuốc nhuộm có khối lượng phân tử thấp mà trước đó đã được sản xuất để nhuộm sợi axetat

Tuy nhiên có thể sử dụng một số thuốc nhuộm phân tán có khối lượng phân tử cao (high molecular weight) để nhuộm Polyamit mà chúng thường dùng nhuộm

Trang 34

Nhuộm bằng thuốc nhuộm axit cho Polyamit

Thuốc nhuộm axit lựa chọn nhuộm Polyamit đạt kết quả tốt Độ bền màu ánh sáng đạt được là tốt, còn độ bền màu ướt từ trung bình đến rất tốt Muốn đạt độ bền màu ướt cao phải xử lý nâng cao độ bền màu bằng chất hãm màu anion (anionic fixing agent) thích hợp

Vì khả năng phủ sọc (coverage of barriness) của thuốc nhuộm axit không thật tốt, nên chỉ thường dùng để nhuộm màu trung và màu đậm

Tuy nhiên, cũng có loại thuốc nhuộm axit như “Tectilon” (Ciba) có khả năng đều màu rất tốt và khả năng phủ sọc cũng rất tốt, đó là thuốc nhuộm axit monosunfonat, phân tử thấp, có thể nhuộm từ màu nhạt đến trung, cho độ bền ánh sáng cao ngay cả với màu nhạt, độ bền màu ướt cao đối với màu nhạt, còn màu trung cần xử

lý hãm màu

Nhuộm bằng thuốc nhuộm phức kim loại 1:2

Thuốc nhuộm phức kim loại 1:2 nhuộm cho Polyamit cho độ bền màu rất cao, còn độ đều màu trung bình cần phải dùng chất đều màu Chính vì vậy nó rất phù hợp

để nhuộm cho màu trung và màu đậm

Trong các loại thuốc nhuộm kể trên, thông thường người ta sử dụng các loại thuốc nhuộm axit thường và loại phức kim loại 1:2 để nhuộm Hiện nay, hãng Hunsmant có sản xuất loại thuốc nhuộm axit phức với tên thương mại Lanaset, đây là một loại pha trộn giữa phức kim loại 1:2 và axit thường nhằm đạt độ bền màu tương đối cao lại có được gam màu tương đối sáng để dung hòa các đặc tính riêng biệt của 2 loại thuốc nhuộm mà bản thân một mình nó không đạt được

Với việc phân tích đặc điểm của từng loại thuốc nhuộm nhuộm được cho Polyamit, kết hợp với mục tiêu của đề tài sản xuất ra vải có chất lượng tốt, chúng tôi đã lựa chọn nhóm thuốc nhuộm Lanaset để nhuộm cho Polyamit vì chúng đáp ứng được:

- Có dải màu rộng từ vàng nhạt đến đen đậm;

- Hiệu suất lên màu cao;

- Có độ bền màu nói chung tốt và màu tươi sang;

- Có thể nhuộm các chủng loại vật liệu (cúi, sợi, vải)

Trang 35

nhiều sợi đàn hồi để bó chặt để cầm cổ chân, cổ tất dệt gập đôi và có độ đàn hồi lớn

❖ Ống tất

Là vị trí dệt có số lượng hàng vòng dệt nhiều nhất và số lượng hàng vòng tùy theo kích thước và số đo của mỗi cỡ chân mà nhà thiết kế cài đặt Các kích thước vòng của ống tất sẽ thay đổi trong quá trình dệt do tất cần tạo độ dốc áp lực chặt ở ống mắt cá chân và lỏng dần khi lên cao Do đó ống tất tĩnh mạch nhất thiết phải tạo hình dáng ống chân khác biệt so với các loại tất thông thường khác

Trang 36

- Phần dưới là gan bàn chân (độ bền khô, ướt cao, tính vệ sinh cao)

Tất thông thường sử dụng kiểu dệt trơn Tất y tế có các vị trí liên kết đặc biệt được dệt vào tất Trong tất tĩnh mạch bàn tất có yêu cầu tạo hình ôm sát bàn chân con người Mặt bàn tất được dệt phẳng và phần cung tạo độ vừa vặn hơn, hỗ trợ cho sự thoải mái hơn và tăng bền cho gan bàn chân

❖ Mũi tất:

- Thông thường sử dụng cùng kiểu dệt, cùng loại sợi với gót tất;

- Biên dạng đường may thấp tránh cho chân bị cọ xát và sưng tấy Ngón chân đóng kín không đường may ngăn ngừa phồng rộp để tăng sự thoải mái nơi đầu mũi;

- Đường may cách đầu ngón chân trơn phẳng tăng thêm sự thoải mái và giảm kích ứng, tránh cho chân bị cọ xát và sưng tấy

2.2.3.2 Nghiên cứu một số kiểu dệt tất tĩnh mạch cơ bản

Bít tất bao gồm nhiều bộ phận khác nhau như ngón chân, mu và gan bàn chân, gót chân, bắp và cổ chân Cấu trúc của ngón chân và gót chân bàn chân và bắp chân thường có cấu trúc giống nhau hoặc tương tự

Ngày nay máy dệt kim tròn công nghệ cao được sử dụng hàng loạt trên thiết bị dệt hình trụ Các quả sợi được đặt trên giàn sợi và cấp sợi theo chương trình đã được thiết lập sẵn thông qua hệ thống cấp sợi trên máy (máy dệt có 2 đến 4 hệ thống cấp

sợi)

➢ Kiểu dệt đủ vòng sợi

Thuộc nhóm kiểu dệt này trước hết là kiểu dệt trơn một mặt phải Vải được tạo thành từ một loại phần tử cấu trúc duy nhất, đó là vòng dệt Trong quá trình dệt, tất cả các kim trên máy đều tham gia tạo vòng sợi ở tất cả các hàng vòng

Trang 37

35

Hình 2.2: Kiểu dệt đủ vòng sợi

➢ Kiểu dệt thiếu vòng sợi

Thuộc nhóm kiểu dệt này trước hết là kiểu dệt rút kim Do một số kim bị rút bớt khỏi máy (không tham gia tạo vòng trong quá trình dệt) nên vải được tạo thành sẽ bị thiếu các cột vòng, làm xuất hiện các sọc lõm trên mặt phải của vải Trong quá trình dệt, một số kim trên máy không tạo vòng sợi có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn, làm cho một số hoặc tất cả các hàng vòng bị thiếu các vòng sợi

Tuy bản chất cấu trúc vải không có gì thay đổi nhưng các cung platin ở các vị trí thiếu cột vòng sẽ bị kéo dài ra hơn hẳn mức bình thường

Hình 2.3: Kiểu dệt thiếu vòng sợi

➢ Kiểu dệt vòng chập

Cấu tạo và phương pháp liên kết trong vải của vòng chập và vòng không dệt tuy khác nhau nhưng hiệu ứng do chúng làm xuất hiện trên mặt vải có nhiều điểm giống nhau Ở vị trí của các vòng chập, vòng sợi cũng bị thiếu Sự có mặt của vòng chập cũng có thể làm thay đổi tính chất hoặc hiệu ứng màu của vải

Trang 38

➢ Kiểu dệt cài sợi phụ

Các sợi phụ được đưa bổ sung vào cấu trúc cơ bản (cấu trúc nền) tuy không có tác dụng tạo vải, nhưng có thể cải thiện hoặc làm thay đổi đáng kể các tính chất của

vải Các sợi phụ có thể được liên kết với cấu trúc nền bằng các vòng kép, các vòng

chập, các vòng không dệt đảo vị hoặc bằng các phương pháp khác

Hình 2.5: Kiểu dệt cài sợi phụ

➢ Kiểu dệt làm thay đổi hình dạng của các vòng sợi cơ bản

Quan trọng nhất trong nhóm này là kiểu dệt vòng sợi dịch chuyển Khi một chuyển từ cột vòng khác không chỉ làm cho cột vòng bị đứt đoạn (do thiếu vòng sợi)

mà còn làm xuất hiện lỗ thủng trên mặt vải Phải đến hàng vòng tiếp bắt mối được tạo

Trang 39

37

ra cột vòng lại được dệt khôi phục Để tăng kích thước của lỗ thủng trên mặt vải có thể

kết hợp dịch chuyển hai vòng sợi cạnh nhau về hai hướng ngược nhau

Hình 2.6: Kiểu dệt vòng sợi dịch chuyển

Áp lực của tất đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa sự xuất hiện loét trên bàn chân Với tất cho bệnh nhân tĩnh mạch áp lực nén là một yếu tố quan trọng liên quan đến tính năng của tất Tuy nhiên các cấu trúc khác nhau của tất cũng có ảnh hưởng khác nhau đến áp lực

Kiểu dệt trơn là một trong những cấu trúc dệt kim chính để sản xuất bít tất Kiểu dệt trơn có cấu trúc dệt kim đơn giản và tiết kiệm nhất để sản xuất và tạo được lớp che phủ tối đa Do các các vòng sợi dệt kín dồn vào nhau nên mật độ hàng vòng tăng và hạn chế khoảng cách các cột vòng với nhau, độ hở của vải hạn chế Sự chồng chéo các vòng sợi xảy ra làm độ dày của vải tăng lên do đó độ hở của vải hạn chế

Trang 40

38

Nhìn chung các vòng sợi chập làm giảm chiều dài vải và giảm độ đàn hồi theo hướng dọc và tăng mật độ hàng vòng sẽ làm tăng khoảng cách giữa mỗi cột vòng và tạo nên nhiều lỗ hổng Trong cấu trúc dệt nghỉ, các vòng sợi phẳng thể hiện vòng sợi nằm theo hàng ngang ở mặt sau vải Vòng sợi phẳng tạo nên bề mặt tương tự như cấu trúc vải Terry Sợi nổi vòng lặp lại sẽ tạo nên một lớp đệm làm tăng các phần tiếp xúc giữa lòng bàn chân và tất

2.3 Xây dựng các hệ thống cỡ số (nam và nữ) sản phẩm tất tĩnh mạch

Hiện nay trên thế giới, tại các nước hoặc các châu lục đều xây dựng và sử dụng

hệ thống cỡ số bàn chân để phân chia cỡ giầy dép và các sản phẩm liên quan với giầy như tất và tấm lót giày Việc xây dựng hệ thống cỡ số sản phẩm tất dân dụng chủ yếu dựa trên hệ thống cỡ số sản phẩm giầy Hiện tại, các hệ thống cỡ số giày chủ yếu là: hệ mét (mondopoint), hệ Pháp (EU), hệ Anh, hệ Mỹ và của các nước châu Á như Trung Quốc Nhật Bản, Hàn Quốc

Tùy thuộc vào mục đích sử dụng khác nhau mà các sản phẩm tất có hệ thống kích thước khác nhau Mục đích của đề tài này là xây dựng hệ thống cỡ số sản phẩm tất Việt Nam dùng cho bệnh nhân suy tĩnh mạch Bệnh nhân suy tĩnh mạch sử dụng hai loại tất chính là tất có chiều cao dưới bắp chân (b- crew) và tất dạng nén nhẹ 10-15 mmHg, có chiều cao trên bắp chân (over the calf)

Việc xây dựng hệ thống cơ số sản phẩm tất bao gồm việc xác định các kích thước chủ đạo của sản phẩm tất, bước nhảy giữa các cỡ tất, đảm bảo cho một nhóm người sử dụng một cỡ tất đáp ứng các yêu cầu về đặc tính sử dụng, sự thoải mái, hài hòa giữa yếu

tố kinh tế và sản xuất Các kích thước chủ đạo thường là các kích thước quan trọng, có ý nghĩa nhất trong việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm tất, là các thông số kích thước chính khi thiết kế và lựa chọn các sản phẩm tất; có mối tương quan chặt chẽ với một số kích thước khác của bàn chân

Hình 2.8: Các dạng tất theo chiều dài phần trên

Tất ngón Tất ẩn Tất dưới cổ chân-Tất cổ chân -Tất dưới bắp chân -Tất phủ bắp chân–Tất phủ đầu gối-Tất đùi

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Callam M. Prevalence of chronic leg ulceration and severe chronic venous disease in western countries. Phlebology 1992; 1((Suppl)): 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of chronic leg ulceration and severe chronic venous disease in western countries
Tác giả: Callam M
Nhà XB: Phlebology
Năm: 1992
4. NHS Centre for Research and Dissemination. Compression therapy for venous leg ulcers. Effective Health Care Bulletin 1997; 3: 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Compression therapy for venous leg ulcers
Tác giả: NHS Centre for Research and Dissemination
Nhà XB: Effective Health Care Bulletin
Năm: 1997
5. Jeffrey PC, Nicolaides AN. Graduated compression stockings in the prevention of post-operative deep vein thrombosis. Br J Surg 1990; 77: 380-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Graduated compression stockings in the prevention of post-operative deep vein thrombosis
Tác giả: Jeffrey PC, Nicolaides AN
Nhà XB: Br J Surg
Năm: 1990
6. Mayberry JC, Moneta GL, Taylor LM, Porter JM. Fifteen-year results of ambulatory compression therapy for chronic venous ulcers. Surgery 1991; 109(5): 575-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fifteen-year results of ambulatory compression therapy for chronic venous ulcers
Tác giả: Mayberry JC, Moneta GL, Taylor LM, Porter JM
Nhà XB: Surgery
Năm: 1991
7. Moffatt CJ, Dorman MC. Recurrence of leg ulcers within a community ulcer service. J Wound Care 1995; 4(2): 57-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recurrence of leg ulcers within a community ulcer service
Tác giả: Moffatt CJ, Dorman MC
Nhà XB: J Wound Care
Năm: 1995
8. Dale JJ. The anatomy and physiology of the circulation of the legs.. In: Cullum N, Roe B, editors. Leg ulcers: nursing management - a research based guide. Harrow:Scutari, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leg ulcers: nursing management - a research based guide
Tác giả: Dale JJ
Nhà XB: Scutari
Năm: 1995
9. Hollinworth H. Venous leg ulcers part 1: aetiology. Professional Nurse 1998; 13(8): 553-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Venous leg ulcers part 1: aetiology
Tác giả: Hollinworth H
Nhà XB: Professional Nurse
Năm: 1998
10. Browse NL, Burnand KG. The cause of venous ulceration. Lancet 1982; 2(8292): 243-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cause of venous ulceration
Tác giả: NL Browse, KG Burnand
Nhà XB: Lancet
Năm: 1982
11. Ruckley CV. Treatment of venous ulceration: compression therapy. Phlebology 1992; 1: 22-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of venous ulceration: compression therapy
Tác giả: Ruckley CV
Nhà XB: Phlebology
Năm: 1992
12. Lawrence D, Kakkar VV. Graduated, static, external compression of the lower limb: a physiological assessment. Br J Surg 1980; 67(2): 119-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Graduated, static, external compression of the lower limb: a physiological assessment
Tác giả: Lawrence D, Kakkar VV
Nhà XB: Br J Surg
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w