Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài luận v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TIẾN QUÂN
B¶O VÖ C¸C QUYÒN CñA NG¦êI BÞ BUéC TéI
(NG¦êI BÞ B¾T, NG¦êI BÞ T¹M GI÷, NG¦êI BÞ T¹M GIAM,
BÞ CAN, BÞ C¸O) TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TIẾN QUÂN
B¶O VÖ C¸C QUYÒN CñA NG¦êI BÞ BUéC TéI
(NG¦êI BÞ B¾T, NG¦êI BÞ T¹M GI÷, NG¦êI BÞ T¹M GIAM,
BÞ CAN, BÞ C¸O) TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Tiến Quân
Trang 4NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 9 1.1 Những vấn đề chung có liên quan đến quyền của người bị
buộc tội và bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự 9
1.1.1 Khái niệm người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 9 1.1.2 Khái niệm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 14 1.1.3 Khái niệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật tố
tụng hình sự 14
1.2 Cơ sở của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự 17 1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự 23 1.4 Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố
tụng hình sự quốc tế 25 Chương 2: BẢO VỆ CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 33 2.1 Quá trình phát triển các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam liên quan đến bảo vệ các quyền của
người bị buộc tội 33
Trang 52.1.1 Giai đoạn từ 1945 – 1988 33 2.1.2 Theo Bộ luật tố tụng hình sự 1988 36 2.1.3 Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 43
2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về bảo
vệ các quyền của người bị buộc tội 45
2.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của
người bị buộc tội 45 2.2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua một số nguyên tắc tố tụng 57 2.2.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về quyền và
nghĩa vụ của người bào chữa 62 2.2.4 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về nghĩa vụ
của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng 64 2.2.5 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về khiếu nại,
tố cáo trong tố tụng hình sự 67 2.2.6 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về trách
nhiệm bồi thường, trách nhiệm khác 68
Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NÂNG
CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ
BUỘC TỘI 76 3.1 Thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
bảo vệ các quyền của người bị buộc tội 76
3.1.1 Thực trạng bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong hoạt
động tố tụng hình sự 76
Trang 63.1.2 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ
quyền của người bị buộc tội trong hoạt động tố tụng hình sự 88
3.2 Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người bị buộc tội 90
3.2.1 Những yêu cầu của cải cách tư pháp về bảo vệ quyền của người bị buộc tội 90
3.2.2 Hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bảo vệ các quyền của người bị buộc tội 94
3.2.3 Nâng cao nhận thức, trình độ và trách nhiệm của người trực tiếp tham gia tiến hành tố tụng 98
3.2.4 Tăng cường hướng dẫn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự 102
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
GCNNBC: Giấy chứng nhận Người bào chữa LS: Luật sư
NBC: Người bào chữa PLTTHS: Pháp luật tố tụng hình sự TGTT: Tham gia tố tụng
THTT: Tiến hành tố tụng TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự VAHS: Vụ án hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới của đất nước ta đã thu được những thành tựu rất to lớn: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng khá, các mặt khác của đời sống xã hội ngày càng phát triển, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được củng cố và nâng cao Song bên cạnh đó, tình hình tội phạm lại
có những diễn biến hết sức phức tạp: Số lượng gia tăng ở mức cao, tính chất ngày càng nghiêm trọng, tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, ổn định trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ pháp chế XHCN, phục vụ công cuộc đổi mới, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020 khẳng định mục tiêu cải cách tư pháp " Xây dựng nền tư
pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao."
Quán triệt tinh thần này, các văn bản pháp luật đã được ban hành làm
cơ sở pháp lý đảm bảo thực hiện nội dung của Nghị quyết Thực hiện các văn bản pháp luật nêu trên, trong thời gian qua, công tác xử lý tội phạm đã đạt được kết quả nhất định, có những tiến bộ đáng khích lệ Song do nhiều nguyên nhân nên vẫn còn những hạn chế như Nghị quyết 49 đã thẳng thắn
thừa nhận: " Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chính sách hình sự
… và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ
Trang 10quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy
tố, xét xử" Những vụ án oan điển hình đã được phát hiện trong thời gian vừa
qua như vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang hay vụ “người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén, nghi án Hàn Đức Long ở Bắc Giang bị tuyên án tử hình oan… là những vụ án xâm phạm đặc biệt nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã làm cho dư luận hết sức bất bình, đặt dấu hỏi vào chất lượng của hoạt động tố tụng nói riêng, cũng như vào tính công bằng nghiêm minh của hệ thống pháp luật và đường lối chính sách lãnh đạo của Đảng nói chung Các thế lực thù địch tận dụng mọi cơ hội để khai thác thiếu sót của ta trong những vụ việc này và các vụ tương tự để xuyên tạc, vu cáo ta
vi phạm nhân quyền, gây nên làn sóng bất bình với Việt Nam và tạo sự hiểu lầm của cộng đồng quốc tế - đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã thừa nhận
và tham gia hầu hết các công ước quốc tế quan trọng về nhân quyền (Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) – Việt Nam gia nhập năm 1982, Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1984 – Việt Nam gia nhập năm 2015)
Những vụ việc đáng tiếc như trên có các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau; song dưới giác độ tiếp cận quyền theo qui định của luật thì đều có nguyên nhân từ việc quyền của người bị buộc tội – là những người yếu thế trong sự đối diện với hệ thống các cơ quan tư pháp – đã không được đảm bảo theo các qui định như những gì đã có và cần phải có
Thực tiễn TTHS những năm qua ở Việt Nam đã cho thấy rằng chính nó đang phải đối diện với một số vấn đề lớn mà trước hết là vấn đề tiếp cận công
Trang 11lý, vấn đề oan sai trong vụ án hình sự Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 đã cho thấy rằng, vấn đề bảo đảm quyền con người, mà trọng tâm là bảo đảm các quyền của người bị buộc tội – trong tố tụng hình sự - có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự Vì lẽ đó, vấn đề bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong TTHS được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Tuy rằng đây không phải là một vấn đề mới nhưng cùng với sự phát triển của xã hội và sự chống phá gia tăng của các thế lực thù địch, phản động thì vấn đề này mang tính cấp bách và đang trở nên vô cùng quan trọng Vì vậy,
tôi chọn đề tài: “Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo) trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình - với hy vọng có
thể góp phần làm sáng tỏ hơn chế định bảo vệ quyền của người bị buộc tội, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ đổi mới của đất nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ các quyền của người bị buộc tội có nội hàm khá rộng, được thể hiện trong rất nhiều qui định của luật tố tụng hình sự Trong khoa học pháp lý, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập một phần tới nội dung
khá phức tạp này Có thể kể đến cuốn sách Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2009 của TS Trần Quang Tiệp
Bên cạnh đó, có rất nhiều khía cạnh có liên quan đến quyền của người
bị buộc tội được đề cập đến trong các công trình khoa học khác như: Đề tài nghiên cứu khoa học Cấp ĐHQG Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo
vệ quyền con người, chủ trì PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, 2011; Luận văn thạc
sĩ luật học Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng
Trang 12hình sự của Th.S Đoàn Thị Phương Thảo, 2012; Luận văn Th.S Bảo vệ quyền con người của bị can bị cáo trong Tố tụng hình sự của Th.S Phan Thị Hương
Giang, 2014; Luận văn thạc sĩ luật học Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người
bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự của Th.S Đinh Hải Ninh, 2017;
Vấn đề quyền của người bị buộc tội còn được đề cập ở các mức độ khác nhau trong các bài viết của một số tác giả khác như:
Hiến pháp năm 2013 và nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự của GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí khoa học
pháp lý Đại học Luật TP HCM số 3/2015; Trực tiếp ghi nhận quyền im lặng
cho người bị buộc tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Lê
Huỳnh Tấn Duy, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 3/2015; Bảo đảm quyền con
người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện Kiểm sát của tác giả Nguyễn Hữu Hậu, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2015; v v…
Tiếp đến, chế định quyền của người bị buộc tội còn được đề cập,
phân tích trong một số Giáo trình và sách tham khảo như: Giáo trình Luật
tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, 2019 do PGS.TS
Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội do PSG.TS
Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
Nxb Học viện cảnh sát nhân dân, 2005 của Bộ môn pháp luật, Học viện
Cảnh sát nhân dân do TS Khổng Văn Hà chủ biên; Sách chuyên khảo Bảo
đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb ĐHQG
TP.HCM, 2010 do TS Võ Thị Kim Oanh chủ biên
Tuy nhiên hiện nay các công trình nghiên cứu chỉ chủ yếu chú trọng đến vấn đề quyền bào chữa hoặc nghiên cứu quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà ít quan tâm đến toàn bộ người bị buộc tội; đặc biệt là chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể đến việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội ở cấp
Trang 13độ luận văn thạc sĩ Hơn nữa, nhiều vấn đề lý luận – thực tiễn xung quanh chế định bảo vệ các quyền của người bị buộc tội cũng đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố, tác giả hướng tới mục đích muốn làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo vệ các quyền của người bị buộc tội theo BLTTHS hiện hành, nghiên cứu luật thực định, chỉ ra những bất cấp còn tồn tại khi thực hiện quyền của người bị buộc tội ở nước ta hiện nay Qua
đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, chính xác, khách quan, toàn diện trong hoạt động TTHS, đảm bảo xu hướng bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật pháp quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Với mục đích nghiên cứu như trên, tác giả tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
a Làm rõ khái niệm người bị buộc tội, việc bảo vệ các quyền của người
bị buộc tội theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
b Nêu và phân tích thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong TTHS cũng như nguyên nhân của những tồn tại, bất cập đã bộc lộ
c Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự; hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
3.3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Người bị buộc tội theo tên đề tài
Trang 14luận văn là người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, người bị tạm giam mặc nhiên sẽ có tư cách là bị can hoặc bị cáo Do có sự trùng lặp như vậy nên để thuận tiện trong nghiên cứu, nội dung luận văn sẽ đề cập người bị buộc tội như
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã liệt kê tại khoản 1 Điều 4, gồm “người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”
Đồng thời, luận văn cũng phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong các giai đoạn tố tụng hình sự (từ điều tra đến xét xử) trong các vụ án hình sự ở Việt Nam
3.4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo
vệ các quyền của người bị buộc tội trong khoảng thời gian 2014 – 2018 Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn từ năm 1945 – 1988, giai đoạn pháp luật tố tụng hình sự năm 1988 –
2003, giai đoạn pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 đến nay và pháp luật tố
tụng hình sự năm 2015
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp và quyền con người
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu hồ sơ một số vụ
án cụ thể để có cơ sở thực tiễn
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phân tích, tổng hợp, lịch
sử, so sánh, thống kê Ngoài ra tác giả cũng khảo sát thực tiễn tố tụng và tham khảo ý kiến chuyên gia để làm rõ các vấn đề nghiên cứu
Trang 155 Những điểm mới về mặt khoa học
Đề tài là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý luận và thực tiễn bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng của các vụ
án hình sự ở Việt Nam và có một số điểm mới sau:
- Góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận về người bị buộc tội, quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và qua các giai đoạn
- Phân tích quyền của người bị buộc tội theo quy định BLTTHS Việt Nam hiện hành
- Nêu ra được các vấn đề, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học cấp độ thạc sĩ về quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền của người bị buộc tội; phân tích thực trạng, chỉ ra khó khăn và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền của người bị buộc tội
Luận văn đã đóng góp một phần vào việc giải quyết về mặt khoa học các khái niệm về người bị buộc tội, quyền của người bị buộc tội Đồng thời, luận văn là một tài liệu có giá trị tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, trong hoạt động lập pháp cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự
Trang 167 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự
Chương 2: Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong luật Tố tụng
hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam và những kiến
nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người bị buộc tội
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Những vấn đề chung có liên quan đến quyền của người bị buộc tội và bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, người bị buộc tội là những người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án Họ là người bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng coi là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm; tùy theo giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi cũng như địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ tố tụng hình sự) của người đó cũng khác nhau
Pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về
người bị buộc tội Tại khoản 1 Điều 31 Hiến Pháp năm 2013 quy định: “Người
bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”
Nguyên tắc này của Hiến pháp 2013 đã khẳng định rằng người này chưa có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực kết tội nên họ không bị coi là có tội
Trong TTHS, người bị buộc tội là người mà cơ quan THTT coi là người
đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Họ là những người bị tình nghi là tội phạm, có thể là người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong quá trình TTHS
BLTTHS 2003 không nêu khái niệm về người bị buộc tội, chỉ nêu quy định mang tính chỉ định, liệt kê chủ thể trong từng trường hợp luật định mà có tên gọi khác nhau BLTTHS năm 2015 đã thể hiện khái niệm người bị buộc
tội, trong phần giải thích từ ngữ tại điểm đ Điều 4: “Người bị buộc tội gồm
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”
Trang 18Tuy nhiên, quy định này vẫn mang tính liệt kê các chủ thể bị buộc tội được xác lập địa vị pháp lý theo từng giai đoạn tố tụng khác nhau
Trong Công ước Châu Âu về quyền con người trong việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội các nước thành viên của Công ước xuất phát từ việc giải thích khái niệm về “Sự buộc tội” (accusation, criminal charge) Theo
đó, sự buộc tội chỉ xuất hiện khi một người bị cáo buộc là anh ta đã thực hiện một hành vi mà bộ luật hình sự coi là tội phạm Tuy nhiên, trong nhiều vụ việc được quyết định bởi Ủy ban Châu Âu và Tòa án nhân quyền Châu Âu cho thấy ngay cả trong trường hợp khi cảnh sát đã tiến hành điều tra ban đầu, thậm chí đã triệu tập người làm chứng thì điều này cũng chưa có nghĩa tồn tại
sự buộc tội
Qua thực tế xét xử của các thẩm phán Châu Âu, sự buộc tội được coi là hiện hữu từ thời điểm một người được thông báo chính thức bởi cơ quan có thẩm quyền về những chứng cứ rõ ràng cho rằng (nghi vấn) anh ta đã thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: lệnh bắt, lệnh khám xét nhà…) Sự thông báo này, đôi khi có giá trị ngay cả khi người có liên quan không hiểu hoặc thông báo không đến được với họ Và kể từ thời điểm đó, một người bị coi là người
bị buộc tội (accused person) trong vụ án hình sự Sự buộc tội sẽ tồn tại và kéo dài trong suốt quá trình tố tụng chứng minh hành vi của người bị cáo buộc là
có tội hay không có tội (guilty or not guilty) Và đương nhiên những quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội sẽ được bảo vệ bởi nội dung của Điều
6, bên cạnh pháp luật quốc gia
Theo chúng tôi, khi đưa ra khái niệm về một chủ thể có địa vị pháp lý, khái niệm đó cần phải thể hiện được phần nào nội dung về các thành tố tạo nên chủ thể đó Người bị buộc tội có đầy đủ các yếu tố tạo nên một khái niệm,
do đó không thể chỉ thể hiện dưới hình thức liệt kê họ là các chủ thế tham gia
tố tụng theo luật định Người bị buộc tội bị tình nghi thực hiện hành vi có dấu
Trang 19hiệu phạm tội được BLHS quy định Nếu một người thực hiện hành vi nào mà không có căn cứ cho rằng hành vi đó có dấu hiệu phạm tội cụ thể trong BLHS thì không thể buộc tội họ Người bị buộc tội bị các quyết định của cơ quan, người có thầm quyền xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS
Các quyết định tố tụng này chỉ rõ các chủ thể bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hay bị cáo, qua đó mỗi chủ thể bị buộc tội khác nhau có thể có những quyền chung nhưng cũng có các quyền riêng trong quá trình TTHS Quá trình TTHS này có hoạt động buộc tội và hoạt động gỡ tội Với tư cách là người TGTT, có địa vị pháp lý cụ thể, người bị buộc tội có quyền được gỡ tội cũng như được đảm bảo các quyền trong hoàn cảnh đặc thù
mà họ phải trải qua trước phía buộc tội, là cơ quan công quyền
Từ những nội dung đã nêu ở trên chúng tôi đưa ra khái niệm người bị buộc tội trong TTHS như sau:
Người bị buộc tội trong TTHS là người bị xác định bởi quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền với tư cách là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật khi có căn cứ cho rằng người
đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, hoặc người đã gây ra hành vi được pháp luật hình sự xác định là tội phạm và những dấu hiệu của hành vi
đó được cơ quan THTT đưa ra theo thủ tục luật định
Người bị buộc tội bao gồm các chủ thể: người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo Trong đó:
- Người bị bắt: là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã
- Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ
- Bị can: là người đã bị khởi tố về hình sự
- Bị cáo: là người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử
Trang 20Dựa trên việc tìm hiểu người bị buộc tội trong TTHS nêu trên có thể đưa ra những đặc điểm của người bị buộc tội như sau:
Thứ nhất, người bị buộc tội là người được coi là thực hiện hành vi có
dấu hiệu tội phạm được BLHS quy định
Đặc điểm thứ nhất này chỉ ra yếu tố là phạm tội của người bị buộc tội Nếu một cá nhân không thực hiện hành vi nào mà có căn cứ cho rằng hành vi đó có dấu hiệu phạm tội cụ thể trong BLHS thì cơ quan điều tra, người có thẩm quyền không thể buộc tội họ Chỉ khi nào những hành vi bị nghi ngờ có dấu hiệu cấu thành tội phạm và người bị tình nghi đủ tuổi chịu TNHS quy định cho từng tội danh cụ thể trong BLHS, thì người đó mới là chủ thể bị buộc tội theo PL TTHS Mặt khác, các hành vi bị nghi ngờ này phải được người có thẩm quyền chứng minh, làm rõ theo trình tự thủ tục TTHS thì mới đủ điều kiện để đưa người này vào đối tượng bị buộc tội Việc thiếu một trong hai yếu tố này đều không có cơ sở đưa một người vào tình thế người bị buộc tội
Điều 31 Hiến pháp 2013 qui định: “Người bị buộc tội được coi là
không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Ở đây, cần phần biệt rằng
người bị buộc tội không phải là người có tội Họ được xem là có tội khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, người bị buộc tội bị các quyết định của cơ quan, người có
thẩm quyền xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS
Tùy từng chủ thể khác nhau, người bị buộc tội trong tố tụng sở dĩ có thể xác định được phải dựa trên các quyết định mang tính tố tụng của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền theo luật định Chẳng hạn, đối với bị can phải có quyết định khởi tố bị can; đối với bị cáo thì phải có quyết định đưa ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền Các quyết định tố tụng
Trang 21này chỉ rõ các chủ thể bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hay
bị cáo, qua đó mỗi chủ thể bị buộc tội khác nhau có thể có những quyền chung nhưng cũng có các quyền riêng trong TTHS
Thứ ba, là chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS với tư cách là
người TGTT
Xuất phát từ việc bị các quyết định TTHS xác định là người bị buộc tội,
họ trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS với tư cách là những người TGTT Đặc điểm này xác định tư cách chủ thể trong TTHS, qua đó cũng xác định được người bị buộc tội phải có địa vị pháp lý cụ thể, được pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ đối với họ Người bị buộc tội là đối tượng bị tình nghi phạm tội, bị các quyết định tố tụng hạn chế một số quyền công dân bình thường như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khởi nơi cư trú, nên những người này phải có quyền biết được căn cứ, lý do của việc buộc phải thực hiện các nghĩa vụ do các quyết định tố tụng đó ban hành Với tư cách là người TGTT, có địa vị pháp lý cụ thể, người bị buộc tội sẽ được đảm bảo các quyền con người có bản trong điều kiện bị giam giữ, quản thúc và bị đặt vào điều kiện yếu thế trước phía buộc tội là cơ quan công quyền
Đặc điểm này cũng chỉ ra việc bị buộc tội được hiểu là đang ở trong tiến trình TTHS, tiến trình này có buộc tội và gỡ tội Người bị buộc tội tham gia xuyên suốt và là chủ thể trung tâm của tiến trình TTHS, là giai đoạn đang
đi tìm lời giải cho câu hỏi có tội hay không có tội, tội gì và chịu hình phạt như thế nào Người bị buộc tội như vậy khác với người đã bị tuyên là có tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án Khi đó, chủ thể bị tuyên là có tội chuyển sang một giai đoạn khác, giai đoạn thi hành án hình sự không còn nằm trong tiến trình TTHS qua các giai đoạn như bị bắt, giữ, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử Người bị buộc tội tham gia vào tiến trình TTHS này có quyền được
gỡ tội cũng như được đảm bảo các quyền con người cơ bản của họ trong hoàn cảnh đặc thù mà họ phải trải qua [29, tr.10]
Trang 221.1.2 Khái niệm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Như đã trình bày ở trên, người bị buộc tội là những người bị tình nghi phạm tội hoặc bị truy cứu TNHS, do đó họ gặp phải các bất lợi vì bị hạn chế hoặc bị mất một số quyền công dân Thế nhưng, những người bị buộc tội chưa phải là người có tội, họ có tội hay không phải do Tòa án quyết định và chỉ khi
có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người đó được xem là
có tội Người bị buộc tội chưa bị coi là có tội, vì vậy họ vẫn được cơ quan THTT, người THTT đảm bảo và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Khi bị buộc tội thì những người bị buộc tội cũng có những quyền được pháp luật bảo vệ, được phép thực hiện Vì là trong thời gian bị buộc tội nên họ
là những người TGTT, chịu sự điều chỉnh của pháp luật TTHS trong các quan
hệ pháp luật giữa họ với cơ quan, người THTT và người TGTT khác
Do vậy, có thể hiểu quyền của người bị buộc tội như sau: Quyền của
người bị buộc tội là những điều mà pháp luật TTHS quy định và đảm bảo thực hiện đối với những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà theo đó họ được hưởng, được làm, được hỏi khi tham gia vào các hoạt động TTHS
1.1.3 Khái niệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội
để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Hay nói cách khác, tố tụng hình sự là hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước tòa án của Viện kiểm sát, hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết định bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [68, tr.786]
Trang 23Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên, Tòa án và Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm; nhưng tham gia vào quá trình tố tụng hình sự còn những người tham gia tố tụng khác mà quyền và lợi ích của họ có liên quan đến vụ án hoặc đến quá trình tố tụng như người bị buộc tội, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng v.v…
Như vậy, theo chúng tôi, từ góc độ bảo vệ các quyền của người bị buộc tội, hoạt động tố tụng hình sự có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, hoạt động tố tụng hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm được thực hiện Khi một hành vi nguy hiểm được thực hiện có dấu hiệu của tội phạm thì vụ án phải được khởi tố để điều tra Nếu kết quả điều tra cho thấy không có hành vi phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm thì vụ án phải được đình chỉ; tức quá trình tố tụng đối với vụ án không còn cơ sở tiến hành;
- Thứ hai, một người chỉ có thể bị khởi tố bị can khi xác định được rằng
họ đã thực hiện hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm và hành vi đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Xuất phát từ bản chất pháp lý của hoạt động tố tụng mà căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can khác nhau
Theo quy định của BLTTHS thì căn cứ khởi tố vụ án hình sự là chỉ khi
“có dấu hiệu của tội phạm” (mà không cần đầy đủ); bởi vì quyết định khởi tố
vụ án hình sự chưa hướng sự buộc tội vào người cụ thể nào, mà chỉ tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các biện pháp điều tra theo luật tố tụng hình sự Còn căn
cứ khởi tố bị can phải là “có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm” Bởi vì, khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố bị can là đã thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người cụ thể; quyết định đó ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích của người bị khởi tố;
Trang 24- Thứ ba, tố tụng hình sự là hoạt động phát hiện và xử lý hành vi nguy hiểm cao cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, hoạt động tố tụng gắn liền chặt chẽ với quyền của người bị buộc tội Để đạt được mục đích phát hiện, điều tra, xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người phạm tội, Nhà nước bất đắc dĩ phải ban hành một số quy định hạn chế quyền con người của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng Quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự gắn rất chặt chẽ với các biện pháp cưỡng chế được quy định và áp dụng trong tố tụng hình sự
Vì vậy, trong tố tụng hình sự, nhiệm vụ không để lọt tội phạm phải đi liền với không làm oan người không có tội; nhiệm vụ phát hiện xử lý tội phạm phải đi liền với việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội Hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện trên cơ sở coi trọng các yếu tố đó;
bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nói trên đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng Nếu muốn chứng minh tội phạm, xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ dẫn đến vi phạm quyền của người bị buộc tội; ngược lại nếu quá chú ý đến việc bảo vệ quyền của người
bị buộc tội thái quá mà không mạnh dạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng để phát hiện, chứng minh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng thiếu hiệu quả, không thể phát hiện, xử lý kịp thời người phạm tội, thậm chí
bỏ lọt tội phạm v.v…
- Thứ tư, việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự được thực hiện thông qua các biện pháp khác nhau, nhưng tập trung ở biện pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định của BLTTHS cũng như thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự và thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Cùng với việc xây dựng, ban hành đầy đủ, minh bạch, có tính khả thi
Trang 25cao các quy định liên quan, việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó cũng
là một trong những mặt quan trọng, quyết định liên quan đến bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Các vi phạm pháp luật tố tụng trong việc bảo vệ quyền của người bị buộc tội cần được phát hiện xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật bằng các chế tài khác nhau: chế tài
tố tụng, chế tài kỷ luật, chế tài hành chính, dân sự hay hình sự
Quyền của người bị buộc tội cũng như quyền của các chủ thể bất kỳ nào trong các quan hệ pháp luật đều phải được đảm bảo thực hiện bằng các cơ chế mang tính pháp lý mới có giá trị thực tiễn Hệ thống pháp luật TTHS hiện nay thể hiện quyền của người bị buộc tội được đảm bảo thực hiện thông qua các cơ chế cụ thể, đó là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS và các quy định cơ bản về quyền của người bị buộc tội
Như vậy, có thể hiểu bảo vệ quyền của người buộc tội trong pháp luật
tố tụng hình sự là sự ghi nhận đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác
về mặt hành pháp và sự bảo đảm tối đa về mặt tư pháp các quy định của PLTTHS về người buộc tội; làm cho các quy định đó phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tương ứng của PLTTHS Quốc tế trong lĩnh vực TPTTHS được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án, cũng như những người có
chức vụ của các cơ quan trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
1.2 Cơ sở của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Có thể là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đại khác nhau Quyền con người được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích
Trang 26xã hội Bảo vệ quyền con người là bảo vệ dân chủ, hiệu quả, hiệu lực nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Theo Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời
đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” [2] Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng nêu rõ: “Xây
dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; nhà nước phải thể chế hóa và
tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người” [17]
Các quyền của người bị buộc tội được ghi nhận trong các văn kiện quốc
tế về quyền con người: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các Công ước về quyền con người trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền chính trị và dân sự năm 1966)
Ngày 24 - 9 - 1982, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về quyền chính trị và dân sự năm 1966 Trên cơ sở tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc
tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia, những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật được Đảng và Nhà nước ban hành đã cụ thể hóa những nguyên tắc thành những định hướng, quy định cụ thể phù hợp với thực tiễn tình hình đất nước để đảm bảo tính khả thi, tôn trọng, thực hiện các quy định
Trang 27về quyền con người Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày
02 - 01 - 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các Nghị quyết này đã thể hiện một tư tưởng hoàn toàn mới trong đó định hướng xây dựng một hệ thống tố tụng hình sự coi trọng việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, như: các cơ quan THTT có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc bắt, giữ, giam
và một số biện pháp ngăn chặn khác trong đó biểu hiện qua việc đảm bảo các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, căn cứ thực hiện các biện pháp nói trên Đặc biệt việc bắt, giữ, giam liên quan trực tiếp đến quyền tự do thân thể, quyền đảm bảo an toàn về tính mạng sức khỏe của con người nên trường hợp chưa cần bắt, giữ, giam thì CQĐT không được tiến hành hoặc VKS cương quyết không phê chuẩn Các biện pháp điều tra được tiến hành nhằm
là tìm ra sự thật của vụ án nhưng phải trên cơ sở tôn trọng các quyền của người bị buộc tội Các cơ quan giám sát việc thực hiện việc tuân theo pháp luật đặc biệt là VKS phải tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật Các cơ quan nhà nước cần xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại toà Hoàn thiện các thủ tục
tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người [4]
Hiến pháp năm 2013 là sự khẳng định rõ ràng và mạnh mẽ quan điểm nhân quyền nhất quán của Nhà nước Việt Nam Quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp nhằm tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắc hơn quan điểm về tôn trọng và bảo vệ quyền con người như một định hướng mục tiêu của Nhà nước pháp quyền
Trang 28XHCN Về mặt cơ cấu hình thức, vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân đã được chuyển dịch từ vị trí chương V trong Hiến pháp lên vị trí Chương II, chỉ sau Chương I về chế độ chính trị Nhưng trước hết, quyền con người là nội dung được bổ sung ngay trong Chương I của Hiến pháp Hơn thế, tại rất nhiều chương, điều khác, bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng hiện diện trong nội dung chức năng và nhiệm
vụ của các thiết chế Nhà nước như Quốc Hội (Điều 70, khoản 14); Chính phủ (Điều 96, khoản 6); TAND (Điều 102, khoản 3); VKSND (Điều 107, khoản 3) Đây là những nội dung hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1992 khi Hiến pháp năm 2013 trao những chức năng, nhiệm vụ cho các thiết chế quyền lực Nhà nước tương ứng Chương II của Hiến pháp ghi nhận quá trình tiếp nhận các giá trị cơ bản của cộng đồng quốc tế về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, đồng thời là giá trị quan trọng và trở thành đối tương ưu tiên bảo hộ của pháp luật trong tố tụng hình sự Một lá chắn quan trọng và vững chắc nhất nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng chính là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội [66] Khoản 1, Điều 31
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Người bị buộc tội được coi là không có
tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [45, tr.19-20]
Trước đó, Điều 72 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Không ai bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [45] Điều 9 BLTTHS năm 2003 đã cụ thể hóa quy định
trên đây của Hiến pháp năm 1992 và coi nội dung xác định tại Điều luật này
là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta Thực tiễn không chỉ các hoạt động điều tra, truy tố mà cả của hoạt động xét xử của Tòa án cho thấy có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi là phạm tội, dù lỗi của họ chưa được chứng minh Trong tâm lý học,
Trang 29khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi
đó là “suy đoán có tội” Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn
đề án oan, án sai hiện nay [36]
Theo quan điểm của GS TSKH Đào Trí Úc thì vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự [61, tr.24-27] Sở dĩ như vậy là vì tố tụng hình sự phản ánh những mối liên hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các mối liên hệ Tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi; vừa làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai
đó liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ [61]
Hiến pháp 2013 khẳng định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [45, Điều 31, Khoản 4] Quy định bảo đảm rằng người bị khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử hình sự được coi là không có tội cho đến khi hành vi phạm tội của họ được các cơ quan THTT và người THTT chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, khi những người này tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo thì các chủ thể tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện các quyền hiến định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Hiến pháp 2013 khẳng định:
Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật [45, Điều 31, Khoản 5]
Trang 30Hiến pháp năm 2013 không những mở rộng phạm vi người được bồi thường và nội dung được bồi thường mà còn quy định cụ thể, rõ ràng hơn quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự của người bị oan do người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự gây ra, cũng như trách nhiệm của người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam giữ, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác Để bảo đảm thi hành Hiến pháp đòi hỏi pháp luật tố tụng và pháp luật có liên quan phải xác định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tiến hành tố tụng, khắc phục tình trạng trì hoãn, đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra oan sai
Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử của Tòa
án: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” [45, Điều 103, Khoản 5]
Hiện nay, theo quy định tại pháp luật tố tụng hình sự của nước ta, hình thức tố tụng hình sự được áp dụng là hình thức tố tụng thẩm vấn Theo hình thức này,
cơ quan THTT thường coi trọng sự thật khách quan hơn là những tài liệu, đồ vật được coi là chứng cứ do bị can, bị cáo cung cấp Yếu tố tranh tụng còn mờ nhạt, thẩm vấn vẫn là phương pháp chủ yếu được thực hiện ở hầu hết các giai đoạn tố tụng, thể hiện sự bất bình đẳng giữa những người THTT và người tham gia tố tụng, trong đó sự bất lợi luôn thuộc về người tham gia tố tụng, đặc biệt là đối với bị can, bị cáo Hiến pháp năm 2013 đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong việc ghi nhận và bảo vệ các quyền của người bị buộc tội
Trong hệ thống pháp luật nước ta, BLTTHS có trách nhiệm thể chế hóa, chi tiết hóa các quy định về quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm được quy định trong Điều 20 Hiến pháp năm 2013 Vấn đề này liên quan trực tiếp đến chế định về những biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam) được quy định tại Chương VI (từ Điều 79 đến Điều 94) và một số điều, ở các chương khác của BLTTHS năm 2003 Đây là những biện pháp tố tụng được áp dụng với mục đích ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy
Trang 31ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Đối tượng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn là bị can,
bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm
vi, giới hạn cũng như thủ tục mà luật tố tụng hình sự quy định Ngoài các đối tượng kể trên không ai có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, mọi hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là những người THTT có thẩm quyền của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, hoặc những người có chức vụ trong các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng, hay công dân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả tang, bắt người theo lệnh truy nã Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan mà luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan đó được áp dụng tất cả hay một số biện pháp ngăn chặn Những biện pháp đó phải nằm trong phạm vi, giới hạn cũng như theo thủ tục của luật tố tụng hình sự
1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự
Việc bảo vệ và đảm bảo thực thi các quyền của người buộc tội trong TTHS ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi các lý do sau đây:
- Việt Nam đã xây dựng một bản Hiến pháp mới – Hiến pháp 2013 Dù, theo một số chuyên gia, vẫn còn đôi chỗ chưa đáp ứng những tiêu chuẩn quốc
tế về tổ chức quyền lực, về nhân quyền, nhưng, theo tác giả, đây là bản Hiến pháp tiến bộ nhất trong số các bản hiến pháp trong lịch sử của nước ta liên
Trang 32quan đến vấn đề nhân quyền Lần đầu tiên, Hiến pháp ghi nhận và công nhận nhân quyền (quyền con người) như là một hiện tượng mang tính chất, nguồn gốc tự nhiên Quyền con người đã được ghi nhận một cách trang trọng, và ở mức độ nào đó đã tách bạch được những quyền cơ bản con người với quyền của công dân như là thành viên của một nhà nước Trong bối cảnh Hiến pháp mới với những qui định hết sức tiến bộ về nhân quyền như vậy, việc triển khai, xây dựng các cơ chế để bảo vệ và hiện thực hóa các quyền ấy trên cuộc sống trở nên vô cùng cấp bách và có ý nghĩa để chứng minh năng lực thực chất của Hiến pháp (Điều mà thường hay bị nghi ngờ trong quá khứ và thực tiễn pháp lý của Việt Nam) và quan trọng hơn là nó sẽ góp phần khẳng định bản chất thực sự và sứ mệnh thực sự của chính quyền là chính quyền được tổ chức và hoạt động tất cả là vì mục tiêu con người
- Việt Nam đã lựa chọn con đường hội nhập và phát triển Đó là sự lựa chọn đúng đắn và sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta Trong tiến trình hội nhập ấy, cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam cũng tiếp xúc nhiều xu hướng mang tính tất yếu, khách quan Trong các xu hướng đó có xu hướng dân chủ, tự do, nhân quyền và pháp quyền Đây không phải là mưu đồ chính trị mà là các xu hướng mang tính chất qui luật khách quan của cuộc sống hiện đại Ở đâu có dân chủ, nhân quyền, tự do và pháp quyền thì ở đó có sự giải phóng con người, giải phóng sức lao động và sức sáng tạo vô biên của mỗi cá nhân Dù ở bất cứ tiến trình nào, nơi nào đảm bảo được những yếu tố trên nơi
đó đảm bảo chiến thắng trong mọi cuộc cạnh tranh khốc liệt trong tiến trình toàn cầu hóa
- Người dân Việt Nam đã nếm trải mọi đau thương của chiến tranh, mọi đói khổ, tụt hậu của cơ chế bao cấp Và hơn hết, người dân Việt Nam hiện nay, nhờ công cuộc đổi mới bền bỉ hơn 30 năm qua của Đảng và Nhà nước,
đã có những nhận thức, đổi mới tư duy mạnh mẽ trong vấn đề nhân quyền
Trang 33Chính vì lẽ đó, sẽ vô cùng khó khăn và sẽ gặp những lực cản vô cùng lớn ngay từ trong nước nếu đất nước đóng cửa nhằm hạn chế nhân quyền Nhân dân Việt Nam đã và sẽ luôn sát cánh cùng Đảng, Nhà nước trong công cuộc đổi mới, luôn thấu hiểu những khó khăn mà đất nước ta đã gặp phải, luôn sẵn sàng chấp nhận hi sinh quyền lợi cá nhân vì hiểu rằng đất nước còn nhiều việc phải làm, còn phải giải quyết nhiều vấn đề và hơn hết là tư duy vì cộng đồng, quốc gia dân tộc Nhưng, sẽ là không chấp nhận được nếu bản thân chính quyền không muốn hội nhập với thế giới, đóng cửa và từng bước tụt hậu
- Việc bảo vệ quyền của người bị buộc tội hiện nay ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng to lớn bởi điều đó đã và đang đi đúng theo những chủ trương, định hướng, đường lối trong chiến lược tổng thể và từng bước đổi mới của Đảng và Nhà nước Chính vì lẽ đó, việc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ các quyền của người bị buộc tội nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ từ chủ trương của Đảng và nhân dân Đó là động lực to lớn góp phần tạo đồng thuận, gắn kết và phát triển xã hội, nhất là trong bối cảnh có nhiều thế lực thù địch luôn tìm kiếm những cớ, hay cơ hội trong lĩnh vực nhân quyền để gây áp lực quốc tế
và gây bất ổn xã hội
- Mục tiêu bảo vệ quyền con người sẽ góp phần thúc đẩy các cuộc cải cách ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong cải cách thể chế, pháp luật và kinh tế Với việc đặt trọng tâm vào bảo vệ các quyền của người bị buộc tội, các cuộc cải cách đó sẽ có được định hướng cơ bản, hay nói một cách chính xác hơn, là
có được trọng tâm, cơ sở tư tưởng mang tính chất xuyên suốt đảm bảo cho các cuộc cải cách đó thành công
1.4 Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự quốc tế
Bảo vệ quyền con người nói chung, các quyền của người bị buộc tội nói riêng trong tố tụng hình sự là xu thế tất yếu trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay trên thế giới
Trang 34Vấn đề bảo vệ quyền của người bị buộc tội được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong luật tố tụng hình sự quốc gia Từ góc độ các văn bản pháp luật quốc tế, các quyền của người bị buộc tội và bảo vệ quyền con người nói chung đã được quy định tương đối sớm trong các văn bản pháp lý khi Nhà nước Tư sản mới hình thành Nhưng có lẽ tập trung nhất, cụ thể nhất về bảo vệ quyền của người bị buộc tội được quy định rõ ràng, cụ thể trong các văn bản như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (Universal Decleration of Human Rights), Công ước Châu Âu về quyền con người (European Convention on Human Rights – ECHR), Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Quy chế Rome về thành lập Tòa án hình sự thường trực quốc tế
Các văn bản quốc tế nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia cụ thể hóa trong nội luật về tố tụng hình sự của mình Theo pháp luật tố tụng hình sự quốc tế, quyền của người bị buộc tội được bảo vệ trên cơ sở:
1/ Các nguyên tắc tố tụng hình sự;
2/ Các quy định về các quyền tố tụng cơ bản của người bị buộc tội; và 3/ Quy định các bảo đảm pháp lý để thực hiện các nguyên tắc tố tụng
và quyền tố tụng của người bị buộc tội
Pháp luật quốc tế về các nguyên tắc tố tụng hình sự từ góc độ bảo vệ quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, pháp luật tố tụng hình sự quốc tế luôn luôn khẳng định các nguyên tắc tố tụng hình sự cơ bản như: nguyên tắc xét xử công bằng; vụ án phải được xét xử công khai; thẩm phán không được thiên vị khi ra phán quyết; người bị buộc tội có quyền được xét xử bằng Tòa án; nguyên tắc các bên bình đẳng trước Tòa án; nguyên tắc xét xử nhanh chóng, công khai; nguyên tắc suy đoán không có tội; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội…
Trang 35Công ước Châu Âu về quyền con người quy định rất rõ quyền tự do và
an toàn cá nhân, một số nguyên tắc của tố tụng hình sự để bảo đảm quyền của người bị buộc tội:
Điều 5.1 Công ước quy định mỗi người có quyền tự do và an toàn cá nhân; không ai bị xâm phạm quyền tự do ngoài trường hợp và thủ tục do pháp luật quy định
Điều 6.1 Công ước quy định người bị buộc tội có quyền được xét xử bởi Tòa án; các bên được đối xử công bằng trong xét xử và có quyền tham gia phiên tòa và xét xử công khai
Điều 6.2 Công ước quy định người bị buộc tội được suy đoán là không
có tội cho đến khi tội phạm được chứng minh theo quy định của pháp luật
Theo Công ước thì đây là bảo đảm tố tụng đầu tiên (first procedural guarantee) của việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Đồng thời nguyên tắc này cũng đòi hỏi mọi nghi ngờ trong chứng minh vụ án phải được giải thích có lợi cho người bị buộc tội… [81]
Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định bất kỳ ai bị buộc tội đều có quyền được đưa ra xét xử trước một Tòa án độc lập và không thiên
vị, có quyền bảo vệ mình, chống lại mọi sự buộc tội
Điều 11 Tuyên ngôn quy định bất kỳ ai bị cáo buộc trong thực hiện hành vi phạm tội được coi là không có tội cho đến khi lỗi của họ được chứng minh bằng phiên tòa công khai theo thủ tục pháp luật quy định và tại phiên tòa họ được bảo đảm quyền bào chữa Không ai có thể bị buộc tội và phải chịu hình phạt bởi hành vi mà luật hình sự quốc gia hoặc quốc tế không coi là tội phạm tại thời điểm hành vi đó được thực hiện [84]
Điều 6 Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế quy định nguyên tắc suy đoán không có tội như sau:
Trang 361/ Một người được coi là không có tội cho đến khi chứng minh được trước Tòa án là có tội theo quy định của pháp luật;
2/ Trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội thuộc về Trưởng Công tố;
3/ Để kết tội bị cáo, Tòa án phải tin chắc về tội của bị cáo mà không còn sự nghi ngờ hợp lý nào [52, tr.305]
Theo pháp luật tố tụng hình sự Saudi Arabia, các nguyên tắc chung liên quan đến xét xử của Tòa án là: nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc xét xử bằng lời, nguyên tắc được trợ giúp và bào chữa độc lập, nguyên tắc xét xử nhanh chóng và nguyên tắc xét xử có mặt các bên đương sự… [80]
Điều 6 Tuyên ngôn về nhân quyền nước Mỹ quy định nguyên tắc xét
xử công bằng: trong mọi trường hợp bị truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử nhanh chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng…, bị cáo được thông báo tính chất, lý do buộc tội, được đối chất với nhân chứng chống lại mình và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa v.v…[30, tr.226]
Một nội dung quan trọng nữa trong luật tố tụng hình sự quốc tế về bảo
vệ quyền của người bị buộc tội được biểu hiện ở chỗ pháp luật quy định rất đầy đủ và cụ thể các quyền tố tụng cơ bản của họ Đó là:
Quyền tự do và an toàn cá nhân, không bị bắt, giam, giữ trái pháp luật, không bị tra tấn, dùng nhục hình trong tố tụng hình sự; Quyền được thông báo kịp thời lý do bị buộc tội và chứng cứ chống lại họ bằng ngôn ngữ mà họ biết; Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; Quyền thu thập chứng cứ, quyền kiểm tra chứng cứ và đối chất với nhân chứng chống lại mình; Quyền được có người phiên dịch miễn phí v.v…
Điều 4 Tuyên ngôn về nhân quyền nước Mỹ quy định quyền tự do cá nhân, quyền về tài sản và quyền không bị khám xét, bắt giữ không có lý do
Trang 37chính đáng Điều 5 quy định không ai bị bắt giữ, bị xử lý hoặc xử phạt trái pháp luật, vô nhân đạo [30]
Công ước Châu Âu về quyền con người cũng có những quy định cụ thể về quyền của người bị buộc tội Điều 5.1 Công ước quy định quyền tự
do cá nhân của mỗi người Điều 6.3 quy định các quyền tối thiểu của người
bị buộc tội như được thông báo tính chất và lý do buộc tội; được đảm bảo thời gian, phương tiện cần thiết để chuẩn bị cho bào chữa; được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, nếu người đó không có khả năng tài chính hoặc do yêu cầu của công lý thì người bị buộc tội được bảo đảm người bào chữa miễn phí; được thu thập chứng cứ và đối chất với nhân chứng và phiên dịch miễn phí [81]
Điều 55 Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế quy định quyền của người có liên quan trong điều tra Đó là các quyền không bị bắt buộc tự nhận tội, quyền không chịu hình thức ép buộc, câu thúc hoặc đe doạ nào, sự tra tấn hay hình thức đối xử độc ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, quyền bảo đảm phiên dịch miễn phí, quyền không bị bắt, giam, giữ tùy tiện, quyền được thông báo về căn cứ buộc tội, quyền được im lặng, quyền được giúp đỡ về mặt pháp lý
Điều 67 Quy chế quy định quyền của bị cáo, bao gồm: quyền được xét
xử công khai, công bằng; quyền được thông báo kịp thời và chi tiết về tính chất, nguyên nhân và nội dung buộc tội bằng ngôn ngữ mà bị cáo hiểu và nói được; quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị cho việc bào chữa; quyền được xét xử không bị trì hoãn vô lý; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, được trợ giúp pháp lý miễn phí nếu cần thiết hoặc không có khả năng tài chính; quyền đối chất với người làm chứng, đưa ra chứng cứ; được đảm bảo phiên dịch miễn phí… [52]
Pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ quy định người bị buộc tội có quyền
Trang 38được xét xử nhanh chóng, công khai, không để họ bị kiệt quệ trong tù một thời gian dài trước khi xét xử hay phán quyết về số phận của họ bị trì hoãn không có lý do chính đáng; quyền được xét xử bằng Bồi thẩm đoàn không thiên vị; quyền được thông báo kịp thời về lời buộc tội; được đối chất với nhân chứng chống lại họ, được bảo đảm một thủ tục pháp lý thoả đáng và quyền không “bị ép buộc làm nhân chứng chống lại chính mình” trong bất kỳ
vụ án hình sự nào [30, tr.126-128]
Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự nhiều nước quy định các quyền khác của người bị buộc tội như có quyền lựa chọn thủ tục xét xử rút gọn; lựa chọn xét xử bằng đoàn Bồi thẩm hay Thẩm phán; quyền im lặng khi bị hỏi cung, quyền mặc cả thú tội (nhận tội) để được phán quyết nhanh chóng và hưởng sự giảm nhẹ đặc biệt…
Về thủ tục tố tụng bảo vệ quyền của người bị buộc tội: Đồng thời với việc quy định các nguyên tắc tố tụng, các quyền tố tụng hình sự của người
bị buộc tội, pháp luật tố tụng hình sự quốc tế cũng quy định rất đầy đủ, cụ thể các trình tự, thủ tục tố tụng như những bảo đảm pháp lý khác cho việc thực hiện các nguyên tắc tố tụng và thực hiện các quyền tố tụng của người
bị buộc tội
Căn cứ và thẩm quyền bắt, tạm giam, trả tự do được quy định chặt chẽ Thông thường Thẩm phán quyết định bắt tạm giam hoặc từ chối trả tự do cho người bị buộc bất kỳ tội gì (căn cứ thống nhất cho các loại tội) trong các trường hợp Tòa án có cơ sở tin rằng họ: a/ Sẽ trốn; b/ Tiếp tục phạm tội hay phạm tội khác; c/ Sẽ thông cung với nhân chứng hoặc gây khó khăn cho hoạt động tố tụng do mối quan hệ của họ với người khác
Còn những trường hợp họ có thể vắng mặt khi được triệu tập thì không
áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng các biện pháp khác như bảo lĩnh, cam đoan, cấm đi khỏi nơi cư trú…
Trang 39Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự nhiều nước, đặc biệt là các nước thuộc hệ thống án lệ và tố tụng tranh tụng, cũng cho thấy thủ tục rút gọn và thủ tục mặc cả nhận tội được áp dụng rất phổ biến Hơn 90% các vụ án hình
sự ở Anh, Hoa Kỳ được giải quyết theo các thủ tục này Việc áp dụng thủ tục rút gọn, thủ tục mặc cả nhận tội rút ngắn rất đáng kể thời gian giải quyết
vụ án, tiết kiệm chi phí tố tụng gấp nhiều lần nhưng vẫn không vi phạm quyền của người bị buộc tội Bởi vì, một trong những điều kiện tiên quyết để Tòa án có thể áp dụng thủ tục tố tụng này là sự đồng ý của người bị buộc tội
Một đặc điểm nữa đáng lưu ý trong tố tụng hình sự nhiều nước là thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Những tinh thần chính của nguyên tắc này là:
- Xét xử với sự có mặt đầy đủ người tham gia tố tụng, trừ những trường hợp đặc biệt pháp luật quy định, các bên tham gia tố tụng đều bình đẳng trước pháp luật; đặc biệt là có mặt người làm chứng để bị cáo có thể đối chất ngay tại phiên tòa; đảm bảo để bị cáo luôn luôn có người bào chữa, nhất là trong các trường hợp bị cáo là người già, người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, trong trường hợp cần thiết vì công lý thì bắt buộc phải có người bào chữa, người nghèo được trợ giúp pháp lý miễn phí;
- Người bị buộc tội có quyền thu thập chứng cứ, có quyền chất vấn người làm chứng chống lại mình; có quyền phản bác các chứng cứ khác;
- Việc xét hỏi, luận tội để buộc tội tại phiên tòa là trách nhiệm của công
tố viên; vai trò của Tòa án khi xét hỏi và tranh luận là thụ động Phán quyết của Tòa án được đưa ra trên cơ sở chứng minh tại phiên tòa và đánh giá ý kiến tranh luận của các bên v….v…
Nói tóm lại, từ góc độ bảo vệ quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự quốc tế cho thấy rằng pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã từng bước hội nhập với pháp
Trang 40luật quốc tế về lĩnh vực này Các quy định của BLTTHS nước ta đã thể hiện tương đối đầy đủ các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, nhất là trong quy định các nguyên tắc tố tụng, quy định các quyền tố tụng của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị tạm giam, bị can, bị cáo và các trình tự, thủ tục khác Tuy nhiên, BLTTHS vẫn còn một số điểm bất cập, hạn chế nhất định như thể hiện chưa chính xác, đầy đủ tinh thần chung của pháp luật tố tụng hình sự quốc tế (nguyên tắc suy đoán không có tội, trách nhiệm chứng minh, nguyên tắc tranh tụng và một số quyền tố tụng của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị
can, bị cáo…)