1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con trâu trong văn hóa người việt

164 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con Trâu Trong Văn Hóa Người Việt
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan An
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 13,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (7)
  • 3. Lịch sử nghiên cứu đề tài (7)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (10)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu (10)
  • 7. Bố cục luận văn (12)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (13)
    • 1.1 Một số khái niệm (13)
      • 1.1.1 Văn hóa (13)
      • 1.1.2 Biểu tượng (14)
      • 1.1.3 Con trâu (16)
    • 1.2 Người Việt (17)
      • 1.2.1 Dân số, dân cư (17)
      • 1.2.2 Lịch sử tộc người (19)
      • 1.2.3 Hoạt động kinh tế (21)
      • 1.2.4 Tổ chức xã hội truyền thống (24)
      • 1.2.5 Giá trị văn hóa truyền thống (25)
    • 1.3 Con trâu của người Việt (29)
      • 1.3.1 Phân loại (29)
      • 1.3.2 Quá trình thuần hóa (33)
    • 2.1 Con trâu trong sản xuất nông nghiệp (37)
      • 2.1.1 Chăn nuôi trâu (37)
      • 2.1.2 Sử dụng sức kéo (41)
      • 2.1.3 Sử dụng nguồn phân (53)
    • 2.2 Con trâu trong thủ công nghiệp (58)
    • 2.3 Con trâu trong thương nghiệp (64)
  • Chương 3: CON TRÂU TRONG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA (71)
    • 3.1 Con trâu trong tình cảm người Việt (71)
    • 3.2 Con trâu trong văn hóa dân gian (79)
    • 3.3. Con trâu như một biểu tượng văn hóa của người Việt (108)
  • KẾT LUẬN (118)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (121)
  • PHỤ LỤC (133)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Qua đề tài này, người viết trước hết muốn tìm hiểu vai trò của con trâu trong văn hóa của người Việt, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, mà đi vào tâm thức của ngườ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- 2014

Trang 3

Xin cảm ơn những người bạn đã giúp đỡ người viết trong quá trình thu thập nguồn tài liệu và đi thực tế

Học viên Kiều Thị Liên

Trang 4

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

6

1 Lý do chọn đề tài

6

2 Mục đích nghiên cứu

7

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

10

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

10

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

10

7 Bố cục luận văn

12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

13

1.1 Một số khái niệm

13

1.1.1 Văn hóa

13

1.1.2 Biểu tượng

14

1.1.3 Con trâu

16

1.2 Người Việt

17

1.2.1 Dân số, dân cư

17

1.2.2 Lịch sử tộc người

19

1.2.3 Hoạt động kinh tế

21

1.2.4 Tổ chức xã hội truyền thống

24

1.2.5 Giá trị văn hóa truyền thống

25

1.3 Con trâu của người Việt

29

1.3.1 Phân loại

29

1.3.2 Quá trình thuần hóa

33

Tiểu kết chương 1

36

Chương 2: CON TRÂU TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT

37

Trang 5

2.1 Con trâu trong sản xuất nông nghiệp

37

2.1.1 Chăn nuôi trâu

37

2.1.2 Sử dụng sức kéo

41

2.1.3 Sử dụng nguồn phân

53

2.2 Con trâu trong thủ công nghiệp

58

2.3 Con trâu trong thương nghiệp

64

Tiểu kết chương 2

69

Chương 3: CON TRÂU TRONG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA

71

NGƯỜI VIỆT

71

3.1 Con trâu trong tình cảm người Việt

71

3.2 Con trâu trong văn hóa dân gian

79

3.3 Con trâu như một biểu tượng văn hóa của người Việt

108

Tiểu kết chương 3

116

KẾT LUẬN

118

TÀI LIỆU THAM KHẢO

121

PHỤ LỤC

133

PHỤ LỤC 1

134

Con trâu trong ca dao người Việt

134

PHỤ LỤC 2

146

Câu đố về con trâu

146

PHỤ LỤC 3

149

Tục ngữ người Việt liên quan đến con trâu

149

PHỤ LỤC 4

157

Một số hình ảnh liên quan đến con trâu của người Việt

157

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, trong đó tộc người Việt chiếm đa số và có đóng góp to lớn cho nền văn hóa nước nhà Nằm trong vành đai khí hậu gió mùa, mạng lưới sông ngòi dày đặc là một trong những điều kiện thuận lợi để hình thành một nền văn minh nông nghiệp lúa nước sớm Người Việt là chủ nhân của nghề trồng lúa nước ở nước ta

Nghề trồng lúa nước ra đời cũng là lúc con trâu được thuần phục, thuần dưỡng Con trâu nhanh chóng gắn bó với đời sống của người nông dân Việt Nam Dần dần, trâu chiếm được vị trí quan trọng trong sản xuất, đại diện cho nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam, cho một đất nước nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo Bởi vậy, chẳng phải ngẫu nhiên mà con trâu được chọn làm biểu tượng cho Seagame 22

tổ chức tại nước ta Hình ảnh con trâu trở nên thân quen, đi vào tâm thức của mỗi người Việt lớn lên bên lũy tre làng

Ngày nay, quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, phấn đấu đến năm

2020 nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại thì con trâu đang dần mất đi vị trí của mình Đi đến những vùng quê trên khắp cả nước, con trâu không còn nhiều nữa, sức kéo của trâu được thay thế bằng sức kéo của máy móc, cũng ít thấy người ta cày trâu mà thay thế đó là máy cày, máy bừa Những đô thị mọc lên khắp nơi, xa dần những cánh đồng làng quê thơm hương lúa, những con trâu lững thững buổi chiều tà

Xã hội hiện đại, phát triển, cuộc sống con người cũng nhanh và gấp, làm những nét xưa có vẻ như đang dần bị quên lãng Thế nhưng có gì ngăn nổi sức sống tiềm tàng

về trâu trong tâm thức mỗi người chúng ta khi hàng ngày chúng ta vẫn nhắc đến nó

dù vô tình hay hữu ý Có vẻ như là một nghịch lý

Chính bởi vậy, trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Văn

hóa học, người viết chọn đề tài Con trâu trong văn hóa người Việt để nghiên cứu

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Qua đề tài này, người viết trước hết muốn tìm hiểu vai trò của con trâu trong văn hóa của người Việt, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, mà đi vào tâm thức của người Việt “Con trâu là đầu cơ nghiệp”; thứ hai là làm sáng rõ ý nghĩa biểu tượng của con trâu trong đời sống văn hóa tinh thần, góp phần để hiểu hơn về văn hóa người Việt – những nét tính cách cũng như bản chất của người Việt nói riêng và người Việt Nam nói chung

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đề tài Con trâu trong văn hóa người Việt dường như đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu Trong quá trình tiếp cận nguồn tài liệu, tư liệu người viết tham khảo một số công trình, bài viết có giá trị tri thức quan trọng liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của mình như sau:

Con trâu gắn với nền văn hóa Việt Nam nói chung qua bài viết của Trần Quốc

Vượng, Con trâu và nền văn hóa Việt Nam in trong cuốn Văn hóa Việt Nam- Tìm tòi

và suy ngẫm (2000) Bài viết này trình bày về những huyền thoại gắn với trâu từ xa xưa của nước ta, tác giả còn đưa ra nhiều di chỉ khảo cổ học liên quan đến trâu được phát hiện tại Việt Nam Tác giả mô tả tổng quan từ khi thuần phục trâu gắn liền với cây lúa nước đến khi trâu là một “nhân tố cấu trúc hữu cơ của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Việt Nam” Bài viết cung cấp những dữ liệu cần thiết cho bước đầu tìm hiểu về nguồn gốc cũng như giá trị của trâu Một công trình khác được

chú ý đó là: Con trâu Việt Nam của Nguyễn Đức Thạc (chủ biên) được xuất bản năm

2006 được xem là nghiên cứu khá hoàn thiện về con trâu thực, cụ thể là nguồn gốc, lịch sử thuần hóa, đặc điểm sinh học cũng như cách thức chăm sóc Tác giả đứng trên mục đích kinh tế để tìm hiểu và làm rõ vai trò của trâu trong nền kinh tế nông nghiệp nước ta Công trình cung cấp những thông tin thực sự cần thiết cho quá trình làm luận văn này của người viết Tác giả trình bày có hệ thống và chi tiết về con trâu thực trong đời sống của người Việt Nam, phần nào giúp người viết hiểu hơn về đối

tượng nghiên cứu của mình Bài viết: Con trâu đi vào tục ngữ ca dao xưa của Trần

Trang 8

Quang Nhật đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian(1996), Con trâu trong ngôn ngữ ca

dao, tục ngữ của TS Lê Đức Luận trên báo Văn nghệ Đà Nẵng Hai bài viết này đều nói đến hình ảnh con trâu đi vào thế giới ca dao tục ngữ, hay đi vào thế giới tâm thức của người Việt Tuy nhiên chúng lại có sự khác nhau, bài viết của Trần Quang Nhật chú trọng đến hình ảnh con trâu đi vào ca dao tục ngữ theo nghĩa thực, gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp Còn bài viết của Lê Đức Luận đầy đủ hơn khi nói về cả nghĩa hàm ngôn và hiển ngôn về con trâu trong ca dao, tục ngữ Cả hai bài viết đều cung cấp những thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu vì đây là những cứ liệu khách

quan, được lấy từ tri thức dân gian Bên cạnh đó, còn có tác phẩm Tiếng nói đồng

ruộng hay nghề nông Việt Nam qua ca dao tục ngữ của Nguyễn Trọng Lực (1949) cũng có những đóng góp nhất định Tác giả viết về nghề nông Việt Nam in dấu qua những câu ca dao, tục ngữ, từ việc làm đất, chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, rồi đến những con vật nuôi Ở đây tác giả dành một phần để nói về con trâu, vật nuôi quan trọng, gắn bó với đời sống người nông dân, gắn bó với ruộng đồng Nguyễn Trọng Lực cũng chỉ dừng lại ở vai trò, vị trí của con trâu, kinh nghiệm chăn nuôi, lựa chọn trâu tốt của ông cha ta qua ca dao tục ngữ chứ chưa đi sâu Tuy nhiên,

nó cũng mang đến những giá trị tích cực đóng góp cho việc phát triển đề tài của người viết

Ngoài ra còn có các tác phẩm, sách có đề cập đến con trâu cũng như một số

nông cụ gắn với con trâu như: Nuôi trâu của Nguyễn Trọng Trữ (xuất bản năm 1957), tác phẩm văn học Con trâu của Trần Tiêu (1945), Con trâu – tiểu thuyết của Nguyễn Văn Bổng (1951), truyện ngắn Mùa len trâu trong tập truyện Hương rừng cà

Mau của Sơn Nam (1962), Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam: Lịch sử và loại

hình của Ngô Đức Thịnh (xuất bản năm 1996), Văn minh vật chất của người Việt của Phan Cẩm Thượng (xuất bản năm 2011), Sổ tay chăn nuôi trâu bò, tập I và II của

Tôn Du – Vũ Ngọc Tý – Nguyễn Văn Thiện – Pham Văn Lam – Nguyễn Danh Kỹ

(1978); Đỗ Kim Tuyên- Hoàng Kim Giao- Hoàng Thị Thiên Hương (2009): Nghề

nuôi trâu và cuốn sổ tay Tổng hợp về trâu bò của Nguyễn Văn Tòng, Quang Ngọ (1962) Trong đó, Nuôi trâu của Nguyễn Trọng Trữ là sách nằm trong tủ sách của

Trang 9

nhà nông, hướng dẫn kĩ thuật chăn nuôi trâu dựa trên những đặc tính của trâu và điều

kiện môi trường nước ta Cuốn Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam: Lịch sử và loại

hình, tác giả có giới thiệu khá chi tiết về cái cày, cái bừa và việc sử dụng trâu làm

sức kéo bên cạnh nhiều nông cụ khác Tác phẩm Văn minh vật chất của người Việt,

Phan Cẩm Thượng nói về con trâu, cái cày, bừa là một trong những phần không thể thiếu của người Việt trong xã hội cổ truyền Tác giả so sánh giữa trâu và bò để làm

nổi bật lên vai trò của trâu lớn hơn trong canh tác nông nghiệp Hai tập Sổ tay chăn

nuôi trâu bò cũng giống nhiều công trình đã đề cập trước đó, cung cấp những thông tin bổ ích về nguồn gốc, đặc điểm giống loài và cách chăm sóc từng loại trong những điều kiện khác nhau Hai cuốn Nghề nuôi trâu và Tổng hợp về trâu bò đều có nét chung là trình bày đặc tính của trâu, cách thức chăm sóc, làm chuồng trại… Các tác giả đứng trên mục đích kinh tế để tìm hiểu về đặc điểm sinh học của con trâu thực để đưa ra những biện pháp chăn nuôi hợp lí Một bài viết của GS Phạm Xuân Khuyến

Dân Việt với văn hóa lúa nước được đăng tải trên internet, tác giả đã dành một phần riêng “Vai trò con trâu trong nền văn hóa lúa nước” để nói về vị trí của trâu đối với văn minh lúa nước của dân Việt Thêm nữa, trong đề tài luận văn thạc sĩ Văn hóa học

(2005) “Bước đầu tìm hiểu văn hóa truyền thống qua ca dao – tục ngữ người Việt

dưới góc nhìn địa văn hóa”, Nguyễn Văn Chung đã dành một mục nhỏ để viết về con trâu trong văn hóa người Việt Ở đây tác giả nêu khái quát vị trí và vai trò của con trâu trong văn hóa Việt, đây cũng là một nguồn tham khảo bổ ích cho người viết Những công trình, bài viết này đề cập đến con trâu trên nhiều lĩnh vực nhưng còn hạn chế về việc đi sâu vào vấn đề một cách toàn diện Tuy nhiên, nó đã cung cấp cho người viết những thông tin hữu ích cho việc triển khai và nghiên cứu đề tài này

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của luận văn chính là con trâu đặt trong văn hóa của người Việt Con trâu không chỉ là một loài vật nuôi tầm thường lấy sức kéo, lấy thịt hay mang lại giá trị kinh tế khác mà nó còn nằm trong mối liên hệ với các giá trị văn hóa, gắn bó với đời sống người Việt, nhất là người nông dân Việt

Giới hạn không gian của luận văn là nghiên cứu trong cộng đồng người Việt tại Việt Nam Bởi thế mà những gì liên quan đến con trâu của dân tộc khác hay vùng khác sẽ ít đề cập đến, hoặc chỉ mang tính chất bổ trợ

Con trâu có được vị thế trong nền văn hóa phải trải qua một thời gian dài từ khi được thuần dưỡng tới giờ Con trâu đặc biệt được trọng dụng trong xã hội truyền thống Dù ngày nay công nghiệp hóa, hiện đại hóa có phát triển đến đâu thì hình ảnh trâu vẫn còn tồn tại Vậy nên, người viết khảo sát con trâu từ trong xã hội truyền thống đến ngày nay và tập trung chủ yếu trong xã hội truyền thống

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về mặt khoa học: đề tài góp phần làm rõ những giá trị của con trâu trong văn hóa người Việt, góp phần hiểu thêm giá trị văn hóa của người Việt, tính cách con người Việt Nam Đề tài là một cách tiếp cận tìm hiểu về con trâu trong văn hóa người Việt từ góc độ văn hóa học

Về thực tiễn: luận văn này sẽ là tư liệu cho việc tìm hiểu về văn hóa Việt Nam, cho những ai quan tâm đến những giá trị văn hóa truyền thống, nhất là những người muốn tìm hiểu về văn minh lúa nước của người Việt Nam thì việc quan tâm đến con trâu có ý nghĩa thiết thực

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Về mặt quan điểm tiếp cận, người viết tiếp cận nghiên cứu về con trâu trong văn hóa người Việt dưới góc nhìn văn hóa học Con trâu nằm trong gốc văn hóa của người Việt, có tác động qua lại với đời sống người Việt nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Bởi vậy bên cạnh việc lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật

Trang 11

lịch sử là cơ sở phương pháp luận trong quá trình tìm hiểu vấn đề, đưa ra cách nhìn khách quan về vấn đề, người viết còn tiếp cận dựa trên lý thuyết Chức năng luận để làm rõ vấn đề

Về mặt phương pháp nghiên cứu, với việc tiếp cận vấn đề từ góc độ văn hóa học thì người viết có vận dụng một số phương pháp:

Phương pháp so sánh là phương pháp tìm ra những điểm khác biệt mang tính

đặc trưng Bởi lẽ, con trâu thường gắn liền với con bò và không chỉ người Việt có trâu mà còn nhiều tộc người ở nước ta hay nhiều nước khác trên thế giới cũng có trâu Người viết sẽ vận dụng phương pháp này để chỉ ra những giá trị văn hóa đặc trưng của con trâu trong văn hóa người Việt

Phương pháp quan sát tham dự: là phương pháp thực địa, mang đến những

trải nghiệm, giá trị thông tin cấp 1, với độ tin cậy và giá trị thực tế cao Người viết dùng phương pháp này trong quá trình đi thực tế một số vùng nông thôn nơi người Việt sinh sống để có cái nhìn và những thông tin khách quan trong nghiên cứu

Phương pháp lịch sử là phương pháp liên ngành áp dụng tìm hiểu về sự biến

đổi từ xã hội truyền thống đến hiện tại của trâu trong văn hóa người Việt Vận dụng phương pháp này giúp làm rõ được sự ảnh hưởng của trâu trong đời sống người Việt cũng như hiểu được cuộc sống, con người Việt theo tiến trình lịch sử

Ngoài ra người viết còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu,

tư liệu tham khảo để chắt lọc được những thống tin, dữ liệu đáng tin cậy Phân tích

về đối tượng trong các lĩnh vực văn hóa của người Việt, sau đó tổng hợp, đúc kết lại được những giá trị, vai trò và sự ảnh hưởng của đối tượng

Nguồn tư liệu là các tác phẩm văn học, tài liệu văn hóa dân gian (ca dao, tục ngữ…), tài liệu kinh tế về nông thôn, nông nghiệp, những bài viết về con trâu trong văn hóa Việt Nam

Trang 12

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1 trình bày Cơ sở lý luận và thực tiễn là cơ sở tiền đề cho những

chương sau, cụ thể là đưa ra một số khái niệm; giới thiệu tổng quan về người Việt, một dân tộc đa số với vai trò quan trọng, hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội truyền thống, những giá trị văn hóa truyền thống; giới thiệu tổng quan về trâu của người Việt Phần tiểu kết sẽ khái quát lại những ý chính của cả chương

Chương 2 tìm hiểu về Con trâu trong văn hóa vật chất của người Việt Đây

sẽ là một trong hai mảng nội dung chính của luận văn, người viết sẽ trình bày về việc chăn nuôi trâu, con trâu trong sản xuất nông nghiệp, trong thủ công nghiệp và thương nghiệp Phần tiểu kết sẽ đưa ra kết luận về vai trò của trâu trong các lĩnh vực, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, từ đó bước đầu khẳng định dấu ấn văn hóa về trâu trong tâm thức người Việt

Chương 3 tìm hiểu về Con trâu trong văn hóa tinh thần của người Việt

Mảng nội dung chính thứ hai của luận văn Người viết sẽ trình bày về con trâu trong mối quan hệ với con người, trong văn hóa dân gian, trong các phương diện văn hóa khác và con trâu như một biểu tượng văn hóa của người Việt Đặc biệt làm nổi bật giá trị biểu tượng phong phú của con trâu trong đời sống tinh thần người Việt Phần tiểu kết sẽ tổng kết lại vai trò của trâu trong văn hóa tinh thần người Viêt Từ đó làm nổi bật những nét văn hóa của người Việt và khẳng định con trâu có sức sống mãnh liệt trong tâm thức người Việt

Trang 13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Văn hóa

Văn hóa gắn liền với đời sống con người, là một phần không thể thiếu trong xã hội loài người Chính văn hóa đưa con người đi lên bậc tiến hóa cao hơn, phân biệt với thế giới động vật Kể từ định nghĩa của Tylor đặt nền móng đầu tiên về văn hóa thì đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa ra đời

Định nghĩa văn hóa của Tylor: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc

người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [E.B Tylor, 2001:13]

Đây là một trong những định nghĩa đầu tiên trên thế giới về văn hóa, đặt nền tảng cho quá trình nghiên cứu văn hóa trên khắp thế giới và là tiền đề cho các định nghĩa cụ thể hơn về văn hóa sau này Định nghĩa này Tylor đã đồng nhất văn hóa với văn minh, ông định nghĩa bằng phương pháp liệt kê những giá trị nằm trong văn hóa Theo ông văn hóa chủ yếu là các giá trị thuộc về tinh thần: tri thức, nghệ thuật, đạo đức, tập quán, một số năng lực và thói quen khác Điều quan trọng là tất cả những điều này đều được gắn với con người, xã hội loài người, được con người “chiếm lĩnh” Tức là, những giá trị thuộc về văn hóa ông kể trên là những gì phải do con người tạo ra, tồn tại trong xã hội loài người, nó khác với những gì có trong tự nhiên Với phương pháp liệt kê các giá trị, ông đã cụ thể hóa được định nghĩa của mình nhưng ông lại đồng nhất văn hóa và văn minh, coi văn hóa và văn minh là giống nhau Do đó, ông không vạch rõ được nội dung văn hóa và làm người đọc bị nhầm lẫn hai khái niệm “văn hóa”, “văn minh” là một Đây là một điểm hạn chế trong định nghĩa của ông Tuy nhiên, không thể phủ nhận định nghĩa của ông đóng vai trò quan

Trang 14

trọng trong việc đặt nền móng cho quá trình nghiên cứu văn hóa và sự ra đời của những định nghĩa sau này về văn hóa

Văn hóa là những gì rộng hơn thế trong định nghĩa của Trần Ngọc Thêm “Văn

hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [Trần Ngọc Thêm 1999: 10]

Với định nghĩa này thì tất cả các giá trị cả về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy theo lịch sử đều là văn hóa Văn hóa được khái quát một cách ngắn gọn và tương đối đầy đủ hai khía cạnh vật chất – tinh thần trong mối quan hệ hữu cơ với nhau Những giá trị thuộc về con người, gắn bó với cuộc sống con người, đi cùng

sự phát triển của con người trong suốt chiều dài lịch sử là văn hóa Những giá trị vật chất và tinh thần ấy luôn song hành với nhau tác động qua lại lẫn nhau, được hình thành trong mối quan hệ tác động giữa con người với môi trường xung quanh

Văn hóa là những thứ thật gần với cuộc sống con người, bao quanh con người,

có thể đó là những thứ thật đơn giản, thật nhỏ bé Văn hóa là những gì còn sót lại theo thời gian trong xã hội loài người Nhiều định nghĩa khác nhau nữa và mỗi định nghĩa có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng đến văn hóa là

do con người tạo ra trong môi trường tự nhiên và xã hội Trên đây là hai định nghĩa

mà người viết quan tâm và vận dụng trong luận văn của mình Trên cơ sở định nghĩa trên thì người viết hiểu về văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy được trong quá trình sinh sống tác động vào môi trường tự nhiên và xã hội Văn hóa là những thứ có thể đơn giản, nhỏ bé nhưng có giá trị sâu sắc trong cuộc sống con người

1.1.2 Biểu tượng

Có nhiều cách hiểu khác nhau về biểu tượng qua mỗi học giả trong từng thời đại “Thủy nguyên biểu tượng (symbole) là một vật được cắt làm đôi, mảnh gốm,

mảnh sứ hay kim loại Hai người mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người cho vay

và người đi vay, hai kẻ hành hương…sau này ráp hai mảnh lại với nhau họ sẽ nhận

Trang 15

ra mối dây thân tình xưa” [Chevalier Jean, Alain Gheerbrant 1997: XXIII] Theo đây thì thủa sơ khai biểu tượng đơn giản chỉ là một vật được cắt ra và chắp lại để nói lên mối thân tình giữa những người giữ chúng Nhưng cách hiểu này chưa thực rõ ràng

và chưa có tính khái quát chung

Trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân cũng giải thích khá chi tiết về biểu tượng khi tách ra từng phần: “Biểu là tỏ ra, tượng: hình dạng) 1 Hình ảnh của

sự vật, hiện tượng nảy sinh ra trong óc khi sự vật và hiện tượng đó không còn trực tiếp tác động vào giác quan như trước: Biểu tượng là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính, lên nhận thức lí tính 2 Hình ảnh tượng trưng: Bồ câu trắng được thế giới coi là biểu tượng của hòa bình” [Nguyễn Lân 2000: 147 ] Theo Nguyễn Lân thì biểu tượng là những hình ảnh hiện lên khi sự vật thật không trực tiếp tác động vào giác quan của ta nữa tức những hình ảnh đó đã được ghi nhớ, được lưu giữ và gây được ấn tượng với chủ thể Hay “Biểu tượng không phải là một phóng dụ, cũng

chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn

cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh…Tâm linh bao hàm có ý thức, vô thức, cô đúc các sản phẩm tôn giáo, đạo đức, sáng tạo và thẩm mỹ của con người” [Chevalier Jean, Alain Gheerbrant 1997: XXIV] Chevanlier Jean không định nghĩa rạch ròi biều tượng Theo quan điểm của ông, cho ta một cách nhìn biểu tượng là những hình ảnh phù hợp với những bối cảnh nhất định, nó chỉ ra được chính xác hơn cái bản chất của vấn đề mà ta nghi hoặc Biểu tượng được hiểu sâu rộng hơn về nhiều lĩnh vực tinh thần

Biểu tượng có thể đưa ta đi xa hơn nhận thức thông thường, giúp ta hiểu được tầng sâu của vấn đề Hiểu được biểu tượng của mỗi dân tộc, quốc gia nghĩa là ta đã hiểu được những nét văn hóa sâu sắc của dân tộc, quốc gia đó Biểu tượng không đơn thuần luôn giống nhau mọi lúc, mọi nơi mà mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi ngữ cảnh

sẽ có cách hiểu khác nhau Có thể cùng một vật nhưng lại có ý nghĩa khác nhau trong từng bối cảnh Bởi vậy khi muốn hiểu chính xác ý nghĩa biểu tượng đó phải đặt trong từng bối cảnh nhất định Biểu tượng giúp ta liên tưởng được nhiều thứ nhưng cũng

Trang 16

đòi hỏi ta phải có vốn hiểu biết nhất định để sử dụng và vận dụng một cách đúng đắn nhất

Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề biểu tượng với nhiều cách lí giải khác nhau Dựa trên sự học hỏi và tiếp thu của những người đi trước, tôi lựa chọn cách hiểu biểu tượng đó là: Biểu tượng gồm có hai phần, cái biểu thị và cái được biểu thị Cái biểu thị là những dạng thức tồn tại của ý niệm dưới dạng vật thể nằm trong thế giới thực Cái được biểu thị là những ý nghĩa, những giá trị, những thông điệp thuộc thế giới ý niệm ẩn dấu trong biểu tượng Bởi vậy biểu tượng

là những vật quanh ta, thậm chí đó là những vật hết sức quen thuộc, giản dị, nhỏ bé nhưng lại ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa trong đời sống

Với cách hiểu biểu tượng trên người viết tìm hiểu về giá trị biểu tượng của con trâu ở mọi lĩnh vực trong đời sống người Việt để nhìn thấy ý nghĩa toàn diện của nó

1.1.3 Con trâu

Trâu là loài động vật quen thuộc của nhà nông, đặc biệt của nông dân Việt Nhắc đến trâu thì người ta vẫn nhắc kèm theo bò hay gọi một cách chung chung là

“trâu bò” Thực tế thì chúng là hai giống khác nhau và có những đặc điểm khác biệt

Ở Trung Quốc, theo tiếng Hán Việt phân biệt khá rõ ràng trâu và bò Trâu là thủy ngưu (水牛), tức bò nước Còn bò là Hoàng ngưu (黄牛) tức bò vàng Hai thuật ngữ nói lên được hai đặc tính rất khác biệt giữa trâu và bò

Trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân có nêu: “Trâu là loài nhai lại,

sừng dẹt và cong, lông thưa, ưa đầm nước, nuôi để cày hay kéo xe Bò là “Loài động vật nhai lại, sừng rỗng và ngắn, chân có hai móng, nuôi để kéo xe, cày ruộng hay ăn thịt” [Nguyễn Lân 2000: 154;1890] Rõ ràng ta cũng thấy được điểm khác biệt, khi trâu thì ưa đầm nước còn bò thì ngược lại

Một cách hiểu khác về trâu “Trâu là gia súc lớn nhai lại hay gia súc lớn có

sừng, lớp động vật có vú (Malmalia), bộ guốc nhẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại

Trang 17

(Ruminantia), họ sừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis), giống trâu đầm lầy (Swamp buffalo)”1

Dựa trên những cách định nghĩa khác nhau về trâu thì người viết chọn cho mình cách hiểu về trâu như sau: Trâu là gia súc lớn nhai lại, lông đen hoặc trắng cứng và thưa, bộ guốc nhẵn, có sừng rỗng và dài Đây là loài động vật ưa đầm lầy, ưa bóng râm được nuôi chủ yếu để lấy sức kéo và phân bón

Từ những đặc tính này để ta có thể dễ dàng phân biệt trâu với bò – loài gia súc cũng thuộc bộ nhai lại, guốc nhẵn có sừng nhưng sừng ngắn hơn, lông màu vàng nhạt hoặc sậm đen, dày và ngắn hơn lông trâu Bò sức kém bền và không ưa nước như trâu Đây là cách định nghĩa về con trâu thực trong đời sống, trong lao động sản xuất, chăn nuôi Việc phân biệt trâu và bò là hết sức cần thiết khi nghiên cứu về con trâu trong văn hóa người Việt

1.2 Người Việt

1.2.1 Dân số, dân cư

Người Việt còn có tên gọi khác là người Kinh, là tộc người đa số ở nước ta Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, dân số tộc người Việt là 73.594.427 người trong tổng số dân cả nước là 85.846.997, chiếm 85,72% Người Việt cư trú khắp các vùng miền trong cả nước nhưng tập trung chủ yếu ở miền đồng bằng, đặc biệt là châu thổ những con sông lớn như sông Hồng, sông Cửu Long, sông

Mã, sông Lô… Từ xa xưa vùng đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi cư trú và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời nhất của họ Theo số liệu thống kê 2009, đồng bằng sông Hồng có 19.584.287 người thì có đến 19.281.129 người Việt sinh sống Đồng bằng sông Hồng cũng là nơi tập trung người Việt đông nhất nước Vùng đồng bằng ven biển miền Trung và Bắc Trung bộ cũng là nơi cư trú của đông đảo người Việt 17.027036 người trên tổng số 18.835.154 Vùng đất Nam bộ là vùng đất mới,

1

Hoàng Thị Thiên Hương, chuyên mục Trâu: Đặc điểm của một số giống trâu trên thế giới và Việt Nam, nguồn: http://www.cucchannuoi.gov.vn/Breeding.aspx?type=t&id=563

Trang 18

được những thế hệ người Việt ở ngoài Bắc di dân vào nên số lượng có phần thưa hơn đồng bằng Bắc bộ: Đông Nam bộ có 13.155.502 trên tổng số 14.067.361 người và đồng bằng sông Cửu Long có 15.811.571 trên tổng số 17.191.470 người Những vùng cao nguyên, miền núi số lượng người Việt thưa thớt hơn: Ở Tây Nguyên có 3.309.836 trên tổng số 5.115.135; Trung du và miền núi phía Bắc chỉ có 5.009.353 trên 11.053.590 người Như vậy, địa hình càng lên cao thì tộc người Việt càng thưa

Là một tộc người đa số nên người Việt đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam Bản thân tộc người Việt chiếm trên 80% dân số, con số đó cũng đủ nói lên tầm quan trọng của người Việt như thế nào Người Việt có công đi đầu trong việc tạo dựng những giá trị nền tảng của đất nước, từ việc

mở mang bờ cõi, chủ nhân của nền văn minh lúa nước đến sáng tạo ra những giá trị văn hóa cốt lõi của Việt Nam Việc chuyển từ trung du xuống đồng bằng Bắc bộ định

cư canh tác là bước ngoặt lớn của người Việt nói riêng và của cả dân tộc nói chung Đồng bằng Bắc bộ chứa đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời nhất của người Việt Cũng từ đây người Việt mang theo những giá trị văn hóa ấy đi khắp các miền trên tổ quốc, khẳng định vị trí của mình

Phân bố ở nhiều khu vực, địa hình khác nhau nên người Việt mỗi nơi có những sắc thái địa phương riêng Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn, cũng là nơi tập trung người Việt đông đúc nhưng lại có những đặc điểm văn hóa riêng so với người Việt Bắc bộ Chẳng hạn, đều cư trú theo đơn vị làng nhưng làng Nam bộ lại mang tính mở hơn, mối liên kết lỏng lẻo hơn còn làng Bắc bộ thì ngược lại Làng Bắc bộ mang tính khép kín, mối liên kết trong làng rất chặt chẽ, làng thật sự như một nhà nước thu nhỏ vậy Đặc điểm văn hóa, dân cư của người Việt khác nhau theo từng vùng Những vùng có nhiều thành phần dân tộc thiểu số khác chung sống thì người Việt nơi đó đã chịu ảnh hưởng của sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Điều đó phần nào

lí giải được một số khác biệt trong tập tục, sinh hoạt, kĩ thuật canh tác…ở mỗi nơi Mặc dù có vài khác biệt nhưng về cơ bản người Việt từ bắc chí nam đều có chung một nguồn gốc và có văn hóa đồng nhất

Trang 19

này trong sách Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim có viết: “Cứ theo tục truyền thì

Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân

là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem

50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.'' Sau đó vẫn theo 'truyền thuyết' Lạc Long Quân phong cho người con trai trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương” [Trần Trọng Kim 1921/2005: 17- 18] Theo truyền thuyết này thì vị

vua đầu tiên của nước ta là vua Hùng, chúng ta có giòng giống Rồng – Tiên mà đến

sau này Bác Hồ vẫn nói đến vai trò của các vua Hùng như lời răn dạy: “Các vua

Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước…

Dựa trên những thành tựu nghiên cứu của các ngành khảo cổ học, Nhân học, Ngôn ngữ học, Dân tộc học, Sử học thì họ đã chứng minh được người Việt có nguồn

Trang 20

gốc bản địa Người Việt đã trải qua quá trình lịch sử lâu dài với nhiều biến đổi cho đến ngày nay Về nhân chủng, người Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường là trung gian giữa chủng Ôxtralôit và Môngôlôit Từ cuối thời đá mới, đầu thời đại đồ đồng khoảng 5000 năm về trước, tại khu vực Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam ngày nay có sự giao lưu tiếp xúc giữa cộng đồng người bản địa với người Môngôlôit phía Bắc dẫn đến sự ra đời chủng Nam Á (Môngôlôit phương Nam) Từ chủng tộc này phân chia ra thành nhiều dân tộc gọi là Bách Việt gồm nhiều tộc người Việt như Dương Việt, Điền Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt… Quá trình chia tách diễn biến trong thời gian dài để hình thành những tộc người cụ thể sau này Người Việt được tách ra từ khối Việt – Mường cư trú ở địa bàn trung du và đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ vào khoảng cuối thời Bắc thuộc (thế kỉ VII, VIII) [Trần Ngọc Thêm, 1999: 26-27 ] Người Việt có quan hệ chặt chẽ với những người thuộc nhóm Tày – Thái, Môn – Khơ Me, là chủ nhân của nhiều nền văn hóa trong lịch sử nước ta như: Phùng Nguyên, Đông Sơn…Như vậy, tổ tiên trực tiếp của người Việt

đã trải qua quá trình phân tách rất dài để có được tộc người Việt như hiện nay

Từ xã hội nguyên thủy người Việt bước sang xã hội có giai cấp khá sớm Nhà nước đầu tiên của người Việt là nhà nước Văn Lang đóng đô ở Việt Trì, đứng đầu là vua hiệu Vua Hùng Sau đó là nhà nước Âu Lạc, kinh đô ở Cổ Loa bắt đầu từ khoảng thế kỉ III trước công nguyên

Từ khi ra đời, Nhà nước người Việt đầu tiên đã trải qua nhiều lần đổi tên tương ứng với những thăng trầm lịch sử chống giặc ngoại xâm Từ thế kỉ II trước công nguyên (TCN), người Việt đã phải đối đầu với sự bành trướng của nhà Hán Từ những năm 111 TCN đến 938 sau công nguyên (SCN) quốc gia người Việt đã bị nhiều triều đại Trung Quốc đô hộ, chúng dùng mọi thủ đoạn áp bức, đồng hóa để biến người Việt thành người Hán Một nghìn năm bị đô hộ cũng chính là một nghìn năm thử thách ý chí kiên cường của con người Việt Nam, cũng là một nghìn năm giữ vững và tiếp thu được nhiều giá trị văn hóa góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc Thắng lợi vẻ vang năm 938 của Ngô Quyền đã đập tan được ách đô hộ dai dẳng của nhà Hán và liên tiếp sau đó là sự ra đời của nhiều triều đại phong kiến nối tiếp

Trang 21

nhau đưa người Việt lên những bước tiến mới: Triều Ngô, Đinh, nhà Lê thế kỉ X, nhà

Lý thế kỉ XI – XII, nhà Trần thế kỉ XIII – XIV, Hồ đầu thế kỉ XV, Lê thế kỉ XV- XVIII, Nguyễn (Tây Sơn) cuối thế kỉ XVIII, Nguyễn thế kỉ XIX… Người Việt tiến vào Nam khai khẩn đất hoang vào khoảng thế kỉ XVII, đầu tiên là những người nông dân phải chịu sưu cao thuế nặng, trốn cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn Sau này là cuộc di dân lớn nhất cuối thể kỉ XVII do Nguyễn Hữu Cảnh dẫn đầu theo lệnh chúa Nguyễn mở mang lãnh thổ về phía Nam Lịch sử tộc người Việt chịu tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, những yếu tố đó vừa là trở ngại, thách thức vừa là động lực phát triển

Người Việt đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước cũng như gìn giữ và phát triển nền văn hóa Việt Nam Từ khi tách thành tộc người riêng, vượt qua bao thăng trầm lịch sử thì người Việt vẫn kiên cường, bất khuất luôn đứng

ở vị trí là tộc người tiên phong trong mọi lĩnh vực

1.2.3 Hoạt động kinh tế

Người Việt sống chủ yếu bằng nghề nông trồng lúa nước Nông nghiệp lúa nước ra đời sớm, Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung được xem là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp thế giới Nhiều cứ liệu khảo cổ học được tìm thấy đã chứng minh tộc người Việt là chủ nhân của văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước ổn định lâu đời từ 5000 – 6000 năm TCN2 Nông nghiệp manh nha ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung từ thời tiền văn hóa Hòa Bình Nông nghiệp với cây lúa xuất hiện sớm đi cùng với sự phát triển của xã hội loài người Từ xa xưa, sử sách ghi lại thời Hùng Vương thì nghề nông nghiệp trồng lúa nước đã khá phát triển với phương pháp thủy nậu, tức là dùng chân dẫm xuống ruộng cho cỏ sụt xuống rồi mới cấy lúa lên Sử sách ghi lại rằng, cũng thời này thì người Việt đã biết dùng lưỡi cày bằng đồng, lưỡi hái bằng đồng Hơn nữa, qua những xương trâu tìm được thì họ đã

2 Nguyễn Huy, Văn minh lúa nước – Xin còn gọi tên, con-goi-ten.htm/

Trang 22

http://danviet.vn/74170p1c32/van-minh-lua-nuodcxin-biết thuần dưỡng động vật để lấy sức kéo [Văn Tân- Nguyễn Linh- Lê Văn Lan – Nguyễn Đổng Chi – Hoàng Hưng 1973: 88-89]

Phải nói rằng các mặt văn hóa, sinh hoạt của người Việt đều được phát triển và xây dựng từ nền tảng kinh tế ấy Nghề trồng lúa nước giữ vai trò chủ đạo bao trùm trong xã hội Sau này có nhiều ngành nghề khác ra đời nhưng cũng chịu ảnh hưởng của văn minh lúa nước Ngay cả tính cách, bản sắc, lối sống người Việt đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn minh nông nghiệp lúa nước

Lúa nước là cây cung cấp lương thực chính nên ở đâu người Việt cũng trồng lúa Hơn thế người Việt sống chủ yếu ở đồng bằng – là môi trường thuận lợi cho cây

lúa phát triển Nói về nghề trồng lúa nước của người Việt thì trong cuốn Sổ tay về

các dân tộc Việt Nam có viết: “Nghề trồng lúa nước đã phát triển ít nhất cũng từ

thiên niên kỉ II TCN trong đời sống người Việt Kỹ thuật dùng cày (với lưỡi cày bằng

đồng thau) để làm đất cũng đã trở thành phổ biến từ nửa sau thiên niên kỉ I TCN”

[Viện Dân tộc học 1983/2007: 21]

Để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp người Việt đã xây dựng được hệ thống thủy lợi từ rất sớm đồng thời thuần hóa nhiều vật nuôi Ngoài trồng lúa thì người Việt trồng nhiều loại hoa màu như ngô, khoai, sắn, đậu, lạc…Ngoài nông nghiệp là sản xuất chính thì người Việt cũng phát triển nghề chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và nghề thủ công với nhiều làng nghề khác nhau Chăn nuôi ở nước ta không phát triển như những nước lấy chăn nuôi là chủ đạo Người Việt chăn nuôi để tận dụng được những phụ phẩm của nông nghiệp và sử dụng chúng để tăng thêm chất đạm trong bữa ăn như gà, vịt, lợn… để lấy sức kéo nông nghiệp như trâu, bò…

Với tính chất của nền nông nghiệp lúa nước rất cần sức kéo của động vật thay thế cho sức người nên trâu bò được tận dụng và thuần hóa sớm Trâu có những đặc tính phù hợp với ruộng nước nên được trọng dụng hơn bò Cụ thể, trâu ưa nước, khỏe mạnh, ưa nặng nhọc, trâu có thể cày kéo cả ruộng khô lẫn ruộng nước Trâu đã

đi cùng với người Việt từ những buổi đầu sản xuất nông nghiệp cho đến ngày nay Trâu được con người thuần hóa từ nhu cầu sản xuất của mình và sự đóng góp của trâu thì người nông dân Việt phải khẳng định rằng “Con trâu là đầu cơ nghiệp”

Trang 23

Thủ công nghiệp truyền thống của người Việt cũng khá phát triển với nhiều làng nghề khắp cả nước Thủ công nghiệp có lẽ manh nha từ thời Hùng Vương – nhà nước Văn Lang Thủa ban đầu thủ công nghiệp vẫn nằm trong khuôn khổ của nông nghiệp như dệt vải, se sợi, dệt lụa… Bởi những nghề này còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp Có một số nghề đã tách hẳn ra khỏi nông nghiệp như nghề đúc đồng, làm gốm… Nhiều di chỉ được tìm thấy chứng tỏ nghề đúc đồng và làm gốm của người Việt đã rất phát triển từ thời xa xưa Nghề đúc đồng đỉnh cao là thời văn hóa Đông Sơn với hàng loạt trống đồng với nhiều hoa văn khắc trên mặt trống phản ánh đời sống sản xuất nông nghiệp Nghề đúc đồng cũng tạo ra nhiều lưỡi cày bằng đồng, sau đó là sắt sử dụng sức kéo trâu bò làm tăng năng suất lao động Điều kiện tự nhiên nước ta với mạng lưới sông ngòi dày đặc, người Việt lại chủ yếu sinh sống ở vùng đồng bằng ven những con sông lớn thế nên song song với nghề nông thì có nghề đánh bắt thủy sản Những làng chài ven sông cũng được hình thành tuy nhiên đánh bắt thủy sản cũng chỉ là một nghề phụ Thủy sản đóng vai trò cung cấp chất đạm cho bữa ăn người Việt còn quan trọng hơn thịt động vật nuôi khác Đó cũng là một trong những lí do mà nghề chăn nuôi ở nước ta không phát triển như những nước phương Tây Bữa ăn truyền thống của người Việt cũng phần nào phản ảnh được hoạt động kinh tế của họ Cơ cấu bữa ăn gồm Cơm – rau – cá – thịt Lúa gạo đứng đầu và không thể thiếu trong bữa ăn, rau là thứ phổ biến đứng thứ hai sau

đó là cá và cuối cùng mới là thịt

Nhìn chung hoạt động kinh tế của người Việt với nền tảng đầu tiên là nền nông nghiệp lúa nước sau đó cùng với sự phát triển của lịch sử thì hoạt động kinh tế dần biến đổi với đa ngành nghề khác Nhưng dù có xuất hiện thêm các ngành nghề khác thì cũng tách ra từ nông nghiệp hay xuất phát từ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp Văn minh nông nghiệp ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống văn hóa, lối sống, tính cách người Việt từ cổ chí kim

Trang 24

1.2.4 Tổ chức xã hội truyền thống

Người Việt cư trú theo làng, làng là đơn vị cư trú truyền thống và thể hiện được

rõ nét văn hóa Việt xưa Nhà nước Việt Nam theo chế độ trung ương tập quyền từ rất sớm trùm lên các làng và liên kết các làng Tổ chức xã hội theo làng xã góp phần định hình nên tính cách, đặc trưng văn hóa của người Việt Sản xuất nông nghiệp là bản nghiệp của người Việt, mà nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên Bởi vây, người nông dân Việt phải nương tựa vào nhau, đùm bọc lẫn nhau để cùng tồn tại Tổ chức xã hội theo làng xã là một bước tiến mới sau khi tan rã chế độ công xã nguyên thủy Từ thời Hùng Vương, khi nông nghiệp có bước phát triển thì dạng công xã nông thôn đã ra đời được xem như hình thức sơ khai của làng xã Việt Hình thức công xã nông thôn đầu tiên cũng đã có sự gắn bó mật thiết giữa các thành viên với

nhau Họ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau: “Sự tương trợ giữa các thành viên là truyền

thống trong các công xã được bảo lưu lâu dài cho tới sau này Cá nhân tuy đã có khả năng đảm bảo việc sản xuất của mình và cho mình nhưng vẫn chưa tách rời

được cuống nhau công xã Cho nên mỗi khi có việc làm nhà, be bờ, phát nương…của

một gia đình nhỏ, mọi gia đình khác đều đóng góp phần của mình để rồi được hưởng

sự trả nợ của tập thể khi mình cần thiết” [ Văn Tân- Nguyễn Linh- Lê Văn Lan – Nguyễn Đổng Chi – Hoàng Hưng 1973: 132 – 133]

Đơn vị làng bao gồm nhiều gia đình trong một dòng họ Các làng đều tồn tại độc lập và khép kín với nhau, mỗi làng có những quy tắc, lệ làng riêng biệt, không làng nào xâm phạm đến làng nào Các thành viên trong làng gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống, quan hệ sản xuất, tổ chức, văn hóa Bởi vậy mà người trong làng hết sức đùm bọc, đoàn kết với nhau Việc cư trú theo làng đã giúp cho người Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn và ổn định về sản xuất Làng truyền thống điển hình của người Việt là làng Bắc bộ, tự cung tự cấp về kinh tế, tự trị về chính trị

và thống nhất về những giá trị văn hóa, xã hội Nhà nước truyền thống của ta là nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, đứng đầu là vua cai quản toàn cõi Thế nhưng vẫn có sự điều hòa, dung hòa với những hương ước, lệ làng Luật lệ của nhà nước chỉ

có tính quy định chung chung tồn tại song song cùng với hương ước, lệ làng của mỗi

Trang 25

làng chứ không thay thế được bởi “Phép vua còn thua lệ làng” Hương ước, lệ làng

là những quy định chặt chẽ chi tiết đi sâu vào đời sống của mỗi làng Làng Nam bộ mới hơn và mang tính mở hơn Bởi làng Nam bộ không có tính lịch sử lâu đời như làng Bắc bộ, làng Nam bộ được lập ra muộn bởi những người Việt di cư vào khai khẩn ở những thế kỉ sau

Làng Việt có hai đặc tính cơ bản đó là tính tự trị và tính cộng đồng Hai đặc tính này ảnh hưởng sâu sắc đến tính cách người Việt trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước Nó có tác động tích cực trong việc hợp sức chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, đương đầu với giặc ngoại xâm hùng mạnh để tồn tại và bảo vệ vững chắc những giá trị văn hóa của dân tộc mình Nhưng cũng là một lực cản lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay Nơi sinh hoạt tinh thần chung của

cả làng đó là đình làng Mỗi làng đều có một đình làng là nơi thờ thần Thành hoàng của làng Thành hoàng có thể là người khai sinh ra làng, người có công với làng hay một vị anh hùng lịch sử Đình làng là linh hồn của cả làng, là nơi gắn kết mọi người trong làng với nhau và là nơi bảo lưu vững chắc nhất những giá trị văn hóa của làng nói riêng và của dân tộc nói chung

Làng xã của người Việt có những hình ảnh biểu tượng ăn sâu vào máu thịt như lũy tre làng, cây đa- bến nước- sân đình Dù đi đâu về đâu thì cũng không thể quên được nơi chôn nhau cắt rốn và nhìn những hình ảnh quen thuộc đó cũng không khỏi nhớ quê nhà Phải nói rằng, sản xuất nông nghiệp lúa nước đã ảnh hưởng rất lớn đến

mô hình tổ chức xã hội truyền thống của người Việt Làng xã vừa có tính tích cực và tính tiêu cực bởi hai mặt của tính tự trị và tính cộng đồng ảnh hưởng đến tính cách người Việt

1.2.5 Giá trị văn hóa truyền thống

Người Việt là dân tộc đa số ở nước ta, có vai trò cốt lõi đối với sự nghiệp xây dựng, phát huy và bảo tồn giá trị văn hóa đất nước Tìm hiểu văn hóa người Việt cũng là biết về văn hóa dân tộc Việt Nam Xã hội cổ truyền của người Việt là xã hội tiểu nông với nông nghiệp là ngành chủ đạo Từ rất sớm, nông nghiệp trồng lúa nước

đã ra đời và gắn bó với người Việt bao đời nay, nói như Nguyễn Thừa Hỷ: Nông

Trang 26

nghiệp là xương sống của nền kinh tế quốc dân, nông thôn là bộ mặt đích thực của đất nước, tầng lớp nông dân là bề đáy vững chắc của tháp dân cư [Nguyễn Thừa Hỷ 2011: 90] Dân Việt sống tập trung theo làng xóm, các thành viên trong cộng đồng công xã ấy có mối liên kết chặt chẽ với nhau Điều đó tạo nên tính cộng đồng truyền thống của người Việt Tính cộng đồng làng xã đã tạo nên được sức mạnh đoàn kết vô song Nếu nói về cội nguồn sâu xa của tính cộng đồng hay lối sống tập trung làng xã của người Việt thì đó chính là xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước truyền thống rất vất vả, không chỉ cần nhiều sức người mà còn phải đối mặt với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Muốn tồn tại và phát triển người Việt đã biết nương tựa vào nhau để sống, để chiến thắng tự nhiên và sau này là giặc ngoại xâm Chính đời sống vật chất, kinh tế đã tạo nên những giá trị văn hóa bền vững của người Việt Xã hội tiểu nông truyền thống với những đặc điểm nổi bật tạo nên nền tảng văn hóa người Việt đó là nông nghiệp, nông thôn, nông dân Người nông dân là đại diện điển hình nhất cho người Việt, nông nghiệp là nền móng cho

văn hóa Việt truyền thống đến hiện đại [Nguyễn Thừa Hỷ, 2011: 478] Nông nghiệp

đã định hình nên giá trị văn hóa của người Việt Ngày xưa, bao đời vua của nước Việt cũng xuất phát từ người nông dân chân chất, những tầng lớp xã hội khác cũng xuất phát từ nông nghiệp đi lên

Trong tâm thức người Việt lúc nào cũng có gia đình, làng xóm, quốc gia Gia đình truyền thống người Việt xuất hiện từ sớm đó là dạng gia đình nhỏ, các gia đình sống gắn bó với nhau trong khuôn khổ làng xã và theo chế độ phụ hệ Trong gia đình

có những gia pháp riêng nhưng mỗi gia đình đều tuân theo những quy định của làng

xã Xã hội truyền thống Việt được duy trì theo một trật tự tôn ti, cấp bậc nhất định Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền quản lý toàn cục mà đứng đầu là vua, dưới

đó là các làng xã tự quản, bên trong làng xã là các hộ gia đình Các làng xã có những luật lệ riêng, đó là hương ước, lệ làng ràng buộc cũng như điều chỉnh hành vi của những thành viên trong làng Tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là một giá trị văn hóa truyền thống quý báu được hình thành trong quá trình lao động sản xuất, là hệ quả của tính cộng đồng Làng xóm là nơi gắn bó với người nông dân Việt

Trang 27

nhất, có người cả đời không muốn ra khỏi làng Với người Việt xưa nếu mất gia đình còn có làng che chở nhưng nếu bị đuổi ra khỏi làng thì coi như mất tất cả Người xưa

vẫn có câu “Bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có

nhau” Làng xóm có vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa

truyền thống Thậm chí có nhận xét “Văn hóa Việt Nam truyền thống về cơ bản là

văn hóa xóm làng” [Vũ Tự Lập (chủ biên) 1991: 111] Các thành viên trong làng hết sức đoàn kết Tinh thần ấy được thể hiện là sự thống nhất một lòng, cùng nhau làm, bất kể là việc chung của làng hay việc riêng của mỗi gia đình Trong làng có sự phân biệt những người ngụ cư và chính cư Dân chính cư là những dân gốc ở làng thì được ưu đãi hơn dân ngụ cư – những người từ nơi khác đến Người nông dân Việt nghĩa tình, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, việc của làng là việc của mọi thành viên chứ không phân biệt ai, có ai trong làng cần giúp đỡ thì cả làng xúm lại Có kẻ thù bên ngoài đe dọa một gia đình trong làng thì cả làng cũng đồng lòng đứng lên bảo

vệ Từ lòng yêu gia đình, yêu làng như vậy tạo nền tảng cho lòng yêu nước ngày một lớn Truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết đã giúp người nông dân Việt chiến thắng mọi kẻ thù hùng mạnh bảo vệ vững chắc lãnh thổ

Nông nghiệp truyền thống đã có ảnh hưởng lớn đến những giá trị văn hóa truyền thống cũng như những ngành nghề truyền thống khác Người nông dân Việt

có truyền thống ham học hỏi, cần cù sáng tạo Từ nhu cầu lao động sản xuất thì đã tạo ra những công cụ lao động, những vật dụng hàng ngày trong cuộc sống Lâu dần,

đã hình thành nên nhiều làng nghề truyền thống như dệt vải, dệt lụa, làm gốm, đúc đồng…Những làng nghề truyền thống xuất phát từ nông nghiệp, những người thợ thủ công cũng xuất thân từ nông dân Đỉnh cao trong nghề thủ công truyền thống đó là nghề đúc đồng, nổi tiếng với trống đồng Đông Sơn vang danh khắp các vùng Truyền thống ham học hỏi đã được lưu giữ bao đời Thời Bắc thuộc, người Việt đã học hỏi nhiều giá trị văn hóa Hán góp phần làm giàu nền văn hóa nước nhà Hình ảnh người

nông dân Việt cần mẫn “Bán mặt cho đất bán lưng cho trời” quanh năm ngoài ruộng

đồng “Con trâu đi trước cái cày theo sau”

Trang 28

Người nông dân Việt có truyền thống trọng tình, trọng nghĩa hơn trọng lí “Một

bồ cái lí không bằng một tí cái tình”, giải quyết mọi việc đều dựa trên tình cảm là chủ yếu Bản tính cầu hòa, mong muốn giữ hòa khí và sợ mất lòng người khác Tình nghĩa không chỉ với con người với con người mà họ còn tình nghĩa cả với những con vật gắn bó, giúp đỡ họ Trong sản xuất nông nghiệp họ không thể thiếu sự giúp đỡ của hàng xóm láng giềng mặt khác họ cũng không thể thiếu con trâu Con trâu trở thành người bạn thân thiết bao đời “Con trâu là đầu cơ nghiệp” của người nông dân Việt

Đời sống tâm linh của người Việt xưa khá phong phú với những tôn giáo thế giới phổ biến đó là Nho, Phật, Đạo chi phối đời sống hàng ngày Bên cạnh đó thì tín ngưỡng dân gian là một phần không thể thiếu Mặc dù bị ảnh hưởng Phật giáo ở Trung Quốc, Ấn Độ nhưng người Việt vẫn học hỏi và biến đổi sao cho phù hợp với văn hóa của mình Bên cạnh chùa chiền Phật giáo, những ảnh hưởng của Nho giáo và Đạo giáo thì đời sống của họ vẫn chú trọng đến những vị thần xứ xở như các vị thần

tự nhiên như thần Mây – Mưa – Sấm- Chớp, các nữ thần như Mẹ Đất – Nước, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn,…Bên cạnh những vị thần tự nhiên thì còn có những anh hùng dân tộc, người có công với làng xóm, đất nước Người Việt hiếu nghĩa, ăn ở biết trước biết sau, luôn tưởng nhớ những người có công, những người đã khuất Mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên, thờ cúng ông bà và người khuất Mỗi làng đều có đình làng, chùa làng nơi thờ tự vị thành hoàng của làng – là người anh hùng dân tộc, một vị thần hay một nhân vật sáng lập làng… Truyền thống hiếu nghĩa, biết

ơn đã trở thành nét văn hóa đẹp Không chỉ những con người được thờ tự mà cây cối, con vật cũng được người Việt nâng niu, thờ cúng như cây lúa – cây lương thực chính nuôi sống bao đời người nông dân đất Việt, như con trâu – như người bạn thân thiết không thể thiếu của nhà nông

Đời sống sản xuất nông nghiệp không chỉ chi phối nhiều đến những ngành nghề khác và ảnh hưởng sâu sắc đến những giá trị văn hóa tinh thần Người Việt nói riêng

và nhiều dân tộc khác trong nước cũng như Đông Nam Á nói chung đều có hệ thống

lễ hội nông nghiệp phong phú Có thể nói lễ hội nông nghiệp chiếm đa số trong các

Trang 29

lễ hội được tổ chức hàng năm Lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống con người Việt xưa và cả bây giờ Họ tổ chức cúng tế tự nhiên, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu Bên cạnh phần lễ trang nghiêm dâng lễ vật lên thần linh thì

là phần hội vui nhộn dành cho tất cả mọi người trong làng dịp vui chơi, nhảy múa nâng cao đời sống tinh thần và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Những lễ hội nông nghiệp như lễ Tịch điền, lễ lên đồng, lễ hội chọi trâu, rước nước, cúng thổ thần, tục tế Mang thần thời Nguyễn… Đó là một phần trong đời sống truyền thống người Việt mà đến nay vẫn đẹp đẽ

Trên đây là sự thâu tóm ngắn gọn những nét văn hóa truyền thống của người Việt Văn hóa truyền thống của người Việt với nền tảng là nông nghiệp, chủ thể là những người nông dân chân chất, bối cảnh nông thôn trải qua nhiều thăng trầm Người Việt từ cái nôi Bắc bộ lan tỏa đi những nơi khác có nhiều sắc thái khác nhau tạo nên bức tranh đa màu sắc hơn, nhưng đều chung một gốc Đó là những giá trị văn hóa nền tảng cho sự phát triển và được bổ sung những giá trị văn hóa mới theo lịch

Á và trâu châu Phi giống nhau về ngoại hình, tầm vóc, đường nét nhưng khác nhau

về mặt mặt cấu trúc xương một số bộ phận Trâu hoang châu Á gồm có ba loại: Trâu Anoa (Bubalus depressicornis) sống nhiều ở đảo Celebes (Inđônêxia) Trâu Tamarao (Bubalus mindorensis) sống nhiều ở Philippin và có thân hình to hơn trâu Anoa Trâu Arni (Bubalus arnee) sống thành đàn trong rừng rậm, chúng thích đầm nước Loại này được một số học giả chia thành hai loại: Loại sừng dài sống chủ yếu ở quần đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á…; Loại sừng ngắn sống ở Nhật Bản, Bắc Trung Quốc, Tây Á,… Trâu Việt Nam thuộc loại dài sừng [Nguyễn Đức Thạc 2006: 8-9]

Trang 30

Trâu nhà phân thành hai loại: trâu sông và trâu đầm lầy Trâu đầm lầy sống tập trung ở khu vực Đông Nam Á, có nhiều ở những nước như Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia…Trâu đầm lầy ít được chọn lọc, gần với trâu rừng với những đặc điểm: sừng thon, cong hình bán nguyệt, trán phẳng, hẹp, mắt lồi, mặt ngắn, mồm rộng, thân ngắn, chân thấp, vai vạm vỡ, ngực rộng, bụng to, mông thấp, đuôi ngắn, móng xòe,

vú bé thích hợp với việc cày kéo Giống trâu ở nước ta cũng thuộc loại trâu đầm lầy này Trâu sông thì được cải tạo và chọn lọc trong thời gian dài theo hướng lấy sữa Phân biệt với trâu đầm lầy thì trâu sông có những đặc điểm như: mặt dài, thân dài và thon hơn trâu đầm lầy, sừng ngắn cong về phía trước, ra sau rồi xoắn lên phía trên, khung xương sâu, rộng, chân cao và mập, đuôi dài, bầu vú phát triển, đầu vú to…Nếu trâu đầm lầy thích hợp để cày kéo thì trâu sông lại thích hợp để lấy sữa và chúng tập trung nhiều ở khu vực Tây Á.3 Về sau thì ta có sự du nhập và lai tạo giữa giống trâu sông Ấn Độ với trâu nội để cho ra giống trâu lai năng suất, chủ yếu lấy sữa

Con trâu của Việt thuộc loại trâu đầm lầy, với những đặc điểm lông thưa, cứng, sừng dài, cong, chân to mập Đầu trâu to, trán phẳng, hẹp, mặt ngắn, trán rộng, mõm

to và ngắn Tập tính chung của con trâu người Việt rất thích nước và đầm tắm hàng ngày đặc biệt là những ngày nắng nóng Thông thường thì nhiêt độ môi trường từ 20

độ trở lên là trâu đã tắm Trâu ưa bầy đàn, đây có thể là một tập tính của trâu hoang

trước khi trâu được thuần phục Trâu chậm chạp, hiền lành và giỏi nhớ đường “ Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm trâu” Ở nước ta chưa có tài liệu nào phân biệt

rạch ròi ra các loại trâu cụ thể

Một số tài liệu phân loại theo đặc điểm thì chia ra hai giống: Trâu Gié và trâu Ngố Sự khác nhau chủ yếu giữa chúng là ở tầm vóc Trâu Ngố tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, tầm vóc to, thô (trâu tầm đại), da dày không bóng, xương to, chân

to, móng hở Trâu ngố nặng trung bình từ 400 – 500 kg Tầm vóc to là lợi thế trong cày kéo, và cung cấp lượng phân lớn Nhưng nó có nhược điểm là sinh sản chậm,

3 Hoàng Thị Thiên Hương – Cục chăn nuôi, http://www.cucchannuoi.gov.vn và Nguyễn Đức Thạc, sđd,

tr.9-10

Trang 31

trâu cái thường 3 tuổi trở lên mới sinh sản, đẻ thưa khoảng 2 năm 1 lứa, hiếm có con

đẻ 3 năm 1 đôi Thêm nữa trâu Ngố kém chịu đựng sự thay đổi của thời tiết Trâu Gié được nuôi nhiều ở đồng bằng, tầm vóc nhỏ hơn, da mỏng và bóng hơn, lông đen

và mượt hơn, chân bé và móng khít hơn Trung bình mỗi con nặng khoảng 300 – 350kg Trâu Gié cái mắn đẻ hơn trâu Ngố, thường 2 năm đã bắt đầu sinh sản, thường

đẻ 3 năm 2 con, cũng có những con đẻ 1 năm 1con Trâu Gié nhỏ nhưng dai sức, sức chịu đựng với sự thay đổi thời tiết tốt hơn trâu Ngố, tính nết lại hiền lành [Nguyễn Văn Tòng, Quang Ngọ 1962: 5- 6] Bên cạnh đó một số học giả còn bổ sung thêm một loại nữa là trâu vừa, tức tầm vóc trung bình giữa hai loại trên, có khối lượng cơ thể 350kg với con cái và 400kg với con đực [Đỗ Kim Tuyến, Hoàng Kim Giao, Hoàng Thị Thiên Hương 2009: 25]

Nếu phân loại theo màu sắc lông, da thì có trâu trắng và trâu đen như hình 1.1

và 1.2 Hai loại trâu này thì tầm vóc giống nhau chỉ khác nhau ở màu da và lông Trâu trắng thì da màu hồng và lông màu trắng hoặc phớt vàng Ngược lại với trâu đen, lông và da màu đen thô hoặc đen bóng, lông có màu đen sậm và màu đen lạt hơn Ở nước ta trâu màu trắng không nhiều, chủ yếu là trâu đen vì theo quan niệm

dân gian “Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đấy”

Hình 1.1:Trâu nái đen

(Nguồn: Kiều Thị Liên, 16/02/2013, Lương

Sơn, Thái Nguyên)

Hình1.2: Trâu trắng

(Nguồn: bang-trau-cua-nguoi-muong-a59525.html, truy cập: 17/12/2012 )

Trang 32

http://m.nguoiduatin.vn/le-tuc-yem-bua-Phân loại theo tuổi thì những trâu nhỏ mới sinh hoặc trâu được vài tháng thì gọi

là nghé (xem hình 1.3) Những trâu trưởng thành thì có trâu nái và trâu đực hay trâu mộng Nông dân Việt chủ yếu nuôi trâu lấy sức cày kéo nên nhiều nơi trâu đực được

ưa chuộng hơn trâu nái

Hình 1.3: Trâu nghé

(Nguồn: Kiều Thị Liên, 16/02/2013, Lương Sơn, Thái Nguyên)

Ngoài ra, để cải tạo giống trâu nhà, nước ta đã nhập nội giống trâu Mura ở Ấn

Độ Trâu Mura thuộc loại trâu sông, có da và lông màu đen tuyền, da mỏng mềm, nhẵn bón, lông thưa, ở cuối đuôi có chòm lông màu trắng sát vó chân Có một số ít lông xám nâu hoặc xám vàng Trâu đực bắp chân to khỏe, vạm vỡ, trâu cái thì có bầu

vú phát triển, cho năng suất sữa cao Trâu Mura có thể trạng lớn hơn trâu bản địa nước ta [Mai Văn Sánh 2009: 7- 9] Việc lai tạo giữa trâu đực Mura với trâu cái nội

đã là việc rất thiết thực để cải tạo giống, vừa giữ được những đặc tính tốt của trâu nội lại cải thiện được việc thoái hóa giống Trâu lai trọng lượng ở mức trung gian giữa trâu bố và trâu mẹ nhưng cũng lớn hơn trâu nội, trâu cái lai trưởng thành khoảng 500kg, sản lượng sữa cho bình quân cũng nhiều hơn trâu nội

Như vậy diện mạo đàn trâu người Việt ngày càng gia tăng về số lượng và phong phú về giống loại Từ những giống trâu nội thuần chủng với những đặc điểm phân chia theo địa hình cư trú thì còn có thêm giống lai vừa tăng năng suất kinh tế vừa đảm bảo giữ được nguồn gen tốt của trâu nội Việc phân loại cũng có giá trị

Trang 33

quan trọng trong việc tìm hiểu về vai trò của trâu ở từng vùng khác nhau và cũng là bước đầu để hiểu hơn về trâu Việt

1.3.2 Quá trình thuần hóa

Trâu có từ khi nào thì cũng không biết chính xác, chỉ biết rằng trâu gắn với con người khi nghề nông nghiệp lúa nước của nước ta ra đời Trong kho tàng truyện cổ

tích của người Việt có kể “Sự tích con trâu” rằng: Hồi tạo thiên lập địa, Ngọc Hoàng

cho mời các tiên đến thảo luận về việc dưới trần không có ngũ cốc và Ngọc Hoàng muốn ban ngũ cốc xuống cho loài người Tiên Kim Quang lãnh trách nhiệm này Ngọc Hoàng giao cho Kim Quang mười hạt lúa và một nắm cỏ, sai gieo lúa trước, còn đất thì gieo cỏ Nhưng khi xuống dưới trần Kim Quang quên lời dặn, thuận tay gieo cỏ trước, cỏ mọc lên tốt lấn át lúa Người dân kêu lên thiên đình, Ngọc Hoàng

đã trừng phạt Kim Quang phải biến thành con vật to, có hai sừng cong cong, phải nghe lời người dặn và ăn hết cỏ dưới trần gian Con vật đó gọi là con trâu [Nguyễn Xuân Kính 2005, 134- 135] Như vậy, theo dân gian thì con trâu đến với đời sống người Việt là do Ngọc Hoàng trừng phạt kẻ làm sai việc và người Việt không phải vất vả thuần hóa

Tuy nhiên, trên góc độ khoa học thì con trâu có được vị thế trong đời sống người Việt là cả một quá trình lâu dài Trâu nhà Việt Nam ngày nay được thuần hóa

từ trâu rừng cách đây khá sớm Những hóa thạch tìm được đã phần nào cho ta xác định được thời gian trâu nhà được thuần hóa Những hóa thạch loài trâu được tìm thấy ở hang động Thẩm Khuyên, Phai Vệ, Kéo Khèn Lạng Sơn, hang Hùm (Hoàng Liên Sơn), Thẩm Òm (Nghệ An)…cách đây hàng chục vạn năm Buổi đầu trâu là đối tượng săn bắt để giết thịt của người Việt cổ [Trần Quốc Vượng 2000: 345]

Trâu Việt thủa đầu là trâu rừng hoang dã, sống phổ biến trong các khu rừng gần đầm lầy Tổ tiên người Việt trước khi biết định cư sinh sống bằng nghề nông nghiệp thì sống bằng nghề săn bắt hái lượm, trâu và những loài động vật khác là đối tượng săn bắn làm thịt trước khi được thuần hóa.Vào thời kì muộn hơn tức vào thời văn hóa Hòa Bình, Phùng Nguyên thì nhiều hóa thạch trâu trong họ Bovidae đã được tìm

Trang 34

thấy như răng trâu, xương trâu rừng ở Thẩm Dương (Lai Châu), Phúc Lộc (Thanh Hóa) Các di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phú), Gò Mun…đều có nhiều xương trâu bò Đến giai đoạn Đông Sơn thì xương trâu bò nhiều và đa dạng hơn Tại Thiệu Dương, Thiệu Hóa- Thanh Hóa gần Đông Sơn đào được sừng sọ, xương chi, răng trâu nhà [Nguyễn Đức Thạc 2006: 12] Tức là, theo thời gian thì càng gần ta tần suất trâu, bò xuất hiện càng nhiều và phong phú hơn

Qua những di chỉ được tìm thấy thì con trâu ở nước ta xuất hiện khá sớm, là động vật tự nhiên tồn tại song song với cuộc sống con người Có thể người Việt đã thuần hóa trâu nhà từ chính những con trâu hoang bản địa Khi chưa có nhu cầu tận dụng trâu thì người Việt chỉ săn bắn chúng nhưng khi xã hội càng phát triển, có những bước tiến mới trong phương thức mưu sinh thì con trâu đã được tận dụng Đó

là lúc người phụ nữ chuyển từ hái lượm sang trồng trọt, người đàn ông chuyển từ săn bắn sang thuần hóa vật nuôi Theo một số học giả thì trâu Việt được thuần hóa vào

cùng khoảng thời gian nông nghiệp trồng lúa nước ra đời: “Đến cuối thời đá mới,

cách ngày nay 5000 – 6000 năm cùng với sự ra đời của nghề nông trồng lúa ở các thung lung chân núi và đồng bằng ven biển, con trâu đã được thuần phục và thuần dưỡng” [Trần Quốc Vượng 2000: 345] Theo Nguyễn Đức Thạc (2006), chậm nhất vào hậu thời đá mới cách đây 4- 4,5 ngàn năm người Việt cổ đã thuần hóa trâu rừng thành trâu nhà để giúp việc đắc lực cho con người trong nông nghiệp Điều này cũng

có thể tin tưởng được dựa trên nhiều di chỉ trong thời đá mới, đồng thau ở Tràng Kênh (Hải Phòng), Tiên Hội, Đình Tràng (Hà Nội), Đồng Đậu (Vĩnh Phúc)…Con trâu người Việt được thuần hóa thủa đầu vừa có chức năng lấy thịt vừa cung cấp sức kéo Từ nhu cầu làm nông nghiệp ruộng nước, người xưa khá tinh tế để nhận thấy những đặc tính của trâu là phù hợp để thuần hóa chúng Trâu bản tính hiền lành, chậm chạp, ưa đầm nước, khỏe, lại dễ nuôi… Đấy là những tính quý và hữu ích nhất Những ngày đầu trình độ canh tác của người Việt còn thô sơ (hỏa canh thủy nậu), con trâu được sử dụng chỉ để làm đất đơn giản là dẫm nát cỏ, làm nhừ đất rồi người

sẽ gieo trồng lúa trên mảnh đất đó Con trâu cứ thế sống bên cuộc sống người nông dân Càng về sau, trình độ kĩ thuật được cải thiện với sự ra đời của nghề luyện kim

Trang 35

cho ra những lưỡi cày đồng thì con trâu lại được huấn luyện thêm kĩ năng mới khó hơn đó là kéo cày Sau đó là sự ra đời của lưỡi cày sắt thì trách nhiệm của con trâu lại càng tăng, theo đó vị trí của con trâu trong đời sống của người Việt cũng ngày càng quan trọng Những kĩ năng của trâu được con người dạy tiệm tiến theo trình độ phát triển của đời sống sản xuất từ cày, bừa, đến kéo xe, kéo gỗ… Cứ thế con trâu dần dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống người nông dân Trâu đi theo con người không quản ngại khó khăn, vất vả, rồi trâu đi vào đời sống tinh thần của người Việt, trong nghệ thuật, ca dao tục ngữ, trong thơ ca

Như vậy, con trâu đã xuất hiện sớm và sớm được người Việt chú ý Từ một con vật hoang, xa cách với con người thậm chí con người còn là kẻ thù của chúng, đã dần dần trở thành một vật nuôi gần gũi, thân thiết Một phần bởi những đặc tính của nó, một phần bởi những giá trị tiềm năng của nó Việc thuần hóa trâu thành vật nuôi đã tạo nên một bước phát triển mới trong nông nghiệp truyền thống của người Việt thủa ban đầu cũng như về sau này

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Người Việt là tộc người đa số có vai trò quan trọng trong việc dựng nước và giữ nước, là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước Việt Nam Nước ta trải qua tiến trình lịch sử lâu dài, chống lại thiên nhiên khắc nghiệt rồi chống giặc ngoại bang xâm lược Trong mỗi bước đi của đất nước thì người Việt luôn khẳng định được vị trí tiên phong của mình Nói về người Việt cũng là nói về dân tộc Việt Nam, tìm hiểu về văn hóa người Việt cũng là văn hóa Việt Nam

Sản xuất nông nghiệp lúa nước là hoạt động kinh tế chính của người Việt Với nghề trồng lúa nước lâu đời mà đã sớm hình thành nền văn minh nông nghiệp lúa nước Văn minh nông nghiệp lúa nước là nền tảng cho văn hóa truyền thống của người Việt nói riêng và Việt Nam nói chung Phương thức canh tác đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các giá trị văn hóa truyền thống, từ việc cư trú của cộng đồng người đến những giá trị văn hóa cốt lõi Văn hóa là những giá trị được tích lũy theo thời gian, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và xã hội Nền nông nghiệp nước ta được người Việt tạo dựng nên từ rất lâu đi cùng với lịch sử phát triển của người Việt, đó là một quá trình phát triển liên tục, bền bỉ

Trâu là động vật nhai lại, ưa đầm nước, không chịu được nắng nóng Trâu bò hay được nhắc đến chung với nhau, nhưng chúng là hai loài khác nhau Ở Việt Nam trâu phổ biến hơn bò và có những đặc điểm phù hợp với môi trường tự nhiên hơn Con trâu của người Việt có nhiều loại nhưng chúng đều có những đặc điểm sinh học tương tự nhau Trâu cày đen là loại trâu được ưa chuộng nhất với người Việt Loại trâu trắng, hay trâu lấy sữa ít được nuôi hơn vì nhu cầu và tâm lí Từ rất xa xưa, bằng những cứ liệu khảo cổ học đã chứng tỏ con trâu đã được người Việt thuần hóa rất sớm Thủa sơ khai, trâu là động vật hoang dã, là đối tượng săn bắn của con người Từ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp – trồng lúa nước, con trâu được người Việt thuần hóa thành vật nuôi để cung cấp sức kéo là chủ yếu Kể từ khi được thuần hóa trâu không ngừng đóng góp giá trị cho đời sống- văn hóa người Việt

Trang 37

Chương 2: CON TRÂU TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT

CỦA NGƯỜI VIỆT

Nước ta nói riêng và Đông Nam Á nói chung có điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau nên nông nghiệp lúa nước đều phát triển từ sớm và con trâu cũng là vật nuôi ở nhiều nước trong khu vực Ở nước ta, ngoài người Việt thì nhiều dân tộc ít người khác cũng rất xem trọng con trâu Trên nền tảng sản xuất nông nghiệp lúa nước, người Việt đã tạo dựng cho mình đời sống vật chất ngày càng phát triển Bên cạnh sự nỗ lực, sức sáng tạo và tinh thần hăng say lao động của con người thì con trâu đóng một vai trò hết sức quan trọng Thực tế chương này là nói về văn hóa nhận thức về trâu của người Việt

2.1 Con trâu trong sản xuất nông nghiệp

2.1.1 Chăn nuôi trâu

Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính của sản xuất nông nghiệp Người Việt tuy trồng trọt quan trọng hơn, chăn nuôi chỉ ở mức độ gia đình tự cung tự cấp nhưng trồng trọt và chăn nuôi có mối quan hệ gắn bó với nhau trong nông nghiệp Trồng trọt cung cấp thức ăn cho vật nuôi, vật nuôi cung cấp sức, phân bón…cho đồng ruộng Quan trọng hơn chúng đều đáp ứng tốt cho nhu cầu của con người Người Việt từ thủa đầu chuyển sang nông nghiệp lúa nước thì việc thuần hóa động vật nuôi cũng diễn ra sớm Người nông dân nuôi nhiều con vật khác nhau trong gia đình như lợn, gà, ngan vịt, chó, trâu bò… Hầu như bất kì nhà nông nào cũng có một vài con lợn, đàn gà và con chó giữ nhà Những loài động vật nhỏ này được nuôi chủ yếu để cung cấp chất đạm cho bữa ăn thêm phong phú, và có một khoản tiền nho nhỏ lúc cần thiết Trâu là vật nuôi phổ biến ở các vùng nông thôn, không chỉ người Việt

mà nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta cũng xem trâu như một vật nuôi quan trọng Trước khi thuần hóa, trâu là động vật hoang, sống theo đàn Sau khi nhận thấy những đặc tính phù hợp của trâu cho sản xuất thì trâu được thuần hóa thành vật nuôi

Trang 38

So với những vật nuôi khác thì trâu là gia súc lớn nhất của người Việt Trong xã hội

cũ, trâu không được nuôi để lấy thịt, giá trị của trâu cũng khác hẳn với những loài vật khác Trâu được con người xui sẹo (xông mũi) để dễ thuần hóa và huấn luyện Trâu được nuôi theo hộ gia đình hoặc theo tập thể Trong thời kì phong kiến, thời chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và trong các chính sách khuyến khích nông nghiệp luôn có chính sách phát triển vào bảo vệ trâu Trâu được xem là tài sản chung của xã hội, nhiều hộ gia đình nghèo chung nhau nuôi một con trâu, cùng nhau chăm sóc trâu Sau khi giành độc lập, Đảng và Chính Phủ thực hiện chính sách tổ chức đời sống sản xuất theo Hợp tác xã nông nghiệp Trâu là của chung của hợp tác

xã, việc chăn nuôi trâu sẽ được phân công cho các hội viên Toàn bộ trâu không thuộc sở hữu cá nhân mà theo sự điều phối, quản lý của tổ chức

Trâu khá phàm ăn, thức ăn của trâu chủ yếu là cỏ, rơm Ngoài ra trâu còn ăn nhiều thức ăn khác như lá tre, thân chuối, cám, bộ phận của cây ngô hay các loại cây trồng khác như sắn, khoai, đậu, Những thức ăn của trâu có nhiều trong tự nhiên và phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp Thế nên, việc chăn nuôi trâu không khó khăn nhiều trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn Nuôi trâu không cạnh tranh về nguồn thức

ăn với các con vật khác và với con người Nuôi trâu thường mất một công chăn trâu, cắt cỏ chăn trâu Công việc chăn trâu được giao cho trẻ nhỏ hoặc người già trong gia đình Hàng ngày, trâu được thả ra đồng gặm cỏ, những gia đình có nhiều trâu thì phải thả ra những nơi đất trống, bờ đê, sườn đồi cho gặm cỏ Những nhà có ít trâu thì người chăn sẽ dắt trâu dọc những bờ ruộng, ven mương Tuy nhiên, việc cho trâu gặm cỏ tự nhiên ngoài đồng không đủ cho trâu ăn no nên vẫn phải có những người cắt cỏ Cỏ được cắt ở những bờ ruộng nhỏ, trong các ruộng trồng hoa màu vừa làm sạch cỏ cho cây trồng vừa có cỏ cho trâu ăn no Chăn nuôi trâu giúp nhà nông tận dụng triệt để những lao động nông nhàn Sau mỗi mùa thu hoạch lúa, người nông dân thường tận dụng thân lúa phơi khô thành rơm, đắp thành đống lớn làm thức ăn dự trữ cho trâu những khi trời mưa hoặc thức ăn khan hiếm (xem hình PL4.3 phần Phụ lục)

Ở những miền nông thôn hầu như gia đình nào cũng có “cây rơm” là thức ăn cho trâu Những đống rơm dự trữ này còn có tác dụng trải ấm cho trâu những ngày rét,

Trang 39

mưa rầm hoặc làm sạch chuồng trâu Tương tự như vậy, ngô cũng là thức ăn dự trữ khá phổ biến, ngọn ngô, vỏ ngô phơi khô cho trâu ăn dần Nhiều gia đình còn tận dụng thân chuối làm thức ăn cho trâu Thân chuối được băm ra thành miếng nhỏ, trộn thêm chút cám gạo và ít muối vừa làm trâu no bụng, nhiều dinh dưỡng, vừa giúp trâu giai sức Ngày nay, nhiều nơi còn trồng cỏ để nuôi trâu bò khi nguồn cỏ trong tự nhiên không đủ đáp ứng Thức ăn và cách chăm sóc trâu đối với từng loại trâu như trâu cái sinh sản, trâu kéo cày, trâu nghé…là khác nhau Trâu cái đẻ hoặc trâu kéo cày thường được người người nông dân chăm chút hơn, có thể bồi bổ thêm bằng tinh bột bên cạnh cỏ, rơm Tuy nhiên ngày trước, đời sống kinh tế khó khăn thì việc phân chia chế độ chăm sóc cũng không rạch ròi Nhà nông chỉ cố gắng đảm bảo trâu luôn được ăn no, béo khỏe

Trâu Việt có đặc tính chịu nắng nóng kém, bởi da trâu đen, bóng, dễ hấp thụ nhiệt từ mặt trời Tuyến mồ hôi của trâu hoạt động kém hơn bò, nên trâu rất thích tắm và thích những bong râm Một ngày trâu có thể đầm tắm đến 4-5 giờ [Đỗ Kim Tuyên- Hoàng Kim Giao- Hoàng Thị Thiên Hương 2009: 10] Người nuôi thường chú ý đến việc tắm mát cho trâu những ngày hè nóng bức Trâu thích đầm bùn, vì

bùn đắp lên trên mình trâu giúp trâu tránh nắng nên mới có câu “ Trâu lấm vấy càn”

Trâu cũng thích nằm ngâm nước ngập tới cổ, thậm chí hụp đầu xuống nước rồi ngóc lên Trâu có khả năng bơi khá tốt, có thể bơi qua sông sâu, ao, đầm sâu Nhiều người

đã lợi dụng đặc tính này để nhờ trâu chở qua sông hoặc kéo gỗ qua sông

Người nông dân Việt biết làm chuồng để nhốt trâu Hình thức chuồng trâu khá

đa dạng, nhiều nơi chỉ là đóng cọc và quây xung quanh nhốt trâu vào, hoặc có nhiều nhà ít trâu có thể chỉ cột trâu ở gốc cây Thế nhưng để tránh mưa nắng, gió rét cho trâu và tận dụng nguồn phân thì người Việt biết làm chuồng kiên cố hơn Chuồng trâu nằm trong hệ thống chuồng trại của gia đình, sẽ được làm cách xa nhà ở và giếng nước Chuồng khuất hướng gió vừa tránh gió rét cho trâu vừa tránh mùi hôi bay vào nhà gia chủ Mỗi chuồng chỉ nhốt từ 1 đến hai con để tránh trâu húc nhau Những trâu đực lớn được nhốt riêng một chuồng, hay trâu đực và trâu cái nhốt riêng

Ở những hộ gia đình nuôi ít trâu thì chỉ có 1 đến hai chuồng Trong thời đại mới thì

Trang 40

chuồng trâu được chú trọng xây dựng trên nhiều tiêu chí hơn trước Khác với một số dân tộc thiểu số ở nhà sàn như người Mường, Ê đê, Bana ở nhà sàn thì họ tận dụng gầm sàn để nuôi nhốt trâu Thậm chí ở vùng núi, một số tộc người thiểu số không làm chuồng mà chăn trâu theo hình thức chăn thả, trâu được đánh số thả vào rừng Việc làm chuồng trại nuôi nhốt trâu thay đổi theo tình hình kinh tế của người dân Khi đời sống người nông dân còn khó khăn thì việc làm chuồng chỉ mang tính chất tạm bợ Trong thời chiến tranh loạn lạc, thậm chí ở những vùng nông thôn còn không có chuồng trâu Trâu được nhốt hoặc thả theo đàn nhưng họ vẫn có ý thức bảo

vệ trâu để đảm bảo đời sống Khi đất nước giải phóng việc chăn nuôi trâu được chú trọng hơn và trâu cũng được chăm sóc tốt hơn Vật liệu, hệ thống chuồng trại cũng

có nhiều thay đổi Trước kia sử dụng những vật liệu có sẵn trong tự nhiên như cây

gỗ, lợp mái bằng lá cây, rơm khô chủ yếu có chỗ cho trâu tránh mưa nắng và gió rét Khi kinh tế khá hơn, đời sống ổn định hơn thì chuồng trâu được làm bằng sắt, bê tông kiên cố Trâu là loài vật chịu được gió rét kém nên những ngày đông người nông dân thường phải che chắn phía cửa chuồng Việc nhìn nhận vào những thay đổi trong hệ thống chuồng nuôi cũng phần nào đánh giá được đời sống kinh tế của từng

hộ dân cũng như sự thay đổi trong nhận thức của người dân

Chăn nuôi trâu nước ta có từ rất lâu, số lượng trâu biến động theo từng giai đoạn Thời kỳ chiến tranh đàn trâu bị suy giảm do bom đạn và chạy giặc Sau giải phóng đàn trâu nước ta là 2.669.604 con Đến năm 2003 đàn trâu cả nước đã tăng lên 2.834.000 con [Nguyễn Đức Thạc 2006: 16] Trâu đặc biệt được nuôi nhiều ở Trung

du Bắc bộ và Bắc Trung bộ hơn vì có nhiều chỗ chăn thả và ruộng nương hẹp, đường

đi vào ruộng khó khăn nên rất cần sức kéo của trâu Trâu là vật nuôi lớn và có vai trò quan trọng nên việc chăm sóc trâu là hết sức cần thiết Đảm bảo trâu luôn ăn no, béo khỏe là một trong những việc quan trọng của nhà nông Kẻ thù của trâu là ruồi, mòng, giận, ve, đỉa những động vật sống kí sinh và hút máu của trâu Người chăn nuôi thường tắm rửa kì cọ thường xuyên để trâu sạch sẽ và không còn giận, ve Đối với ruồi thì người nông dân nghĩ ra cách làm những cái vỉ để đập ruồi cho trâu Cái

vỉ được đan bằng tre và có gắn cán, mỗi khi đi chăn trâu, người chăn thường mang

Ngày đăng: 01/07/2023, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Agabâyli 1977: Nuôi trâu – Tô Du, Vũ Ngọc Tý dịch, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trâu
Tác giả: A.A. Agabâyli, Tô Du, Vũ Ngọc Tý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1977
3. Bộ Canh nông – Nha Quốc gia khuyến nông 1956: Cách dùng phân bón trong nghề nông, NXB Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách dùng phân bón trong ngh"ề" nông
Nhà XB: NXB Sài Gòn
4. Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền 1996: Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới
Tác giả: Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
5. Bùi Văn Vượng 2002: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam,NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
6. Bùi Văn Vượng 2010: Nghề chạm khắc đá, chạm khắc gỗ, làm trống Việt Nam – NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề chạm khắc đá, chạm khắc gỗ, làm trống Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2010
7. Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo 1995: Tục cưới hỏi, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục cưới hỏi
Tác giả: Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
8. Chevalier Jean, Alain Gheerbrant 1997 (Người dịch: Phạm Vĩnh Cư (chủ biên) và những người khác): Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường Viết Văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier Jean, Alain Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997
9. Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri 1993: Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội- Hà Nội
Năm: 1993
10. Đặng Vũ Cảnh Linh (chủ biên) 2010: Con người Việt Nam truyền thống những giá trị đối với sự phát triển, Viện nghiên cứu Truyền thống và Phát triển, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người Việt Nam truyền thống những giá trị đối với sự phát triển
Tác giả: Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: Viện nghiên cứu Truyền thống và Phát triển
Năm: 2010
13. Đinh Gia Khánh 1993: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1993
14. Đinh Khắc Thuần, Lê Việt Nga 2006: Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam: Sưu tập và tuyển dịch, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam: Sưu tập và tuyển dịch
Tác giả: Đinh Khắc Thuần, Lê Việt Nga
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2006
15. Đinh Trung Kiên 2009: Tìm hiểu văn minh Đông Nam Á, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn minh Đông Nam Á
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
16. Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Hoàng Thị Thiên Hương 2009: Nghề nuôi trâu, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nuôi trâu
Tác giả: Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Hoàng Thị Thiên Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
17. Đỗ Văn Minh (chủ biên) 2008: Almanach lịch sử- Văn hóa truyền thống Việt Nam, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Almanach lịch sử- Văn hóa truyền thống Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Minh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2008
18. E.B Tylor, Văn hóa nguyên thủy 2011 (Huyền Giang dịch), NXB Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nguyên thủy
Tác giả: E.B Tylor
Nhà XB: NXB Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội
Năm: 2011
19. Hà Văn Tấn 1994: Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1994
20. Hoàng Lương 2011: Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía bắc, NXB Thông tin và Truyền thống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía bắc
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thống
Năm: 2011
21. Hoàng Quốc Hải 2001: Văn hóa phong tục, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
22. Lê Ngọc Trà (tập hợp) 2003: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận
Tác giả: Lê Ngọc Trà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
23. Lê Văn Kỳ 1996: Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1996
w