1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT học triết lý âm dương trong đời sống văn hóa người việt

23 283 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 63,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, triết lý âm dương luôn gắn bó mật thiết và sâu sắc trong đời sống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Nó góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc và làm nên sức sống dẻo dai, bền bỉ, trường tồn cũng như những nét tính cách độc đáo của người Việt.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN

Chủ đề: T RIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA NGƯỜI VIỆT

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

Vị trí công tác:………

Đơn vị công tác:………

Hà Nội – 2020

Trang 2

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG

VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

2

1.3 Biến đổi trong quan niệm sống và trong đời sống văn hóa

2.2 Triết lý âm dương trong đời sống văn hóa người Việt 11

2.3 Vai trò của triết lý âm dương trong đời sống của người

Trang 3

MỞ ĐẦU

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, triết lý âm dương luôn gắn bó mật thiết và sâu sắctrong đời sống văn hoá của dân tộc Việt Nam Nó góp phần tạo nên bản sắc văn hóadân tộc và làm nên sức sống dẻo dai, bền bỉ, trường tồn cũng như những nét tính cách

độc đáo của người Việt.

Ngày nay, triết lý âm dương vẫn tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng ở nhiềulĩnh vực của đời sống như trong lĩnh vực kiến trúc và y học… Và gần đây, trên thịtrường xuất hiện ngày càng nhiều tài liệu, sách vở về “quy luật âm dương”, “tìm hiểunguyên tắc âm dương trong cuộc sống con người” Song, trong bối cảnh đất nước tađang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều điềutrong nhận thức và ứng xử của người Việt - vốn trước đây là ưu điểm, nay cũng đãbộc lộ những hạn chế Đó là từ trọng sự quân bình, đưa đến tư tưởng bình quân chủnghĩa và thái độ nước đôi theo kiểu: “hòa cả làng; dĩ hòa vi quý; chín bỏ làm mười”

Đó là bên cạnh sự linh hoạt, giỏi ứng phó là sự tùy tiện, đại khái, làm không đến nơiđến chốn, thờ ơ, vô trách nhiệm và hậu quả của nó là nhiều công trình dang dở, thiếuđồng bộ Tính lạc quan cũng nhiều khi đưa đến sự tự mãn, thiếu thực tế Vì vậy, bêncạnh việc nghiên cứu để thấy giá trị của triết lý âm dương, thì những hạn chế nêu trêncũng cần được nghiên cứu và có các giải pháp nhằm điều chỉnh cho phù hợp với yêucầu phát triển đất nước trong tình hình hiện nay Để những giá trị truyền thống tốt đẹpmãi được tôn vinh nhưng vẫn dung hòa với vẻ đẹp hiện đại trong mỗi nếp nghĩ, nếp

nhà của người Việt Đó là lý do mà em chọn đề tài “Triết lý âm dương trong đời sống văn hóa người Việt” làm đề tài tiểu luận.

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

1.1 Triết lý âm dương

Triết lý Âm dương là một phạm trù triết học Hai mặt âm dương ở trong một sựvật thống nhất, tức là bất cứ một sự vật nào trên thế giới đều có thể phân chia hai mặt

âm dương Ví dụ quyển sách, mặt trước là dương, mặt sau là âm; bên ngoài là dương,bên trong là âm Nếu như mở quyển sách ra, thì trang bên trong tiếp nhận ánh sáng làdương, mặt trước mặt sau lại trở thành âm [1, tr.278]

Cũng như thân thể con người, xuất phát từ phân biệt tính chất: nam là dương,

nữ là âm; xuất phát từ phân biệt trên thân thể: nửa thân trên là dương, nửa thân dưới làâm; bên ngoài là dương, nội tạng là âm; lưng là dương, bụng là âm; xương thịt cố định

là âm, khí huyết lưu động là dương Phần xương thịt đối ứng: xương là âm, thịt làdương Khí huyết đối ứng: huyết là âm, khí là dương, khí là thầy của huyết, thúc đẩyhuyết lưu hành Da thịt đối ứng: da là dương, thịt là âm Da lông đối ứng: da là âm,lông là dương Da không tồn tại, thì lông cũng không mọc được

Như vậy, là nói âm dương không phải cố định, nó có thể chuyển đổi theo điềukiện ngoại giới chuyển đổi Cho nên Lão Tử nói: “vạn vật phụ âm nhi bão dương”(Đạo đức kinh, Chương 12) - (muôn vật đội âm và bồng dương) Âm dương có thểchuyển đổi cho nhau, dựa vào nhau tồn tại Không có âm, dương không thể tồn tại;không có dương thì âm cũng không thể tồn tại Cũng giống như không có trời thìkhông có đất và ngược lại Đó là qui luật phát triển, biến đổi sự vật Âm dương haimặt mâu thuẫn đối lập, thống nhất, cái này mất đi (tiêu) cái kia lớn lên (trưởng); cáinày tiến, cái kia lui, cuối cùng ở trong trạng thái cân bằng mới có thể duy trì sự vậtbiến đổi phát triển bình thường

Triết lý Âm dương được trình bày một cách có hệ thống nhất ở trong KinhDịch, cuốn sách được coi là của Thánh nhân viết vì trong đó chứa đựng toàn bộ quiluật của vũ trụ, bao gồm cả Trời, Đất và Người Theo Kinh Dịch, lúc đầu, toàn bộ vũtrụ là một khối khí (gọi là Thái cực), trong sự vận động của nó sinh ra hai khí âm vàdương (gọi là lưỡng nghi) Âm dương tác động qua lại với nhau sinh ra thiếu âm, thái

âm, thiếu dương, thái dương (gọi là tứ tượng) Tứ tượng sinh ra bát quái (tám quẻ,

Trang 5

tương ứng với 8 yếu tố đầu tiên của vũ trụ: trời, đất, nước, lửa, sấm, gió, núi, đầm) Đây

là quan niệm duy vật sơ khai về thế giới Quan niệm này thể hiện những nội dung sau:

Trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại hai khí trái ngược nhau, đó làkhí âm và khí dương Vì vậy, trong vũ trụ, không có không có cái gì hoàn toàn âmhoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm Muốn xác định được

sự vật hoặc thuộc tính của sự vật là âm hay là dương, phải đặt sự vật hoặc thuộc tínhcủa nó trong một quan hệ nhất định

Hai khí âm dương có tác động qua lại, chuyển hoá cho nhau: âm cực sinhdương, dương cực sinh âm Chính sự tác động, chuyển hóa này làm cho sự vật luônvận động, phát triển Vì vậy, mọi sự thái quá về âm hay dương đều có hại, tốt nhất làđạt được trạng thái cân bằng, hài hòa âm dương

Khái niệm “âm dương” đối với một số người trong chúng ta ngày nay là mộtkhái niệm trừu tượng, mơ hồ thậm chí khó tin, nhưng vào thời xa xưa, triết lý âmdương có ý nghĩa rất cụ thể và thiết thực trong nhận thức của người Việt Ý nghĩa banđầu của chúng không phải cái gì khác mà chính là: “Mẹ cha - đất trời” Chính từ quanniệm âm dương với hai cặp đối lập gốc “mẹ - cha” và “đất trời” này, người xưa đã dầnsuy ra vô số những cặp đối lập phổ biến khác và hình thành nên một hệ thống họcthuyết gọi là triết lý âm dương Nội dung cơ bản của triết lý âm dương là mọi sự vật,hiện tượng đều là sự kết hợp và chuyển hóa lẫn nhau của hai mặt đối lập theo quy luật:

“Trong âm có dương, trong dương có âm; âm cực sinh dương, dương cực sinhâm” Triết lý âm dương, đến lượt nó lại là cơ sở cho sự nhận thức và hoạt động thựctiễn Do phát sinh từ nền văn hoá Nam Á - Bách Việt nên triết lý âm dương đã trởthành cơ sở hình thành tính cách người Việt sau này

Triết lí âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dânnông nghiệp về sự sinh sản của hoa màu và con người Từ hai cấp đối lập gốc “mẹ -cha” và “đất - trời” người xưa dần dần suy ra hàng loạt cặp đối lập như những thuộctính của âm dương Lối tư duy đó tạo nên ở người Đông Nam Á cổ đại một quan niêmlưỡng phân lưỡng hợp (= nhị nguyên) có phần chất phác và thô sơ về thế giới

Từ tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, trên cơ sở các cặp đối lập rõ nét, người ĐôngNam Á xưa hơn đã mở rộng dần ra để tìm cách xác lập bản chất âm dương cho nhữngkhái niệm, sự vật biệt lập Quá trình này chắc đã dẫn họ tời chỗ cảm nhận được tính

Trang 6

hai mặt của âm dương và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Có lẽ những ýniệm còn cô phần hồn nhiên và chất phác đó đã là tiền đề giúp cho tổ tiên người Hánphạm trù hóa và hệ thống hóa chúng thành triết lí âm dương dưới dạng như chúng ta

đã biết

Với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, văn minh của người Việt ra đời với nhữngđặc trưng điển hình của một nền văn hóa nông nghiệp, từ tư duy nhận thức đến ứngphó với tự nhiên và tổ chức đời sống Trong những điều kiện được tự nhiên ban tặng,

từ thời kỳ Đồ đá giữa, người Việt nguyên thủy đã thuần hóa được một số loại câytrồng như bầu, bí, đặc biệt là cây lúa nước, nguồn lương thực chủ đạo của cư dân nơiđây và cái nghề trồng lúa nước đã trở thành cơ sở để hình thành nên văn hóa ViệtNam, văn hóa nông nghiệp lúa nước

Với cư dân nông nghiệp, sinh sôi nảy nở là khát vọng lớn nhất, là điều kiện đểmùa màng được bội thu Và trong hoạt động thực tiễn, con người nhận thức đượcnhững gì tạo ra sự sinh sôi nảy nở, đó là sự giao hòa Trời - Đất, Mẹ - Cha, Đực - Cái,

Âm - Dương… Triết lý Âm - Dương ra đời trên cơ sở này và các mặt đối lập, sự hàihòa giữa chúng Đây là một lối nhận thức xuất phát từ ngay trong đời sống của ngườinông nghiệp, và nó là sản phẩm sáng tạo của người Việt nói riêng và văn hóa nôngnghiệp phương Nam nói chung

Nội dung cơ bản của Triết lý Âm - Dương là quy luật về thành tố Âm vàDương, trong Âm có Dương và trong Dương có Âm, xác định một yếu tố là Âm hayDương phải có tương quan cụ thể Bên cạnh quy luật về thành tố là quy luật về sựchuyển hóa của các thành tố, Âm - Dương chuyển hóa lẫn nhau, Âm cực sinh Dương

và Dương cực sinh Âm

Trên cơ sở nhận thức đó, tư duy của người Việt được hình thành, một lối tưduy lưỡng phân Người Việt nhìn vũ trụ trong một cấu trúc phân đôi, thống nhất củahai cặp đối lập Âm - Dương, Cao - Thấp, Núi và Nước, giống như thủy tổ của mình,Cha Lạc Long Quân (Nước), Mẹ Âu Cơ (Núi) Và trong thế giới tâm linh, họ thờ vật

tổ là Bò sát, Cá sấu, Chim và Cóc (con vật lưỡng cư, đủ âm, đủ dương)

Bởi lối tư duy này, tính cách hiền lành của người Việt được tạo ra bởi lối sốngquân bình: “Dĩ hòa vi quý”, người Việt nhìn cuộc sống rất lạc quan: “Trong họa cóphúc, trong rủi có may” bởi trong Âm có Dương, trong Dương có Âm và Âm - Dương

Trang 7

luôn chuyển hóa lẫn nhau Mọi ứng xử của người Việt mềm dẻo, dung hòa với tựnhiên cũng như với xã hội Tất cả góp thành những đặc trưng cơ bản của nền văn hóalúa nước linh hoạt, uyển chuyển “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” [2, tr.189].

1.2 Đời sống văn hóa người việt

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước nền văn hoá Việt Nam đã hìnhthành và phát triển Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ kiên cường, nhândân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắccộng đồng các dân tộc Việt Nam, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn củadân tộc Là kết quả giáo dục và tiếp thu tinh hoa của nền văn hoá thế giới Để khôngngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn khí phách, bảnlĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể nhữngyếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trongđời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình

thành nhân cách và lối sống của con người Đời sống văn hoá cơ sở là bộ phận cấu

thành quan trọng trong toàn bộ nền văn hoá Đời sống văn hoá cơ sở là nơi khơinguồn sáng tạo, đồng thời là nơi hưởng thụ các giá trị văn hoá của nhân dân Đời sốngvăn hoá cơ sở là nơi bảo tồn và phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, phong phú của vănhoá các dân tộc… Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là nền tảng, là bước đi ban đầu đểthực hiện thành công đường lối văn hoá của Đảng là xây dựng nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Thông qua hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ

sở mà các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến vớingười dân, được nhân dân thực hiện

Đời sống văn hóa là tổ hợp hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhữngnhu cầu vật chất và tinh thần của con người Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm chocon người tồn tại như một sinh thể Nhu cầu tinh thần thì giúp con người tồn tại nhưmột sinh thể xã hội, tức một nhân cách văn hóa Hai nhu cầu này xuất hiện ngay từbuổi bình minh của xã hội loài người và phát triển cùng với trình độ phát triển của xãhội Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống tinh thần xã hội, nhằm hướng tới

Trang 8

các giá trị cao cả của con người là hướng tới chân, thiện, mỹ Các hoạt động nhằm đápứng nhu cầu văn hóa của con người được gọi là hoạt động văn hóa

Sản phẩm văn hóa đến với công chúng phải thông qua các thiết chế văn hóa xãhội Thiết chế văn hóa xã hội bao gồm hoạt động lãnh đạo, quản lý văn hóa, các trungtâm văn hóa, nhà bảo tàng tòa báo nhà xuất bản… để chuyển tải các sản phẩm văn hóađến với mọi người trong xã hội

Từ những phân tích trên có thể quan niệm đời sống văn hóa ở cơ sở là là tổng thểcác hoạt động lưu giữ, bảo tồn, sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn hóa trong tổ chức

và hoạt động của cộng đồng xã hội

1.3 Biến đổi trong quan niệm sống và trong đời sống văn hóa người Việt

Sự biến đổi trong quan niệm sống của người Việt Nam ngày nay được thể hiệntrước hết ở sự biến đổi trong mục đích sống Trước đây người dân nước ta đượckhuyên là phải sống vì cộng đồng, sống cho cái ta Khi cần thiết phải biết hy sinh cáitôi cho cái tập thể Nhưng ngày nay người ta bắt đầu được sống cho cái tôi, thậm chítrong một số trường hợp người ta còn sống cho cái tôi nhiều hơn là cho cái ta Từ đóbắt đầu xuất hiện một tư tưởng cho rằng “sống là để hưởng thụ” Tất nhiên đây chỉ làmột trong nhiều mục đích sống của người dân Và ở mỗi tầng lớp thì cái tư tưởng nàyđược thể hiện ở mức độ khác nhau Ở ta, hiện tại vẫn còn có sự cách biệt giữa các tầnglớp xã hội, cho nên tư tưởng “sống để hưởng thụ” thực sự chỉ xuất hiện từ tầng lớptrung lưu trở lên Còn những tầng lớp dân nghèo mới chỉ dám nghĩ đến mục đích

“sống để tồn tại” Nhưng có thể nói, tư tưởng “sống để hưởng thụ” đang trở thành mộtmục tiêu phấn đấu của mọi tầng lớp xã hội Và nó được thể hiện thành nhiều đặc điểmkhác nhau của lối sống hiện đại Lối sống hiện đại đó có những đặc điểm như sau:Lối sống nhanh hậu công nghiệp Người ta cho rằng lối sống nhanh hậu côngnghiệp là ăn nhanh, đi nhanh, hành động nhanh, phù hợp với tốc độ của công nghệ caocủa thời siêu hiện đại Có thể nói đó là sự thay đổi về tốc độ sống Ta có thể thấy tốc

độ sống nhanh được thể hiện hàng ngày qua cách ăn, cách mặc Mốt thời trang đượccập nhật hàng ngày Các quán “ăn nhanh” xuất hiện ngày càng nhiều Tốc độ của cuộcsống có chiều hướng tăng lên nhanh hơn so với trước đây Tuy nhiên trong việc tiếp

Trang 9

thu lối sống nhanh của phương Tây, nhiều khi chúng ta mới chỉ tiếp thu cái bề mặtvăn hoá mà chưa tiếp thu được cái chiều sâu kinh tế - xã hội của lối sống đó Chính vìvậy mà lối sống nhanh ở Việt Nam mới chỉ thể hiện ở bề nổi chứ chưa có cơ sở bềnvững ở chiều sâu Các quán ăn nhanh nhiều khi thực chất chỉ là “quán của thức ănđược làm nhanh” (đúng với nghĩa của từ tiếng Anh “fast foods”) chứ không phải làquán để ăn nhanh Bởi lẽ người ta vào quán ăn nhanh nhưng lại ngồi lai rai hàng mấytiếng đồng hồ Các đôi nam nữ nhiều khi chọn quán ăn nhanh để ngồi tâm sự cả buổi.Mặt khác, tác phong ăn nhanh và sống nhanh vẫn chưa thực sự làm thay đổi được lốisống của con người nông nghiệp Việt Nam: thú ham muốn liên hoan ăn nhậu vẫnthịnh hành trong nhiều tầng lớp dân cư [3, tr.390].

Lối sống gia đình ít con Với mục đích sống cho cái tôi cá nhân, gia đình ngàynay cũng bắt đầu có xu hướng đi theo mô hình gia đình đơn thế hệ và hai thế hệ Concái có xu hướng thích sống độc lập, muốn xây dựng cuộc sống riêng sau khi lập giađình Trên thế giới, khi các quốc gia trở nên có học vấn hơn, đô thị hoá nhiều hơn vàđược thiết chế hoá hơn, hay nói một cách khái quát là khi các quốc gia đến gần vớitrình độ của một xã hội tri thức, thì tỷ lệ sinh sẽ nhanh chóng giảm xuống Hiện tạinước ta cũng đang đi theo xu hướng này Tư tưởng trọng nam khinh nữ trong việcsinh con đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Tuy nhiên, điều này chưađược thực hiện đồng đều trong mọi tầng lớp và mọi khu vực dân cư: khu vực nôngthôn vẫn có tình trạng đẻ nhiều để có con trai

Lối sống hiện đại còn là lối sống theo kiểu chủ nghĩa tiêu thụ Ngày nay, sự tiêuthụ không phải chỉ là để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt cần thiết của con người Mànhiều khi người ta tiêu thụ chỉ để thoả mãn một thú vui, thậm chí chính bản thân việcmua sắm được coi là một thú vui lớn nhất của con người hiện đại; hoặc người ta tiêuthụ chỉ để theo kịp với bước tiến của nhịp sống hiện đại Tâm lý này xuất hiện ở khắpnơi trên thế giới, kể cả ở giới trẻ và tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam

Có thể nói, lối sống hiện đại là một trong những vấn đề quan trọng của đời sốngvăn hoá Xây dựng một lối sống công dân lành mạnh, có trách nhiệm với xã hội, vì lợiích bản thân, nhưng cũng phải vì lợi ích của cả “gia đình, tập thể và xã hội” như Đảngchủ trương, sẽ là một nhiệm vụ quan trọng của nền văn hoá tiến tiến của chúng ta

Trang 10

Chương 2 TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

2.1 Triết lý âm dương trong tính cách và lối sống của người Việt

Triết lý âm dương có nguồn gốc từ vùng nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á

cổ đại Sau đó, tổ tiên người Hán tiếp thu và phát triển nó lên thành một quan niệm,một tư tưởng học thuật Người Việt thấm nhuần sâu sắc triết lý âm dương, thể hiện rất

rõ trong tính cách và lối sống của người Việt

Nhờ thấm nhuần sâu sắc tư tưởng triết lý âm dương mà người Việt Nam nắmrất vững hai qui luật của nó: “Trong âm có dương, trong dương có âm; âm cực sinhdương, dương cực sinh âm” Cho nên, không phải ngẫu nhiên trong kho tàng văn hoádân gian người Việt có rất nhiều câu chuyện kể, những câu tục ngữ đúc kết tư tưởngđời sống nhân dân như: “Trong rủi có may, “Trong hoạ có phúc”, “Người có lúc vinhlúc nhục”, “Sông có khúc đục khúc trong”, “Sướng lắm khổ nhiều”, “Trèo cao ngãđau”, “Yêu nhau lắm cắn nhau đau”, “Tham thì thâm”, “Bĩ cực thái lai”… Ngay trongcấu trúc câu tục ngữ, thành ngữ, thường là hình thức đối xứng; trong thơ có đối thanh,đối ý, đối hình; trong ca dao có những cặp hình tượng đối xứng mang tính chất vănhoá truyền thống như: rồng – phượng; loan – phượng; cá – chim; nước – lửa… Trongsinh hoạt hàng ngày, người Việt đặt tên cho những sự vật quen thuộc cũng theonguyên lý âm dương: ngói âm dương, cõi âm dương, chợ âm dương, tiền âm dương,ghép gỗ theo nguyên tắc âm dương… [4, tr.120]

Trong cơ cấu bữa ăn, người Việt cũng đã lựa chọn những món ăn thích hợp đểđiều hoà âm dương trong cơ thể nhằm nâng cao sức khoẻ hoặc để chữa bệnh Nguyêntắc âm dương ở đây được biểu thị hài hoà theo hình thức phân loại thức ăn “Nóng” và

“Lạnh” Về lương thực thực phẩm, những loại mang tính “nóng” như khoai mì, ngô,rượu… những loại thuộc tính “lạnh” như đậu phụ, đậu nành, đậu chao… Đối với cácloại rau dưa, rau có tính “nóng” là gừng, ớt, tỏi, cà rốt, rau thơm, loại rau có tính lạnh

là rau dền, măng, dưa leo, cà chua… Tương tự, các loại hoa quả như nhãn, vải, nho…thuộc tính “nóng” và chuối, dứa… thuộc tính “lạnh” Cũng vậy các loại thịt cá như:thịt dê, thịt chó, thịt gà, thịt bò, tôm, lươn… thuộc tính “nóng”, các loại thịt vịt, thịtthỏ, cá trèn, nghêu, ốc… thuộc tính “lạnh” Trên cơ sở phân loại thực phẩm như vậy,người ta khuyên người có “máu nóng” dùng thức ăn “lạnh” và ngược lại

Trang 11

Chính nhờ lối tư duy mang đậm tính chất âm dương và nhờ nắm vững hai quyluật của triết lý âm dương mà người dân nông nghiệp Việt Nam có được triết lí sốngquân bình.Với người Việt, quân bình âm dương vừa biểu hiện cho sự hoàn thiện, viên

mãn, mà “vuông tròn” là một biểu tượng “Vái trời cho đặng vuông tròn”,

“Ba vuông sánh với bảy tròn, đời cha vinh hiển, đời con sang giàu”, vừa được xemnhư là nguyên tắc ứng xử: “Đừng ăn quá miệng, đừng diện quá sang”, “Nhọn gãy,cứng nát”… Trong cuộc sống cố gắng không làm mất lòng ai, trong việc ở, cố gắngtạo nên sự hài hoà với môi trường thiên nhiên xung quanh Cũng chính từ triết lý quânbình âm dương này mà người Việt có lối sống lạc quan, yêu đời: “Không ai giàu ba

họ, không ai khó ba đời”, ứng xử linh hoạt và khả năng thích nghi cao: “Ăn theo thuở,

ở theo thì”

Ở người Việt Nam, “tư duy phân lưỡng hợp” bộc lộ rất đậm nét qua khuynhhướng “cặp đôi” ở khắp nơi, từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến nhữngthói quen hiện đại:

Trong khi trên thế giới, vật tổ của các dân tộc thường là một loài động vật cụthể (chim ưng, đại bang, chó sói, bò…) thì vật tổ của người Việt là một cặp đôi trừutưng Tiên - Rồng Những khái niệm truyền thuyết mang tính cặp đôi cũng gặp ở ngườiMường (chim Ây - cái Ứa), người Tày (Báo Luông - Slao Cái), người Thái (nàng Kè -tạo Cặp)… đó là những dấu vết của tư duy âm dương thời xa xưa

Ở Việt Nam, mọi thứ thường đi đôi từng cặp theo nguyên tắc âm dương hàihòa: ông Đồng - bà Cốt, đồng Cô - đồng Cậu, đồng Đức Ông - đồng Đức Bà… Khixin âm dương (= xin keo) thì hai đồng tiền phải một ngửa một sấp; ngói âm dương lợpnhà phải viên ngửa viên sấp; khi ghép gỗ thì phải một tấm có gờ lồi ra khớp với tấmkia có rãnh lõm vào… Lối tư duy âm dương khiến người Việt nói đến đất, núi liềnnghĩ ngay đến nước, nói đến cha liền nghĩ ngay tới mẹ: Công cha như núi Thái Sơn,nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Tổ quốc đối với người Việt Nam là một khối âm dương: đất nước Đất - Nước,Núi - Nước, Non - Nước, Lửa - Nước là những cặp khái niệm thường trực Ở TâyNguyên, phần lớn các địa danh đều bắt đầu bằng chư (= núi) và krông, dak (= sông,nước) Một thời, ở Tây Nguyên đã từng tồn tại các vương quốc của Vua Lửa (PơtaoPui) và Vua Nước (Pơtao la)

Ngày đăng: 06/08/2021, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w