1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dừa Trong Đời Sống Văn Hóa Người Việt Ở Bến Tre .Pdf

113 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dừa Trong Đời Sống Văn Hóa Người Việt Ở Bến Tre
Tác giả Vũ Thị Thảo
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Nhã
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  VŨ THỊ THẢO DỪA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT Ở BẾN TRE LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC MÃ NGÀNH 8229040 Thà[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VŨ THỊ THẢO

DỪA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

NGƯỜI VIỆT Ở BẾN TRE

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VŨ THỊ THẢO

DỪA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

NGƯỜI VIỆT Ở BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

MÃ NGÀNH: 8229040

MSSV: 19831064011 KHÓA: ĐỢT 01 / 2019 (K20A) GVHD: TS NGUYỄN NHÃ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Là một học viên gắn bó hơn hai năm với trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, được học tập, nâng cao hiểu biết ở ngành mà mình yêu thích khiến tôi vô cùng hạnh phúc và tự hào Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Các thầy, cô trong khoa Văn hóa học đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi qua những môn học

- Phòng Sau đại học, khoa Văn hóa học đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

- Người thầy và cũng là người hướng dẫn hết sức tận tình của tôi, tiến sĩ Nguyễn Nhã, trong suốt quá trình hoàn thành luận văn đã luôn đồng hành để chỉ bảo và góp ý cho tôi

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng để hoàn thành luận văn nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 10 năm 2021

Học viên Vũ Thị Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, trang web đều được trình bày trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

về sự cam đoan này

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

7 Bố cục luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 10

1.1 Khái niệm văn hóa, môi trường, mối quan hệ giữa văn hóa - môi trường và sinh thái văn hóa 10

1.1.1 Văn hóa 10

1.1.2 Môi trường 11

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường 12

1.1.4 Sinh thái văn hóa 14

1.2 Cơ sở hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre 16

1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 16

1.2.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội 18

1.2.3 Đặc điểm dân cư 21

1.2.4 Sự hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre 23

1.2.5 Vườn dừa Bến Tre, một sắc thái “văn minh miệt vườn” 25

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2: DỪA TRONG ĐỜI SỐNG SINH KẾ 33

2.1 Sinh kế trong vườn dừa 33

2.1.1 Nghề đào mương lên liếp 33

Trang 6

2.1.2 Nghề ươm giống trồng dừa 35

2.1.3 Nghề rửa dừa/sửa dừa/dọn dừa (vệ sinh dừa) 38

2.1.4 Nghề cưa dừa 40

2.1.5 Nghề phát vườn (làm cỏ vườn) 42

2.1.6 Nghề bồi bùn vườn dừa 44

2.1.7 Nghề giật dừa/leo dừa/bẻ dừa (thu hoạch dừa) 46

2.2 Sinh kế ở chợ dừa sông Thom 49

2.2.1 Nghề thương hồ 52

2.2.2 Nghề làm chỉ xơ dừa 55

2.2.3 Nghề lột vỏ dừa khô 56

2.2.4 Nghề sơ chế cơm dừa 59

Tiểu kết chương 2 63

CHƯƠNG 3: DỪA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA 65

3.1 Dừa trong đời sống vật chất 65

3.1.1 Cư trú và đi lại 65

3.1.2 Vật dụng sinh hoạt 71

3.1.3 Chất đốt 77

3.1.4 Ẩm thực 80

3.2 Dừa trong đời sống tinh thần 92

3.2.1 Vòng đời người 92

3.2.2 Dừa trong ngày Tết 96

3.2.3 Dừa trong tín ngưỡng thờ Trời, Phật 99

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ai đó đã nói rằng “có những vùng đất người ta không sinh ra và lớn lên nhưng

yêu đằm thắm bởi một lý do riêng tư nào đó” Bến Tre không phải là quê hương của

tác giả nhưng lại là vùng đất mà tác giả vô cùng yêu thương và gắn bó, đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong quá trình trưởng thành Lựa chọn đề tài như một lời cảm ơn và cũng là lời tạm biệt của tác giả với những con người hiền hậu sinh ra và lớn lên ở vùng đất tươi đẹp này, đó là lý do mang tính chủ quan của tác giả Còn lý do khách quan là tác giả muốn nhận diện được bản sắc riêng mang màu sắc đặc trưng Bến Tre,

nơi được mệnh danh là “quê dừa”, “xứ dừa”, “vương quốc dừa”, v.v với những câu thơ, bản nhạc đã đi vào lòng người như: “Thấy dừa thì nhớ Bến Tre/ Thấy bông

mía trắng nhớ quê Mỏ Cày; Bến Tre dừa ngọt sông dài/ Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh; Bến Tre nước ngọt lắm dừa/ Ruộng vườn màu mỡ biển thừa cá tôm; Bến Tre ruộng đất phì nhiêu/ Ở đây nhiều lúa lại nhiều dừa khô”, v.v Hoặc như trong bài

thơ “Dừa ơi” mà bao thế hệ học sinh đều thuộc nằm lòng, nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết: “Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ/ Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ/ Cứ mỗi chiều

nghe dừa reo trước gió/ Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?”… Dừa ơi dừa, người bao nhiêu tuổi?/ Mà lá tươi xanh mãi đến giờ?” Hay như bài hát mà ai cũng biết

mang tên “Dáng đứng Bến Tre” của nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý với những câu hát rợp bóng dừa: “Ai đứng như bóng dừa, tóc dài bay trong gió/ Có phải người còn đó, là

con gái của Bến Tre/… Ơi những cây dừa để lại cho ta bóng quê/ Ơi tóc ai dài để lại dáng đứng Bến Tre…”, v.v

Có thể nói, cây dừa đã đồng hành, gắn bó với người Bến Tre từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi, đã cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt, cùng kháng chiến, đã thủy chung tình nghĩa với người dân ba đảo dừa xanh trong suốt hàng trăm năm qua Vào những ngày lễ Tết hay những dịp cúng đình thì nhất định phải có trái dừa Dường như, không

có buổi sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội nào ở Bến Tre mà lại thiếu dừa Dừa đã trở thành

Trang 8

một phần không thể thiếu của người dân Bến Tre, là một bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa nơi đây

Với vai trò hết sức quan trọng của dừa như vậy, đặt vấn đề nghiên cứu về chúng ở góc độ lý luận là việc làm có ý nghĩa trong việc nhận diện bản sắc văn hóa của cư dân sống nơi vùng rừng dừa sông nước Bến Tre Công việc ấy là hết sức cần thiết, bởi nó giúp chúng ta nhận rõ cái chung trong cái riêng, cái riêng trong cái chung,

để từ đó hình dung được diện mạo phong phú, đa dạng của văn hóa cả nước qua sắc thái riêng của một vùng đất cụ thể, ở đây là xứ dừa Bến Tre

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài “Dừa trong đời sống văn hóa người Việt ở Bến Tre” đặt ra mục tiêu

khẳng định vai trò của dừa trong đời sống của cư dân Bến Tre, nhằm chứng minh cho

luận điểm không có gì là quá khi nhận định rằng có một nền “văn hóa dừa” thực sự

tồn tại ở Bến Tre, mang màu sắc đặc trưng Bến Tre không lẫn vào đâu được Bởi có

nhiều ý kiến cho rằng dùng cụm từ “văn hóa dừa” là rất cường điệu, không thuyết

phục và mang tính áp đặt, bởi vì khi nhắc đến Bến Tre cũng sẽ khiến người ta liên tưởng đến những loại trái cây mang tính đặc trưng như bưởi, sầu riêng, vậy cũng có

thể dùng những cụm từ như “văn hóa sầu riêng”, “văn hóa bưởi da xanh” cũng không

có gì là sai

Câu hỏi nghiên cứu: lý do tại sao cho đến tận ngày nay, Bến Tre vẫn bảo lưu

những nét văn hóa truyền thống liên quan đến cây dừa một cách mạnh mẽ như vậy? Tại sao chỉ cách có một cây cầu Rạch Miễu mà lại có sự tương phản về môi trường sống như vậy giữa Tiền Giang và Bến Tre, một bên là đô thị Mỹ Tho sầm uất, nhộn nhịp, lung linh về đêm, một bên là rừng dừa Bến Tre u tịch, trầm buồn, mênh mông bóng tối?

Giả thuyết nghiên cứu: phải chăng chính điều kiện địa lý tự nhiên bị bao bọc

bởi ba bề sóng nước, hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài (cầu Rạch Miễu mới được hoàn thành năm 2009), đã khiến nền văn hóa dường như ngưng đọng, ít biến động và thay đổi, con người nơi đây mang tâm tính hướng nội và có phần bảo thủ nên

Trang 9

vẫn giữ nguyên những hoạt động sinh kế và sinh hoạt gắn chặt với cây dừa cho đến tận ngày nay

3 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về Bến Tre, trước nay đã có nhiều công trình đề cập đến, từ lĩnh vực địa lý, lịch sử, chính trị, xã hội đến kinh tế, văn hóa, v.v từ các hội thảo, các chuyên luận, luận văn, luận án đến các bài báo, bài tham luận, v.v Tuy nhiên, các công trình này phần lớn đề cập đến những khía cạnh rất lớn, những lĩnh vực bao quát rất rộng ở Bến Tre mà dừa chỉ là một bộ phận chứ chưa đề cập một cách riêng rẽ, nhất quán về dừa như một đối tượng nghiên cứu chính Nếu có đề cập riêng về dừa thì cũng chỉ là một bài báo, một bài tham luận ngắn giới thiệu về dừa chứ không phải

là một công trình nghiên cứu vận dụng lý thuyết một cách chuyên sâu, nhất quán Căn

cứ vào những tư liệu mà chúng tôi có được, xin điểm qua những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

- Công trình nghiên cứu về tỉnh Bến Tre

1) Tỉnh Bến Tre trong Lịch sử Việt Nam từ năm 1757 đến năm 1945 (1971)

Nguyễn Duy Oanh: do mục đích làm sử học nên tác giả đã định hướng từ đầu “Chúng

tôi nghiêng về phần lịch sử, nhất là tiểu sử các danh nhân trong tỉnh, vì chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là một dịp để nhắc nhở và nhớ ơn các vị tiền nhân ấy” Trong

quyển sách này, tác giả chủ yếu nhấn mạnh về các phương diện lịch sử, cung cấp một cái nhìn khá toàn diện và chi tiết về tỉnh Bến Tre ở các mặt như: hình thể, nhân văn, lịch sử, hành chính, kinh tế, giáo dục, y tế, lịch sử về văn chương, nhân vật lịch sử, danh nhân trong tỉnh

2) Địa chí Bến Tre (2001) Thạch Phương & Đoàn Tứ (chủ biên): đây là một

công trình giới thiệu một cách hệ thống, bao quát và rành mạch về các đặc điểm tự nhiên, dân cư, lịch sử, kinh tế, văn hóa trong tỉnh Bến Tre Trong phần thứ tư, có một chương tác giả nói về văn hóa Bến Tre, cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát Những phân tích cụ thể và chi tiết về đặc điểm tự nhiên, xã hội, kinh tế, văn hóa

ở Bến Tre thật sự là những đóng góp quý báu mà công trình mang lại

Trang 10

3) Kiến Hòa (Bến Tre) xưa (2001) Huỳnh Minh: viết về lịch sử hình thành

và phát triển, đặc điểm về địa lý tự nhiên, các di tích lịch sử, nhân vật lịch sử và tín ngưỡng của con người vùng đất Bến Tre xưa

4) Văn hóa Dân gian Bến Tre (2014) Nguyễn Chí Bền: tác giả nghiên cứu

bốn hiện tượng: lễ hội ở đình làng, tục thờ cúng cá voi của cư dân các xã ven biển, hát sắc bùa ở Phú Lễ, truyện ông Ó

5) Tinh hoa Văn hóa Bến Tre (2012) Lư Hội & Xuân Quang: phác họa bức

tranh các giá trị văn hóa truyền thống là đình làng với những tín ngưỡng và lễ hội, nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực của Bến Tre như bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, bánh dừa Giồng Luông, v.v

6) Dừa trong Văn hóa Ẩm thực Bến Tre (2015) Lư Hội: khái quát về đất và

người Bến Tre, cây dừa Bến Tre, dừa trong sản phẩm làm bánh mứt, dừa với một số món canh, dừa trong chế biến món ăn

7) Văn học Dân gian Bến Tre (2015) Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên): giới

thiệu văn học dân gian Bến Tre, được tuyển chọn từ tài liệu sưu tầm điền dã về tục ngữ, ca dao, dân ca, câu đố, vè, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, v.v

- Công trình nghiên cứu về Nam Bộ có đề cập đến cây dừa:

1) Nhà ở Trang phục Ăn uống của các Dân tộc đồng bằng sông Cửu Long

(1993) Phan Thị Yến Tuyết: tóm tắt đôi nét về địa lý, môi sinh và lịch sử hình thành các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long Đặc điểm phong tục tập quán về trang phục, nhà cửa, ăn uống, và tín ngưỡng của người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm Có thể nói, công trình đề cập một cách toàn diện về văn hóa của các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt trong lĩnh vực ẩm thực, tín ngưỡng tác giả có đề cập đến vai trò rất quan trọng của quả dừa trong đời sống của tộc người Khmer, còn đối với tộc người Việt tác giả chỉ nói khái quát vai trò của nước cốt dừa trong các món bánh dân gian

Trang 11

2) Văn hóa Dân gian Nam Bộ những phác thảo (1997) Nguyễn Phương

Thảo: tuy viết về văn hóa dân gian Nam Bộ nhưng tác giả đã phác thảo khá chi tiết

về sự hình thành nghề làm vườn ở Bến Tre, trong đó nổi bật là bài viết “miệt vườn và

văn hóa miệt vườn Bến Tre”

3) Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (2014) Trần Ngọc Thêm & các

tác giả khác: công trình bao gồm những nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và những đặc trưng tính cách của người Việt vùng Tây Nam Bộ với những minh họa khá phong phú giúp người đọc hiểu được văn hóa của con người vùng đất này một cách rất hệ thống theo chủ thể, không gian, thời gian trên các lĩnh vực địa lý, kinh tế, lịch sử và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, văn hóa giao tiếp

và nghệ thuật, sự giao lưu, hòa nhập văn hóa của các tộc người, v.v Đặc biệt, trong phần văn hóa ứng xử với thực vật, mục văn hóa cây trái, tác giả đã chọn trái dừa là loại trái cây tiêu biểu nhất cho vùng Tây Nam Bộ, nhất là đối với Bến Tre, dừa được xem là biểu tượng cho nền văn hóa cây trái nơi đây

- Hội thảo khoa học liên quan tới cây dừa Bến Tre:

1) Cây dừa Việt Nam – Giá trị và Tiềm năng (2014) Võ Văn Sen & các tác

giả khác Kỷ yếu hội thảo: cuốn sách bao gồm 44 bài tham luận viết về ba chủ đề: cây dừa sinh thái và môi trường, cây dừa trong đời sống văn hóa, cây dừa trong đời sống kinh tế Mặc dù có 44 bài tham luận chia đều cho 3 chủ đề nhưng sự trùng lặp

về nội dung giữa các tác giả là rất nhiều, đặc biệt là phần cây dừa trong đời sống văn hóa Ngoài ra không gian về cây dừa được mở rộng ra nhiều tỉnh thành có trồng dừa khác trên cả nước, tạo nên một cái nhìn khái quát về cây dừa Việt Nam nói chung và cây dừa Bến Tre nói riêng Do cuốn sách tập hợp từ những bài viết riêng lẻ từ nhiều tác giả đến từ nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau nên có phần không nhất quán trong nội dung nhưng nếu nghiên cứu một cách có chọn lọc thì cuốn sách sẽ là nguồn tài liệu hữu ích cho những nghiên cứu liên quan đến văn hóa dừa và kinh tế dừa Cuốn sách là một nguồn tham khảo hữu ích nhưng cũng là một trở ngại vô cùng lớn cho đề

Trang 12

tài luận văn của tác giả, bởi dù là những bài viết riêng lẻ nhưng có nhiều tác giả tham gia viết về cùng một nội dung, chẳng hạn như đạo Dừa có 2 bài viết, du lịch vườn dừa ở Bến Tre có 2 bài viết, ẩm thực dừa Bến Tre thì có đến 3 bài viết, v.v Chính vì

lẽ đó nên cấu trúc chương 3 của luận văn viết về vai trò của dừa trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần sẽ cố gắng hết mức có thể nhằm tránh sự trùng lặp về nội dung đã được đề cập quá nhiều, quá chi tiết trong cuốn sách Kỷ yếu dừa này

- Luận văn ngành Văn hóa học liên quan tới cây dừa Bến Tre:

1) Văn hóa Làng nghề dừa ở Châu Thành – Bến Tre (2012) Trần Thị Kim

Ly Luận văn thạc sĩ: nghiên cứu về diện mạo, đặc điểm làng nghề dừa Cồn Phụng, vai trò của làng nghề dừa Cồn Phụng trong đời sống văn hóa

2) Đời sống văn hóa của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre (2015) Trần Thị

Ngọc Thoại Luận văn thạc sĩ: nghiên cứu về văn hóa mưu sinh của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre, bao gồm nghề làm vườn (nghề làm vườn dừa, nghề làm vườn cây ăn trái, nghề sản xuất cây giống và hoa kiểng), các nghề khác (nghề trồng lúa và hoa màu, nghề thủ công, nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề buôn bán) Ngoài ra luận văn còn nghiên cứu về các hoạt động của các cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre bao gồm văn hóa vật thể (ẩm thực, phục sức, cư trú, giao thông), văn hóa phi vật thể (tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lễ hội, văn học nghệ thuật) Đề tài của luận văn khá rộng, bao quát hết thảy các khía cạnh văn hóa chung chung của Bến Tre, trong đó những nét văn hóa liên quan đến cây dừa không phải đối tượng nghiên cứu của luận văn

Như vậy, một nghiên cứu chuyên sâu, nhất quán về dừa một cách có hệ thống

ở Nam Bộ nói chung và Bến Tre nói riêng cho đến nay vẫn còn thiếu Với luận văn này, chúng tôi hy vọng nghiên cứu của mình sẽ hữu ích vào việc nhận diện được nét văn hóa đặc trưng, không lẫn vào đâu được của cư dân xứ dừa Bến Tre

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: vai trò của cây dừa trong đời sống sinh kế và đời

sống văn hóa (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần)

* Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: Bến Tre, trong đó tập trung ở 4 huyện có diện tích trồng dừa lớn

nhất là Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam (nơi có dòng sông Thom là địa điểm tập kết, tiêu thụ dừa và các sản phẩm từ dừa lớn nhất khu vực Tây Nam Bộ)

- Chủ thể: tộc người Việt

- Thời gian: giai đoạn cận hiện đại từ thế kỷ XVII đến nay (giai đoạn hình

thành và phát triển văn hóa người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Bến Tre nói riêng)

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Để thực hiện luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

- Hướng tiếp cận liên ngành: đây là phương pháp tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực và sử dụng thành quả của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó xác định ngành nghiên cứu chính và các ngành khác bổ trợ Đối với luận văn này, khi sử dụng hướng tiếp cận liên ngành, chúng tôi xác định ngành Văn hóa học là ngành chính, các ngành khác bổ trợ gồm nhân học, văn học, địa lý, lịch sử, kinh tế, du lịch, nông nghiệp, v.v

- Phương pháp quan sát tham dự kết hợp trải nghiệm sống thực tế: đây là phương pháp đòi hỏi người nghiên cứu phải tiếp cận cộng đồng, thâm nhập vào môi trường, không gian sinh sống của họ để thấu hiểu đối tượng nghiên cứu, thu thập được nguồn tư liệu đáng tin cậy phục vụ nghiên cứu Áp dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành trực tiếp quan sát tham dự bằng cách tham gia vào các lễ hội như lễ hội dừa Bến Tre (2019), dịp cúng đình Phú Lễ ở Ba Tri (2019), đi thuyền trên sông Thom

Trang 14

tham quan các cơ sở chế biến dừa, các làng nghề thủ công truyền thống như làng nghề đan giỏ cọng dừa, ươm dừa giống ở cồn Ốc, xã Hưng Phong, làng nghề mỹ nghệ dừa

ở cồn Phụng, xã Tân Thạch Thêm vào đó, vào những năm về trước, tác giả đã có một khoảng thời gian sinh sống khá lâu trong một gia đình người dân địa phương sống bằng nghề thu mua dừa khô thuộc địa phận Sóc Sãi, Hàm Long, huyện Châu Thành,

đã sinh hoạt cùng ăn, cùng ở, cùng làm với cư dân địa phương nên có vốn hiểu biết khá tường tận về đối tượng nghiên cứu

Nguồn tư liệu:

Để thực hiện luận văn, chúng tôi tiến hành tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Trước hết là tham khảo các tài liệu lý luận của ngành Văn hóa học, Nhân học

và các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài đã được công

bố Các niên giám, số liệu thống kê, tài liệu sách báo liên quan đến đề tài từ các thư viện, trang web Từ đó chúng tôi chọn lọc để sử dụng làm minh chứng trong luận văn Ngoài ra, đề tài còn sử dụng nguồn tư liệu từ những quan sát thực tế và thực tiễn cuộc sống của cư dân nơi đây trong quá trình điền dã cũng như trong quá trình sinh sống của tác giả tại Bến Tre

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

- Về mặt khoa học: vận dụng lý thuyết sinh thái văn hóa để tìm hiểu sự thích

nghi, thích ứng của cộng đồng cư dân trong môi trường sinh thái rừng dừa sông nước

ở Bến Tre dựa vào những tri thức dân gian, tri thức bản địa trong việc sáng tạo nên những sắc thái văn hóa đặc trưng, đóng góp vào vốn tri thức văn hóa thống nhất trong

đa dạng ở Việt Nam

- Về mặt thực tiễn: trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay tình hình bão lũ,

hạn hán, xâm nhập mặn ngày càng diễn ra trầm trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là những tỉnh ven biển như Bến Tre thì sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất Việc hiểu được cư dân Bến Tre đã trân trọng cây dừa, đã tận dụng và đã ứng xử hợp tình hợp lý với cây dừa ra sao thì chúng ta sẽ tìm được cách để tinh thần ấy phát huy trong

Trang 15

bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, ở đây là việc sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn: nêu lên một số khái niệm về văn

hóa, môi trường, mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, lý thuyết sinh thái văn hóa

và cơ sở hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre

Chương 2: Dừa trong đời sống sinh kế: sinh kế trong vườn dừa (bao gồm việc

trồng, chăm sóc và thu hoạch dừa) và sinh kế ở chợ dừa sông Thom (thu mua và chế biến dừa)

Chương 3: Dừa trong đời sống văn hóa (dừa trong đời sống vật chất và dừa

trong đời sống tinh thần)

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm văn hóa, môi trường, mối quan hệ giữa văn hóa

- môi trường và sinh thái văn hóa

Khái niệm văn hóa của Tylor trong cuốn “Văn hóa Nguyên thủy” tuy ra đời

cách nay đã lâu (1871) nhưng là một khái niệm mang tính kinh điển và vẫn hữu dụng

trong nghiên cứu văn hóa: “một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ

thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác nhau và những tập quán khác nhau mà con người hoạch đắc với tư cách là thành viên xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 2018, tr.17) hay như định nghĩa văn hóa của Federico Mayor “văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” (Trần Ngọc Thêm, 2018, tr.18).

Tại Việt Nam, khái niệm văn hóa được tác giả Trần Ngọc Thêm phát biểu như

sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 2006, tr.25)

Đề tài luận văn nói về mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, nên tác giả lựa chọn khái niệm về văn hóa theo quan điểm nhân học, cho rằng văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, chịu sự tác động của môi trường tự nhiên, xã hội và tính cách dân tộc

Trang 17

ta, môi trường đó được con người quan niệm như là khách thể, con người hoàn toàn

có khả năng cấu trúc hóa, có thể tái tạo và kiến tạo môi trường theo ý muốn của mình Còn những xã hội ở những trình độ phát triển thấp mà chúng ta thường gọi một cách hời hợt là man dã, bán khai hay nguyên thủy thì lại có những suy nghĩ khác về môi trường theo thế giới quan hữu thần Trong những xã hội này, con người có cách nhìn

về thế giới xung quanh họ hoàn toàn khác so với những xã hội có trình độ phát triển

khoa học kỹ thuật cao Chẳng hạn trường hợp những xã hội theo thuyết “vạn vật hữu

linh”, họ không hề quan niệm những gì xung quanh họ (cỏ cây, đất nước, núi rừng,

sông biển, v.v ) là khác với họ Tất cả đều có linh hồn, giữa chúng và con người có

sự tương thông, kết nối mạnh mẽ, thậm chí có thể diễn ra quá trình giao tiếp Họ sẽ giải thích những nguyên nhân gây ra một hiện tượng không hay nào đó của môi trường (ví dụ như hạn hán, lốc xoáy, bão lụt, v.v ) theo cách của họ bằng một ngàn lẻ một cách chứ không phải theo sự đo đạt về khí quyển như các nhà khoa học của xã hội hiện đại chúng ta Chẳng hạn để lý giải cho một đợt hạn hán kéo dài, họ cho rằng Long vương bị say rượu, quên đi tưới nước cho nhân gian, ngược lại, nếu mưa bão thì cho rằng Long vương bị sổ mũi nên hắt hơi, v.v

Do quan niệm về môi trường khác nhau như vậy nên nhận thức, thái độ và hành vi của con người ở các nền văn hóa khác nhau cũng sẽ khác nhau Ở đây, tác

Trang 18

giả sử dụng quan niệm thứ hai về môi trường nhằm thể hiện mối quan hệ gắn kết, ứng

xử hợp tình hợp lý của con người với tự nhiên

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, tác giả Đào Duy Anh

đã nhận định như sau: “Cách sinh hoạt của con người, tức là văn hóa có mối quan hệ

mật thiết với điều kiện tự nhiên, cho nên nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, ta phải nghiên cứu hoàn cảnh tự nhiên của dân tộc ấy” (Đào Duy Anh, 2003, tr.14)

Tác giả Trần Quốc Vượng cũng nhận định: “Thiên nhiên Việt Nam là điểm

xuất phát của văn hóa Việt Nam Văn hóa là sự thích nghi và biến đổi Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự phản ứng và là sự trả lời của con người trước những thách đố của

tự nhiên” (Trần Quốc Vượng, 2008, tr.120)

Trong định nghĩa về văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm cũng đã nói lên mối

quan hệ giữa văn hóa và môi trường: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

(Trần Ngọc Thêm, 2006, tr.25)

* Văn hóa được quy định bởi môi trường

Trong các định nghĩa về văn hóa luôn có sự hiện diện của môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên từ lâu đã được xem là yếu tố có vai trò quyết định đến văn hóa, con người sống ở môi trường nào thì sẽ là sản phẩm của môi trường đó Quan điểm

này đã có từ thời Hy Lạp cổ đại gọi là “Quyết định luận môi trường” (Environmental

Determinism) Chẳng hạn, nhà y học người Hy Lạp Hippocrates đã giải thích sự khác biệt giữa vùng khí hậu nóng và lạnh đã dẫn đến sự khác biệt về thể chất và khí chất của con người, nhà triết học Aristotle cũng dựa vào yếu tố khí hậu để giải thích các quốc gia có thể chế chính trị vững chắc nhất là các quốc gia ở vùng khí hậu lạnh, các quốc gia có chính trị kém phát triển thường ở vùng khô, nóng Còn quan điểm của Thucydides, nhà sử gia Hy Lạp cho rằng sự khác nhau về vùng đất tạo nên sự khác

Trang 19

nhau về xã hội, các quốc gia ở các vùng đất khô cằn, con người có xu hướng hiếu chiến luôn xâm chiếm những vùng đất màu mỡ, v.v Tất cả các quan điểm về quyết định luận môi trường từ thời kỳ cổ đại cho đến nửa đầu thế kỷ 20 đều cho rằng môi trường tự nhiên là yếu tố quyết định, chi phối đời sống con người

Rõ ràng, không thể phủ nhận vai trò của môi trường trong việc hình thành văn hóa của con người Nhu cầu sinh tồn là nhu cầu căn bản nhất của con người, để sinh tồn con người phải ăn, mặc, ở, đó cũng là những quan hệ đầu tiên, trực tiếp của con người với môi trường Những mối quan hệ trong buổi sơ khai của loài người vẫn còn được nhận thấy trong văn hóa ăn, mặc, ở của con người ở xã hội ngày nay, chẳng hạn như nhà ở của người Eskimo vùng băng giá chắc chắn khác với nhà ở của người Ai Cập sa mạc, người Mông Cổ với nền văn hóa chăn nuôi du mục chắc chắn ăn thịt nhiều hơn người Việt Nam với nền nông nghiệp lúa nước, trang phục của con người vùng băng tuyết Tây Tạng sẽ khác với trang phục của con người vùng nắng nóng Ấn

Độ, v.v

Thêm vào đó, môi trường nào thì con người phải kiếm ăn theo cách tương ứng, những cư dân tại các hòn đảo chắc chắn phải kiếm ăn bằng nghề săn bắt cá, cư dân trên các thảo nguyên phải biết chăn nuôi, còn người sống trên những khu rừng thì kiếm ăn bằng săn bắn, hái lượm, v.v Quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất dần dần tạo thành những phương thức sản xuất nhất định, rồi phương thức sản xuất lại quy định văn hóa của xã hội ấy Có thể nói, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất

là hoạt động sống căn bản nhất của con người, quyết định sự hình thành và phát triển văn hóa của từng xã hội Như vậy, môi trường chính là yếu tố gián tiếp quy định sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa

Môi trường không chỉ tác động đến đời sống vật chất của con người mà còn tác động đến tâm trí, tư tưởng và đời sống tinh thần của con người Chẳng hạn, thiên đường của Tây Tạng được mô tả là ấm áp, hiển nhiên là vậy, bởi vì người Tây Tạng chịu lạnh quá nhiều cho nên họ sẽ muốn thiên đường đầy ắp mặt trời và ấm áp, nơi

họ có thể tắm mỗi ngày, còn địa ngục Tây Tạng thì băng giá cùng cực Ngược lại,

Trang 20

thiên đường của Ấn Độ thì mát mẻ, không khí trong lành bởi vì Ấn Độ đã chịu quá nhiều nóng bức, tất cả những gì tâm trí Ấn Độ hướng đến là một chút bóng râm và mát mẻ Cho nên thiên đường Ấn Độ luôn luôn tràn ngập gió mát và những cây to, to đến nỗi một ngàn chiếc xe bò có thể nghỉ ngơi dưới bóng cây Quan niệm cõi trời của

Ấn Độ là bóng râm và mát mẻ, còn địa ngục thì ngập tràn lửa

* Văn hóa tác động trở lại môi trường

Trên thế giới có nhiều nền văn hóa có thế ứng xử với môi trường tự nhiên khác nhau, nhưng có thể phân làm 2 loại chính như sau:

Loại thứ nhất luôn đối lập giữa văn hóa và tự nhiên, đề cao vai trò của con người, coi con người là trung tâm, có thể chế ngự, khắc chế tự nhiên, khai thác và tận dụng triệt để tự nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của con người, tiêu biểu như nạn tàn phá rừng và săn bắt động vật hoang dã ở nhiều nơi trên thế giới

Loại thứ hai không đặt văn hóa đối lập với tự nhiên, sống hòa hợp với tự nhiên,

ứng xử hợp tình hợp lý với tự nhiên, theo thuyết “vạn vật hữu linh” Nền văn hóa này

không chỉ sản sinh ra những hành vi, tư tưởng tôn trọng môi trường mà còn sản sinh

ra khối lượng kiến thức về môi trường rất đáng khâm phục mà chúng ta gọi là tri thức bản địa

1.1.4 Sinh thái văn hóa

Trong quá trình sinh tồn của mình, con người phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Theo quan điểm sinh thái văn hóa (cultural ecology) của nhà nhân học người Mỹ Julian Steward, các xã hội có kỹ thuật công nghệ càng thô sơ thì xã hội đó càng phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Bởi vì ở những xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật cao, con người đã một phần nào đó chinh phục được tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ theo

ý muốn của con người Trên bối cảnh sinh thái tự nhiên đó, con người phải trải nghiệm, tìm tòi, sáng tạo văn hóa cũng như kỹ năng sinh sống của cộng đồng mình dựa trên tâm lý và bản sắc văn hóa của dân tộc Từ những thành tựu văn hóa có được qua quá trình thích nghi với môi trường sinh thái tại chỗ, có thể hình thành nên những loại hình văn hóa như là một tập hợp những sắc thái văn hóa đặc trưng và tạo nên yếu

Trang 21

tố cốt lõi của nền văn hóa Qua nghiên cứu sinh thái văn hóa, người ta sẽ hiểu được cách con người sử dụng văn hóa để thích nghi với môi trường cụ thể ra sao Tất cả con người đều sống trong môi trường tự nhiên, thế giới họ có thể trải nghiệm thông qua các giác quan nhưng họ sẽ nhận thức nó dưới dạng dường như là quan trọng nhất cho nhu cầu thích nghi và bối cảnh văn hóa của họ

Tác giả Phan Thị Yến Tuyết đã phát biểu như sau:

“Sinh thái văn hóa là cách con người sử dụng văn hóa để thích nghi với môi

trường thiên nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ Hay nói cách khác sinh thái văn hóa của một tộc người chính là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, v.v trong đó con người phải thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên, bao gồm đất đai, sông suối, ao hồ, rừng núi, biển cả, cùng với hệ thống động, thực vật, điều kiện khí hậu và các tài nguyên thiên nhiên khác Thông qua sự nhận thức hợp lý

về môi trường tự nhiên, con người quyết định phương thức sản xuất, lựa chọn hình thức cư trú, hành vi ứng xử và khế ước nhất định đối với thế giới tự nhiên” (Phan Thị

Yến Tuyết, 2015, tr.5)

Trong lý thuyết sinh thái văn hóa, có một khía cạnh khá đặc biệt, đó là con người tồn tại được trong quá trình thích ứng với tự nhiên bằng những tri thức dân gian, tri thức bản địa mà họ cảm nhận và tích lũy, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, trở thành một phần trong văn hóa của họ, một trong những lĩnh vực mà các ngành khoa học xã hội rất quan tâm để hiểu được bối cảnh văn hóa tộc người và sự

tương tác giữa văn hóa với môi trường sinh thái mà con người tồn tại Đề tài “Dừa

trong đời sống văn hóa người Việt ở Bến Tre” sẽ vận dụng khía cạnh tri thức bản địa

của lý thuyết sinh thái văn hóa nhằm phản ánh rõ nét đặc trưng của đời sống cư dân vốn còn phụ thuộc rất nhiều vào cây dừa, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động sản xuất Với những vốn sống quý báu được tích lũy qua hàng thế hệ này, cư dân tại đây có thể thích nghi hữu hiệu với môi trường rừng dừa sông nước của mình

Trang 22

1.2 Cơ sở hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre

1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Bến Tre là 1 trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở hạ nguồn sông Mekong, có diện tích tự nhiên là 2.315km2 Bến Tre được hình thành bởi 3 cù lao lớn

là cù lao An Hóa (gồm huyện Châu Thành và huyện Bình Đại), cù lao Bảo (gồm thành phố Bến Tre, huyện Giồng Trôm và huyện Ba Tri), cù lao Minh (gồm huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày Nam và huyện Thạnh Phú) và do phù

sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ (sông Tiền dài 83km, sông Ba Lai 59km, sông Hàm Luông 71km, sông Cổ Chiên 82km) Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển là 65km Nhìn từ trên cao Bến Tre có hình dáng một tam giác cân với cạnh đáy là biển,

2 cạnh bên là 2 con sông lớn (sông Tiền và sông Cổ Chiên) Bến Tre là một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long hàng ngàn năm qua, là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành từ những cù lao riêng lẻ

do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền Những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao dần dần bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên diện mạo Bến Tre ngày nay

Bến Tre ba bề đều có sông nước bao bọc, với những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên) ngược về phía thượng nguồn sông Mekong và một hệ thống kênh, rạch chằng chịt (khoảng 6.000km) đan vào nhau như những mạch máu chảy khắp 3 dải cù lao, chở nặng phù sa bồi tụ tạo thành một lợi thế trong phát triển kinh tế sông và biển, kinh tế vườn, hình thành hệ thống tự nhiên về thủy lợi và giao thông thủy, thuận lợi trong việc trao đổi hàng hóa với các tỉnh lân cận

Có thể thấy rằng, ở một chừng mực nhất định, đặc điểm địa lý tự nhiên đã khiến cho Bến Tre khá cô lập với thế giới bên ngoài bởi ba bề đều là sông nước bao quanh, ngoài kia là biển cả, trong này thì hai bên là sông lớn, con người Bến Tre là

Trang 23

con người đất cù lao, thiên về hướng nội và có phần bảo thủ Nhưng điều kiện tự nhiên ấy, cũng tạo điều kiện cho con người bảo lưu những vốn văn hóa truyền thống của mình

Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Bến Tre (nguồn: Bảo tàng Bến Tre)

Đất đai Bến Tre có 4 nhóm chính như sau:

Nhóm đất cát: chiếm diện tích 14.248ha (6.4% diện tích toàn tỉnh) Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông Đất cát giồng có tính chất ít chua ở tầng mặt, nhưng chất hữu cơ

ít, nghèo dinh dưỡng và thiếu đạm Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao

Nhóm đất phù sa: có diện tích khá lớn 66.471ha (chiếm 26.9% diện tích toàn tỉnh) Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai ở Bến Tre Đất phù sa có thành phần chủ yếu là sét, thường hơi bị chua ở tầng mặt, càng xuống sâu lớp đất sét càng chuyển dần sang đất sét pha cát

Nhóm đất phèn: chiếm diện tích 15.127ha (tỷ lệ 6.74% diện tích toàn tỉnh), phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ cho đến vùng mặn Đất thường có tầng phèn sâu trên 50cm, rất khó cải tạo thành đất trồng cây

Trang 24

Nhóm đất nhiễm mặn: chiếm diện tích lớn nhất 96.739ha (tỷ lệ 43.11% diện tích toàn tỉnh), phân bố hầu hết ở các huyện ven biển như Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú và một phần các huyện tiếp giáp, tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn hàng năm, bị ngập thường xuyên do thủy triều, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp Tuy nhiên, ở những vùng nhiễm mặn thấp, vẫn phù hợp với việc trồng cây dừa (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001, tr.176-180)

Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 25oC - 28oC Tuy tiếp giáp với biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão vì nằm ngoài vĩ độ thấp Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam nên có 2 mùa rõ rệt Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250mm – 1.500mm, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Tuy nhiên, trở ngại đáng kể trong nông nghiệp là vào mùa gió chướng, nước biển thường xâm nhập sâu vào đất liền, nhất là những năm nước ở thượng nguồn đổ

về yếu, làm cho một số vùng bị nhiễm mặn, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001, tr.153-162)

1.2.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội

Tiến trình lịch sử của vùng đất Bến Tre vừa mang những nét chung, vừa mang những nét riêng của vùng Nam Bộ hơn ba trăm năm qua Trước khi có người đến nơi này lập nghiệp, Bến Tre cũng như cả vùng đồng bằng sông Cửu Long còn là vùng

sình lầy, hiểm trở như sự ghi chép của Chu Đạt Quan: “xa hơn tầm mắt chỉ toàn là

cỏ kê đầy rẫy, hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp thành bầy trong vùng này, tiếp

đó, nhiều con đường dốc bằng tre chạy dài hàng trăm lý, chỉ thấy toàn cây mây cao vút, cát vàng, lau sậy trắng” (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001, tr.24,25)

Sơ lược về tiến trình lịch sử của Bến Tre như sau:

Năm 1757, chúa Nguyễn bắt đầu sự cai trị của mình đối với vùng đất này Năm 1759, chúa Nguyễn ban bố lệnh lập làng

Trang 25

Năm 1779, vùng đất cù lao Bảo và cù lao Minh có tên là tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định

Năm 1780, dinh Long Hồ đổi tên thành trấn Vĩnh Thanh

Năm 1802, vua Gia Long đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định

Năm 1808, tổng Tân An được đổi thành huyện Tân An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh Huyện Tân An có 2 tổng là Tân Minh (cù lao Minh) và An Bảo (cù lao Bảo) với 135 thôn, trại

Năm 1823, huyện Tân An thăng thành phủ Hoằng An, thuộc trấn Vĩnh Thanh Năm 1832, Nam Kỳ chia thành 6 tỉnh, vùng đất Bến Tre là phủ Hoằng An nằm trong tỉnh Vĩnh Long

Năm 1837, phủ Hoằng An lại được chia thành 2 phủ: phủ Hoằng An và phủ Hoằng Đạo

Năm 1844, Thiệu Trị đổi tên phủ Hoằng Đạo thành phủ Hoằng Trị Vùng đất Bến Tre thuộc cả 2 phủ Hoằng An và phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long Cù lao An Hóa thuộc huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường

Năm 1867, sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp tiến hành tổ chức bộ máy cai trị thuộc địa, Nam Kỳ được chia thành 23 Sở tham biện Cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc Sở tham biện Bến Tre hạt Vĩnh Long, cù lao An Hóa thuộc Sở tham biện Kiến Hòa hạt Mỹ Tho

Ngày 1 tháng 1 năm 1900, toàn quyền Doumer cho áp dụng nghị định ký ngày

30 tháng 12 năm 1899 gọi các Sở tham biện là tỉnh, bắt đầu từ đó Bến Tre được gọi

là tỉnh, cù lao An Hóa lúc này vẫn thuộc tỉnh Mỹ Tho

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bến Tre được đổi tên là tỉnh Đồ Chiểu trong một thời gian ngắn

Năm 1948, do nhu cầu của việc chỉ đạo và tổ chức chiến đấu, Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ ra quyết định cắt cù lao An Hóa (thuộc tỉnh Mỹ Tho) sáp

Trang 26

nhập vào tỉnh Bến Tre để thành địa bàn thống nhất gồm 3 cù lao nằm kẹp giữa các con sông lớn: cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa Tỉnh Bến Tre được xác lập

kể từ đó

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bến Tre được giải phóng, trở thành 1 trong 13 tỉnh

ở đồng bằng sông Cửu Long với 8 huyện và 1 thành phố gồm: huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú, Chợ Lách và thành phố Bến Tre (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001, tr.24-34)

Tiến trình lịch sử của Bến Tre tạo nên một diện mạo riêng Tiến trình ấy có thể chia thành 3 thời kỳ: thời kỳ khai phá, thời kỳ chống giặc ngoại xâm Pháp, Mỹ và thời kỳ độc lập cùng nhân dân cả nước

Thời kỳ khai phá của người Việt ở Bến Tre bắt đầu từ thuở “mang gươm đi

mở cõi” và kết thúc vào lúc Pháp bắt đầu đánh chiếm đất Đồng Nai, Gia Định Khi

những lớp lưu dân đầu tiên đặt chân lên 3 dải cù lao này, thú dữ đầu tiên họ phải chống lại là cọp, kế đến là cá sấu, muỗi mòng, rắn rết, v.v Đất đai không phải như hiện nay mà là đất bùn nhão sình lầy, nhiều vùng mãi cho tới sau này vẫn là đất hoang

vu, thấp trũng Điều tra thực địa của Nguyễn Chí Bền ghi nhận như sau: “Mãi tới

1945 – 1954, Bàu Dơi ở xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm hãy còn là đất trũng, sình lầy Vùng xóm Dưa ở xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày mãi cho tới thập niên đầu của thế kỷ này còn hàng chục mẫu đất hoang vu với những cây vông lớn Và còn nhiều vùng sình lầy như thế trong các địa phương ở địa bàn toàn tỉnh” (Nguyễn Chí

Bền, 2014, tr.19) Có thể thấy rằng, đã sau hai trăm năm khai phá mà đất đai còn như vậy thì khi mới đặt chân lên vùng đất này, người Việt phải đổ biết bao mồ hôi công sức cho sự trù phú của Bến Tre ngày nay

Khi thôn xóm đã định hình, đất đai đã được khai phá về căn bản thì thực dân Pháp tràn vào xâm lược Bàn tay của những người nông dân quen cầm phảng, cầm cuốc, cầm cày bừa lại phải cầm dao phay, giáo mác, xà beng, thậm chí cả rơm con cúi để đánh giặc ngoại xâm Lớp lớp những người con xứ dừa anh dũng đứng lên chống giặc nhưng do chưa có một đường lối đúng đắn nên hết thảy các cuộc khởi

Trang 27

nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Tòng, Tán Kế đều thất bại hoặc tan rã dù không thiếu ý chí can trường và lòng dũng cảm Kẻ bị bắt đi đày biệt xứ, người thì bị chặt đầu, ngã xuống oanh liệt nhưng không vì thế mà người dân Bến Tre nhụt chí, nản lòng trước họng súng của những kẻ xâm lược Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống yêu nước của quân và dân 3 dải cù lao như được tiếp thêm sức mạnh, phát triển cả về lượng và chất Trang sử của nhân dân Bến Tre được tô điểm

bằng những phong trào cách mạng với những người con anh dũng xứ dừa như “chín

năm đánh Pháp” (25/8/1945), “Đồng Khởi Bến Tre” (17/01/1960), rồi “Giải phóng miền Nam” (30/4/1975) với những anh hùng Nguyễn Văn Tư, Hoàng Lam, Tạ Thị

Kiều, Nguyễn Thị Định, v.v

Sau năm 1975, trên đống tro tàn của một vùng đất trải qua khói lửa bom đạn của ba mươi năm chiến tranh, người dân Bến Tre bắt tay vào xây dựng một quê hương giàu đẹp, trù phú với một màu xanh bạt ngàn Đặc biệt từ năm 2009, khi cầu Rạch Miễu nối đôi bờ sông Tiền được khánh thành, diện mạo Bến Tre ngày càng chuyển mình mạnh mẽ trong công cuộc hiện đại hóa cùng đất nước

1.2.3 Đặc điểm dân cư

Cư dân Bến Tre có nguồn gốc chủ yếu là lưu dân vùng đất Ngũ Quảng chuyển

cư vào đất Đồng Nai – Gia Định, tuy không ồ ạt nhưng tương đối liên tục và đều đặn Trong thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19, số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng di chuyển về Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long Về tốc độ cũng như số lượng các luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế Luồng thứ hai đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt hai bên bờ sông, hoặc dọc theo các con kênh, rạch (Thạch Phương

& Đoàn Tứ, 2001, tr.244)

Tuy vào đầu thế kỷ 19, con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, nhưng lưu dân Bến Tre ít chuyển cư bằng con đường này, vì đường bộ lúc này

Trang 28

vừa hiểm trở, vừa hay xảy ra trộm cướp ở dọc đường, cho nên lưu dân đến Bến Tre bằng đường biển chiếm số lượng rất lớn Thường những cuộc di chuyển này được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa), v.v và theo trình tự người đi trước rước người đi sau, những lưu dân

tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau Cũng có những cuộc đi do nhà nước đứng

ra tổ chức hoặc do những người dân có vật lực ở vùng Ngũ Quảng chiêu mộ dân nghèo vào phương Nam lập nghiệp Đồng thời cũng có những người di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre bằng ghe bầu, định cư ở những vùng ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001, tr.244-247)

Như vậy, bên cạnh đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lột của nhà Nguyễn, đi vào vùng đất mới

để mong sự đổi đời khá hơn, tốt hơn so với quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có với động cơ muốn kinh doanh làm ăn lớn Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế nông nghiệp

Về thời điểm tới Bến Tre định cư của cư dân tại đây, trong hai năm 1983 –

1984, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát, thu được 261 gia phả thành văn và không thành văn, cho kết quả như sau:

- Số người định cư trước thế kỷ 18 chiếm 3.6%

- Số người định cư ở thế kỷ 18 chiếm 32.5%

- Số người định cư ở thế kỷ 19 chiếm 63.9%

Từ đó cho thấy, làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre tập trung nhất vào thế

kỷ 19, số lượng tăng lên gấp đôi của hai thế kỷ trước cộng lại, và qua cuộc khảo sát cũng xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng cư dân Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt ở phía Nam đèo Hải Vân trở vào (Thạch Phương & Đoàn Tứ, 2001, tr.247,248)

Trang 29

Tuy ở nhiều địa phương khác nhau, nhưng những người lưu dân trong quá trình đi tìm đất lành, đã hội tụ về 3 dải cù lao màu mỡ Tiếp nối truyền thống cha ông,

cư dân từ miền ngoài đến vùng đất mới mang theo trong người không chỉ lòng nhiệt huyết, tính phiêu lưu, mạo hiểm, kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, cây trồng vật nuôi

mà còn mang theo cả những nét đẹp văn hóa trong nghi lễ, phong tục tập quán, quan

hệ ứng xử, v.v đến vùng đất mới Tất cả những yếu tố đó đã hòa quyện với vùng đất mênh mông, đầy nguy hiểm nhưng rất trù phú đã tạo nên cá tính của cư dân nơi đây: bộc trực, cởi mở, phóng khoáng, gắn kết giao thoa với văn hóa bản địa tạo nên đặc trưng văn hóa của vùng đất cù lao ba bề sông nước bao quanh

1.2.4 Sự hình thành nghề trồng dừa ở Bến Tre

Bến Tre là một vùng đất vô cùng đặc biệt bởi khác với các địa phương còn lại trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, Bến Tre là đất cù lao, cuối sông, sát biển Toàn bộ địa hình là 3 cù lao bằng phẳng có độ cao trung bình từ 2m – 3m so với mực nước biển nên địa hình Bến Tre ngày xưa tính từ đầu nguồn trở xuống là phù sa trầm thủy ven sông

Thuở ban đầu khai phá, lưu dân Việt bám vào những vùng đất gò hoặc giồng làm đất đứng chân vì nơi này thỏa mãn những yêu cầu ban đầu cho dân đi khai phá,

có nước ngọt, cao ráo tránh được muỗi mòng, rắn rết, cá sấu, trồng được những loại hoa màu ngắn ngày để có cái ăn mà tồn tại Xung quanh giồng phần lớn là các cù lao ngập nước, nhiều nơi đất sình lầy thấp trũng, rừng rậm hoang vu, kênh rạch chằng chịt, thú dữ hoành hành, v.v Điều tra thực địa của Nguyễn Chí Bền viết như sau:

“làng Tân Định – tức xã Định Trung hiện nay có cọp, heo rừng, nai, chồn, làng Thới

Thuận nhiều rừng lắm cọp, heo rừng, tổng Hòa Quới, thú hoang có cọp, chồn”

(Nguyễn Chí Bền, 2014, tr.18) Đến tận ngày nay, những địa danh vẫn còn lưu lại như giồng ông Hổ, giồng Heo, rạch Đầu Trâu, rạch Cái Sấu, kênh Chẹt Sậy, bàu Dơi, bàu Sấu, đầm Liệt Địa, vàm Cá Mập, v.v chúng ta có thể hình dung được diện mạo ban đầu của 3 dải cù lao thời khai phá

Trang 30

Dần dà bằng kinh nghiệm, lưu dân khai phá đã tìm được những câu trả lời cho việc tổ chức cuộc sống của mình, họ nhận ra đất cù lao là đất phù sa, vùng đất ngập nước ven sông, ven kênh rạch là nơi lắng đọng phù sa, nơi đất đai màu mỡ nhất Tuy nhiên, đất phù sa lại không cao hơn mặt nước, dòng sông nơi đất cù lao này lại là dòng chảy theo chế độ bán nhật triều, ngày đêm có hai con nước rong, ròng Như vậy, con người có thể cải tạo vùng đất thấp trũng sình lầy ấy thành vùng đất trồng trọt được Với vốn văn hóa, kinh nghiệm tiềm ẩn trong tâm thức giúp lưu dân Việt chinh phục vùng đất ven sông ngập nước, nhưng sự sáng tạo thông minh lớn nhất của lưu dân là đào mương lên liếp Muốn có vườn phải đào một hệ thống kênh mương như

câu ca quen thuộc “lập vườn thì phải khai mương” Để có được hệ thống kênh mương

dẫn nước, nhiều thế hệ người Việt phải tốn biết bao nhiêu là mồ hôi, công sức Khi

đã thành một hệ thống kênh mương thì hệ thống giao thông thủy xuất hiện, tiện lợi

và dễ dàng Tuy nhiên, không phải ngay từ lúc đầu, người dân đã biến mảnh đất khai phá thành vườn ngay, bởi vì người Việt đến định cư ở đây đã không tránh khỏi việc hành động theo thói quen và kinh nghiệm truyền thống của người nông dân Bắc Bộ

và Trung Bộ là trồng lúa Theo điều tra thực địa của Nguyễn Phương Thảo: “Các bô

lão ở vùng Định Thủy (xứ Mỏ Cày) còn nhớ rằng khoảng đầu thế kỷ 20, vùng này còn trồng lúa nước, việc chuyển thành vườn dừa mới chỉ diễn ra hơn 50 năm nay”

(Nguyễn Phương Thảo, 1997, tr.50) Do điều kiện sinh hoạt thực tế đã giúp họ nhận

ra vùng đất này có lắm sông nhiều rạch và độ mặn dao động theo mùa nên rất thuận lợi cho việc lập vườn, trong đó họ lựa chọn cây dừa, một loại cây trồng đặc biệt thích nghi với vùng đất mặn, lợ làm cây trồng chủ lực Điều đó có thể thấy rằng, trong quá trình đối phó với tự nhiên và tận dụng đất đã diễn ra sự thay đổi nhận thức dẫn đến thay đổi hành động và lối sống của người dân Bến Tre Theo nhận định của tác giả

Trần Ngọc Thêm trong công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ: “Ở Tây

Nam Bộ - lần đầu tiên vườn tách ra khỏi ruộng, được khai thác trên quy mô lớn, chủ yếu là phạm vi tiểu vùng phù sa ngọt (ứng với miệt vườn và miệt cù lao theo tên gọi dân gian) Lần đầu tiên xuất hiện một nghề riêng tách khỏi nghề nông – đó là nghề

Trang 31

làm vườn, cùng với những kinh nghiệm, kỹ thuật và thành tựu riêng, tạo nên một cái

mà Sơn Nam gọi là văn minh miệt vườn” (Trần Ngọc Thêm, 2014, tr.393)

Chỉ trong vòng hai thế kỷ, từ những vùng đất hoang vu đầy thú dữ trên các cù lao ở hạ nguồn sông Cửu Long, Bến Tre đã trở thành trung tâm cây ăn trái ngon nổi tiếng trong cả nước và trong hàng trăm loại cây ăn trái thì cây dừa là loại cây tiêu biểu nhất của vùng đất này

Hình 1.2 Vườn dừa Bến Tre

(nguồn: Quốc Thi)

1.2.5 Vườn dừa Bến Tre, một sắc thái “văn minh miệt vườn”

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Sơn Nam, Tây Nam Bộ chính là nơi sản sinh ra

“văn minh miệt vườn” Có thể nói, vùng văn hóa này tuy sinh sau nhưng đã có những

biểu hiện hết sức độc đáo mang tính chất đặc thù của vùng đất lắm sông, nhiều rạch Vùng văn hóa miệt vườn gắn liền với sinh hoạt làm nông nghiệp, mà chủ yếu là trồng lúa nước và các loại cây ăn trái Có thể vì thế mà nhà nghiên cứu Sơn Nam cũng như các nhà nghiên cứu khác đều thống nhất rằng, nói đến Tây Nam Bộ là nói đến văn hóa miệt vườn mà chủ yếu là gắn với việc trồng trọt các loài cây ăn trái Ngay từ thuở

xa xưa, các loài cây ăn trái của vùng đất này đã trở nên nổi tiếng không chỉ trong vùng mà còn khắp cả nước Trong các loài cây đó, có lẽ cho trái lâu năm và có mối quan hệ gắn chặt với con người của vùng đất thì cây dừa là tiêu biểu hơn cả, đặc biệt

là Bến Tre, nơi có điều kiện thổ nhưỡng khá thuận lợi cho sự sinh sôi, phát triển của

Trang 32

cây dừa Bởi vậy cứ hễ nhắc đến Bến Tre, người ta luôn liên tưởng đến những vườn dừa bạt ngàn, trĩu quả, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách,

Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre thích hợp với cây dừa, bởi trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, sông ngòi Những vùng đất trũng thấp được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi xem tôm, cá Chính nhờ cách làm này mà diện tích dừa ở Bến Tre mỗi năm mỗi tăng dần Theo thống kê của Hiệp hội dừa Bến Tre từ năm 2000 đến năm

2018 cho thấy sản lượng và năng suất dừa không ngừng tăng trưởng theo từng năm Năm 2000, Bến Tre có 38.000ha dừa, sản lượng 232 triệu trái, năm 2010 là 52.000ha, sản lượng 420 triệu trái, năm 2018 là 72.000ha, sản lượng 600 triệu trái, chiếm gần 50% diện tích dừa trên cả nước Chính vì dẫn đầu cả nước về diện tích cũng như sản

lượng dừa nên Bến Tre được mệnh danh là “xứ dừa”, “quê dừa”, “vương quốc dừa”,

v.v

Tham khảo kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dừa trên trang web của Hiệp hội dừa Bến Tre có thể nhận định rằng cây dừa là một trong số ít các loại cây trồng có khả năng thích nghi cao và tồn tại được trong những điều kiện khắc nghiệt nhất của môi trường như khô hạn, lũ lụt, đất cát nghèo dinh dưỡng, nước mặn xâm nhập, bão

tố, v.v Điều kiện nhiệt độ tốt cho dừa sinh trưởng và phát triển dao động trong khoảng 24oC – 30oC, độ ẩm thích hợp từ 70% – 90%, nếu thấp hơn 60% dừa thường hay rụng trái non hay trái bị teo Dừa cần nhiều ánh sáng, trồng mật độ dày hay trồng dưới tán cây, dừa thiếu ánh sáng sẽ lâu cho trái và trái ít, cây vươn cao nhanh và mau cỗi Điều kiện khí hậu ở Bến Tre thích hợp cho dừa phát triển quanh năm, cho năng suất và chất lượng cao Cây dừa sống được trên nhiều loại đất khác nhau như đất cát, đất thịt, đất sét, v.v nhưng thích hợp nhất là đất phù sa và đất cát pha Đất trồng dừa phải thoáng khí và thoát nước tốt, tầng đất mặt canh tác phải có nhiều chất hữu cơ, từ mặt đất xuống độ sâu 0.8m trở lên càng tốt Đất có tầng canh tác mỏng thường nghèo dinh dưỡng, nên cần phải đầu tư nhiều cho khâu cải tạo đất và phân bón Đất thịt phù

Trang 33

sa có độ ẩm thích hợp và thoát nước tốt rất phù hợp cho dừa phát triển Cây dừa chịu được ngập theo thủy triều lên xuống trong vài tháng mùa lũ, khi bị ngập úng kéo dài, dừa sẽ bị thối rễ, rụng trái Do đó, muốn trồng được dừa ở vùng đất thấp trũng như Bến Tre, trước hết là phải lên liếp, tạo mặt bằng phù hợp để cây dừa phát triển tốt Ở đất có độ mặn 1o/oo (một phần ngàn), dừa phát triển rất tốt và cây dừa cũng chịu được mặn từ 4o/oo - 5o/oo theo con nước trong mấy tháng mùa khô Nếu nhiễm mặn thường xuyên hơn 5o/oo, tán dừa sẽ nhỏ lại, nếu độ mặn cao hơn nữa, dừa sẽ không có trái Cây dừa chịu được mặn với độ pH (độ chua) thích hợp nhất là từ 5 – 6, nếu độ pH dưới 5, tức là bị phèn nặng, dừa sẽ bị còi cọc do rễ phát triển kém

Từ những đặc điểm trên, có thể xác định chung là ở Bến Tre, khu vực trồng dừa thích hợp nhất là từ vùng nước lợ đến vùng nước ngọt và trên các dải đất giồng Tuy nhiên, Bến Tre có địa hình thấp trũng, hầu hết nằm dưới mực nước biển trung bình, các con sông chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông, đất đai bị ảnh hưởng mặn, chua, phèn, v.v Vì vậy, để khai thác có hiệu quả đất đai cần có sự cải tạo để phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây dừa Ngoại trừ những dải giồng cao ráo, còn lại những vùng đất ruộng, đất cồn bãi thấp trũng muốn lập vườn

trồng dừa, bắt buộc phải đào mương lên liếp (dân gian gọi là “lên bờ” hay “lên vườn”)

Cách làm này chỉ duy nhất có ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Bến Tre là một trong những nơi khởi xướng và từ đó khắp Lục tỉnh Nam Kỳ áp dụng theo

Việc đào mương lên liếp trồng dừa có thể nói là một trong những cách ứng xử độc đáo của người dân Bến Tre với tự nhiên và là giải pháp biến vùng rừng hoang đất trũng thành một môi trường lý tưởng cho cây dừa sinh sôi và phát triển, thuận lợi cho việc tưới tiêu, thu hoạch và nuôi tôm cá trong vườn dừa Việc lên liếp có tác dụng nâng cao tầng đất mặt, rửa phèn và nâng cao độ dày của tầng đất canh tác để tránh bị ngập úng trong mùa mưa Nhờ có hệ thống mương vườn cộng với chế độ bán nhật triều của sông rạch, người dân có thể lấy bùn đẫm nặng phù sa để vun bồi cho cây thêm xanh tốt Trước lúc nước ròng có một khoảng thời gian nước đứng, đấy là lúc phù sa lắng đọng lại dưới mương, còn khi con nước lớn, bao rác rưởi, sâu bọ sẽ bị

Trang 34

cuốn đi làm cho vườn dừa mỗi ngày thêm trù phú Đào mương lên liếp là công việc

vô cùng công phu, tốn nhiều thời gian và công sức, người ta phải đào nối các mương lại với nhau vào một cửa thông ra sông rạch và làm cống nơi cửa thông ấy cho nước

ra vào tự nhiên để rửa phèn, rửa mặn, lấy phù sa và đặc biệt có thể chủ động ngăn lũ, ngăn xâm nhập mặn hoặc trữ lại nước ngọt trong mùa khô hạn

Việc đào mương lên liếp còn cho thấy sự thông minh, sáng tạo của người dân

xứ dừa trong việc tận dụng môi trường sông nước để giảm nhẹ sức lao động Khi đào mương lên liếp trồng dừa người ta chủ ý đào sao cho các mương ăn thông với nhau

và chảy về hướng gần nhà nhất Đến kỳ thu hoạch dừa, người ta dựa vào địa hình sông nước, chế độ bán nhật triều và đặc tính nổi của dừa mà tìm ra cách vận chuyển dừa một cách nhẹ nhàng và hiệu quả, ít tốn công, mệt sức Khi bẻ dừa, người ta đẩy tất cả xuống mương, chờ lúc nước ròng dừa sẽ tự trôi về, chủ vườn chỉ việc vớt lên Nhiều khi không đợi đến lúc nước ròng, người ta cột 2 trái dừa lại với nhau (dân gian

gọi là “thẹo dừa”), dùng một sợi dây chuối khô quấn vào những cặp dừa, rồi lội xuống

mương kéo dừa về, công việc rất là nhẹ nhàng, thử tưởng tượng nếu phải gánh số lượng dừa lớn bằng đường trên bờ, công việc sẽ nặng nhọc, gian nan hơn rất nhiều

Có thể nói, lùa dừa về bến nhờ vào dòng chảy của sông là một nét đẹp trong lao động sản xuất mang tính đặc trưng không lẫn vào đâu được của người dân vùng rừng dừa sông nước Bến Tre

Hình 1.3 Hệ thống mương (nguồn: Bảo tàng Bến Tre)

Trang 35

*Quá trình hình thành một vườn dừa

Cách 1: Đắp mô trồng dừa trên ruộng đang trồng lúa

Khi có ý định trồng dừa trên đất trũng, đất ruộng, đất cồn bãi, việc trước tiên người ta phải đo đạc, tính toán kỹ lưỡng về cự ly, mật độ, rồi đánh dấu, sau đó đắp

mô ở những vị trí đã định Mô có đường kính khoảng 1m, tùy theo loại dừa và độ màu của đất, khoảng cách giữa các mô khoảng 7m – 8m là vừa đủ để dừa có thể phát triển tốt Giữa các mô dừa vẫn có thể trồng rau màu, trồng lúa cho đến khi dừa trưởng thành Từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6, cuốc giồng trồng dưa leo, cà tím, khoai lang

Từ tháng thứ 6 trở đi có thể trồng khoai hoặc ban giồng khoai xuống mà trồng lúa Khoảng chừng 3 – 4 năm sau, khi dừa sắp ra lưỡi mèo (búp hoa), người ta thôi trồng rau màu, trồng lúa mà đào các mương lấy đất đắp nối các mô dừa lại với nhau theo hàng dọc đã định, tạo thành bờ dừa Phù sa bồi tụ vào các mương mỗi năm cứ dày lên, người ta lấy phù sa đắp lên mô dừa Mô dừa mỗi năm mỗi cao, mỗi rộng hơn cho dừa đủ đất phát triển, theo năm tháng dần thành hình dáng của một vườn dừa

Hình 1.4 Mô dừa trên ruộng lúa (nguồn: Bảo tàng Bến Tre)

Trang 36

Cách 2: Đào mương lên liếp trồng dừa

Tùy theo độ cao tự nhiên của từng vùng đất và ý định của người chủ vườn mà ngay từ đầu khi lên liếp, người ta có thể lên liếp đơn hoặc liếp đôi Liếp đôi có bề ngang từ 9m – 10m, đủ khoảng cách để trồng 2 hàng dừa Liếp đơn có bề ngang 5m – 6m, đủ để trồng 1 hàng dừa Ở những vùng đất thấp, người ta phải bơm thêm bùn hoặc cát sông có nhiều phù sa để làm dày thêm tầng đất canh tác, đảm bảo mặt liếp cao hơn đỉnh lũ và không thể ngập mặn Mặt bờ nên làm phẳng, hoặc ở giữa hơi thấp một chút, nếu giữa bờ cao hơn hai bên, nước mưa sẽ rửa trôi lớp đất mặt giàu chất dinh dưỡng và phân bón Trên liếp trồng dừa thường trồng xen các loại cây ăn trái hoặc rau màu, tùy theo sinh thái của mỗi vùng mà chọn loại cây trồng xen thích hợp

* Trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa

Các vùng trồng dừa bị nước mặn xâm nhập, thường khó khăn về nước tưới vào mùa khô nên cần có những biện pháp phù hợp để đảm bảo độ ẩm đất thích hợp cho vườn dừa như nạo vét kênh mương hàng năm để tăng khả năng lưu thông nước

và đắp đập giữ nước tưới cho vườn dừa vào mùa khô, trồng xen canh các loại cây họ đậu, ớt, cà chua, v.v có khả năng che phủ để tăng khả năng giữ ẩm, hạn chế rửa trôi, xói mòn đất Việc trồng xen tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái cùng một lúc, mang lại hiệu quả kinh tế cao bởi vì phân bón, nước tưới cho các loại rau màu cũng chính là bón cho cây dừa

Nuôi tôm, cá dưới mương vườn dừa cũng là nét độc đáo, chỉ có ở vùng trồng dừa lên liếp Có hai cách nuôi: cách thứ nhất là tôm cá tự nhiên ngoài sông lớn đi theo con nước vào mương vườn dừa, chủ vườn chỉ việc bó chà (những nhánh cây nhỏ

bó lại) thả xuống mương và đắp bờ giữ nước cho tôm cá ở Cách thứ hai là thả tôm,

cá giống và đầu tư về thức ăn

Tính văn hóa cao của cư dân xứ dừa trong ứng xử với môi trường tự nhiên còn được thể hiện qua việc khai thác tài nguyên một cách hợp lý Đó là, mỗi năm vào lúc gần Tết, khi gió chướng bắt đầu về và khi con cá, con tôm trong mương vườn vừa đủ lớn, tát mương bắt tôm cá cũng là dịp nhà vườn bồi bùn lên bờ vườn cho đất phì

Trang 37

nhiêu, màu mỡ Không những vậy, tình làng nghĩa xóm cũng thêm phần bền chặt khi người ta chia con cá con tôm, cùng nhau hưởng lộc mà tự nhiên ban tặng

Hình 1.5 Bắt ốc dưới mương dừa

(nguồn: Quốc Thi) Ngày nay, đi trong rừng dừa không ai có thể hình dung được cái buổi mới trồng dừa Phải mất nhiều năm phù sa bồi tụ mới có thể biến những vùng đất thấp trũng, bùn nhão sình lầy thành vườn dừa xanh tốt Nhờ hệ thống mương mà phù sa

có thể vào tận mọi ngõ ngách của vườn Trước lúc nước ròng có một khoảng thời gian nước đứng, đấy là lúc phù sa lắng đọng lại trước khi nước rút ra để chuẩn bị cho chu kỳ mới Khi con nước lớn, bao rác rưởi, sâu bọ sẽ bị cuốn đi, nước ngọt thau chua rửa mặn làm cho vườn dừa mỗi ngày một xanh tốt Vì vậy, diện tích dừa ở Bến Tre mỗi năm mỗi tăng dần, có diện tích và sản lượng cao nhất nước, trở thành đặc sản nổi tiếng và là niềm tự hào của người dân Bến Tre

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Nội dung của chương 1 giải quyết phần cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, làm tiền đề cho chương 2 và chương 3 Trong phần cơ sở lý luận nêu khái niệm văn hóa, môi trường, mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, vận dụng lý thuyết sinh thái văn hóa của nhà nhân học Mỹ Julian Steward áp dụng vào mối quan hệ giữa cư dân Bến Tre với môi trường tự nhiên là rừng dừa Phần cơ sở thực tiễn đã giới thiệu khái quát về đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử - xã hội, dân cư của vùng đất Bến Tre có nhiều yếu tố thuận lợi cho sự sinh sôi và phát triển của cây dừa, tạo điều kiện tiên quyết cho sự hình thành vùng trồng dừa Bến Tre Ngoài ra, trong phần cơ sở thực tiễn

cũng đã giới thiệu vườn dừa Bến Tre, một sắc thái “văn minh miệt vườn”, trong đó

tiêu biểu nhất là công nghệ đào mương lên liếp để lập vườn, một trong những cách ứng xử thông minh, sáng tạo của người dân Bến Tre trong ứng xử với đất và nước ở nơi đây, vừa tận dụng mọi ích lợi của nước một cách tối đa, lại vừa đối phó rất hữu hiệu với những nhược điểm của đất vùng chua mặn để tận dụng nó trong việc trồng dừa, đưa Bến Tre trở thành vùng chuyên canh dừa với diện tích và sản lượng cao nhất

cả nước

Trang 39

CHƯƠNG 2: DỪA TRONG ĐỜI SỐNG SINH KẾ

2.1 Sinh kế trong vườn dừa

Lao động sản xuất là một thuộc tính rất quan trọng, nó quyết định diện mạo, bản chất và đặc điểm của mỗi nền văn hóa Chẳng hạn như cư dân sống trong vùng trồng lúa thì việc trồng, chăm sóc và thu hoạch các sản phẩm lúa gạo mang những sắc thái riêng Khác với vùng trồng lúa, cư dân vùng rừng dừa sông nước Bến Tre do hoàn cảnh sinh sống gắn với môi trường tự nhiên đặc biệt ở hạ nguồn sông Mekong,

đã lấy nghề trồng dừa và khai thác, chế biến các sản phẩm từ cây dừa là một trong những hoạt động sinh sống chủ yếu Bởi vậy, khi xem xét các hoạt động sản xuất mang tính đặc trưng này của cư dân sống trong vùng rừng dừa sông nước, chúng ta

sẽ nhận diện bản sắc văn hóa cũng như một số sắc thái “văn minh miệt vườn” của họ

thông qua hoạt động lao động sản xuất trong việc trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến dừa

Đi sâu tìm hiểu quá trình lao động sản xuất mang tính đặc trưng của cư dân sống trong vùng rừng dừa sông nước, chúng ta sẽ nhận diện đầy đủ diện mạo văn hóa của người dân Bến Tre thông qua một số ngành nghề độc đáo gắn liền với cây dừa

mà chỉ tồn tại ở vùng đất này từ ngày xưa cho đến tận ngày nay, tạo ra bản sắc “văn

hóa dừa” đậm đà, không lẫn vào đâu được

2.1.1 Nghề đào mương lên liếp

Ngày nay, việc đào mương lên liếp lập vườn đã dễ dàng và nhanh chóng hơn xưa rất nhiều do sự hỗ trợ của các phương tiện máy móc hiện đại như máy ủi, máy cày, xáng múc, v.v Tuy nhiên, do địa hình Bến Tre bị chia cắt, xẻ ngang xẻ dọc do

hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, các con đường dẫn vào sâu trong vùng trồng dừa hẻo lánh thường rất nhỏ hẹp, quanh co với hàng trăm cây cầu bắc ngang cộng với vô số những loại cây tạp hai bên đường khiến cho các phương tiện máy móc hiện đại to lớn rất khó hoặc không thể tiếp cận, nên hoạt động đào mương lên liếp thủ công ở Bến Tre ngày nay vẫn chưa bị mai một Thêm vào đó, cư dân vùng trồng dừa nơi đây có quan niệm rằng việc đào mương lên liếp bằng xáng múc không tốt bằng

Trang 40

việc đào mương bằng tay Qua những kinh nghiệm thực tế, họ nhận thấy việc lên liếp bằng máy khiến cho đất không tơi xốp, không giữ nước và hấp thu chất dinh dưỡng kém, khiến cho dừa sinh trưởng chậm, cho trái ít thậm chí là không ra trái Bởi những

lý do đó mà lên liếp thủ công vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của người trồng dừa, dù tốn thời gian, công sức và tiền bạc hơn rất nhiều so với việc sử dụng xáng múc hiện đại

Người làm nghề đào mương lên liếp là những lao động tự do thường tập hợp thành từng nhóm từ 5 – 7 người, nhóm nào đông có khi lên đến cả chục người Những người này thường là nam giới do tính chất của công việc rất là vất vả, nặng nhọc, đặc biệt những khu vực đất đai khô cứng thì việc đào sẽ mất nhiều công sức hơn Công việc nặng nhọc, mất sức là vậy nhưng cá biệt cũng có những người phụ nữ tham gia,

họ làm những công việc nhẹ nhàng hơn như căng dây cho thẳng hàng, xới đất hoặc đóng vai trò thợ nấu cơm của tốp thợ

Đào mương lên liếp là công việc vô cùng nhọc nhằn, mất rất nhiều thời gian bởi vì tất cả công việc đều phải thực hiện bằng tay nên ngoài yêu cầu có sức khỏe để chịu đựng mưa nắng thì người thợ còn phải có đức tính kiên trì, nhẫn nại Dụng cụ dùng để đào mương gọi là cây thuổng hay cây xuổng (giống chiếc xà beng), dùng để đào ở những khu vực đất khô cứng, còn ở những khu vực sình lầy, đất mềm nhão thì dụng cụ chuyên dụng là cây len (một dụng cụ chuyên xắn bùn, đất dẽo) được làm bằng sắt Tác giả từng nghe, ngày trước, những người thợ lớn tuổi lành nghề họ dùng cây len được làm bằng gỗ mù u truyền thống như cái cách mà cha ông ngày xưa sử dụng để khai mương lập vườn Họ rất quý trọng, coi những chiếc len như bảo bối để mưu sinh, bởi đặc tính của gỗ mù u là bền chắc, khi xắn vào đất rất nhẹ nhàng, không mất sức và càng sử dụng lâu thì nó càng sắc bén, nổi vân đen sáng bóng không như những cây len bằng sắt hiện đại vừa nặng vừa mau rỉ sét khi tiếp xúc với nước

Những người thợ đào mương rất chuyên nghiệp, thành thục, dù đào thủ công nhưng họ tạo nên những liếp vườn ngay hàng thẳng lối không thua kém gì việc đào bằng xáng múc, thậm chí còn đẹp hơn bởi có thể tạo ra những khúc mương quanh co,

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh. (2003). Việt Nam Văn hóa Sử cương. Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn hóa Sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
2. E.B. Tylor. (1871). Văn hóa Nguyên thủy. (Huyền Giang dịch). Hà Nội: Nxb Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nguyên thủy
Tác giả: E.B. Tylor
Nhà XB: Nxb Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 1871
3. Huỳnh Minh. (2001). Kiến Hòa (Bến Tre) xưa. Hà Nội: Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến Hòa (Bến Tre) xưa
Tác giả: Huỳnh Minh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
4. Lê Minh Tiến. (2020). Khái niệm Văn hóa trong Khoa học Xã hội. Hà Nội: Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm Văn hóa trong Khoa học Xã hội
Tác giả: Lê Minh Tiến
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2020
5. Lê Thông. (2006). Địa lý các tỉnh và đồng bằng sông Cửu Long. Hà Nội: Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các tỉnh và đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
6. Lư Hội & Xuân Quang. (2012). Tinh hoa văn hóa Bến Tre. Hà Nội: Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa văn hóa Bến Tre
Tác giả: Lư Hội, Xuân Quang
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
7. Lư Hội. (2015). Dừa trong văn hóa ẩm thực Bến Tre. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dừa trong văn hóa ẩm thực Bến Tre
Tác giả: Lư Hội
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2015
8. Ngô Đức Thịnh. (2010). Khám phá Ẩm thực Truyền thống Việt Nam. TP Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá Ẩm thực Truyền thống Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
9. Ngô Văn Lệ & các tác giả khác. (2014). Tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ trong tiến trình phát triển tộc người. TP Hồ Chí Minh: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ trong tiến trình phát triển tộc người
Tác giả: Ngô Văn Lệ, các tác giả khác
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
10. Ngô Văn Lệ & các tác giả khác. (2019). Hoạt động Thương hồ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – truyền thống và biến đổi. Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động Thương hồ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – truyền thống và biến đổi
Tác giả: Ngô Văn Lệ, các tác giả khác
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2019
11. Nguyễn Chí Bền. (2006). Văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
12. Nguyễn Chí Bền. (2014). Văn hóa dân gian Bến Tre. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Bến Tre
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2014
13. Nguyễn Duy Oanh. (1971). Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam từ năm 1757 đến năm 1945. TP. Hồ Chí Minh: Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam từ năm 1757 đến năm 1945
Tác giả: Nguyễn Duy Oanh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1971
14. Nguyễn Nghị & Nguyễn Thanh Long. (1902). Chuyên khảo về tỉnh Mỹ Tho. TP Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo về tỉnh Mỹ Tho
Tác giả: Nguyễn Nghị, Nguyễn Thanh Long
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1902
15. Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên). (2015). Văn học dân gian Bến Tre. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Bến Tre
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2015
16. Nguyễn Phương Thảo. (1997). Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo. Hà Nội: Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo
Tác giả: Nguyễn Phương Thảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
17. Phan Thị Yến Tuyết. (1993). Nhà ở trang phục ăn uống của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở trang phục ăn uống của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
18. Phan Thị Yến Tuyết. (2008). Văn hóa vùng miền Đông Nam Bộ và sự thích nghi với môi trường sinh thái. Đồng Nai: Kỷ yếu Hội thảo Vai trò của Văn hóa Dân gian trong quá trình phát triển miền Đông Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vùng miền Đông Nam Bộ và sự thích nghi với môi trường sinh thái
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Nhà XB: Đồng Nai
Năm: 2008
19. Phan Thị Yến Tuyết. (2014). Đời sống Xã hội – Kinh tế - Văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ. TP Hồ Chí Minh. Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống Xã hội – Kinh tế - Văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
20. Phan Thị Yến Tuyết. (2015). Văn hóa của cư dân miền Đông Nam Bộ - tiếp cận sinh thái văn hóa. Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của khoa Văn học và Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa của cư dân miền Đông Nam Bộ - tiếp cận sinh thái văn hóa
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Nhà XB: Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của khoa Văn học và Ngôn ngữ
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm