1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ghe xuồng trong đời sống văn hóa người việt ở đồng bằng sông cửu long

198 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ghe xuồng là một trong những nét văn hóa độc đáo của người Việt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.. Sở dĩ chúng tôi chọn ghe xuồng tại Đồng bằng sông Cửu Long để nghiên cứu do ghe xuồng ở đ

Trang 1

MỤC LỤC DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Cơ sở lý luận 10

8 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1 SINH THÁI VĂN HÓA VÀ GHE XUỒNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Ghe xuồng trong mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên 15

1.1.1 Khái quát về Đồng bằng sông Cửu Long 15

1.1.2 Địa lý cảnh quan và tập quán sử dụng ghe xuồng 17

1.2 Khái quát về ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long 30

1.2.1 Sơ lược về lịch sử ghe xuồng 30

1.2.2 Phân loại ghe xuồng 35

1.3 Phương thức lưu thông và kỹ thuật điều khiển ghe xuồng 51

1.3.1 Phương thức lưu thông 51

1.3.2 Kỹ thuật điều khiển 55

Chương 2 GHE XUỒNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT 2.1 Chế tác ghe xuồng 59

2.1.1 Nguyên vật liệu đóng ghe xuồng 59

Trang 2

2.1.2 Chế tác ghe xuồng 61

2.2 Chức năng của ghe xuồng 68

2.2.1 Chức năng chuyên chở 68

2.2.2 Chức năng đánh bắt 74

2.2.3 Chức năng thương mại 77

2.2.4 Chức năng cư trú 83

2.2.5 Chức năng phục vụ hoạt động du lịch 85

Chương 3 GHE XUỒNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT 3.1 Ghe xuồng trong tín ngưỡng dân gian 90

3.1.1 Những nghi thức trong quá trình đóng ghe xuồng 90

3.1.2 Kiêng kỵ trong chế tác và sử dụng ghe xuồng 93

3.1.3 Phong tục thờ cúng 96

3.2 Ghe xuồng trong văn học dân gian 102

3.2.1 Hình ảnh ghe xuồng trong thể loại ca dao, tục ngữ 103

3.2.2 Hình ảnh ghe xuồng trong thể loại câu đố 108

3.2.3 Hình ảnh ghe xuồng trong thể loại ca hát 109

3.2.4 Ghe xuồng như một biểu tượng văn hóa 111

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 130

Phụ lục 1: Biên bản phỏng vấn sâu 131

Phụ lục 2: Ghe xuồng trong thể loại ca dao, tục ngữ 170

Phụ lục 3: Ghe xuồng của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long 175 Phụ lục 4: Hình ảnh về ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long 177

Trang 3

DẪN LUẬN

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tại những vùng sinh thái sông nước, ghe xuồng là phương tiện mưu sinh, phương tiện đi lại từ xưa đến nay của con người Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất cực Nam của tổ quốc, môi sinh ở đây với hệ thống biển và sông rạch chằng chịt, nên đường thủy vẫn là phương thức

đi lại chủ yếu của cư dân nơi đây Đối với người Việt, tập quán sử dụng ghe xuồng đã có từ thời những đội hải binh của chúa Nguyễn vào tiếp ứng cho vương triều Lục Chân Lạp và những lưu dân Việt từ miền Trung vào đây khẩn hoang lập ấp Do Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sông nước nên ghe xuồng có rất nhiều chức năng và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của người Việt Ghe xuồng là một trong những nét văn hóa độc đáo của người Việt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Sở dĩ chúng tôi chọn ghe xuồng tại Đồng bằng sông Cửu Long để nghiên cứu do ghe xuồng ở đây là một phương tiện đa chức năng, là một trong những sắc thái độc đáo của văn hóa tộc người

Ngoài ra, chúng tôi cũng sinh ra và lớn lên tại Đồng bằng sông Cửu Long, vốn rất quen thuộc với đời sống trong vùng sinh thái sông nước tại đây nên việc nghiên cứu về ghe xuồng là một vấn đề chúng tôi tương đối am hiểu Hơn nữa do là một giảng viên của khoa Việt Nam học, sự hiểu biết về văn hóa của người Việt là lĩnh vực rất cần thiết để chúng tôi phục vụ trong công tác nghiên cứu và giảng dạy, vì vậy, tiếp cận vấn đề này luôn là mối quan tâm của chúng tôi

Trang 4

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trải qua hơn 300 năm khai phá, cho đến nay Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thay đổi về mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực giao thông, vận chuyển, đặc biệt là lưu thông bằng đường thủy Địa hình sông rạch chằng chịt với đủ loại dòng chảy đa dạng, phức tạp nên người Việt đã phải thích nghi bằng cách sáng tạo rất nhiều dạng ghe xuồng Ngày nay, xã hội phát triển, các loại cầu qua sông rạch nhiều hơn, đường bộ cũng phát triển nhanh và việc đi lại thuận lợi hơn nên dần dần việc lưu thông bằng đường thủy thu hẹp lại Hơn nữa, theo thời gian những ghe xuồng có tính năng tốt nhất mới tồn tại tới nay, còn những ghe xuồng không còn thích hợp đang bị mai một dần, nhiều loại ghe xuồng giờ đây chỉ còn được biết đến qua tên gọi Thế hệ cư dân sau này có thể sẽ không biết được sự phong phú cũng như vai trò của loại phương tiện giao thông này trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân vùng sông nước Cửu Long Cho nên, việc nghiên cứu về ghe xuồng, đặc biệt là ghe xuồng trong đời sống văn hóa của người Việt là điều cần thiết trong việc tìm hiểu, bảo tồn di sản văn hóa

Ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long rất đa dạng và phong phú Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, chức năng sử dụng cũng như phương thức hoạt động, ghe xuồng được chia thành nhiều loại khác nhau Việc tìm hiểu và nghiên cứu các loại ghe xuồng và chức năng của chúng cũng là vấn đề cần thiết trong thực tiễn

Sự đa dạng và phong phú của ghe xuồng cho thấy nó có một vị trí quan trọng trong đời sống của cư dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ghe xuồng vừa là loại phương tiện giao thông hữu hiệu, gắn bó mật thiết với cư dân vùng sông nước, vừa ẩn chứa bên trong những giá trị văn hóa

Trang 5

độc đáo Chính vì vậy, tìm hiểu về ghe xuồng cũng chính là góp phần tìm hiểu bản sắc văn hóa của cư dân vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long

Là học viên cao học ngành văn hóa học, chúng tôi nghĩ việc tiếp cận nghiên cứu những hình thái văn hóa của cư dân trên địa bàn này cũng là nhiệm vụ học tập của chúng tôi Vì vậy, bước đầu chúng tôi muốn nghiên cứu hình thái văn hóa ghe xuồng này

Tất cả những điều trên chính là mục đích nghiên cứu của tác giả

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Vùng đất Nam Bộ nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là vùng đất giàu tiềm năng, thiên nhiên đa dạng, phong phú, cư dân năng động sáng tạo Điều đó đã làm cho vùng này trở thành một nơi lý tưởng, thu hút cư dân nhiều nơi đến sinh sống cũng như thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về Nam Bộ cũng như Đồng bằng sông Cửu Long ít nhiều đều có nhắc đến hình ảnh của những chiếc ghe xuồng như một phần không thể thiếu của văn hóa sông nước nơi đây

Các công trình nghiên cứu về Nam Bộ nói chung thời Nguyễn thường được viết dưới hình thức biên khảo, dư địa chí gắn liền với lịch

sử khai khẩn vùng đất này như quyển “Phủ Biên tạp lục” (1776) của Lê

Quý Đôn, có lẽ đây là một trong những tài liệu sớm nhất trong nước đề

cập đến ghe xuồng của cư dân Đàng Trong; “Hoàng Việt nhất thống dư

địa chí” (1806) của Lê Quang Định viết vào đời Gia Long, đề cập đến

lịch sử văn hóa các tỉnh Nam Bộ; “Gia Định thành thông chí” (1820),

“Đại Nam nhất thống chí” (1865) (phần Lục tỉnh Nam kỳ) đã mô tả chi

Trang 6

tiết về địa lý, con người, phong tục tập quán của vùng Gia Định xưa, đặc biệt là các phương tiện đi lại bằng đường thủy ở Nam Bộ Đây là những công trình rất có giá trị về lịch sử, văn hóa vùng Nam Bộ để nghiên cứu về ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long

Khi thực dân Pháp chiếm Nam Bộ, để phục vụ cho việc quản lý và khai thác thuộc địa, chính quyền và các học giả Pháp đã thực hiện các chuyên khảo, các địa chí về các tỉnh Nam Bộ, trong đó có công trình liên

quan trực tiếp đến ghe xuồng là “Volliers de d’Indochine” (Ghe thuyền

Đông Dương) (1949) của T.B.Piétri

Từ năm 1954 đến năm 1975 có các công trình như “Cao Lãnh đến

năm 1954” (1963) của Trần Quang Hạo miêu tả đôi nét về đời sống trên

ghe xuồng của những người sống đời thương hồ Tác giả Huỳnh Minh

trong tác phẩm “Định Tường xưa và nay” (1966) đề cập đến ghe thuyền

trong trận đánh Rạch Gầm Xoài Mút do Quang Trung Nguyễn Huệ chỉ huy vào năm Giáp Thìn (1874) và những sinh hoạt hò đối đáp giữa

những người đi ghe trên sông vào những đêm trăng sáng Trong “Cà

Mau xưa và An Xuyên nay” (1972), tác giả Nguyễn Văn Lương còn đề

cập đến kinh nghiệm đoán con nước để việc đi lại bằng ghe xuồng được

dễ dàng Trong quyển “Thanh thư về tàu thuyền cận duyên miền Nam

Việt Nam” (Blue book of coastal vassels south Vietnam) do hải quân Mỹ

viết trong giai đoạn này nhằm phục vụ cho mục đích quân sự cũng đề cập đến ghe xuồng miền Nam

Do nội dung luận văn của chúng tôi tập trung nghiên cứu giai đoạn sau 1975 nên chúng tôi chủ yếu dựa vào những nguồn tài liệu, thư tịch

xuất bản sau 1975 như “Chợ Đệm quê tôi”(1985) của tác giả Nguyễn

Văn Trấn, công trình này đã đề cập sinh động đến một số khía cạnh của

Trang 7

ghe xuồng ở vùng quê Chợ Đệm, tỉnh Long An “Đồng bằng sông Cửu

Long nét sinh hoạt xưa” (1985) của Sơn Nam thể hiện dấu gạch nối giữa

truyền thống và hiện đại, thể hiện bức tranh chung về sinh hoạt của người dân Đồng bằng sông Cửu Long trong đó có hình ảnh ghe xuồng

“Cần Đước đất và người” (1988) do Nguyễn Văn Nam chủ biên đã đề

cập đến sự hình thành của nghề đi ghe, hoạt động của ghe xuồng và một

số loại ghe chuyên dùng ở vùng quê Cần Đước “Địa chí Long An”

(1989) có vài chi tiết viết về một số sinh hoạt của người dân trên sông nước có liên quan đến ghe xuồng Hình ảnh ghe xuồng còn được đề cập

trong quyển “Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long” (1990) của

nhóm tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường Trong

phần Sinh hoạt văn hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long đã kể ra tên gọi và

quy luật đi lại của nhiều loại ghe xuồng Công trình này còn đề cập đến các làng nghề thủ công, trong đó có các làng nghề đóng ghe xuồng Về

các làng nghề thủ công, trong công trình “Xóm nghề và nghề thủ công

truyền thống Nam Bộ” (2002) của Phan Thị Yến Tuyết (chủ biên) đã đề

cập đến một số làng ghề đóng ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trong công trình “Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long” (2003), Phan Thị Yến

Tuyết (chủ biên), tác giả viết về Vĩnh Long với ghe xuồng như là một

khía cạnh của văn hóa vật chất

Ghe xuồng còn thấy xuất hiện trong các sách địa chí như: “Địa chí

Bến Tre” (2001), “Địa chí An Giang” (2003) và “Địa chí Cần Thơ” (2003)

Ba tập sách “Nam Bộ đất và người” (tập 1, 2, 3 xuất bản năm

2004, 2005) của Hội khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều

bài viết liên quan đến ghe xuồng và văn hóa sông nước như: Chợ nổi –

Trang 8

nét đẹp văn hóa sông rạch của Trần Nam Tiến; Dấu ấn văn minh sông rạch trong các loại hình cư trú của các cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Thị Dung; Ghe xuồng Nam Bộ của Nguyễn Thành Lợi

Tuy nhiên, việc nghiên cứu ghe xuồng dưới góc độ văn hóa học, địa văn hóa vẫn là mảng đề tài vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Để

thực hiện luận văn “Ghe xuồng trong đời sống văn hóa người Việt ở

Đồng bằng sông Cửu Long”, ngoài nguồn tài liệu thư tịch chúng tôi đã đi

khảo sát, điền dã nhiều tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, phỏng vấn và thu thập nhiều thông tin, nhiều tư liệu mới để hoàn thành luận văn của mình Chúng tôi hy vọng phần tư liệu thông tin đóng góp của mình về ghe xuồng trong luận văn này sẽ góp một phần cho bức tranh chung về ghe xuồng ở Nam Bộ

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ghe xuồng trong đời sống văn hóa của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long Do không có điều kiện về thời gian, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu ghe xuồng của người Việt mà chưa thể khảo sát được ghe xuồng của các dân tộc khác như Khmer, Hoa, Chăm vốn là những dân tộc có loại ghe thuyền độc đáo

Cũng do điều kiện thời gian và kinh phí, chúng tôi không thể đi khảo sát hết một địa bàn rộng như Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là ghe, tàu, thuyền hoạt động trên biển tại các tỉnh như Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre nên chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi ghe xuồng trong sông rạch hoặc chỉ ra tới cửa sông lớn

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 9

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: giới hạn nghiên cứu trong phạm vi các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long Đôi khi chúng tôi cũng nghiên cứu một số nơi khác ở Nam Bộ để so sánh

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: giới hạn nghiên cứu từ năm

1975 đến nay Tuy nhiên, đôi khi chúng tôi cũng đề cập đến một số vấn đề trước 1975 để so sánh

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

5.1 Ý nghĩa khoa học:

Nghiên cứu, tìm hiểu ghe xuồng của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long góp phần tìm hiểu về góc độ văn hóa học, trong đó có những lý thuyết về văn hóa như: lý thuyết vùng văn hóa, lý thuyết địa văn hóa, lý thuyết về sinh thái văn hóa

5.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn góp phần bổ sung vào tài liệu nghiên cứu văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long

Ghe xuồng có dấu ấn quan trọng trong văn hóa sông nước Vì vậy, nghiên cứu về ghe xuồng còn góp phần giúp cho việc bảo tồn di sản văn hóa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu về ghe xuồng cũng là góp phần tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như tín ngưỡng, phong tục tập quán của cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long

Việc nghiên cứu ghe xuồng còn góp phần cung cấp tài liệu trong việc đề xuất chính sách cho vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng như cho công tác nghiên cứu, giảng dạy

Trang 10

và học tập tại các cơ quan chức năng, các viện nghiên cứu, các trường đại học

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng những phương pháp sau: phương pháp nghiên cứu liên ngành như ngành văn hóa học liên ngành với nhân học, xã hội học; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp quan sát tham dự; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu định tính

7 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Để tìm hiểu ghe xuồng của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc độ văn hóa học, chúng tôi dựa trên cơ sở các lý thuyết và

các khái niệm khoa học như Địa văn hóa, Vùng văn hóa, Sinh thái văn

hóa, Văn hóa vật chất, Văn hóa tinh thần

- Địa văn hóa: theo nghĩa hẹp, lý thuyết này nhìn nhận văn hóa

trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố địa lý Theo nghĩa rộng, văn hóa vừa là sản phẩm do ý thức chủ quan của con người sáng tạo ra đồng thời cũng vừa là kết quả của những nhân tố khách quan do các quy luật tự nhiên tương tác vào

- Vùng văn hóa: là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về địa

lý tự nhiên, có lịch sử lâu đời, các dân tộc sinh sống ở đó từ lâu, ngoài sắc thái văn hóa riêng của từng tộc người, giữa họ còn có quá trình giao lưu văn hóa với nhau nên giữa các dân tộc có một sự tương đồng về kinh tế, văn hóa, xã hội tạo thành đặc trưng chung của vùng văn hóa Đặc

Trang 11

trưng của vùng văn hóa này có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [Ngô Đức Thịnh (2004): 99]

- Sinh thái văn hóa: Julian Steaward (1902 – 1972) cho rằng sinh

thái văn hóa là sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa Nghiên cứu sinh thái văn hóa là phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trường của nó, mục đích tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất biến hóa bắt đầu từ sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa Vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường, trong đó thể hiện sự tương tác của môi trường văn hóa và sự tác động ngược lại của văn hóa tới cách con người tác động đến môi trường tự nhiên

- Văn hóa vật chất (còn được hiểu là văn hóa vật thể): bao gồm

toàn bộ những sản phẩm do con người tạo ra như nhà ở, trang phục, ẩm thực, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại Nghiên cứu văn hóa vật chất không chỉ về quá khứ, những yếu tố cổ truyền mà còn cả những yếu tố hiện đại để thấy được những sắc thái mới nảy sinh trên nền văn hóa cũ Văn hóa vật chất phản ánh sự thích nghi với thiên nhiên, môi trường sinh thái, văn hóa, phong tục tập quán của con người trong xã hội, cũng như phản ánh sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc

- Văn hóa tinh thần (còn được hiểu là văn hóa phi vật thể): gắn liền

với đời sống tôn giáo của con người, nó thể hiện các lý tưởng, tri thức, giá trị tâm linh và bảo đảm cho mối liên hệ của con người với Thượng đế Hiểu theo nghĩa rộng hơn, khái niệm văn hóa tinh thần được hiểu như là tổng thể kinh nghiệm tinh thần của nhân loại; là hoạt động trí óc và các kết quả của nó nhằm bảo đảm sự phát triển của con người với tư

Trang 12

cách là một thực thể có văn hóa Văn hóa tinh thần tồn tại dưới vô vàn hình thức khác nhau Đó là tập quán, các chuẩn mực, các khuôn mẫu ứng xử đã hình thành trong điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể; là các giá trị và các lý tưởng đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ, xã hội, chính trị và tư tưởng; là các ý niệm, các tri thức khoa học khác nhau Trong những nền văn hóa phát triển, các thành tố này biến thành các lĩnh vực hoạt động khác nhau và được thiết chế hóa trong đời sống xã hội một cách độc lập,

như đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, chính trị, khoa học, [Mai Văn Hai –

Mai Kiệm, 2003: 89]

Sự phân loại giữa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cũng chỉ mang tính chất tương đối vì văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần không thể tách biệt mà chúng có mối quan hệ hỗ tương, gắn bó với nhau Người ta chia ra hai khái niệm để tiện cho việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần dẫn luận, luận văn gồm các chương sau:

Chương một: Sinh thái văn hóa và ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long tập trung làm rõ điều kiện địa lý cảnh quan vùng sông nước

ảnh hưởng đến việc di chuyển, sinh hoạt bằng ghe xuồng của cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long Phần này còn cho thấy nguồn gốc, tính đa dạng của ghe xuồng cũng như kỹ thuật chế tác và ý nghĩa của các biểu tượng liên quan đến ghe xuồng

Chương hai: Ghe xuồng trong đời sống văn hóa vật chất của người Việt Chương này trình bày vai trò quan trọng của ghe xuồng dưới dạng

văn hóa vật chất như các hoạt động khai thác, đánh bắt, nghề thủ công

Trang 13

đóng ghe xuồng và những sinh hoạt hàng ngày của cư dân vùng sông nước

Chương ba: Ghe xuồng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Chương này đề cập đến tôn giáo tín ngưỡng liên quan đến ghe

xuồng, tục thờ cúng và những kiêng kỵ của người dân trong quá trình sử dụng ghe xuồng Chương này cũng khảo sát về ghe xuồng thể hiện trong các thể loại ca dao, tục ngữ, văn học dân gian Chương ba còn đề cập đến đặc điểm của ghe xuồng như một biểu tượng văn hóa của vùng sông nước

Kết luận: tổng kết “bức tranh” chung về ghe xuồng của người Việt

ở Đồng bằng sông Cửu Long Qua nghiên cứu, tác giả luận văn bước đầu nêu lên những kiến nghị và giải pháp để thực hiện việc bảo tồn những nét văn hóa độc đáo của loại hình này Qua phần này tác giả cũng mở ra những hướng phát triển tiếp theo của đề tài trong tương lai

Phụ lục có mười bản phỏng vấn sâu những người am hiểu về ghe

xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long và các hình ảnh minh họa liên quan đến đề tài

Trang 15

Chương 1

SINH THÁI VĂN HÓA VÀ GHE XUỒNG

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1 Ghe xuồng trong mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên

1.1.1 Khái quát về Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long bao gồm lớp phù sa mới được bồi đắp trên một lớp phù sa cổ, dưới cùng là một nền đá cứng Nền đá cứng này được hình thành khoảng bốn triệu năm trước Do vận động của vỏ trái đất, nền đá này bị nứt nẻ, đứt gãy nhiều lần làm cho nhiều vùng sụt lún nhưng có nhiều vùng trồi lên cao như rặng Bảy Núi, rặng Hà Tiên, đảo Phú Quốc và tạo ra vùng đất núi khoảng 1% diện tích đồng bằng Lớp phù sa cổ ở giữa, trải rộng trên nền đá, hình thành từ một triệu năm trước, dày hàng trăm mét, lớp dưới là sỏi, cát, trên là phù sa cổ có nguồn gốc sông Đôi nơi đất phù sa cổ còn lộ trên mặt đất như ở vùng Bảy Núi, Mộc Hóa, Đức Huệ chiếm khoảng 3% diện tích đồng bằng Lớp phù sa mới do sông Mê Kông mang lại, gồm nhiều đơn vị tạo thành: đê thiên nhiên, đồng ngập trũng, bưng lầy, đất giồng, đất phèn, đất mặn, đất than bùn, đất phù sa Diện tích đất Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 1% đất giồng, gần 1% đất than bùn, 17,5% đất mặn, 46%

đất phèn, 24% đất phù sa [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc

Đường, 1990: 13]

Đồng bằng sông Cửu Long về phía Đông có đồng bằng sông Đồng Nai thuộc miền Đông Nam Bộ Ở miền Đông này, sông Đồng Nai cùng

Trang 16

các chi lưu của nó là sông La Ngà, sông Sài Gòn tạo ra một đồng bằng phù sa khác nhỏ hẹp hơn Khu vực miền Đông phần lớn là những vùng thềm phù sa cổ sinh (thường gọi là vùng đất xám) và những cao nguyên đất đỏ Địa chất học chứng minh rằng những thềm phù sa cổ ở miền Đông có nguồn gốc sông, mà sông Đồng Nai thì không đủ sức tạo nên những thềm phù sa cao và rộng đến thế mà chính sông Cửu Long đã chảy qua miền này trong thời đại rất xa xưa và tạo nên các thềm phù sa cổ đó Về sau, do những biến động về địa lý miền Đông Nam Bộ được nâng lên đồng thời với sự sụt lún của vịnh biển bây giờ là châu thổ Nam Bộ, sông Cửu Long đã trượt dần xuống phía nam đến vị trí ngày nay

Về văn hóa bản địa, Nam Bộ là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời Qua các di chỉ khảo cổ học chúng ta thấy dấu vết của con người ở vùng đất này từ thời tiền sơ sử văn hóa và cư dân văn hóa Đồng Nai là

cư dân bản địa cách đây khoảng 4000 – 2500 năm trước Lớp người này phân bố khắp Nam Bộ và đặc biệt là ở Đông Nam Bộ – một vùng đệm giữa cao nguyên trung bộ và đồng bằng châu thổ sông Đồng Nai Theo các nhà khoa học, họ là chủ nhân và tổ tiên của cư dân bản địa hiện nay

Đến những thế kỷ đầu Công nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long

ra đời một nền văn hóa rực rỡ – văn hóa Óc Eo từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ XII Sự ra đời của nền văn hóa này đánh dấu một bước tiến có ý nghĩa quan trọng trong việc chinh phục Đồng bằng sông Cửu Long

Nhiều tài liệu khảo cổ học cho thấy văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa đa dạng, phong phú và phát triển ở trình độ cao Đến thế kỷ thứ VII sau Công nguyên, nền văn hóa này bắt đầu tàn lụi, nước Phù Nam dần dần suy vong, Chân Lạp thay thế Phù Nam Đồng bằng sông Cửu Long trở thành đất Thủy Chân Lạp Chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo

Trang 17

không còn và những công trình văn hóa Óc Eo của họ bị vùi lấp trong lòng đất Người Khmer cũng có mặt rải rác ở nơi này nơi khác nhất là trên vùng đất giồng ở Đồng bằng sông Cửu Long Từ thế kỷ thứ XVII, một lớp cư dân mới với một nền văn hóa mới đã đưa Đồng bằng sông Cửu Long đi vào một bước ngoặt quyết định Người Việt với kinh nghiệm hàng ngàn năm trồng lúa nước bắt đầu sự nghiệp khai khẩn Đồng bằng sông Cửu Long

Người Việt từ miền Trung vào Nam Bộ theo đường biển bằng ghe bầu do đường biển toàn rừng rậm Họ dừng lại ở những vùng đất ven sông nước ngọt để dễ sinh sống, dần dần làng xóm ven sông được mọc lên Phương tiện đi lại chủ yếu là ghe xuồng vì vùng Nam Bộ có rất nhiều sông rạch Cho tới nay dù giao thông đường bộ phát triển nhưng

do địa hình Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều kênh rạch, cù lao cộng với các nhà máy xay lúa, các lò gạch và các cơ sở sản xuất nằm ở ven sông nên để tránh hao phí thì việc đi lại, vận chuyển bằng ghe xuồng luôn thiết yếu

1.1.2 Địa lý cảnh quan và tập quán sử dụng ghe xuồng

Hiện nay Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích khoảng 40.000km2 bao gồm mười hai tỉnh và một thành phố trực thuộc trung

ương đó là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng

Tháp, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ

Trang 18

Hình 1: Bản đồ các tỉnh đồng bằng sông

Cửu Long

[www.angiang.gov.vn/tongquan/songrachtunhien]

Hiện dân số toàn vùng

đạt trên 16,755 triệu

người, trong đó: tỷ lệ nữ

giới chiếm 51,2%, tỷ lệ

dân số trong khu vực

thành thị là 18,17% Dân

số trong độ tuổi lao động

có việc làm thường xuyên

là 8.652.094 người, trong

đó khu vực I chiếm 63,8%,

khu vực II chiếm 11,5% và khu vực III chiếm 24,7%.1

Vị trí của Đồng bằng sông Cửu Long là bán đảo, ba mặt Đông, Tây, Nam của Đồng bằng sông Cửu Long đều giáp biển với chiều dài khoảng 700 km Lượng mưa hàng năm ở Đồng bằng sông Cửu Long giao động từ 1.500mm đến 2.500mm với lượng nước tương đương khoảng 150 tỷ khối

Thiên nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long thể hiện rõ tính chất nhiệt đới, gió mùa Ở vùng này ít có sự thay đổi nóng lạnh quá lớn, ít có bão lụt như ở vùng Bắc Bộ và Trung Bộ Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 270 C, số giờ nắng trung bình hàng năm vào loại cao nhất của cả nước Thời tiết ở đây chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

1 Theo Thống kê Lao động việc làm 2002 - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Trang 19

Hình 2: Sông Mê Kông chảy qua Trung Quốc, Lào, Campuchia, Việt

Nam

[ www.museodevietnam.com/imagene

s/tourmekong ]

Khoảng tháng 9, tháng 10 là

thời điểm nước dâng cao làm ngập

nhiều vùng ở Đồng bằng sông Cửu

Long Nước nổi một mặt gây thiệt hại

mùa màng, nhà cửa và ảnh hưởng lớn

đến sinh hoạt của người dân, mặt

khác nó cũng mang tới một lượng phù

sa màu mỡ bồi đắp cho những cánh

đồng lúa xanh tươi, góp phần làm cho

Đồng bằng sông Cửu Long trở thành

vựa lúa lớn nhất của cả nước và

trong khu vực Đông Nam Á

Đồng bằng sông Cửu Long có

hệ thống kênh rạch phong phú, nên

việc điều hòa nước và giao thông đường thủy rất thuận tiện Sông Cửu Long còn có tên gọi là sông Mê Kông, nó bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy qua Trung Quốc, Lào, Campuchia rồi đổ vào Nam Bộ Việt Nam qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Sông Tiền đổ ra biển qua các cửa: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu Sông Hậu đổ ra biển qua ba cửa: cửa Định An, cửa Tranh Đề và cửa Ba Thắc Tuy nhiên, hiện nay chỉ còn 8 cửa, do một cửa sông Cửu long đã được chắn làm cống đập ngăn nước mặn xâm nhập: cống đập Ba Lai

Trang 20

Hình 3: Hệ thống sông rạch ở đồng bằng sông

Cửu Long

[www.angiang.gov.vn/tongquan/songrach]

Sông Cửu Long có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt cho toàn vùng để phát triển nông nghiệp, đồng thời là tuyến thoát lũ chính của đồng bằng Tây Nam Bộ Sông Cửu Long là tuyến giao thông thủy cực kỳ quan trọng nối Đồng bằng sông Cửu Long với Nam Bộ, cả nước và quốc tế Hệ thống sông Vàm Cỏ gồm hai nhánh chính: Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ Campuchia chảy qua địa

phận Việt Nam ở Tây Ninh, chảy qua các thị trấn Gò Dầu, Bến Cầu, Đức Huệ, Bến Lức thuộc tỉnh Long An, hợp với sông Vàm Cỏ Tây ở Xoài Rạp rồi chảy ra biển Đông với tổng chiều dài 260 km Sông Vàm Cỏ Tây cũng bắt nguồn từ Campuchia chảy qua Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân An và hợp với sông Vàm Cỏ Đông ở Tân Trụ thuộc tỉnh Long An với chiều dài 148 km

Ngoài các sông lớn còn có một hệ thống rạch tự nhiên dày đặc ở khắp các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long Một số con rạch lớn như rạch Ông Chưởng, rạch Chắc Cà Đao, rạch Cái Cối, rạch Trà Tân, rạch Rầm, rạch Long Xuyên Những con rạch này đã góp phần quan trọng trong việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa, cấp thoát nước cho toàn khu vực

Trang 21

Bên cạnh những sông rạch tự nhiên, ở Đồng bằng sông Cửu Long còn có vô số các kênh nhân tạo lớn nhỏ, đáng kể nhất là kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế, kênh Vĩnh An, kênh Thần Nông, kênh Xáng

- Kênh Thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu)

được vua Gia Long giáng chỉ cho đào vào mùa xuân năm Mậu Dần (1818) Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển tại cửa Rạch Giá Để biểu dương công trạng của Nguyễn Văn Thoại, vua Gia Long đặt tên kênh là Thoại Hà và ban tên thay cho núi Sập là Thoại Sơn

“Đời Gia Long thập thất niên, Ông Bảo hộ Thoại phụng truyền chỉ sai

Đào kinh Lạc Dục rất dài, Ngang qua núi Sập trong ngoài giao thông

Rồi vừa một tháng nhơn công, Giáp vô Rạch Giá thương nông đều nhờ

Hườn thành hạng đạo tư cơ, Hoạ đồ với sớ chung tờ tâu dưng

Vua khen công khó nhọc nhằn

Cho tên núi Sập kêu rằng Thoại Sơn

Vinh như ông Thoại chi hơn, Danh tiếng không sờn nơi miệng người ta” 2

- Kênh Vĩnh Tế bắt đầu đào vào Rằm tháng Chạp năm Kỷ Mão

(1819) cũng do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy Kênh được thi công trong

2 [Nguyễn Hữu Hiệp 1999: “Kinh Thoại Hà và những ngộ nhận”, in trong Nam Bộ xưa và nay, NXB Tp HCM – Tạp chí Xưa và Nay, tr 99]

Trang 22

thời gian năm năm với chiều dài hơn 90km Kênh được hoàn thành cũng

do công rất lớn của phu nhân Thoại Ngọc Hầu Về lợi ích của kênh Vĩnh

Tế, trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có đoạn: “Từ đấy đường sông

thông, việc biên phòng và việc buôn bán hưởng lợi vô cùng” Năm 1835

vua Minh Mạng cho đúc Cửu Đỉnh để làm quốc bảo, hình kênh Vĩnh Tế cũng được chạm vào Cao Đỉnh

- Kênh Vĩnh An được đào vào năm 1843 để tạo ra trục giao thông

thủy nối liền Tân Châu và Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự, kinh tế chiến lược quan trọng của Đồng bằng sông Cửu Long Kênh dài 17km, rộng 30 mét và sâu 6 mét Do cửa đổ của kênh ra sông Hậu đúng vào chỗ giáp nước làm cho dòng chảy yếu, phù sa ứ đọng bồi đắp dòng kênh Mùa khô dòng kênh trở nên cạn kiệt

- Kênh Vàm Xáng được đào trong bốn năm từ năm 1914 đến năm

1918 Ban đầu kênh dài 9km, rộng 30 mét và sâu 6 mét nhưng do dòng chảy lớn nên cho đến nay kênh có độ rộng trên 100 mét, sâu 20 mét Kênh Vàm Xáng trở thành tuyến kênh quan trọng điều hòa lượng nước từ sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, tạo thành trục giao thông đường thủy nối liền hai con sông này giúp cho tàu thuyền đi lại dễ dàng

Với hệ thống sông rạch như vậy, qua thời gian cư dân Đồng bằng sông Cửu Long đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về việc tận dụng nguồn nước của các con sông nên việc đi lại dễ dàng Theo quy luật tự nhiên của dòng chảy nơi đây, các sông rạch mỗi ngày một lần nước đầy

và một lần nước sát Nước đầy còn gọi là nước lớn, nước sát còn gọi là

nước ròng Nếu nước bắt đầu lớn vào sáng sớm thì đến trưa nước sẽ lớn

đến mức cao nhất Sau đó nước bắt đầu hạ và đến tối thì ròng sát đến mức thấp nhất Con nước hôm sau cũng theo quy luật đó nhưng trễ hơn

Trang 23

một tiếng3 Vì vậy, ở Đồng bằng sông Cửu Long dù đi bất kỳ con rạch nào, hướng nào, ghe xuồng cũng có thể xuôi dòng, chỉ cần khi gặp nước ngược thì chờ lại con nước sau

Ở chỗ giao nhau giữa các con sông, nước không chảy còn gọi là chỗ giáp nước Ở đây phù sa bồi đắp tạo thành những chỗ cạn và là nơi neo đậu, nghỉ ngơi của các ghe xuồng chờ con nước sau, dần dần mọc

lên quán xá, chợ búa, mua bán tấp nập

Điều kiện tự nhiên sông nước liên quan đến đời sống, liên quan đến ghe xuồng thể hiện rõ trong phương ngữ của cư dân Đồng bằng sông

Cửu Long Liên quan đến dòng chảy và những vùng ứ đọng, ao hồ chúng

tôi đã làm bảng như sau4:

trên những kinh nghiệm cá nhân và trên cơ sở tham khảo hai công trình: [Nguyễn

Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990: Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long – Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội] và [Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền 2006: Văn hóa ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền Tây Nam Bộ – Luận

văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học, Trường ĐHKHXHVNV, TP HCM]

Trang 24

Bảng 1: Bảng giải thích thuật ngữ dòng chảy ở Nam Bộ

1 Kinh (kênh) Kinh có hai loại: kinh tự nhiên và kinh nhân tạo Kinh

nhân tạo được đào bằng tay hay bằng các phương tiện

máy móc hiện đại nên còn gọi là kinh xáng Kinh xáng

là kênh được đào bằng xáng Thường có 3 loại xáng:

Xáng cạp; Xáng múc; Xáng thổi

2 Rạch Là sông nhỏ tự nhiên, đổ vào sông lớn hơn như Rạch

Giá, Rạch Gầm Nơi rạch hay kênh đổ vào sông (cửa

sông) gọi là vàm; chỗ bắt đầu của con rạch gọi là ngọn

3 Xẻo Là rạch nhỏ tự nhiên: Xẻo Quýt ở Đồng Tháp, Xẻo Rô ở

Rạch Giá, Xẻo Me ở Sóc Trăng

4 Tắc Là đường nước nhỏ tự nhiên, lối đi tắt nối liền hai con

rạch hoặc hai con sông

5 Xép Là đường nước nhỏ, bao quanh một khu đất hẹp và dài

Xép bà Lý ở Long Xuyên

6 Chẹt Là chỗ hẹp của con rạch, con kênh, có cây lá mọc um

tùm Chẹt Sậy ở Bến Tre

7 Gãy Là khúc ngoặt gấp của dòng kênh Gãy Cờ Đen ở Đồng

Tháp Mười

8 Vàm Là nơi tiếp giáp giữa sông nhỏ và sông cái

9 Khém Là đường nước hẹp trong đồng

10 Rỏng Là rãnh nước nhỏ, lõm sâu

11 Rọc Là đường nước chảy ngắn, sâu, là con rạch nhỏ ngoằn

ngoèo, bắt nguồn từ một gò đất cao giữa đồng, chảy thẳng vào một cái lung ở phần đất thấp hơn

Trang 25

Bảng 2: Thuật ngữ liên quan đến ao hồ, vùng ứ động

1 Bàu Là đầm nước sâu tự nhiên, rộng lớn giữa đồng, mọc

nhiều cây cỏ, thường cạn nước vào mùa khô

2 Đìa Là ao được đào sâu ở giữa đồng để nhử cho cá tụ vào

Sau mùa lũ, đến mùa nắng, đồng ruộng cạn nước dần, cá trên đồng dồn xuống đìa rồi bị kẹt lại

3 Láng Vùng đất thấp khá rộng lớn, ngập nước quanh năm,

nhưng cạn Chỉ có xuồng nhỏ đi lại dễ dàng trong láng

Láng Sen ở Thốt Nốt, Cần Thơ

4 Hà lãng Như láng nhưng có diện tích nhỏ hơn và độ sâu cũng ít

hơn

5 Lung Là khoảng đất trũng sâu đọng nước tự nhiên không lớn

lắm ở giữa đồng, có nhiều cá

6 Búng Là khu đất tự nhiên nhiều bùn lầy, không sâu, mọc đầy

cỏ, là nơi ở và sinh đẻ của nhiều loại cá tôm

7 Biền Là dải đất cặp bờ, đọng nước dọc từ mé sông trở vào

đồng

8 Trấp Là khu đất trũng nhỏ, đọng nước, có nhiều cỏ

9 Dớn Là bãi cỏ sình lầy, đọng nước ở giữa đồng hoặc ven

rừng

10 Hói Là đường nước hay bàu nước cạn, không có cây cỏ

11 Sòng Là chỗ vét sâu cho nước đọng lại để tát hoặc chỗ trũng

sâu giữa đáy ao hồ, nơi nước rút xuống và đọng lại sau cùng

12 Phồn Là vũng sình để trâu nằm bùn cho mát và vùi mình để

Trang 26

trốn muỗi về đêm

13 Hầm Là ao nhỏ được đào quanh nhà để thả cá nuôi hay dự trữ

nước tưới

14 Gành Là vịnh nhỏ ở bờ biển

15 Gảnh Đất nhỏ tiếp giáp giữa giồng với đầm lầy hay ven biển

Gảnh Mù U, Gảnh Bà Hiền ở Bến Tre

16 Đụn Là gò cát cao gần bãi biển hoặc giữa đồng trống ở vùng

ven biển Ban đầu chỉ là một gò hơi nhô cao, qua thời gian ngày càng nổi cao, khi nào nổi cao thành dọc dài thì gọi là giồng

17 Giồng Có hai loại giồng cần phân biệt: Giồng cát ven biển là

một dải đất cát nhô cao do phù sa của các dòng sông bị tác động bởi sóng và gió biển mà bồi tụ nên theo hướng

thẳng góc với dòng chảy của sông; Giồng ven sông là

những dải đất dài, song song với hai bên bờ của sông Tiền, sông Hậu, do phù sa tràn bờ hàng năm cứ bồi đắp làm cho cao dần Đất ở giồng là đất cát pha thịt nên thích hợp cho việc trồng cây ăn trái

18 Là khu đất không lớn, nổi cao tự nhiên so với mặt đất

xung quanh

19 Cản Là đập ngăn nước

20 Là mô đất được đắp cao Những ụ còn có nghĩa ngược

lại là bãi đất thấp gần cửa sông hoặc cửa biển để kéo thuyền lên đóng sửa hoặc phần đất ăn sâu vào bờ để làm nơi đậu tàu thuyền

21 Giáp nước Là nơi gặp nhau của hai dòng thủy triều trên một dòng

kênh, dòng sông Phù sa thường đọng lại rất nhiều tại

Trang 27

chỗ này, lâu ngày nổi cao lên thành cồn, bãi

22 Cồn Là đảo nhỏ nổi giữa sông lớn, do phù sa lắng đọng dần

hình thành Sau khi chân vững, cồn phát triển thành cù lao

Những khái niệm liên quan đến con nước cũng được phân biệt rất cụ thể Chúng tôi cũng đã thử làm bảng kê và nhận thấy có đến 25 thuật ngữ để chỉ trạng thái nước ở Đồng bằng sông Cửu Long

Bảng 3: Thuật ngữ chỉ trạng thái nước

1 Nước lớn Nước thủy triều lên theo chu kỳ hàng ngày

2 Nước ròng Nước thủy triều xuống theo chu kỳ hàng ngày

3 Nước đứng Con nước tạm đứng, không chảy vào thời điểm tiếp

giáp giữa con nước lớn và con nước ròng

4 Nước trồi Hiện tượng quan sát được dựa vào một vật nào đó

làm mốc lúc mực nước dần dần dâng cao khi thủy triều lên

5 Nước sụt Hiện tượng quan sát được dựa vào một vật nào đó

làm mốc lúc mực nước dần dần hạ thấp khi thủy triều xuống

6 Nước rông Nước thủy triều dâng cao hơn ngày thường do tác

động của mặt trăng và mặt trời vào các ngày 14,

15, 16 và 29, 30, mùng một âm lịch hàng tháng

7 Nước dềnh Hiện tượng nước dập dềnh đầy sông rạch lúc đỉnh

điểm khi thủy triều lên ở những ngày nước rông

Trang 28

8 Nước lửng Nước thủy triều dâng lên nhưng không đầy sông

rạch

9 Nước quay Thời điểm bắt đầu mùa nước lũ, nước mang phù sa

từ thượng nguồn sông Mêkông đổ xuống, trở nên đục, thường bắt đầu vào khoảng Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm

10 Nước đổ Vào mùa lũ chính, tháng 6,7,8 âm lịch hàng năm,

nước từ thượng nguồn sông Mêkông đổ xuống dồn dập, đẩy lùi các đợt triều cường hàng ngày, nước sông chỉ chảy một chiều ra hướng biển

11 Nước nổi Vào mùa lũ chính, nước tràn qua các bờ sông, vào

các kênh rạch Mực nước cứ dâng lên từng ngày một làm nhà cửa, ruộng vườn như dập dềnh trên

biển nước mênh mông Mùa nước nổi

12 Nước son Mùa nước nổi, nước mang rất nhiều phù sa, nên có

màu nâu đỏ Phù sa lắng lại thành loại đất gọi là

đất mỡ gà

13 Nước bò Mùa nước nổi, nước dâng lên hàng ngày Khi quan

sát các mặt phẳng như đường lộ, sân vườn, sân nhà, có cảm giác như nước đang bò lên từng chút một

14 Nước nhảy Những ngày lũ có nhiều mưa Mực nước dâng lên

rất nhanh

15 Nước chụp Nước lũ dâng cao bất ngờ, tràn bờ làm ngập thật

nhanh nhà cửa, ruộng vườn

16 Nước chửng Mực nước đã lên đến đỉnh điểm của mùa lũ, không

còn lên cao hơn nữa

17 Nước xoáy Nước cuốn tròn như chong chóng ở những chỗ ngã

Trang 29

ba sông, gây nguy hiểm cho ghe xuồng đi lại

18 Nước giựt Từ khoảng tháng 9 âm lịch, bắt đầu kết thúc mùa

mưa, mùa lũ cũng kết thúc, mực nước trên khắp đồng bằng châu thổ bắt đầu rút xuống

19 Nước rút Mực nước cứ thấp dần hàng ngày khi mùa lũ chấm

dứt

20 Nước cạn Vào mùa khô, khoảng tháng 3, 4 âm lịch, mực nước

ở các sông rạch rất thấp

21 Nước rặc Nước chảy cạn hết chỉ còn một đường nước nhỏ ở

giữa lòng sông rạch

22 Nước sát Vào mùa cạn, nước chảy hết ra sông làm trơ đáy

các con rạch khi thủy triều xuống

23 Nước chết Nước ứ đọng không có chỗ thoát

24 Nước sình Nước có nhiều bùn, rất đục

25 Nước rọt Rọt là hiện tượng nước từ một chỗ nào đó rút chảy

ra ngoài Mùa nước rọt: mùa nước rút khỏi những

vùng ngập nước vào mùa khô hạn

Từ các bảng kê về những thuật ngữ trên chúng ta có thể thấy yếu tố sông nước có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây Có thể nói, nhiều hoạt động, sinh hoạt hàng ngày của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long đều gắn liền với chu kỳ con nước Đi đâu, làm gì người

ta cũng lệ thuộc vào con nước lớn hay ròng Chính vì vậy mà người dân sử dụng rất nhiều loại ghe xuồng Ghe xuồng là “chân”, là người bạn

đồng hành không thể thiếu của cư dân nơi đây “Đi xóm thăm bạn bè,

mua trà, mua bánh, đám cưới, đám ma, rước bà mụ, rước thầy thuốc vẫn dùng ghe xuồng Thậm chí kẻ trộm, kẻ cướp cũng dùng đường sông rạch

Trang 30

để đến đột ngột rồi bôn tẩu cho nhanh Xuồng có thể chở nặng, gặp nước xuôi, người đi bộ chạy nhanh chưa ắt đã kịp”[Sơn Nam, 1985: 50] Chính

vì vậy, ghe xuồng có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.2 Khái quát về ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long

1.2.1 Sơ lược về lịch sử ghe xuồng

Trong lịch sử các dân tộc ở nước ta, ghe thuyền đã xuất hiện từ rất lâu đời trong nhiều huyền thoại, truyền thuyết Ngày nay, chúng ta có thể biết được những hình ảnh sớm nhất về ghe thuyền nhờ những hình ảnh được trang trí trên các trống đồng và một số hiện vật khác thời Đông Sơn vào thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên Loại thuyền lớn nhất là thuyền chiến, có kích thước lớn và cấu tạo phức tạp Kế đến

là những loại thuyền vừa, thuyền độc mộc và thuyền thúng [Ngô Đức

Thịnh, 2004: 367]

Thời nhà Lý Trần, quy mô và số lượng ghe thuyền tăng lên rõ rệt, đặc biệt là thuyền chiến Thời nhà Hồ và nhà Lê thuyền bè nước ta tiếp tục phát triển cả về kiểu dáng lẫn số lượng

Đến thời Tây Sơn, ghe thuyền có xu hướng phát triển với những loại lớn hơn dùng để đi biển Sự xuất hiện những thuyền biển hùng mạnh cung cấp cho lực lượng hải quân vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã đánh dấu bước tiến triển quan trọng của ghe thuyền Việt Nam Đến khi tiếp xúc với phương Tây ghe thuyền Việt Nam còn sử dụng thêm động cơ đẩy

Trong quá trình “Nam tiến” di dân về phía nam, người Việt cũng sử dụng ghe thuyền vì người ta chủ yếu vào nam bằng đường biển,

Trang 31

đường sông Lúc đó người dân chủ yếu dùng ghe bầu đi dọc theo bờ biển vào Nam Tại đây cùng với việc tiếp xúc văn hóa với các nước trong khu vực, trong đó có kỹ thuật chế tác ghe thuyền nên càng tạo điều kiện cho ghe thuyền phát triển

Tên gọi các phương tiện đi lại, sinh hoạt bằng đường thủy ở nước

ta, đặc biệt ở Nam Bộ rất đa dạng phức tạp Trong luận văn này chúng

tôi sử dụng từ ghe xuồng là một hình thức hạn chế đối tượng nghiên cứu

của mình Khái niệm này ở Nam Bộ còn rất nhập nhằng:

Xuồng là khái niệm để chỉ phương tiện đi lại trên sông nhỏ, đặc

biệt các sông rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long Xuồng có trọng tải thấp nhất so với các phương tiện đi trên sông khác

Ghe được hiểu là phương tiện đi lại trên sông rạch có trọng tải lớn

hơn xuồng Tuy nhiên, không thể biết chính xác xuồng lớn đến giới hạn nào mới được gọi là ghe Vì vậy, có trường hợp cùng một loại phương

tiện nhưng các địa phương có tên gọi khác, ví dụ ghe xuồng nơi gọi là

ghe, có nơi gọi là xuồng Nhìn chung xuồng nhỏ hơn ghe

Thuyền được dùng phổ biến ở miền Bắc và miền Trung Ở Đồng

bằng sông Cửu Long, từ thuyền ít sử dụng phổ biến

Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hay những định nghĩa rõ ràng và bao quát về các loại ghe xuồng tại Việt Nam Chính vì vậy mà

có rất nhiều định nghĩa về những loại phương tiện này Trong Từ điển

tiếng Việt của Hoàng Phê chúng tôi đã thống kê có đến hai mươi bốn tên

gọi về ghe xuồng, tàu thuyền và những định nghĩa về các loại đó như sau:

Trang 32

Bảng 4: Thuật ngữ về ghe xuồng, tàu thuyền trong từ điển tiếng Việt 5

1 Ghe Thuyền gỗ có mui

2 Ghe bản lồng Thuyền có mui vuông dùng để đi trên sông ở một số địa

phương

3 Ghe bầu Thuyền lớn, hình quả dưa, mũi cao, chạy bằng buồm,

dùng để đi trên biển ở một số địa phương

4 Ghe chài Thuyền lớn không có buồm, được kéo dắt hoặc chạy

bằng máy, dùng để đi trong sông ở một số địa phương

5 Ghe cộ Thuyền bè

6 Ghe cửa Thuyền gỗ, mũi và lái nhọn, dùng để đi vùng ven biển,

cửa sông ở một số địa phương

7 Ghe lườn Thuyền độc mộc, dùng để chuyên chở trong kênh, lạch

ở một số địa phương

8 Xuồng Thuyền nhỏ không có mái che, thường đi kèm theo

thuyền lớn hơn hoặc tàu thủy

9 Tàu Tên gọi chung các phương tiện vận tải lớn và hoạt động

bằng máy móc phức tạp

10 Tàu bè Phương tiện vận tải dưới nước, như tàu, thuyền (nói

khái quát)

11 Tàu biển Tàu chạy đường biển

12 Tàu chiến Tàu thủy có trang bị vũ khí để làm nhiệm vụ chiến đấu

13 Tàu lặn Tàu ngầm

14 Tàu thủy Phương tiện giao thông vận tải, hoạt động trên mặt

5 [Hoàng Phê (chủ biên) 2004: Từ điển tiếng Việt.- Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng]

Trang 33

nước bằng sức động cơ

15 Thuyền Phương tiện giao thông nhỏ trên mặt nước, hoạt động

bằng sức người, sức gió

16 Thuyền bè Thuyền và nói chung các phương tiện giao thông nhỏ

trên mặt nước (nói khái quát)

17 Thuyền bồng Thuyền có mui, mình bầu, mũi bằng và đuôi cao

18 Thuyền chài Thuyền nhỏ để đánh cá bằng chài lưới/ Người làm nghề

đánh cá bằng chài lưới (nói khái quát)

19 Thuyền đinh Thuyền lớn bằng gỗ có mũi nhọn, thân và đuôi hình

lăng trụ

20 Thuyền mành Thuyền buồm lớn chạy ở vùng ven biển (có buồm trông

tựa như cái mành)

21 Thuyền nan Thuyền nhỏ đan bằng nan tre, có ken sơn

22 Thuyền rồng Thuyền của vua, có chạm hình rồng

23 Thuyền thoi Thuyền nhỏ và dài, hai đầu nhọn, có hình giống cái

* Nguồn gốc ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 34

Nguồn gốc của ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long là một đề tài mà chưa có nhiều tài liệu giải thích thấu đáo Trong quá trình vào Nam, ghe xuồng đã đồng hành cùng với những cư dân Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất này Vì vậy, ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu có nguồn gốc từ miền Trung

Những cư dân đầu tiên đến Đồng bằng sông Cửu Long đã cảm nhận được đặc điểm thiên nhiên ở đây và đã tận dụng, kế thừa và sáng tạo phương tiện đi lại trên sông nước này Ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển thành nhiều kiểu loại khác nhau để đáp ứng nhu cầu của từng công việc Những khác nhau về kiểu loại này cũng không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của những ảnh hưởng từ trong lẫn ngoài Trong quá trình cộng cư ở vùng châu thổ này, ghe xuồng của người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm có ảnh hưởng lẫn nhau là điều tất yếu

Do vị trí địa lý của Đồng bằng sông Cửu Long nằm ngang giữa hải lộ mậu dịch quan trọng nối liền Trung Hoa, Ấn Độ và Ả Rập nên về văn hóa nói chung và ghe xuồng nói riêng ít nhiều có những ảnh hưởng từ các nền văn minh lớn này Cũng trong bối cảnh đó ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long có ảnh hưởng từ các ghe thuyền của một số nước Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia Ghe xuồng ở đây còn ảnh hưởng từ ghe thuyền phương Tây, đó là loại có trang bị động cơ để di chuyển mà không cần dùng buồm lợi dụng sức gió như trước đây

Như vậy, ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn gốc từ miền Trung, có ảnh hưởng qua lại với ghe xuồng các dân tộc cùng cộng

cư trong khu vực và có những sáng tạo độc lập Việc sử dụng động cơ của phương Tây là bước tiến lớn trong việc bỏ dần những mái chèo,

Trang 35

cánh buồm Ghe xuồng ở Đồng bằng sông Cửu Long biểu hiện một tiến trình kế thừa và giao lưu văn hóa rất đáng được quan tâm

1.2.2 Phân loại ghe xuồng

1.2.2.1 Về phân loại ghe xuồng

Phân loại theo chức năng

Dựa theo chức năng của từng loại ghe xuồng có thể phân thành những loại sau Tuy nhiên, sự phân loại này chỉ có tính tương đối vì bên cạnh một số loại chuyên dụng còn có nhiều loại ghe xuồng có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau:

- Loại dùng để đi lại có những loại như: xuồng ba lá, xuồng năm lá, ghe tam bản, đò, tắc ráng, vỏ lãi

- Loại dùng để chở hàng hóa, vật liệu với khối lượng lớn là những kiểu ghe to, sức chở nặng, đi được đường dài: ghe chài, ghe be, ghe bầu nóc, ghe hàng bố, xà lan

- Loại dùng để di chuyển nhanh, chuyên chở nhẹ: ghe lườn, ghe cui, vỏ lãi

- Loại dùng để đánh bắt thủy sản: ghe câu, ghe cào, ghe lưới

- Loại dùng cho quan lại: ghe ô, ghe quyển, ghe điệu, ghe son, ghe vẹm

Ngoài ra, trong chiến tranh còn có thêm ghe tải đạn, ghe chiến đấu Những năm 1930 ở Long Xuyên còn có một loại phương tiện trên

sông khá đặc biệt, là đò đạp Nguyễn Hiến Lê ghi lại trong Hồi ký: “Đó

là một chiếc ghe dài chở được 30- 40 người và nhiều hàng hóa, nhưng

Trang 36

không có chèo, mà có một xa quạt ở phía sau do bốn người đạp” [Nguyễn Hiến Lê 1997: 136].6

Như đã đề cập việc phân loại ghe xuồng theo chức năng chỉ có tính tương đối vì cùng một phương tiện người ta có thể sử dụng đa chức

năng, chẳng hạn như chiếc ghe tam bản vừa dùng để làm chân đi lại, vừa

làm phương tiện chuyên chở hàng hóa, vừa làm phương tiện mưu sinh, vừa có chức năng giao tiếp trong những dịp cưới hỏi Có thể nói ghe xuồng phản ảnh một phần tính linh hoạt của người dân Đồng bằng sông Cửu Long

Phân loại theo địa hình

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, do địa hình sông rạch ở các tỉnh không hoàn toàn giống nhau nên những loại ghe giữa các vùng cũng có khác nhau đôi chút để thích ứng với địa hình từng khu vực:

- Loại ghe ở địa hình có nước chảy yếu và cạn, ít có sóng gió như

ở Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long Những loại ghe này có lườn cạn và khoang rộng như ghe tam bản, tắc rán, ghe be, ghe chài, ghe cào

- Loại ghe ở địa hình có nước chảy mạnh, chảy xiết, gần biển như

ở Bến Tre, An Giang, Trà Vinh Loại ghe này có lườn sâu, hẹp, thành ghe cao và nhảy sóng tốt như ghe cà vom, ghe bầu nóc

Phân loại theo địa danh

Nhiều loại ghe xuồng tên tuổi của nó gắn liền với địa danh nơi nó được chế tác ra Chẳng hạn như ghe Cần Đước ở Long An, ghe Gò Công

ở Tiền Giang, ghe An Định ở Bến Tre, ghe Cần Thơ (ghe tam bản), ghe

An Giang (ghe bầu), ghe Kiên Giang (ghe cửa)

6 Dẫn theo [Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền, 2006: 88]

Trang 37

Ghe xuồng ở mỗi vùng đều mang những nét đặc trưng riêng Dưới

đây là một vài điểm khác biệt cơ bản giữa ghe xuồng các vùng

- Ghe Bến Tre: mũi chẻ, đít bằng

và nhảy sóng tốt Phần sau lái rộng rãi

thuận lợi cho các sinh hoạt như tắm

giặt, nấu nướng Mũi ghe được sơn màu

đỏ, mắt màu trắng, đen

- Ghe Cần Thơ: phổ biến là loại

ghe mũi trái bần Mũi nhỏ giống như

mũi ghe tam bản và mũi thường được

bọc bởi một lớp vỏ xe Loại ghe này phần trước mũi và sau lái giống nhau Loại ghe này thường không vẽ mắt vì với kiểu mũi trái bần không thích hợp với việc vẽ mắt Ngoài ra, còn có những loại ghe mũi bằng như ở Bến Tre, nhưng mũi ghe không chẻ giống như ghe Bến Tre Loại ghe này mắt ghe được vẽ mô phỏng theo mắt người, giữa mũi có vẽ thêm nút bích (nước bài bích) hay hình mỏ neo được sơn màu trắng Cần Thơ còn được xem là nơi cho ra đời những chiếc ghe tam bản

- Ghe An Giang: mũi nhọn, cao, gần giống như chiếc ghe ngo của

người Khmer nhưng ngắn hơn Những loại ghe này còn được gọi là ghe

cà vom Ghe cà vom trước đây được làm từ thân cây to khoét rỗng

Nhưng hiện nay gỗ to không còn nên ghe được làm từ nhiều tấm ván ghép lại Mũi ghe An Giang thường được trang trí hình rồng, sơn xanh, mắt trắng Mắt những loại ghe này thường nhỏ và tròn Loại ghe An Giang có bánh lái cao và dài, nên người lái thường ngồi trên mui ghe hay xa phần lái ghe cũng có thể điều khiển được dễ dàng

Hình 4: Ghe Bến Tre mũi chẻ tại trại

ghe An Định, Bến Tre

Hình chụp ngày 26/10/06; [Thái Bình]

Trang 38

- Ghe Cần Đước (Long An): Thường có trọng tải lớn, mũi cao, mặt

đỏ, mắt to Một số loại ghe lớn của Long An thường không tự vận hành (không có gắn máy) mà phải có đầu kéo hay ghe kéo riêng

Ghe ở một số địa phương khác cũng có những nét tương tự nhưng cũng có một số ghe mà chỉ những người trong nghề đóng ghe hay có thời gian gắn bó với ghe xuồng lâu dài mới phân biệt được

1.2.2.2 Một số loại ghe xuồng chính ở Đồng bằng sông Cửu Long

Cư dân Đồng bằng sông Cửu Long đã sử dụng và chế tạo rất nhiều loại ghe xuồng khác nhau nhằm phát huy tối đa ưu thế cho việc đi lại, vận chuyển trên sông nước Có nhiều tài liệu đã đề cập đến các loại ghe xuồng, chúng tôi đã thử tiến hành thống kê những tên gọi về ghe như sau:

Hình 5: Ghe Cần Thơ mũi trái bần và ghe An Giang mũi nhọn tại chợ nổi

Phong Điền, Cần Thơ

[www.istockphoto.com/file-thumbwiew-approve]

Trang 39

Bảng 5: Bảng kê các loại ghe ở Đồng bằng sông Cửu Long 7

Đại Nam quấc âm tự

vị (1895),

Huỳnh Tịnh Của

28 ghe bầu, ghe trường đà, ghe cửa, ghe

bản lồng, ghe bất mãn, ghe vạch, ghe cui, ghe trẹt, ghe chài, ghe lườn, ghe ngo, ghe vợi, ghe giàn, ghe câu, ghe lưới, ghe be, ghe cá, ghe lái ngoài, ghe đuôi tôm then trỗ, ghe hầu, ghe lê, ghe

ô, ghe son, ghe sai, ghe chiến, ghe vẹm, ghe khoái, ghe hàng bổ

Dictionnaire

Vietnamien-Francais

(1898), Génibrel

38 ghe bầu, ghe biển, ghe cửa, ghe nốc,

ghe mành, ghe nanh, ghe lồng, ghe lồng chón, ghe bốc chài, ghe trẹt, ghe giàn, ghe rập đáy, ghe cui, ghe cá, ghe rớ, ghe lườn, ghe vạch, ghe câu, ghe rỗi, ghe đò, ghe hầu, ghe lê, ghe son, ghe vẹm, ghe ô, ghe hồng, ghe quyển, ghe diều, ghe mui ống, ghe giã vọng, ghe sơn đỏ, ghe tiểu điếu, ghe bản lồng, ghe khoái, ghe sai, ghe trường đà, ghe chiến, ghe nan

ghe bản lồng, ghe bầu, ghe bể, ghe bốc chài, ghe cá, ghe cui, ghe cửa, ghe

7 Bảng kê trên cơ sở tham khảo bài viết Ghe xuồng Nam Bộ của Nguyễn Thành Lợi trong quyển Nam Bộ đất và người (tập 3), Hội Khoa học lịch sử TPHCM, 2005, tr.560

- 575

Trang 40

Dictionnaire

Vietnamien – Chinois

– Francais (1937),

Gustave Hue

40 chiến, ghe diểu, ghe đại trường đà, ghe

đinh, ghe đò, ghe ruộc, ghe giã, ghe vọng, ghe giàn, ghe hầu, ghe hồng, ghe khoái, ghe lê, ghe lồng, ghe chón, ghe lườn, ghe mành, ghe mui ống, ghe nan, ghe nốc, ghe ngo, ghe quyển, ghe rập đẩy (ghe be), ghe rỗi, ghe rớ, ghe sai, ghe son, ghe sơn đỏ, ghe tiểu điếu, ghe trẹt, ghe vạch (ghe mỏ vạch, mũi vạch), ghe vụn (ghe son)

Dictionnaire

Vietnamien Chinois

Francais (1957),

E.Gouin

39 ghe bầu, ghe be, ghe bể (ghe biển),

ghe bốc chài, ghe cá, ghe câu, ghe cui, ghe cửa, ghe chiến, ghe chiều, ghe, ghe giàn, ghe diểu, ghe đại trường đà, ghe đinh, ghe đò, ghe giã, ghe giã vọng, ghe hầu, ghe kẻ, ghe khoái, ghe lê, ghe lồng, ghe lườn, ghe mành, ghe mui ống, ghe nan, ghe nóc, ghe ngo, ghe quyển, ghe ô, ghe rỗi, ghe rớ, ghe sai, ghe son, ghe sơn đỏ, ghe tiểu điếu, ghe trẹt, ghe vạch, ghe vẹm (ghe son)

Tự vị tiếng Việt miền

Nam (1993),

Vương Hồng Sển

32 ghe bầu, ghe trường đà, ghe nạn, ghe

cửa, ghe bản lồng, ghe bất mãn, ghe vạch, ghe cui, ghe trẹt, ghe lườn, ghe

be, ghe ngo, ghe vợi, ghe đò, ghe giàn, ghe câu, ghe lưới, ghe cá, ghe lái ngoài, ghe đuôi tôm then trỗ, ghe hầu,

Ngày đăng: 29/08/2021, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w