1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý Luận Định Tội Danh.docx

6 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận Định Tội Danh
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 21,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đượ

Trang 1

I/ Cơ sở pháp lý của hoạt động định tội danh:

1 Định tội danh là gì?

Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định

2 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh

Cơ sở pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự được dùng để xác định các dấu hiệu của hành

vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bị coi là tội phạm

Cơ sở pháp lý của việc định tội danh bao gồm:

2.1 Bộ luật hình sự - cơ sở pháp lý trực tiếp của định tội danh

Trong quá trình định tội danh, Bộ luật hình sự có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, nó đóng vai trò là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh, sở dĩ

có thể khẳng định như vậy vì có những lý do như sau:

Thứ nhất, hiện nay Bộ luật hình sự nước ta là nguồn trực tiếp và duy nhất

ghi nhận toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự hiện hành được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, cũng như quá trình định tội danh và quyết định hình phạt nói riêng;

Thứ hai, bản chất của việc định tội danh suy cho cùng là so sánh, đôì chiếu

và kiểm tra để xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự hay không;

Thứ ba, nhà làm luật khi xây dựng hệ thống các quy phạm của Phần các tội

phạm Bộ luật hình sự, đã tìm xem các dấu hiệu nào là đặc trưng cơ bản nhất, phổ biến nhất và hay được lặp đi lặp lại nhiều nhất trong những hành vỉ ấy, sau đó điển hình hoá và quy định chúng trong Bộ luật hình sự vối tính chất là các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng;

Thứ tư, Bộ luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định

tội danh chứa đựng những mô hình pháp lý của các tội phạm, mà dựa vào đó những người có thẩm quyền tiến hành việc định tội danh xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của những hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể tương ứng được thực hiện với các dấu hiệu định tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự

Trang 2

2.2 Bộ luật tố tụng hình sự - cơ sở pháp lý gián tiếp của việc định tội danh

Cơ sở pháp lý gián tiếp của việc định tội danh: trọng quá trình định tội danh, nếu các quy phạm pháp luật của Bộ luật hình sự đóng vai trò là cơ sở pháp lý trực

tiếp về mặt nội dung, thì các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự là cơ sở pháp lý

gián tiếp về mặt hình thức quy định cách thức, trình tự, thẩm quyền định tội danh Bởi vì:

Thứ nhất, các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự có ý nghĩa pháp lý quan

trọng đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự Chẳng hạn, Toà án cấp phúc thẩm hoặc cấp giám đốc thẩm sau khi đã nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ mọi chứng cứ thu thập được trong vụ án hình sự cụ thể nhận thấy rằng: tội danh mà bị cáo bị Toà án cấp dưới xét xử là không có căn cứ, các dấu hiệu của hành vi phạm tội tương ứng vói các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản mà trong bản án của Toà án cấp dưối lại định tội danh theo các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng, thì theo các khoản 1 và 2 Điều 221, Điều 257 của Bộ luật tố tụng hình sự Toà án cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm có quyền sửa lại bản án đã tuyên của Toà án cấp dưới để

áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự cho đúng - đó chính là định lại tội danh

Thứ hai, trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta đã đưa ra

những cơ sở pháp lý quan trọng của việc định tội danh như: các quy đinh về chứng

cứ (các Điều 47, 48, 49, 50, 56, 60), tạm giam (Điều 70), thời hạn tạm giam (Điều

71), căn cứ khỏi tố vụ án hình sự (Điều 83), những căn cứ không được khởi tố vụ

án hình sự (Điều 89) V.V

2.3 Cấu thành tội phạm – mô hình pháp lý của việc định tội danh

Cấu thành tội phạm là một khái niệm trừu tượng mang tính khoa học, là mô hình pháp lý chung nhất cho tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội Những dấu hiệu của cấu thành tội phạm vừa phản ánh được đầy đủ tính nguy hiểm của loại tội phạm cụ thể và vừa đủ cho phép phân biệt loại tội phạm này với các loại tội phạm khác Như vậy, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, là căn cứ để Toà án lựa chọn đúng loại và mức hình phạt đối vói người hị kết án Trong cấu thành tội phạm có cấu thành tội phạm giảm nhẹ, cấu thành tội phạm tăng nặng do đó, trong quá trình định tội danh các cán

bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải đánh giá chính xác các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm

Trang 3

tăng nặng hoặc giảm nhẹ để định tội danh cho đúng vối khung hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự

Để giúp cho các cán bộ tiến hành tố tụng định tội danh được chính xác, các nhà khoa học pháp lý đã phân loại cấu thành tội phạm thành bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm Chính sự phân chia này làm cho chúng ta phân biệt được hai tội cụ thể khác nhau mặc dù giữa chúng có những dấu hiệu trùng nhau

Ví dụ: tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi và bổ

sung năm 2017) và tội cướp giật tài sản (Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017) là hai tội có cấu thành tội phạm giống nhau về phương diện khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm, nhưng giữa chúng lại có sự khác nhau cơ bản về phương diện khách quan thể hiện ở tính chất của hành vi phạm tội

và phương pháp tiến hành: Ở tội cướp giật thì hành vi chiếm đoạt tài sản là công khai nhanh chóng, còn trong tội trộm cắp thì hành vi chiếm đoạt tài sản lại tiến hành một cách lén lút Điểm khác nhau cơ bản về phương diện khách quan đó đã được người làm luật sử dụng làm cơ sở để xác định hai loại cấu thành tội phạm về xâm phạm sỏ hữu khác nhau Điều đó giúp cho các cơ quan và người tiến

hành tố tụng gặp thuận lợi trong quá trình định tội danh.

3 Các giai đoạn của việc định tội danh

Quá trình định tội danh là quá trình xác định sự phù hợp của các tình tiết cơ bản, điển hình nhất của một hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trong thực tế với các dấu hiệu cấu thành một tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự Nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, chúng ta có thể nhận thấy quá trình định tội danh thường diễn ra ba giai đoạn có tính logic sau đây: Giai đoạn 1: Xác định quan hệ pháp luật; Giai đoạn 2: Tìm nhóm quy phạm pháp luật hình sự; Giai đoạn 3: Tìm quy phạm pháp luật hình sự cụ thể

3.1 Giai đoạn xác định quan hệ pháp luật

Giai đoạn này thể hiện bằng việc phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của hành vi nguy hiểm cho xã hiội được thực hiện trong thực tế để xác định xem hành

vi đó có các dấu hiệu của tội phạm hay không, có phải ìằ hành vi bị pháp luật hình

sự cấm không hay chỉ là hành vi vi phạm pháp luật khác Tức là phải dựa vào

Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về năm căn cứ khỏi tố vụ án hình sự (tố

giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước hay tổ chức xã hội; tin báo trên

Trang 4

các phương tiện thống tin đại chúng; cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn

vị bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú) để xác định dấu hiệu tội phạm Trong giai đoạn này thống thường sẽ có ba khả năng xảy ra như sau:

+Thứ nhất, không được khởi tố vụ án hình sự khi có 1 trong 7 căn cứ được

quy định tại Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Thứ hai, nếu hành vi được thực hiện cụ thể là hành vi vi phạm pháp luật khác, thì tuỳ theo từng, giai đoạn tố tụng hình sự mà cơ quan chức năng gửi tin báo, đơn báo hoặc đơn tố giác cho cơ quan Nhà nưóc (hay tổ chức xã hội) hữu

quan để giải quyết theo thẩm quyền;

+ Thứ ba, xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện

có các dấu hiệu của tội phạm, từ đó sẽ phát sính quan hệ pháp luật hình sự

3.2 Tìm nhóm quy phạm pháp luật hình sự

Đây là giai đoạn xác định xem hành vi phạm tội mà chủ thể thực hiện cụ thể thuộc chương tương ứng nào trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định Trong giai đoạn này, nảy sinh quá trình xác định xem khách thể loại (loại quan hệ xã hội nào) được pháp luật hình sự bảo vệ đã bị tội phạm xâm hại đến và trong một số trường hợp tìm các dấu hiệu của loại chủ thể đặc biệt thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó (ví dụ: người có chức vụ, quân nhân )

3.3 Tìm quy phạm pháp luật hình sự cụ thể

Đây là giai đoạn so sánh, đốì chiếu và kiểm tra xem các dấu hiệu của tội phạm mà người phạm tội đã thực hiện do điều luật nào của chương đã xác định ở giai đoạn hai, tức là phải xác định xem hành vi phạm tội đó là phạm tội gì, tương ứng với cấu thành tội phạm nào (cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ) và tội phạm ấy thuộc khoản nào trong điều luật cụ thể đã tìm được

Như vậy, định tội danh là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật có ý nghĩa lốn về mặt chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật Quá trình định tội danh đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội tất yếu phải trải qua ba giai đoạn nói trên và phải dựa vào tình tiết thực tế của vụ án cũng như các quy định của pháp luật hình sự Nhưng để đạt tối chân lý khách quan thì người định tội danh phải tiến hành theo một trật tự nhất định

II/ Cơ sở khoa học của hoạt động định tội danh:

Cơ sở khoa học của hoạt động định tội danh

Trang 5

Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của

Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”

Cấu thành tội phạm (CTTP) là khái niệm pháp lý về hành vi phạm tội, là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự Cấu thành tội phạm là một phạm trù chủ quan được xây dựng một cách khách quan dựa trên quy định của luật hình sự Chính vì thế, nó đã trở thành cơ sở pháp lý để định tội Cấu thành tội phạm, nói một cách khách quan, không thể hiện hết các yếu tố phong phú của tội phạm mà chỉ thể hiện các yếu tố cần và đủ (các dấu hiệu điển hình, đặc trưng nói lên bản chất của tội phạm ấy) cho việc định tội Chính vì thế, quá trình định tội cần giải quyết hai vấn đề: nhận thức đúng đắn các dấu hiệu Cấu thành tội phạm và xác định các tình tiết của hành vi phạm tội được thực hiện nhằm tìm ra sự đồng nhất giữa các yếu tố luật định và các tình tiết khách quan

Cấu thành tội phạm được xem là cơ sở pháp lý duy nhất để định tội, là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Bởi vì, một trong những đặc điểm của tội phạm là được quy định trong Luật hình sự Luật hình sự quy định tội phạm bằng cách mô tả các dấu hiệu của hành vi phạm tội, từ cơ sở pháp lý đó, các nhà lý luận mới khái quát thành các dấu hiệu đặc trưng chung gọi là Cấu thành tội phạm Vì thế, các cán bộ tiến hành tố tụng cần nhận thức đúng đắn bản chất các dấu hiệu Cấu thành tội phạm trong quá trình định tội

Cấu thành tội phạm bao gồm những dấu hiệu cần và đủ Nó gồm những dấu hiệu cần vì nếu thiếu một trong những dấu hiệu đó thì cấu thành tội phạm không được xác định Đồng thời đó cũng là dấu hiệu đủ cho một cấu thành tội phạm bởi không cần thêm một dấu hiệu nào vì nó đã được xác định và có đủ cơ sở để phân biệt một cấu thành tội phạm cụ thể này với các cấu thành tội phạm khác

Trang 6

Một cấu thành tội phạm của một loại tội luôn luôn phải chứa đựng đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm Đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Song các dấu hiệu trong mỗi một cấu thành tội phạm có thể nhiều ít khác nhau

- Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ ,bị tội phạm xâm hại,gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại

- Mặt khách quan của tôi phạm là những biểu hiện của bên ngoài tội phạm.Mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội ,hậu quả tác hại do tội phạm gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả do hành vi đó gây ra ; thời gian, địa điểm; công cụ phương tiện thực hiện tội phạm v.v

- Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện bên trong của tội phạm,là thái độ tâm lý của người phạm tội.Mặt chủ quan của tội phạm gồm các dấu hiệu lỗi,động cơ, mục đích cuả tội phạm

- Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội ,mà theo quy định của Luật Hình sự họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự

Ngày đăng: 01/07/2023, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w