1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định tội danh trong đồng phạm lý luận và thực tiễn

87 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, cơ sở pháp lý của đồng phạm được quy định tại Điều 20 của BLHS năm 1999 nhưng quy định này chỉ mang tính chất chung chung, không toàn diện và bao quát hết được các vấn đề liên

Trang 1

NGUYỄN THỊ MINH TRÂM

ĐỊNH TỘI DANH TRONG ĐỒNG PHẠM –

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

Trang 2

ĐỊNH TỘI DANH TRONG ĐỒNG PHẠM –

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự

Mã số: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: Ts Trần Thị Quang Vinh

Học viên: Nguyễn Thị Minh Trâm Lớp cao học Luật: Khóa 19

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, quý thầy,

cô và đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Trần Thị Quang Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này

Tôi xin cam đoan đề tài “Định tội danh trong đồng phạm – Lý luận và thực

tiễn” là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi và dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Trần

Thị Quang Vinh Tôi cam đoan danh dự về công trình nghiên cứu này

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Trâm

Trang 5

MỤC LỤC

Phần mở đầu 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG ĐỒNG PHẠM 5

1.1 Những vấn đề lý luận chung về đồng phạm 5

1.1.1 Khái niệm đồng phạm và các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm 5

1.1.2 Các loại người trong đồng phạm 10

1.1.3 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm 22

1.1.4 Phân biệt hành vi đồng phạm và các hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội phạm độc lập 26

1.2 Những vấn đề lý luận về định tội danh trong đồng phạm 28

1.2.1 Khái niệm về định tội danh trong đồng phạm 28

1.2.2 Phân loại định tội danh 32

1.2.3 Các bước thực hiện hoạt động định tội danh trong đồng phạm 34

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TRONG VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 38

2.1 Thực tiễn định tội danh trong vụ án đồng phạm 38

2.1.1 Thực tiễn xác định các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan 38

2.1.2 Thực tiễn xác định vai trò của những người đồng phạm và hành vi vượt quá của người đồng phạm 44

2.1.3 Thực tiễn định tội danh hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 57

2.1.4 Thực tiễn định tội danh hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội phạm độc lập 61

2.1.5 Tổng kết một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn hoạt động định tội danh trong đồng phạm và những tồn tại, hạn chế của Bộ luật hình sự hiện hành……… 65

2.2 Vấn đề hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh trong đồng phạm 68

2.2.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 liên quan đến hoạt động định tội danh trong đồng phạm 68

2.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh trong đồng phạm 71

Trang 6

Kết luận chương 2 75 KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc cải cách tư pháp nhằm mục đích hoàn thiện một cách cơ bản, toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam trong đó pháp luật hình sự Bên cạnh những lợi ích tích cực do hoạt động cải cách tư pháp mang lại là tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, hội nhập quốc tế, chất lượng hoạt động tư pháp được cải thiện một cách đáng kể…thì nó cũng bộc lộ những nhược điểm không nhỏ, đó chính là tình hình tội phạm gia tăng và được thực hiện một cách tinh vi hơn gây hậu quả nguy hiểm đáng kể cho xã hội Trong các hình thức thực hiện tội phạm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì đồng phạm là hình thức thực hiện tội phạm phổ biến nhất hiện nay, vì bản chất của hình thức đồng phạm là sự tham gia cùng cố ý thực hiện tội phạm của nhiều người nên hậu quả phạm tội mà đồng phạm gây ra thông thường rất lớn cho xã hội Chính vì vậy, mục đích phòng ngừa tội phạm được thực hiện dưới hình thức là đồng phạm là việc làm cần thiết và cấp bách được Đảng và Nhà nước ta quan tâm

Hiện nay, cơ sở pháp lý của đồng phạm được quy định tại Điều 20 của BLHS năm 1999 nhưng quy định này chỉ mang tính chất chung chung, không toàn diện và bao quát hết được các vấn đề liên quan đến đồng phạm, đặc biệt là vấn đề liên quan đến hoạt động định tội danh trong đồng phạm, chẳng hạn như: các dấu hiệu để xác định một vụ án có đồng phạm hay không có đồng phạm, cách định tội danh trong một vụ án có đồng phạm được thực hiện như thế nào, cách xác định các loại người trong đồng phạm, cách xác định các hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội độc lập hoặc vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm, định tội danh đối với hành vi vượt quá của những người đồng phạm,…Vì vậy, xét thấy rằng cần phải có biện pháp để khắc phục những hạn chế nêu trên đảm bảo cho hoạt động định tội danh trong đồng phạm đạt hiệu quả cao

Bên cạnh đó, vì tính chất đa dạng và phức tạp khi thực hiện hành vi phạm tội bằng hình thức đồng phạm và do chế định đồng phạm có mối liên hệ sâu sắc với các chế định pháp luật khác như: chế định tội phạm, chế định miễn trách nhiệm hình sự, chế định về các giai đoạn thực hiện tội phạm,… nên thực tiễn hoạt động tố tụng đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc dẫn đến nhiều sai sót khi áp dụng pháp luật trong trường hợp tội phạm thực hiện bằng hình thức đồng phạm, đặc biệt là vấn đề định tội danh trong đồng phạm Và một trong những giai đoạn cơ bản, quan trọng,

Trang 8

ảnh hưởng lớn đến việc xác định trách nhiệm hình sự của những người trong đồng phạm là giai đoạn định tội danh Thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cho thấy rằng cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều vướng mắc dẫn đến nhiều sai sót khi tiến hành định tội danh đối với tội phạm thực hiện bằng hình thức đồng phạm

Về mặt lý luận, định tội danh là một hoạt động pháp luật nhằm xác định sự phù hợp của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm, từ đó xác định sự thật khách quan của vụ án, lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự phù hợp cho hành vi nguy hiểm đó Trường hợp thực hiện tội phạm đơn lẻ, việc định tội danh đã rất phức tạp và được thực hiện qua nhiều tiến trình Vì vậy việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm lại càng khó khăn, phức tạp hơn nhiều

Chính vì các lý do nêu trên, tác giả nhận thấy rằng việc tìm hiểu lý luận và thực tiễn của định tội danh trong đồng phạm để đưa ra một cách nhìn có hệ thống, toàn diện về vấn đề định tội danh trong đồng phạm và đưa ra một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chế định đồng phạm, là rất cần thiết Đó

chính là lý do tác giả chọn đề tài: “Định tội danh trong đồng phạm – Lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, vấn đề đồng phạm đã và đang được sự quan tâm rất nhiều của nhiều các nhà nghiên cứu thông qua các công trình nghiên cứu luận án, luận văn, tạp

chí…Về sách, luận văn thì hiện nay có cuốn sách “Đồng phạm trong luật hình sự

Việt Nam” – Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, năm 2007 và luận văn thạc sĩ luật học về đề

tài “Các loại người đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Khắc Toàn, năm 2013 Trong hai tài liệu trên, các tác giả mô tả phân tích làm rõ các vấn đề liên quan đến đồng phạm như khái niệm đồng phạm, dấu hiệu của đồng phạm, các loại người trong đồng phạm, hình thức đồng phạm,…một cách tổng quan nhưng chưa bàn về vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động định tội danh trong đồng phạm, có nghĩa là chưa làm rõ được các vấn đề định tội danh trong đồng phạm cần phải có những bước được tiến hành như thế nào, cơ sở của việc định tội danh, các trường hợp định tội danh trong đồng phạm hoặc thực tiễn định tội danh gặp những vướng mắc, khó khăn và bất cập gì

Về tạp chí cũng có nhiều bài viết liên quan đến đồng phạm như “Hoàn thiện

quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm

Trang 9

tội chưa đạt và đồng phạm” – Phạm Mạnh Hùng – Tạp chí Nhà nước và Pháp luật

số 2/2003, “Đồng phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử” - Đoàn Văn Hường – Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2003, “Chế định đồng phạm trong Luật hình sự nhìn

từ góc độ so sánh pháp luật hình sự một số nước trên thế giới” – Hồ Sỹ Sơn – Tạp

chí Nhà nước và Pháp luật năm 2013,… Nội dung của các bài tạp chí này cũng giống như các công trình luận văn, sách chỉ nghiên cứu một cách khái quát các vấn

đề liên quan đến đồng phạm hoặc nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề liên quan đến đồng phạm như khái niệm đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, mà chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu vấn đề định tội danh trong đồng phạm cũng như tìm hiểu những vướng mắc, sai sót trong quá trình định tội danh trong đồng phạm từ thực tiễn cơ quan tiến hành tố tụng

Vì vậy, thông qua đề tài “Định tội danh trong đồng phạm – Lý luận và thực

tiễn”, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt

động định tội danh trong đồng phạm, từ đó đưa ra cách nhìn hệ thống hơn, toàn diện hơn đối với hoạt động định tội danh trong đồng phạm; góp phần giải quyết những vướng mắc, khắc phục những sai sót chế định đồng phạm được quy định trong BLHS

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở phát hiện những bất cập của những quy định pháp luật về đồng phạm và những vướng mắc, khó khăn mà cơ quan tiến hành

tố tụng gặp phải trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án đồng phạm nhằm đưa

ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về đồng phạm và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội danh trong đồng phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đáp ứng yêu cầu cần thiết trong việc

áp dụng pháp luật trong thời gian tới

 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Phân tích những vấn đề lý luận và pháp lý về đồng phạm

- Phân tích những vấn đề lý luận về định tội danh trong đồng phạm

- Nghiên cứu thực trạng xét xử các vụ án đồng phạm; những sai sót, vướng mắc thường gặp của cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 10

- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về đồng phạm và các giải pháp thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh trong đồng phạm

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề định tội danh trong đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới

- Về không gian: luận văn khảo sát thực trạng áp dụng định tội danh trong đồng phạm trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự và

cải cách tư pháp Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như

phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về đồng phạm và đánh giá thực tiễn áp dụng

các quy định này

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương:

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG ĐỒNG PHẠM

Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TRONG VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG

ĐỒNG PHẠM

1.1 Những vấn đề lý luận chung về đồng phạm

1.1.1 Khái niệm đồng phạm và các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm

Tội phạm có thể do một người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng thực hiện tội phạm Trong trường hợp tội phạm do một người thực hiện – khoa học pháp lý hình sự gọi là phạm tội đơn lẻ, trường hợp tội phạm do nhiều người cùng thực hiện có thể có đồng phạm hoặc cũng có thể là trường hợp những người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau Như vậy, trong trường hợp, có nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm là đồng phạm thì có sự phân công vai trò, thống nhất ý chí giữa những người tham gia thực hiện tội phạm nên đồng phạm thường có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ Do đó, vì mục đích phòng ngừa tội phạm và xác định đúng TNHS của những người tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm nên

“Đồng phạm” đã được quy định tại Điều 20 BLHS năm 1999

Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô phạm tội, được thể hiện trong vụ án có nhiều người tham gia1

Theo từ điển Luật học thì “Đồng phạm là trường hợp phạm tội đặc biệt so với

Theo từ điển Tiếng Việt “Đồng” có nghĩa là cùng nhau và không thể khác được “Phạm” được hiểu là xâm phạm đến cái cần được tôn trọng “Đồng phạm” được hiểu là cùng phạm tội

Tại khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 đã đưa ra khái niệm đồng phạm như

sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội

phạm” Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam, đồng phạm cũng là một hình

thức phạm tội nhưng là hình thức phạm tội đặc biệt so với hình thức phạm tội đơn lẻ nên cũng có những dấu hiệu riêng biệt khác nhau so với các hình thức phạm tội khác, đó là các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan trong đồng phạm Và định nghĩa trên đã nêu đầy đủ các dấu hiệu pháp lý riêng biệt của hình thức phạm tội do nhiều người cùng thực hiện Vì vậy, trong một vụ án hình sự có nhiều người

Trang 12

cùng tham gia thực hiện tội phạm có được xem là một vụ án có đồng phạm hay không thì cần xem xét các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan trong vụ án hình sự đó, như sau:

 Dấu hiệu khách quan của đồng phạm

Dấu hiệu khách quan của một vụ án đồng phạm là những dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài khi một vụ án hình sự xảy ra, bao gồm bốn dấu hiệu cơ bản là: dấu hiệu

số lượng người tham gia thực hiện tội phạm, dấu hiệu hành vi khách quan, dấu hiệu hậu quả phạm tội chung và dấu hiệu mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan

và hậu quả phạm tội chung

Dấu hiệu số lượng người tham gia trong vụ án đồng phạm: được quy định tại

khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 là phải có ít nhất từ hai người trở lên tham gia thực hiện tội phạm và mỗi người có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm Nếu trong phạm tội đơn lẻ thì chỉ có một người thực hiện tội phạm thì trong đồng phạm phải

có ít nhất từ hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm Và những người này phải đủ điều kiện là chủ thể tội phạm, tức là có đủ độ tuổi chịu TNHS theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999 và không rơi vào trường hợp không có năng lực chịu TNHS theo quy định tại Điều 13 BLHS năm 1999 Trong trường hợp có hai người trở lên cùng thực hiện một tội phạm, mà trong đó chỉ có một người đủ độ tuổi chịu TNHS và có năng lực chịu TNHS thì cũng không xem là đồng phạm, mà chỉ là trường hợp phạm tội đơn lẻ

BLHS quy định đồng phạm phải từ hai người trở lên vì trên thực tế hầu hết các trường hợp phạm tội xảy ra gây nguy hại lớn cho xã hội là những trường hợp có từ nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm Khi phạm tội riêng lẻ không ít người

có tâm lý sợ hãi, thiếu quyết tâm, gặp khó khăn trở ngại không ít người phạm tội một mình dễ dàng thay đổi ý kiến và có thể ngừng lại không thực hiện hành vi phạm tội nữa Nhưng khi hoạt động tập thể, người phạm tội thường có tâm lý dựa vào sức mạnh tập thể nên liều lĩnh hơn, quyết tâm phạm tội cao hơn nên dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng nghiêm trọng hơn Vì vậy, đồng phạm được đặt ra phải

từ hai người trở lên cùng thực hiện hành vi phạm tội

Đồng phạm quy định phải có ít nhất hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm Hai người trở lên ở đây là những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định nào đó Khi có nhiều người tham gia tội phạm không phải mọi trường hợp mọi người đều tham gia mức độ hành vi là giống nhau, có người tham

Trang 13

gia ít, có người tham gia nhiều, có người hành vi của họ tác động và góp phần quyết định đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra, có những người mà hành vi của họ tác động nhỏ nhặt, không đáng kể đến hậu quả thì vấn đề đồng phạm chưa cần phải đặt ra Chính vì vậy, khi đặt ra vấn đề đồng phạm, chúng ta cần phải xem xét một cách toàn diện các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan của hành vi phạm tội

Dấu hiệu hành vi khách quan trong đồng phạm: thì những người tham gia

thực hiện tội phạm trong đồng phạm phải có hoạt động phạm tội chung, nghĩa là hành vi của mỗi người đồng phạm được thực hiện trong sự liên kết, thống nhất với nhau và hành vi của người này là điều kiện hỗ trợ, bổ sung, là điều kiện cho hành vi của người đồng phạm khác làm cho hoạt động phạm tội chung có hiệu quả và nguy hiểm cao hơn Trong quá trình cùng thực hiện một tội phạm, tùy vào các trường hợp khác nhau mà mỗi người đồng phạm có thể tham gia thực hiện ít nhất một trong bốn loại hành vi sau:

- Hành vi trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP, người thực hiện hành vi này được gọi là người thực hành

- Hành vi tổ chức việc thực hiện tội phạm (tức là tổ chức để thực hiện các hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được gọi là người tổ chức

- Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (tức là hành vi xúi giục người khác thực hiện các hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được gọi là người xúi giục

- Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (tức là hành vi giúp người khác thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được xem là người giúp sức

Mỗi người phạm tội trong đồng phạm có thể thực hiện một hay nhiều hành vi được mô tả như trên Trong trường hợp đồng phạm giản đơn (đồng phạm không có phân công vai trò giữa những người tham gia thực hiện tội phạm) thì tất cả người đồng phạm đều thực hiện một loại hành vi là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm Trong trường hợp đồng phạm phức tạp (đồng phạm có sự phân công vai trò giữa những người tham gia thực hiện tội phạm), mỗi người trong đồng phạm thực hiện một loại hành vi khác nhau: hành vi thực hành, hành vi tổ chức, hành vi giúp sức, hành vi xúi giục Tức là, chỉ có một hoặc một số người trực tiếp thực hiện tội phạm, còn những người khác không trực tiếp thực hiện tội phạm mà chỉ có hành vi

Trang 14

tác động đến người khác để người này trực tiếp thực hiện tội phạm Tuy nhiên, dù trực tiếp hay gián tiếp thực hiện tội phạm thì những người đồng phạm đều phải tham gia thực hiện một tội phạm có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được mô

tả trong Bộ luật hình sự Khi tham gia thực hiện tội phạm thì thời điểm họ tham gia thực hiện tội phạm có thể tham gia ngay từ đầu, nhưng cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc Việc xác định thời điểm tham gia thực hiện tội phạm của những người đồng phạm là trước, đồng thời và sau khi tội phạm kết thúc

có ý nghĩa xác định hành vi của họ có đồng phạm hay không có đồng phạm trong

vụ án đó Nếu hành vi của một người liên quan đến việc thực hiện tội phạm không thuộc một trong bốn loại hành vi trên thì không thể xem là người đồng phạm mà chỉ xem là phạm tội đơn lẻ nếu có CTTP quy định về hành vi này

Dấu hiệu hậu quả chung: nghĩa là hậu quả trong đồng phạm phải là hậu quả

chung của tất cả những người đồng phạm mang lại, là kết quả do hoạt động chung của những người tham gia trong vụ án đồng phạm tạo nên Trong quá trình thực hiện tội phạm, một trong những người đồng phạm gây ra hậu quả riêng thì người đó

tự chịu TNHS về hậu quả riêng mà mình gây ra

Dấu hiệu mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chung:

nghĩa là hành vi của những người đồng phạm phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung Trong trường hợp, đồng phạm không có sự phân công vai trò, tức là tất cả người đồng phạm đều trực tiếp thực hiện tội phạm và hành vi của những người này đều là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả phạm tội chung thì mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người đồng phạm này và hậu quả phạm tội chung được gọi là mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp Trường hợp đồng phạm có

sự phân công vai trò, tức là có cả người thực hành, người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục thì chỉ có hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp gây

ra hậu quả phạm tội chung, còn hành vi của những người đồng phạm còn lại không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả phạm tội chung mà thông qua hành vi của người thực hành để gây ra hậu quả chung Khi đó mối quan hệ giữa hành vi của những người đồng phạm và hậu quả phạm tội chung được gọi là mối quan hệ nhân quả gián tiếp

Như vậy, khi xác định các dấu hiệu khách quan trong một vụ án đồng phạm thì phải dựa vào bốn dấu hiệu khách quan: dấu hiệu số lượng người tham gia trong vụ

án, dấu hiệu hành vi khách quan, dấu hiệu hậu quả phạm tội chung và dấu hiệu về

Trang 15

mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả phạm tội chung Tuy nhiên chỉ có dấu hiệu số lượng người tham gia thực hiện tội phạm và dấu hiệu hành

vi khách quan là hai dấu hiệu bắt buộc trong mọi vụ án đồng phạm; dấu hiệu hậu quả phạm tội chung và dấu hiệu mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả phạm tội chung chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong trường hợp tội phạm được thực hiện là tội phạm có cấu thành vật chất

 Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm

Các dấu hiệu chủ quan trong một vụ án đồng phạm là những dấu hiệu diễn ra bên trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bao gồm dấu hiệu lỗi, dấu hiệu mục đích

phạm tội và dấu hiệu động cơ phạm tội

Dấu hiệu lỗi trong đồng phạm: là lỗi “cùng cố ý” Lỗi “cùng cố ý” được hiểu

là mỗi người đồng phạm cố ý đối với chính hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình

đã thực hiện, biết và mong muốn sự cùng cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của những người đồng phạm khác Để xác định lỗi “cùng cố ý” trong đồng phạm, cần phải xem xét ở hai phương diện lí trí và ý chí của những người đồng phạm như sau:

Về mặt lí trí của những người đồng phạm thì đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện thì mỗi người đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Và đối với hậu quả phạm tội thì mỗi người đồng phạm đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình gây ra và thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ gây ra Như vậy, trong một vụ án hình sự mà người có hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác đang có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình thì không thỏa mãn dấu hiệu “cùng cố ý”, do đó không phải là đồng phạm, mà chỉ là trường hợp phạm tội đơn lẻ

Trong đồng phạm, thông thường mối quan hệ giữa những người đồng phạm có mối quan hệ quen biết, tiếp xúc với nhau từ trước khi tham gia thực hiện tội phạm Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu bắt buộc khi định tội danh trong một vụ án đồng phạm vì trong một số trường hợp do yêu cầu trong hoạt động tội phạm nên những người đồng phạm không nhất thiết phải quen biết nhau mà chỉ cần biết mình đang hoạt động chung với người khác và những người này đều có hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì cũng bị xem là đồng phạm

Trang 16

Về mặt ý chí thì những người tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động phạm tội chung với nhau và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phạm tội chung xảy ra Như vậy, hình thức lỗi trong đồng phạm thông thường là lỗi cố ý trực tiếp nhưng trong một số trường hợp cũng có thể có lỗi cố ý gián tiếp Như vậy, trong trường hợp một vụ án hình sự có từ hai người trở lên cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng với lỗi vô ý thì không có đồng phạm vì giữa họ không cùng mong muốn có hoạt động phạm tội chung và cũng không có ý thức để mặc cho hậu quả phạm tội xảy ra

Dấu hiệu mục đích phạm tội

Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện một tội phạm Trong quá trình cùng thực hiện một tội phạm, mục đích của những người tham gia thực hiện tội phạm trong vụ án đồng phạm có thể là khác nhau Do đó dấu hiệu cùng mục đích phạm tội chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong trường hợp cấu thành tội phạm quy định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu định tội Trong trường hợp này, những người đồng phạm phải có dấu hiệu

“cùng mục đích phạm tội”, tức là những người đồng phạm khi thực hiện tội phạm đều có mục đích phạm tội giống nhau hoặc giữa những người đồng phạm biết rõ và tiếp nhận mục đích của nhau thì cũng thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích phạm tội Trường hợp cấu thành tội phạm không quy định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì những người đồng phạm không bắt buộc phải có dấu hiệu cùng mục đích phạm tội

Dấu hiệu động cơ phạm tội:

Cũng tương tự như dấu hiệu mục đích phạm tội thì dấu hiệu động cơ phạm tội trong một vụ án đồng phạm chỉ là dấu hiệu bắt buộc nếu cấu thành tội phạm quy định dấu hiệu động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc khi định tội danh Trong trường hợp này nếu giữa những người đồng phạm cố ý cùng thực hiện một tội phạm không có cùng động cơ phạm tội thì cũng không xem là đồng phạm

1.1.2 Các loại người trong đồng phạm

Trong một vụ án đồng phạm, tùy thuộc vào quy mô của việc thực hiện tội phạm mà những người tham gia thực hiện tội phạm có vai trò, tính chất và mức độ thực hiện hành vi là khác nhau Hiện nay, tại khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định có bốn loại người trong đồng phạm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức

Trang 17

1.1.2.1 Người thực hành

Theo từ điển Luật học: “Người thực hành là người đã trực tiếp thực hiện tội

phạm Họ có thể tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc chỉ có hành động (cố ý) tác động đến người khác để người này thực hiện hành

vi được miêu tả trong cấu thành tội phạm Nhưng bản thân những người bị tác động

đã thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người đã tác

Theo khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Người thực hành là người

trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội”

Trong khoa học luật hình sự và thực tiễn, người trực tiếp thực hiện tội phạm bao gồm hai dạng hành vi như sau:

Dạng hành vi thứ nhất: người thực hành là người tự mình thực hiện hành vi

khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Trong trường hợp này có thể có một người thực hành hoặc nhiều người thực hành Trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP có thể thực hiện hết tất cả các hành vi khách quan được mô tả trong CTTP hoặc thực hiện một phần các hành vi khách quan được

mô tả trong CTTP Trong quá trình tự mình thực hiện hành vi khách quan, người thực hành có thể sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội hoặc không sử dụng công

cụ, phương tiện phạm tội Trong trường hợp đồng phạm có một người thực hành thì hành vi của người này phải thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP, trường hợp có nhiều người cùng thực hành thì tổng hợp tất cả các hành vi của những người thực hành này phải thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP, khi đó tội phạm được xem là hoàn thành

Dạng hành vi thứ hai: người thực hành không trực tiếp thực hiện hành vi

khách quan được mô tả trong CTTP nhưng tại tác động, sử dụng hoặc lợi dụng người khác để chính người này thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP và gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nếu xét về hình thức thì người bị tác động hoặc lợi dụng đã trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP Nhưng nếu xét về bản chất thì người tác động đã xem người bị tác động như một công cụ, phương tiện phạm tội để thay mình trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP nên hậu quả gây ra cho xã hội là do chính hành vi tác động, lợi dụng của người đã tác động gây ra, người bị tác động không có lỗi nên họ

Trang 18

không phải chịu TNHS với người tác động Người bị tác động hoặc bị lợi dụng trong trường hợp này tuy trực tiếp thực hiện tội phạm nhưng không chịu TNHS nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Người bị tác động hoặc bị lợi dụng là người không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tức là không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Do đó, khi người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan và gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự vì người này không có lỗi khi hậu quả xảy ra

- Người tác động lợi dụng sự sai lầm của người khác về những tình tiết khách quan của vụ án hoặc người đó không có lỗi để gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội

- Người tác động đã cưỡng bức, uy hiếp tinh thần của người khác để người bị tác động thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Vì khi thực hiện hành vi nguy hiểm này, người bị tác động không điều khiển được ý chí theo ý mình nên họ không có lỗi khi gây ra hậu quả cho xã hội

- Người tác động đã ra mệnh lệnh cho người dưới quyền để người này thực hiện hành vi không hợp pháp mà bản thân người này không biết được tính chất không hợp pháp của mệnh lệnh và không có nghĩa vụ phải biết tính không hợp pháp của mệnh lệnh đó, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trong bốn trường hợp nêu trên, người bị tác động khi gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội đều là người không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý Mặc dù, về mặt khách quan người bị tác động đã trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP nhưng về mặt chủ quan họ không có lỗi hoặc có lỗi vô ý nên không đáp ứng được dấu hiệu chủ quan của đồng phạm Trường hợp này, họ không phạm tội hoặc nếu có phạm tội thì chỉ là lỗi vô ý nên người bị tác động không phải là đồng phạm với người tác động, lợi dụng họ thực hiện hành vi khách quan và gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Tuy nhiên, trong trường hợp CTTP đòi hỏi chủ thể tội phạm phải là chủ thể đặc biệt thì người thực hành hoặc những người đồng thực hành phải thỏa mãn dấu hiệu của chủ thể đặc biệt, các loại người đồng phạm khác như người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục thì không cần phải thỏa mãn dấu hiệu này, ví dụ như: tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS năm 1999), tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS năm 1999)…

Trang 19

Trong một vụ án đồng phạm thì có thể có một người thực hành hoặc có nhiều người thực hành Trường hợp vụ án đồng phạm có một người thực hành thì hành vi của người này phải thỏa mãn hết các dấu hiệu bắt buộc trong CTTP Trường hợp vụ

án đồng phạm có nhiều người thực hành và mỗi người thực hành thực hiện một phần hành vi khách quan được mô tả trong CTTP thì tổng hợp tất cả những hành vi của những người thực hành này phải thỏa mãn hết các dấu hiệu bắt buộc trong CTTP, khi đó tội phạm được coi là tội phạm hoàn thành Đây là điểm khác biệt so với trường hợp phạm tội riêng lẻ, vì hành vi của người thực hành trong phạm tội riêng lẻ phải thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP thì được xem là tội phạm hoàn thành

Trong một vụ án đồng phạm thì hành vi của người thực hành giữ vai trò trung tâm trong một vụ án đồng phạm và có một vai trò quan trọng nhất so với những người đồng phạm còn lại, bởi vì khi giải quyết trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong vụ án đồng phạm như hoạt động định tội danh trong đồng phạm, xác định giai đoạn phạm tội, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, …đều căn cứ vào hành vi của người thực hành Ngoài ra, hành vi của người thực hành chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả phạm tội chung, còn hành vi của người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục chỉ gây thiệt hại cho

xã hội thông qua hành vi của người thực hành

Định tội danh dựa vào vai trò của người đồng phạm đặc biệt dựa vào vai trò của người thực hành đóng rất vai trò quan trọng và quyết định đến vấn đề định tội danh Vì hành vi của người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức không trực tiếp thực hiện hành vi khách quan mà chỉ có hành vi tác động đến người thực hành

để người thực hành thay mặt nhóm đồng phạm thực hiện hành vi khách quan được

mô tả trong CTTP Tội danh được thực hiện của người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức phụ thuộc vào hành vi khách quan mà người thực hành đã thực hiện, cách xác định tội danh của người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức đều dựa

vào hành vi của người thực hành Xuất phát từ nguyên tắc “Những người đồng

phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm”, nên những người đồng

phạm đều phải chịu TNHS về cùng một tội danh, nghĩa là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức đều bị truy tố, xét xử về cùng một tội danh Thực tiễn cho thấy không phải mọi trường hợp những người thực hành đều thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi đã được thỏa thuận trước khi thực hiện tội

Trang 20

phạm mà trên thực tế những người thực hành có thể thực hiện hành vi vượt quá yêu cầu của những người đồng phạm khác, khoa học luật hình sự gọi là hành vi vượt quá của người thực hành Hành vi vượt quá của người thực hành là việc người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác không mong muốn, hành vi của người thực hành mà những đồng phạm khác không có ý định thực hiện

Xuất phát từ nguyên nhân khi người thực hành thực hiện hành vi vượt ra ngoài ý định phạm tội chung thì giữa người thực hành và những người đồng phạm khác không tồn tại mối quan hệ “cố ý cùng tham gia thực hiện” hành vi vượt quá đó Những người đồng phạm khác không được biết về hành vi vượt quá và cũng không mong muốn hành

vi vượt quá xảy ra Hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác không có mối quan hệ nhân quả với hành vi vượt quá đó Vì vậy những người đồng phạm khác không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành Hành vi vượt quá của người thực hành là hành vi vượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm Hành vi đó có thể cấu thành một tội phạm khác hoặc cấu thành tình tiết định khung tăng nặng TNHS Hành vi vượt quá của người thực hành được thể hiện ở hai mức độ:

Vượt quá về tính chất của hành vi: Người thực hành đã thực hiện một hành vi

khác ngoài dự kiến ban đầu giữa họ với những người đồng phạm khác Hành vi thực tế

đã thực hiện có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn hành vi dự kiến ban đầu nhóm đồng phạm thực hiện Hành vi vượt quá về chất không cùng loại với hành vi mà nhóm đồng phạm dự kiến thực hiện

Vượt quá về mức độ thực hiện hành vi: Người thực hành thực hiện hành vi phạm

tội theo như thỏa thuận ban đầu giữa họ với những người đồng phạm khác, nhưng mức

độ thực hiện hành vi phạm tội đó có tính chất nguy hiểm cao hơn Hành vi vượt quá trong trường hợp này có thể cấu thành tội phạm khác nhưng cùng tính chất với hành vi phạm tội chung của những người đồng phạm

Tuy nhiên, trong trường hợp những người đồng phạm khác để cho người thực hành hoàn toàn tự do hành động để đạt được mục đích của tội phạm và những đồng phạm khác cũng có ý định thực hiện hoặc có ý thức chấp nhận hành vi của người thực hành thì khi đó hành vi của người thực hành không được coi là “vượt quá” và tất cả những người đồng phạm phải chịu TNHS chung với người thực hành về hành vi này Trường hợp người thực hành có sự nhầm lẫn về khách thể của tội phạm thì những người đồng phạm khác chỉ phải chịu TNHS về tội phạm này ở giai đoạn phạm tội chưa

Trang 21

đạt chứ không phải tội phạm hoàn thành, tức là nếu có sự sai lầm của người thực hành thì không có hành vi vượt quá4

Thực tiễn xét xử cho thấy để xác định một hành vi của người thực hành hoặc những đồng phạm khác có phải là hành vi vượt quá hay không gặp rất nhiều khó khăn xuất phát từ nguyên nhân chính là rất khó xác định ranh giới để phân biệt hành vi vượt quá hay hành vi không vượt quá Như phân tích trên, để xác định hành vi thực hiện là vượt quá hay không vượt quá thì phải xác định được các đồng phạm khác có cùng cố ý hoặc cùng mong muốn thực hiện hành vi đó hay không Điều này nghĩa rằng, ranh giới

để phân biệt hành vi vượt quá hay hành vi không vượt quá phụ thuộc vào việc làm rõ nhận thức và mong muốn bên trong của người đồng phạm, tức là phụ thuộc vào việc xác định lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi được thực hiện Nếu lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi đó là “cùng cố ý” thực hiện hành vi thì hành vi này được xem là hành vi vượt quá và ngược lại, nếu lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi đó

là “ không cùng cố ý” thực hiện hành vi thì hành vi này không được xem là hành vi vượt quá của người đồng phạm

Chính vì vậy, để xác định và phân định rõ hành vi vượt quá và hành vi không phải vượt quá của người đồng phạm thì yêu cầu chủ thể định tội danh phải có cái nhìn tổng quan, sâu sắc, phân tích và làm rõ các tình tiết liên quan của vụ án đặc biệt là dấu hiệu lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi thực hiện nhằm đảm bảo hoạt động định tội danh đối với hành vi này đạt hiệu quả cao, hạn chế trường hợp những người đồng phạm còn lại phải chịu TNHS chung về hành vi vượt quá của người đồng phạm có

hành vi này Điều này đảm bảo phù hợp nội dung nguyên tắc “Phân hóa TNHS của

từng người đồng phạm” Nguyên tắc này thể hiện những người đồng phạm phải

chịu TNHS chung về hành vi mà ý thức trong khuôn khổ những người đồng phạm nhận thức được và mong muốn thực hiện hành vi đó, những người đồng phạm không phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của những người đồng phạm khác, hành vi vượt quá của người thực hành Trong trường hợp hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đã thực hiện hành vi tổ chức, hành vi xúi giục và hành vi giúp sức nhưng người thực hành chưa thực hiện tội phạm thì họ vẫn phải chịu TNHS và chịu TNHS ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội

1.1.2.2 Người tổ chức

Trang 22

Theo từ điển Luật học: “Người tổ chức là người đồng phạm giữ vai trò đặc

biệt trong các vụ án đồng phạm, thể hiện ở vai trò liên kết các cá nhân để hình

Theo khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Người tổ chức là người

chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy hoạt động của người tổ chức diễn ra hết sức phức tạp và đa dạng Chính vì vậy, BLHS hiện hành đã xác định hoạt động của người tổ chức bao gồm các hoạt động của người chủ mưu, người cầm đầu, người chỉ huy việc thực hiện tội phạm

Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung của Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thì:

Người chủ mưu là người chủ động về mặt tinh thần gây ra tội phạm, có sáng kiến thành lập các băng, nhóm tội phạm; đề xuất âm mưu và vạch ra phương hướng, đường lối hoạt động chung của nhóm đồng phạm; kích động, thúc đẩy đồng bọn phạm tội

Người cầm đầu là người đứng ra thành lập các nhóm đồng phạm; hoặc tham gia soạn thảo kế hoạch, phương hướng hoạt động chính của nhóm đồng phạm; phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn và đôn đốc, điều khiển mọi hoạt động của nhóm đồng phạm

Người cầm đầu có thể không phải là người sáng lập ra nhóm đồng phạm, họ tham gia khi nhóm đồng phạm đã hoàn thành, nhưng được đồng bọn tín nhiệm nên được cử vào bộ phận của nhóm đồng phạm

Người chỉ huy là người trực tiếp điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm

Theo quan điểm của TS Trần Quang Tiệp thì:

“Người chủ mưu là người chủ động về mặt tinh thần gây ra tội phạm, vạch ra

âm mưu, phương hướng hoạt động Người chủ mưu có thể trực tiếp đứng ra cầm đầu, điều khiển hoạt động của băng, nhóm tội phạm, nhưng cũng có thể đứng ngoài băng, nhóm tội phạm đó

6

Đại học luật TP Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – phần chung, NXB Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam, tr.208

Trang 23

Người cầm đầu là người đứng ra thành lập các băng, nhóm phạm tội hoặc tuy không đứng ra thành lập nhóm nhưng có sự tham gia vào việc soạn thảo, vạch kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm, đôn đốc đồng bọn thực hiện tội phạm

Người chỉ huy là người trực tiếp điều khiển hoạt động của các băng, nhóm tội

Như vậy hoạt động của người tổ chức có thể tồn tại một trong ba dạng là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc kết hợp giữa chủ mưu và cầm đầu, chủ mưu và chỉ huy, cầm đầu và chỉ huy hoặc cũng có thể kết hợp cả ba dạng chủ mưu, cầm đầu và chỉ huy

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy người tổ chức có ba loại hoạt động như sau:

- Hoạt động thành lập băng, nhóm tội phạm, tổ chức tội phạm

- Hoạt động tập hợp, lôi kéo người vào băng, nhóm tội phạm, tổ chức tội phạm

đã được thành lập hoặc điều khiển, điều hòa, phối hợp hoạt động phạm tội của đồng bọn

- Tổ chức thực hiện một tội phạm cụ thể

Như vậy, để xem là người tổ chức trong vụ đồng phạm thì người này chỉ cần

có hành vi thỏa mãn một trong ba hoạt động nêu trên

Trong một vụ án đồng phạm thì người tổ chức là người giữ vai trò nguy hiểm nhất trong tất cả người đồng phạm, vì người tổ chức là người sáng lập ra nhóm đồng phạm, là người vạch ra các kế hoạch hoạt động cho nhóm đồng phạm cho nên trong một vụ án nếu không có người tổ chức thì tội phạm khó có thể xảy ra Bên cạnh đó, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động của người tổ chức, hoạt động của người tổ chức hiệu quả cao thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cao

hơn so với trường hợp bình thường

1.1.2.3 Người xúi giục

Theo từ điển Luật học: “Người xúi giục là người đồng phạm có hành vi tác

Theo từ điển Tiếng Việt: “Xúi giục là xui và thúc đẩy người khác làm việc sai

8

Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (1998), tlđd (số 2), tr.269

Trang 24

Khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Người xúi giục là người kích

động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm”

Như vậy, xúi giục là hành vi tác động đến tư tưởng người khác làm xuất hiện ý định phạm tội và thúc đẩy người này thực hiện hành vi phạm tội đó Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm được biểu hiện rất đa dạng bằng nhiều phương thức như kích động, mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ, cưỡng ép, đe dọa,…Nhưng khái quát bao gồm hai phương thức là thuyết phục và bắt buộc

Phương thức thuyết phục tức là người xúi giục dùng các lý lẽ hay các lợi ích vật chất để tạo niềm tin cho người khác để người này tin theo mà thực hiện tội phạm

Phương thức bắt buộc tức là người xúi giục dùng những biện pháp, thủ đoạn,…để buộc người khác phải chấp nhận thực hiện tội phạm như đe dọa, khống chế,…

Việc người xúi giục lựa chọn phương thức thuyết phục hay phương thức bắt buộc phụ thuộc vào bản chất của người xúi giục và mối quan hệ giữa người xúi giục

và người bị xúi giục Hành vi của người xúi giục và hành vi của người bị xúi giục phải có mối quan hệ nhân quả với nhau Nghĩa là, hành vi xúi giục là nguyên nhân của hành vi thực hiện tội phạm của người bị xúi giục; còn hành vi phạm tội của người bị xúi giục là kết quả và mục đích của người xúi giục

Vì vậy trong quá trình định tội danh trong một vụ án hình sự thì một hành vi được coi là hành vi xúi giục trong vụ án đồng phạm phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Một là, hành vi xúi giục phải trực tiếp nhằm một con người cụ thể Có thể xúi

giục một người hoặc một số người nhưng phải là con người cụ thể có đủ điều kiện

là chủ thể của tội phạm, có nghĩa là người này có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình

sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Hành vi xúi giục không nhằm vào con người

cụ thể như hô hào, kêu gọi,…không hướng tới những con người xác định thì không phải là hành vi xúi giục

Hai là, hành vi xúi giục phải nhằm gây ra việc thực hiện một tội phạm nhất

định Nếu chỉ có hành vi gieo rắc, truyền bá, phổ biến những tư tưởng xấu cho một người hoặc một số người và khiến người này thực hiện tội phạm thì cũng không xem là người xúi giục trong đồng phạm mà chỉ có thể cấu thành tội phạm độc lập (nếu có)

Trang 25

Ba là, về mặt chủ quan, người xúi giục phải có ý định rõ ràng thúc đẩy người

khác phạm tội Nếu một người chỉ có hành vi làm ảnh hưởng đến việc phạm tội của người khác nhưng không có ý định thúc đẩy người này thực hiện tội phạm thì cũng không xem là người xúi giục

Hành vi xúi giục có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội là khác nhau, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người xúi giục và người bị xúi giục Chẳng hạn như, nếu người xúi giục lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tôn giáo, tín ngưỡng, sự nhẹ dạ của những người vị thành niên để xúi giục, thúc đẩy họ thực hiện hành vi phạm tội thì hành vi của người xúi giục trong trường hợp này có tính nguy hiểm cho xã hội cao Trong quá trình nghiên cứu hành vi của người xúi giục, cần phân biệt giữa hành vi của người xúi giục với hành vi của người thực hành và hành vi của người tổ chức ở dạng là người chủ mưu

Phân biệt hành vi giữa người xúi giục và người thực hành: Đối với dạng hành

vi người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm thì người xúi giục không tự mình thực hiện hành vi khách quan Đối với dạng người thực hành sử dụng người khác thực hiện hành vi khách quan được

mô tả trong cấu thành tội phạm và người này không phải chịu trách nhiệm hình sự, người bị sử dụng trong trường hợp này không đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm; còn hành vi của người xúi giục cũng sử dụng người khác để thực hiện tội phạm nhưng người bị xúi giục phải đủ điều kiện chủ thể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, xét về mặt hình thức thực hiện hành vi thì hành vi của người thực hành được thực hiện dưới dạng hành động phạm tội và không hành động phạm tội, còn hình thức thực hiện hành vi của người xúi giục chỉ là hành động phạm tội

Phân biệt giữa hành vi của người xúi giục và người tổ chức ở dạng người chủ mưu Người xúi giục và người tổ chức đều có hành vi rủ rê, lôi kéo người khác…tham gia vào băng, nhóm tội phạm nhưng hành vi của người tổ chức có tính nguy hiểm cao hơn hành vi của người xúi giục vì người tổ chức có hành vi sáng lập

ra nhóm đồng phạm, vạch ra phương hướng hoạt động cho nhóm đồng phạm; còn hành vi của người xúi giục thì không có những hành vi này

Xét tổng quan trong một vụ đồng phạm thì hành vi của người xúi giục có tính nguy hiểm ít hơn hành vi của người tổ chức và trong một số trường hợp hành vi của

Trang 26

người xúi giục ít nguy hiểm hoặc nguy hiểm hơn hành vi của người thực hành 1.1.2.4 Người giúp sức

Theo từ điển Luật học: “Người giúp sức là người đồng phạm đã cố ý tạo ra

Khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Người giúp sức là người tạo ra

những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”

Từ khái niệm này, ta thấy Luật hình sự Việt Nam quan niệm hành vi nguy hiểm cho xã hội của người giúp sức trong đồng phạm là hành vi tạo ra những điều kiện thuận lợi cho người thực hành thực hiện tội phạm Căn cứ vào những dấu hiệu khách quan thì những điều kiện đó là giúp sức về vật chất và giúp sức về tinh thần Giúp sức về vật chất là những hành vi cung cấp công cụ, phương tiện phạm tội, khắc phục những trở ngại để người thực hành thực hiện tội phạm được dễ dàng

và thuận lợi hơn Khác với hành vi thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức về vật chất chỉ tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn cho việc thực hiện tội phạm mà không tham gia trực tiếp vào việc thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm Giúp sức về vật chất có thể được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội

và không hành động phạm tội Giúp sức về vật chất ở dạng cung cấp, phương tiện phạm tội cho người thực hành chỉ có thể được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội; còn giúp sức về vật chất dưới dạng khắc phục trở ngại có thể được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội hoặc dưới hình thức không hành động phạm tội Khắc phục trở ngại dưới hình thức không hành động phạm tội xảy ra khi người giúp sức không thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình là ngăn chặn tội phạm Giúp sức về tinh thần là những hành vi tạo điều kiện thuận lợi về tinh thần cho người thực hiện tội phạm nhưng không mang tính vật chất như chỉ dẫn cách thức thực hiện tội phạm, góp ý kiến, cung cấp tình hình, hứa hẹn sẽ che giấu người phạm tội, tang vật, che giấu công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tiêu thụ các vật có được

do phạm tội mà có Giúp sức về tinh thần mang tính chất cung cấp thông tin, tác động vào nhận thức và ý thức của người thực hành nên chỉ có thể biểu hiện dưới dạng hành động phạm tội

Hành vi giúp sức thường được thực hiện trước khi người thực hành bắt đầu thực hiện tội phạm Hoặc có khi hành vi giúp sức được thực hiện trong giai đoạn tội phạm đang được thực hiện nhưng chưa kết thúc Khác với hành vi xúi giục, hành vi

Trang 27

giúp sức về tinh thần chỉ giúp củng cố thêm quyết tâm để thực hiện tội phạm mà người được giúp sức đã có ý định phạm tội ngay từ trước đó

Trong quá trình định tội danh trong một vụ án có đồng phạm thì cần phân biệt giữa hành vi giúp sức và hành vi của người thực hành, hành vi của người xúi giục Hành vi của người giúp sức khác với hành vi của người thực hành ở chỗ người giúp sức không thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, còn người thực hành trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm So sánh với người xúi giục thì cả người giúp sức và người xúi giục đều có hành vi chỉ dẫn, khuyên bảo nhưng người giúp sức và người xúi giục có vai trò khác nhau trong việc hình thành ý chí, quyết tâm thực hiện tội phạm của những người đồng phạm khác Nếu như hành vi của người xúi giục làm xuất hiện ý định phạm tội thì hành vi của người giúp sức củng cố quyết tâm thực hiện tội phạm đã được hình thành từ trước của những người đồng phạm

So với hành vi của người tổ chức, người xúi giục và người thực hành thì hành

vi của người giúp sức có tính chất và mức độ nguy hiểm hạn chế hơn vì hành vi của người giúp sức chỉ mang tính chất tạo điều kiện thuận lợi hơn, dễ dàng hơn cho các đồng phạm khác thực hiện tội phạm mà không mang tính quyết định trong việc thực hiện tội phạm Vì vậy, trong một vụ án đồng phạm thì hành vi của người giúp sức

có tính nguy hiểm cho xã hội ít nhất so với hành vi của người thực hành, người tổ chức, người xúi giục Bởi vì, hành vi của người giúp sức về mặt bản chất chỉ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người đồng phạm khác thực hiện tội phạm nên nếu trong một vụ án đồng phạm không có người giúp sức thì tội phạm vẫn có thể thực hiện được Chính vì vậy, thực tiễn xét xử cho thấy người giúp sức thông thường chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất trong tất cả các loại người đồng phạm Tóm lại, BLHS năm 1999 đã phân chia người đồng phạm thành bốn loại người đồng phạm khác nhau và tương ứng với từng người đồng phạm giữ vai trò khác nhau Trong một vụ án đồng phạm, người thực hành giữ vai trò trung tâm, nếu không có người thực hành thì tội phạm không được thực hiện Nhưng nếu không có

sự khởi xướng, thành lập, vạch kế hoạch của người tổ chức thì những người đồng phạm khác chỉ thực hiện tội phạm một cách riêng lẻ, tự phát và hậu quả gây ra cho

xã hội là không cao Vì vậy, người tổ chức là người giữ vai trò quan trọng nhất và nguy hiểm nhất trong những người đồng phạm Mặc khác, những người đồng phạm

từ việc quyết tâm thực hiện tội phạm đến thực hiện tội phạm trên thực tế là nhờ vào

Trang 28

hành vi xúi giục của người xúi giục, nếu không có hành vi xúi giục có thể những người đồng phạm không thực hiện tội phạm, vì vậy tính nguy hiểm hành vi của người xúi giục có thể ngang bằng hành vi của người thực hành Ngoài ra, để cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi và dễ dàng hơn thì cần có sự giúp đỡ về tinh thần và vật chất của người giúp sức Vì vậy, hành vi của người giúp sức có tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với hành vi của những người đồng phạm khác, vì nếu không có hành vi của người giúp sức thì tội phạm vẫn có thể được thực hiện Như vậy, việc phân loại người đồng phạm không chỉ có ý nghĩa xác định được hành

vi của người đồng phạm nào là trực tiếp thực hiện tội phạm – là cơ sở xác định tội danh vụ án đồng phạm mà còn có ý nghĩa xác định mức độ chịu trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho từng người đồng phạm khi một tội phạm được thực hiện

1.1.3 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm Quy định này tạo điều kiện cho người đang thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội dừng lại, chấm dứt việc thực hiện tội phạm và không bị truy cứu TNHS Hiện nay, tại Điều 19 BLHS năm

1999 quy định: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện

tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản” Điều này có nghĩa rằng, người được

xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nếu người này từ bỏ hoàn toàn việc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội dù rằng trên thực tế người này có đủ điều kiện

để thực hiện tội phạm đến cùng11

và người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định phạm Như vậy, từ quy định tại Điều 19 BLHS năm

1999 thì vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ đặt ra cho chính người

có hành vi tự ý chấm dứt việc phạm tội và nguyên tắc chung hành vi của người này thỏa mãn đầy đủ hai điều kiện sau:

Một là, việc chấm dứt thực hiện tội phạm phải xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành

Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ có thể phát sinh khi hậu quả pháp lý của tội phạm chưa xảy ra Nếu hậu quả đã xảy ra thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì sẽ không còn ý nghĩa vì nó không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã thực hiện Do vậy hành vi tự ý nửa

Trang 29

chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ có thể xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, người phạm tội chưa thực hiện hành vi khách quan của CTTP nên hậu quả phạm tội không thể xảy ra Do đó, một người chấm dứt việc thực hiện tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội là một điều kiện để xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Trong trường hợp, người phạm tội chấm dứt việc phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt thì phải là giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Vì giai đoạn này, người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi mà người đó cho là cần thiết để ra hậu quả phạm tội nên việc chấm dứt không thực hiện hành vi phạm tội là điều kiện để xem xét tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Khi tội phạm đã ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi mong muốn để gây ra hậu quả phạm tội cho nên việc người phạm tội dừng lại không thực hiện tội phạm không ảnh hưởng gì đến việc hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra và do vậy không thể có việc tự ý dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm

Hai là, việc chấm dứt thực hiện tội phạm phải là tự nguyện và dứt khoát

Người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hoàn toàn do động lực bên trong không mong muốn thực hiện tội phạm nữa mặc dù không có gì ngăn cản

để tiếp tục thực hiện tội phạm Ngoài ra, người phạm tội khi chấm dứt việc thực hiện tội phạm thì việc chấm dứt phải một cách triệt để, từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải tạm thời ngừng lại để tìm những thủ đoạn, phương tiện khác có hiệu quả hơn, thuận lợi hơn để tiếp tục thực hiện tội phạm

Tội phạm do một người thực hiện thì khi người phạm tội không thực hiện tội phạm đến cùng được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải dựa vào hai điều kiện nêu trên theo quy định Điều 19 BLHS năm 1999 Tuy nhiên, trường hợp tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm thì hành vi của những người đồng phạm tác động qua lại lẫn nhau, trong đó có người trực tiếp thực hiện tội phạm (người thực hành) nhưng cũng có người chỉ có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) cho nên việc xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm bên cạnh dựa vào nguyên tắc chung quy định Điều 19 BLHS năm 1999 thì còn có các đặc trưng riêng Theo nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 và nghị quyết số 01/1989/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vấn đề tự ý

Trang 30

nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm được xác định như sau12: Trong vụ án đồng phạm thì người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm nên điều kiện về xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành giống như phạm tội đơn lẻ quy định Điều 19 BLHS năm 1999, tức là người thực hành được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải đảm bảo thỏa mãn hai điều kiện sau:

- Việc chấm dứt thực hiện tội phạm của người thực hành phải ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành

- Người thực hành chấm dứt việc phạm tội là do mình tự lựa chọn, không bị ảnh hưởng bởi nguyên nhân khách quan nào

Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án đồng phạm có nhiều người thực hành thì người thực hành nào tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì người đó được miễn trách nhiệm hình sự, còn những người thực hành khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường Trường hợp những người đồng thực hành khác sử dụng kết quả của người thực hành mà tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội để thực hiện tội phạm thì bản thân người thực hành này phải có hành động ngăn chặn việc thực hiện tội phạm của những đồng thực hành khác, khi đó người này được xem là

tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và được miễn trách nhiệm hình sự Trường hợp người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhưng những hành vi trước đó của người thực hành này đã được những người đồng thực hành sử dụng để thực hiện tội phạm và người thực hành này bỏ mặc, không có hành động gì tích cực

để ngăn cản việc thực hiện tội phạm thì cũng không xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và vẫn phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả phạm tội xảy ra Người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức là những người không trực tiếp thực hiện tội phạm mà chỉ có hành vi tham gia vào quá trình thực hiện tội phạm như tổ chức, thành lập, rủ rê, kích động hoặc tạo các điều kiện vật chất và tinh thần cho việc thực hiện tội phạm Do vậy, để xác định người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì phụ thuộc vào việc người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức có hay không có hành vi tích cực nhằm ngăn chặn hậu quả phạm tội trong trường hợp người đồng phạm sử dụng hành

thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 31

vi những người này đã thực hiện để gây ra hậu quả phạm tội trước khi tội phạm kết thúc, cụ thể như sau:

Trường hợp, hành vi của người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức đã được thực hiện trước đó mà người đồng phạm sử dụng để gây ra hậu quả phạm tội thì để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức ngoài việc thỏa mãn các điều kiện quy định Điều 19 BLHS năm 1999 thì trước khi tội phạm kết thúc người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức phải có hành động tích cực ngăn chặn việc thực hiện tội phạm như thuyết phục, động viên người đồng phạm không thực hiện tội phạm đến cùng, báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để có biện pháp ngăn chặn việc thực hiện tội phạm kịp thời hoặc có hành động làm mất đi tác dụng của những hành vi

mà người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức đã thực hiện trước đó Khi người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức đã áp dụng các biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn tội phạm nhưng tội phạm vẫn tiếp tục được thực hiện đến cùng thì hành động ngăn chặn tội phạm của những người này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt

Trường hợp người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức tự mình chấm dứt việc thực hiện tội phạm nhưng có ý thức bỏ mặc cho những người đồng phạm khác sử dụng hành vi của mình đã thực hiện trước đó để thực hiện tội phạm mà không có các biện pháp ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra hoặc không có hành

vi làm vô hiệu hóa các hành vi đã thực hiện trước đó, thì việc tự ý chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức không được xem là tự

ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức phải chịu TNHS về những hành vi phạm tội mà những đồng phạm khác thực hiện

Như vậy, vì hành vi của những người đồng phạm có mối liên hệ, tác động lẫn nhau nên để xác định tự ý chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm thì cần xác định những người đồng phạm đã có hành vi ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, vô hiệu hóa các hành vi mà người đồng phạm đã thực hiện trước đó trong trường hợp hành

vi của họ đã được sử dụng để thực hiện tội phạm Và vấn đề tự ý chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm chỉ đặt ra cho chính người có hành vi tự ý chấm dứt thực hiện tội phạm và không ảnh hưởng gì đến TNHS của những người đồng phạm còn lại

Trang 32

1.1.4 Phân biệt hành vi đồng phạm và các hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội phạm độc lập

Trong quá trình thực hiện tội phạm trong vụ án đồng phạm thì ngoài các hành vi đồng phạm còn xuất hiện các hành vi khác như hành vi che giấu tội phạm, hành vi không tố giác tội phạm,…tuy có liên quan đến tội phạm được thực hiện nhưng không phải là hành vi đồng phạm Xuất phát từ định nghĩa đồng phạm tại Điều 20 BLHS năm

1999 thì trong vụ án đồng phạm, chỉ có hành vi cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm thì được xem là hành vi đồng phạm Những hành vi tuy liên quan đến đồng phạm nhưng không phải là hành vi cùng cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm, tức

là những hành vi này không phải các hành vi được quy định tại khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 thì đều không phải là hành vi đồng phạm mà chỉ cấu thành tội phạm độc lập nếu pháp luật hình sự quy định Những hành vi liên quan này không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tội phạm, không có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện tội phạm, không phải là nguyên nhân gây ra hậu quả của tội phạm Do đó, người có hành vi liên quan không phải chịu TNHS cùng với những người đã thực hiện tội phạm với vai trò là người đồng phạm Hiện nay, BLHS năm 1999 quy định hành vi liên quan đến tội phạm

mà cấu thành tội độc lập bao gồm hành vi che giấu tội phạm (Điều 21 BLHS năm 1999) và hành vi không tố giác tội phạm (Điều 22 BLHS năm 1999)

Điều 21 BLHS năm 1999 quy định: “Người nào không hứa hẹn trước, nhưng

sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định” Như vậy, một người không hứa hẹn trước

nhưng sau khi biết tội phạm kết thúc đã có hành vi che giấu tội phạm như che giấu người phạm tội, che giấu tang vật, dấu vết phạm tội, thì không xem là hành vi đồng phạm mà chỉ cấu thành tội độc lập Người có hành vi che giấu tội phạm tuy có liên quan đến đồng phạm nhưng không góp phần làm phát sinh hậu quả phạm tội như những hành vi đồng phạm vì hành vi che giấu tội phạm chỉ có thể xảy ra khi tội phạm

đã kết thúc Bên cạnh đó, khách thể của tội che giấu tội phạm là các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử không giống với khách thể của các tội được che giấu nên TNHS của người che giấu khác so với TNHS của những người đồng phạm Người che giấu khác những người đồng phạm ở hai điểm chính, đó là về dấu hiệu chủ quan không có sự cùng cố ý, về dấu hiệu khách quan thì giữa hành vi che giấu tội phạm và hậu quả phạm

Trang 33

tội chung không có mối quan hệ nhân quả với nhau13 So sánh với hành vi của người giúp sức trong đồng phạm thì hành vi che giấu tội phạm không có sự hứa hẹn trước về hành vi che giấu tội phạm với người thực hiện tội phạm mà chỉ có hành vi che giấu tội phạm khi biết tội phạm đã xảy ra Trong khi đó, hành vi che giấu tội phạm của người giúp sức trong đồng phạm thì người giúp sức đã có sự hứa hẹn trước về việc sẽ che giấu tội phạm với người thực hiện tội phạm trước khi tội phạm được thực hiện Chủ thể thực hiện hành vi che giấu tội phạm phải chịu TNHS về tội che giấu tội phạm khi che giấu một trong các tội được được quy định tại Điều 313 BLHS năm 1999 Do đó, nếu

có hành vi che giấu tội phạm một trong các tội không thuộc quy định tại Điều 313 BLHS năm 1999 thì không phải chịu TNHS về tội che giấu tội phạm

Trường hợp, sau khi biết tội phạm được thực hiện mà người phạm tội có hành vi che giấu các tài sản do phạm tội mà có của vụ án thì hành vi này có thể bị truy cứu TNHS tại Điều 250 BLHS năm 1999 quy định hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có, như sau: “1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa

chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ” Theo quy định này, thì một người biết rõ tài

sản là do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn chứa chấp và tiêu thụ tài sản này thì hành vi của người này đủ yếu tố cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định Điều 250 BLHS năm 199914

Điều 22 BLHS năm 1999 quy định: “1 Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc

chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật này 2 Người không tố giác là ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này”

Đặc điểm để phân biệt hành vi không tố giác tội phạm với hành vi che giấu tội phạm là hành vi không tố giác tội phạm luôn được thực hiện bằng hình thức không hành động phạm tội; hành vi này có thể xảy ra ở giai đoạn tội phạm đang được chuẩn bị, đang

Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1, tr.33

14

Trần Thị Ngọc Hiếu (2016), “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật

hình sự Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9, tr.9

Trang 34

được thực hiện hoặc đã được thực hiện Trong khi đó, hành vi che giấu tội phạm luôn được thực hiện bằng hình thức hành động phạm tội, được thực hiện sau khi tội phạm của người được che giấu đã kết thúc và người che giấu tội phạm không có sự hứa hẹn trước

Thông thường, người phạm tội “che giấu tội phạm” và “không tố giác tội phạm”

là người thân trong gia đình, bạn bè với người phạm tội nên không phải mọi hành vi che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm nào cũng cấu thành tội phạm nêu trên mà chỉ cấu thành tội phạm khi họ che giấu tội phạm hoặc không tố giác những tội phạm nhất định được quy định tại khoản 1 Điều 313 BLHS năm 1999

Tóm lại, từ các quy định của BLHS về hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội độc lập và quy định về đồng phạm thì căn cứ để phân biệt và làm rõ ranh giới giữa hành vi che giấu tội phạm, hành vi không tố giác tội phạm là hành vi đồng phạm hay chỉ là hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội độc lập phải dựa vào hành

vi “hứa hẹn trước” Nghĩa là, nếu hành vi che giấu tội phạm, hành vi không tố giác tội phạm được thực hiện sau khi tội phạm kết thúc nhưng trước đó người thực hiện hành vi

đã có “hứa hẹn trước” sẽ che giấu tội phạm, sẽ không tố giác tội phạm thì đó chính là hành vi đồng phạm với vai trò là người giúp sức Vì những người khi thực hiện hành vi này khi có sự hứa hẹn trước về việc họ tạo động lực và ý chí cho người thực hiện tội phạm, giúp cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi hơn Do đó, xuất phát từ các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan trong đồng phạm thì những người có hành

vi này bị coi là người đồng phạm với vai trò là người giúp sức và họ phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tội phạm đã thực hiện cùng với những người đồng phạm Trường hợp, hành vi che giấu tội phạm, hành vi không tố giác tội phạm tuy được thực hiện sau khi tội phạm kết thúc nhưng trước đó người thực hiện hành vi không có “hứa hẹn trước” sẽ che giấu tội phạm, sẽ không tố giác tội phạm với người thực hiện hành vi phạm tội, thì đây chỉ là hành vi liên quan đến tội phạm và cấu thành tội độc lập theo quy định của BLHS mà không phải là hành vi đồng phạm vì người có hành vi này không cố ý thực hiện tội phạm với những người đồng phạm

1.2 Những vấn đề lý luận về định tội danh trong đồng phạm

1.2.1 Khái niệm về định tội danh trong đồng phạm

Trong khoa học luật hình sự và thực tiễn, việc áp dụng các quy phạm pháp luật

là một quá trình đa dạng và phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau như: giải thích pháp luật, xác định hiệu lực pháp luật, định tội danh, quyết định hình phạt,…

Trang 35

Trong đó, định tội danh là cách thức đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống và là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Chính vì vậy, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm định tội danh, điển hình như:

Quan điểm thứ nhất: “Định tội danh là nhận thức lý luận có tính logic, là dạng

của thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được thực hiện trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của

vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho

xã hội được thực hiện bởi các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân

Theo quan điểm này, định tội danh được xem là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, nghĩa là trong quá trình định tội danh chủ thể có thẩm quyền đối chiếu các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự thông qua các chứng cứ, các tài liệu, các tình tiết vụ án thu thập được theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về

mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong

định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong phần tội phạm của Bộ luật hình sự Quan điểm này thể hiện rõ việc đánh giá tính pháp lý của hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa phản ánh được định tội danh là một quá trình có tính logic, phải dựa trên cơ sở cụ thể nhằm vào những mục đích nhất định

Từ hai quan điểm về khái niệm định tội danh nêu trên thì tác giả cho rằng khái niệm định tội danh theo quan điểm thứ nhất có đầy đủ cơ cở và rõ ràng hơn Trong khoa học luật hình sự và thực tiễn thì định tội danh được hiểu ở hai khía cạnh: định tội danh là một hoạt động tư duy logic và một quá trình nhận thức; định tội danh là một hoạt động áp dụng pháp luật Trong đó, định tội danh là một hoạt động tư duy

15

Lê Cảm (2004), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB.Công an nhân dân, Hà Nội, tr.716

Trang 36

logic và một một quá trình nhận thức được hiểu là định tội danh là một quá trình nhận thức từ những cái đã biết để xác định những cái chưa biết dựa vào các phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, và các quy luật logic như: quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quy luật lý do đầy đủ Trong quá trình nhận thức đó, cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ được sự thật khách quan của vụ án, các dấu hiệu đặc trưng của hành vi phạm tội đã thực hiện và đối chiếu hành vi này có phù hợp với quy định nào của Bộ luật hình sự không Ở khía cạnh, định tội danh là một quá trình áp dụng pháp luật thì định tội danh là hoạt động xác định sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể với cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự, là việc lựa chọn quy phạm pháp luật hình sự

để áp dụng cho hành vi phạm tội Vì vậy trong quá trình áp dụng pháp luật, cơ quan

có thẩm quyền phải xác định được các dấu hiệu cơ bản, đặc trưng, điển hình thể hiện rõ nét bản chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, từ đó đối chiếu với các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội và tìm ra cấu thành tội phạm phù hợp nhất, trùng khớp nhất với trường hợp phạm tội này Chính vì vậy, Bộ luật hình sự là cơ sở pháp lý duy nhất và trực tiếp cho việc định tội danh Và người

áp dụng pháp luật phải dựa vào cả phần chung và phần riêng của Bộ luật hình sự để định tội danh

Tuy nhiên, hoạt động định tội danh trong một vụ án đồng phạm có tính đặc trưng riêng so với hoạt động định tội danh nói chung Vì trong vụ án đồng phạm có nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng chỉ có người thực hành là người có hành vi trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP, còn hành vi của người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức không trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP mà chỉ thông qua hành vi người thực hành để thực hiện tội phạm Vì vậy chỉ có thể căn cứ vào các dấu hiệu của hành vi người thực hành mới có căn cứ để xác định tội danh mà nhóm đồng phạm mong muốn thực hiện Và để xác định tội danh được thực hiện trong vụ án đồng phạm thì phải đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi người thực hành đã thực hiện với các dấu hiệu của CTTP được quy định trong BLHS Trường hợp các dấu hiệu của hành vi người thực hành phù hợp với CTTP nào được quy định trong BLHS thì tội danh của nhóm đồng phạm là CTTP đó Nghĩa là, tội danh của người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức trong vụ án đồng phạm được xác định phụ thuộc vào tội danh mà người thực hành đã thực hiện

Trang 37

Khi định tội danh trong đồng phạm thì việc xác định trong số các hành vi được thực hiện thì hành vi nào là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm được quy định trong phần các tội phạm của BLHS là công việc khởi điểm rất quan trọng Hay nói cách khác, việc xác định tội danh đối với các hành vi được thực hiện trong đồng phạm được xác định trước hết bằng cấu thành tội phạm do người thực hành thực hiện Ngoài ra, khi xem xét tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi được thực hiện trong đồng phạm cần xem xét hành vi này một cách biệt lập với các hành vi khác được thực hiện cũng như xem xét hành vi này một cách tổng thể với các hành vi được thực hiện trong đồng phạm, từ đó có cách nhìn tổng quan hơn để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và quyết định trách nhiệm hình sự cho phù hợp Tại Điều 53 BLHS năm 1999 quy định khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Điều này có nghĩa rằng, trong hoạt động định tội danh trong đồng phạm khi đến giai đoạn phân hóa trách nhiệm hình sự của những người tham gia trong vụ án đồng phạm thì cần xác định hành vi thực hiện thuộc một trong bốn loại người đồng phạm nào được quy định tại khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức, từ đó làm căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự cho từng loại người đồng phạm cho phù hợp

Vì vậy từ khái niệm về định tội danh nói chung theo quan điểm thứ nhất và các lý luận chung về đồng phạm, tác giả đưa ra khái niệm định tội danh trong đồng phạm như sau:

“Định tội danh trong đồng phạm là nhận thức lý luận có tính logic, là dạng

của thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được thực hiện trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của

vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho

xã hội do người thực hành thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa

và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”

 Ý nghĩa của hoạt động định tội danh trong đồng phạm

Trang 38

Định tội danh trong đồng phạm là quá trình xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội do người thực hành thực hiện thỏa mãn cấu thành tội phạm nào được quy định trong BLHS Nếu thỏa mãn CTTP nào thì kết luận cấu thành tội phạm của hành vi những người đồng phạm đã thực hiện, cơ sở pháp lý áp dụng cho hành vi phạm tội này Do đó, việc định tội danh danh đúng, là việc áp dụng đầy đủ

và chính xác các các quy định của pháp luật đối với hành vi phạm tội được thực hiện Điều này đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và thông qua đó đảm bảo công bằng và dân chủ trong xã hội, đảm bảo cho các lợi ích của Nhà nước và nhân dân, góp phần hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong

xã hội

1.2.2 Phân loại định tội danh

Cũng giống như phạm tội đơn lẻ thì chủ thể định tội danh trong đồng phạm thường do các chủ thể là cơ quan tiến hành tố tụng được Nhà nước ủy quyền thực hiện Ngoài ra, các chủ thể khác có hiểu biết pháp luật như: giảng viên, các cán bộ khoa học, tác giả bài báo, sinh viên,…trong quá trình nghiên cứu cũng thực hiện hoạt động định tội danh Tuy nhiên, hậu quả pháp lý của việc định tội danh của các chủ thể là khác nhau Trong khoa học luật hình sự đã chia hoạt động định tội danh thành 2 nhóm tương ứng với hai nhóm chủ thể định tội danh:

Định tội danh chính thức: là sự đánh giá của Nhà nước về tính chất pháp lý hình sự của hành vi phạm tội cụ thể Chủ thể định tội danh chính thức là cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Hậu quả pháp lý khi chủ thể định tội danh chính thức là căn cứ để khởi tố

vụ án, áp dụng các biện pháp hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Định tội danh không chính thức: là sự đánh giá pháp lý về hành vi phạm tội do các nhà luật học, các nhà báo, giảng viên, sinh viên…quan tâm đến vụ án này Định tội danh không chính thức chỉ là sự đánh giá về mặt khoa học, các quan điểm nhận thức khác nhau về cùng một hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế Do đó, hậu quả pháp lý của định tội danh không chính thức không gây hậu quả pháp lý gì đối với hành vi nguy hiểm đã thực hiện Đây là loại định tội danh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật, góp phần tạo nên dư luận xã hội về pháp luật,

từ đó góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự

Định tội danh chính thức hay định tội danh không chính thức đều lựa chọn, đối chiếu sự phù hợp các dấu hiệu tình tiết khách quan của vụ án diễn ra trong cuộc

Trang 39

sống với các dấu hiệu quy phạm pháp luật của một cấu thành tội phạm cụ thể Nhưng hậu quả pháp lý của định tội danh do mỗi loại chủ thể tiến hành khác nhau Khi các nhà nghiên cứu, tác giả, sinh viên,…tiến hành định tội danh thì kết quả chỉ

có giá trị trong quá trình nghiên cứu lập pháp và hoàn thiện các quy định của pháp luật Kết quả của định tội danh do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành là cơ sở để khởi tố vụ án hình sự, kết luận hành vi phạm tội của một người và người này phải chịu TNHS về hành vi phạm tội đã thực hiện Trong thực tiễn, quá trình định tội danh thường do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành Định tội danh là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự: giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử Khi phát hiện dấu vết phạm tội thì theo Điều 18 BLTTHS năm 2015 thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền của mình khởi tố vụ án hình sự Trong quá trình điều tra, nếu cơ quan điều tra xác định có đủ căn cứ truy tố hành vi phạm tội thì ra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố hành vi phạm tội đó Sau khi nhận kết luận điều tra, nếu Viện kiểm sát nhận thấy có đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội

và các thủ tục tố tụng tiến hành theo đúng quy định của pháp luật thì truy tố bị can trước Tòa án bằng cáo trạng Tòa án dựa trên chứng cứ, hồ sơ nhận được từ Viện kiểm sát và các tài liệu, chứng cứ thu thập được tại phiên tòa xác định tội danh cho phù hợp với hành vi phạm tội Như vậy, hoạt động định tội danh diễn ra trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, tuy nhiên để đảm bảo cho việc định tội danh trong từng giai đoạn tố tụng chính xác thì còn nhiều hạn chế Chẳng hạn như, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, thì cơ quan điều tra chỉ dựa vào các chứng cứ, dấu vết thu thập được để xác định tội danh và đề nghị truy tố tại điểm nào, khoản nào của BLHS trong bản kết luận điều tra Vì giai đoạn này, những chứng cứ và tài liệu mà

cơ quan điều tra thu thập được chỉ mang tính chất sơ bộ, chưa hoàn thiện nên việc định tội danh đối với hành vi phạm tội sẽ không chính xác toàn diện Hoặc trong giai đoạn xét xử, theo BLTTHS thì Tòa án là cơ quan có chức năng xét xử là chủ yếu, nên hầu như trên thực tiễn, Tòa án trong quá trình định tội danh phải dựa vào các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập được nên một số trường hợp kết quả định tội danh của Tòa án không khách quan dẫn đến định tội danh không chính xác Do đó, để đảm bảo cho hoạt động định tội danh hiệu quả thì chủ thể định tội danh chính thức bên cạnh việc phải thực hiện đúng và đầy đủ các

Trang 40

quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định thì phải có nhận thức lý luận đúng các quy định của pháp luật, góp phần nhận thức, đánh giá và xác định tội danh đối với các hành vi được thực hiện trên thực tế một cách khách quan, đầy đủ và chính xác Như vậy, trong cách phân loại định tội danh nêu trên thì trong quá trình định tội danh thì chủ thể trong định tội danh chính thức có nhiều ưu thế hơn so với các chủ thể trong định tội danh không chính thức Vì chủ thể trong định tội danh chính thức này có điều kiện tiếp cận và nắm chính xác cụ thể các tình tiết khách quan của

vụ án hình sự nên việc định tội danh sẽ chính xác và phản ánh đúng bản chất của hành vi phạm tội hơn các chủ thể định tội danh không chính thức

1.2.3 Các bước thực hiện hoạt động định tội danh trong đồng phạm

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử thì hoạt động định tội danh trong một vụ án được thực hiện bằng hình thức đồng phạm được thực hiện trình tự theo

ba bước nêu sau:

Bước 1: Xác định sự thật khách quan của vụ án

Đây chính là quá trình xem xét, đánh giá tất cả các chứng cứ của vụ án để tìm

ra sự thật khách quan và trên cơ sở này việc định tội danh mới được tiến hành Khi một vụ án đồng phạm xảy ra, trong bước này chủ thể định tội danh cần xác định các tình tiết thực tế của vụ án như: hành vi của những người đồng phạm đã thực hiện, các hoạt động phạm tội chung giữa những người đồng phạm, hậu quả của những hành vi do những người đồng phạm mang lại,…Vì tầm quan trọng và ảnh hưởng của bước này trong quá trình định tội danh nên việc thu thập các tình tiết thực tế của

vụ án phải đảm bảo tính đầy đủ, tính toàn diện và tính liên quan đến vụ án Đồng thời, trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án, chủ thể định tội danh khi thu thập các tình tiết của vụ án phải chính xác, trung thực, khách quan, khoa học Ngoài ra để xác định sự thật vụ án một cách toàn diện và đầy đủ thì phải xem xét hành vi phạm tội dựa trên các mặt của các yếu tố cấu thành tội phạm một cách tổng thể và không tách rời nhau

Vì đồng phạm là hình thức phạm tội có nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm cho nên bước xác định các tình tiết thực tế của vụ án đồng phạm có tính đặc biệt hơn so với hình thức phạm tội khác Đó là, nên trong quá trình xác định tình tiết thực tế của vụ án cần tổng hợp tất cả các chứng cứ liên quan đến tất cả các hành vi được thực hiện trong đồng phạm, nghĩa là không chỉ thu thập chứng cứ liên quan đến người có hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm mà còn phải thu thập các

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Bộ tư pháp – Viện khoa học pháp lý (1998), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ tư pháp – Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp
Năm: 1998
9. Lê Cảm (2001), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự (tập 1), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự (tập 1)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2001
10. Lê Cảm (2003), “Chế định đồng phạm và mô hình lý luận của nó trong Luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8, tr.4-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đồng phạm và mô hình lý luận của nó trong Luật hình sự Việt Nam”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2003
11. Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh – Hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh – Hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành
Tác giả: Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
12. Nguyễn Ngọc Chí (1997), “Một số vấn đề đồng phạm trong tội phạm sở hữu”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, tr.14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đồng phạm trong tội phạm sở hữu”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 1997
13. Vũ Thị Thùy Dung (2015), “Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Tạp chí Thanh Tra, số 8, tr.71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, "Tạp chí Thanh Tra
Tác giả: Vũ Thị Thùy Dung
Năm: 2015
14. Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2004
15. Hoàng Minh Đức (2012), “Chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam và một số nước Asean”, Học viện tư pháp, số 4, tr.55-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam và một số nước Asean”, "Học viện tư pháp
Tác giả: Hoàng Minh Đức
Năm: 2012
16. Trần Thị Ngọc Hiếu (2016), “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự Việt Nam”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Trần Thị Ngọc Hiếu
Năm: 2016
17. Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và Cấu thành tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và Cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2005
18. Đoàn Văn Hường (2003), “Đồng phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4, tr.24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đoàn Văn Hường
Năm: 2003
19. Hoàng Quảng Lực (2004), “Trao đổi về định tội danh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2, tr.76-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về định tội danh”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hoàng Quảng Lực
Năm: 2004
20. Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh và quyết định hình phạt, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2007
21. Đoàn Tấn Minh (chủ biên 2010), Phương pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với 342 tội danh trong Bộ luật Hình sự, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với 342 tội danh trong Bộ luật Hình sự
Nhà XB: NXB Tư pháp
22. Đinh Văn Quế (2004), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần chung), NXB TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần chung)
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 2004
23. Lê Thị Sơn (1998), “Các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm”, Tạp chí Luật học, số 3, tr.29-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Lê Thị Sơn
Năm: 1998
24. Trọng Tài (2011), “A có đồng phạm với N”, Tòa án nhân dân tối cao, số 10, tr.5 và 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A có đồng phạm với N”, "Tòa án nhân dân tối cao
Tác giả: Trọng Tài
Năm: 2011
25. Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây (2001), Bản án hình sự số 84/HSST ngày 31/07/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây (2001)
Tác giả: Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây
Năm: 2001
26. Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh (2004), Bản án hình sự số 264/2004/HSST ngày 11/11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh (2004)
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
Năm: 2004
27. Tòa án nhân dân TP Hà Nội (2006), Bản án hình sự số 261/2006/HSST ngày 22/06/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân TP Hà Nội (2006)
Tác giả: Tòa án nhân dân TP Hà Nội
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w