1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn Phòng Công Chứng, Luật Và Pháp Chế, Việt Nam, Luật Hành Chính, Việt Nam.pdf

105 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Và Hoạt Động Của Văn Phòng Công Chứng Tại Hà Nội
Tác giả Lờ Phương Nga
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Minh Hà
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ PHƢƠNG NGA Tæ CHøC Vµ HO¹T §éNG CñA C¸C V¡N PHßNG C¤NG CHøNG TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2016 1 of 107 Chia s tài liu, lun vn, á[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ PHƯƠNG NGA

Tæ CHøC Vµ HO¹T §éNG CñA C¸C V¡N PHßNG C¤NG CHøNG TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ PHƯƠNG NGA

Tæ CHøC Vµ HO¹T §éNG CñA C¸C V¡N PHßNG C¤NG CHøNG TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄNTHỊ MINH HÀ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Phương Nga

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG 8

1.1 Những điểm chung về công chứng và lịch sử phát triển công chứng ở Việt Nam 8

1.1.1 Khái niệm công chứng 8

1.1.2 Đặc điểm của công chứng 12

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của công chứng ở Việt Nam 18

1.2 Khái quát chung về Văn phòng Công chứng 22

1.2.1 Khái niệm Văn phòng công chứng 22

1.2.2 Khái quát về tổ chức và hoạt động của văn phòng công chứng 25

1.3 Một số kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động công chứng 27

1.3.1 Hệ thống công chứng Latinh 27

1.3.2 Hệ thống công chứng của các nước theo luật án lệ 28

1.3.3 Hệ thống công chứng Collectiviste 28

1.4 Những yêu cầu việc tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công chứng 31

1.4.1 Sự tồn tại hợp pháp của Văn phòng Công chứng 31

1.4.2 Hoạt động của Văn phòng Công chứng tuân thủ các quy định của pháp luật 35

1.4.3 Đảm bảo sự quả lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng công chứng 41

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA

CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43

thành phố Hà Nội 43

2.1.1 Vị trí địa lý, tình hình dân cư thành phố Hà Nội 43

2.1.2 Tình hình Kinh tế - Xã hội thành phố Hà Nội 44

2.2 Những điểm mạnh trong tổ chức và hoạt động của Văn

phòng Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua 47

2.2.1 Về mặt tổ chức của Văn phòng Công chứng trên địa bàn thành

phố Hà Nội 47 2.2.2 Về hoạt động của các Văn phòng công chứng trên địa bàn thành

phố Hà Nội 53 2.2.3 Đảm bảo sự quản lý nhà nước trong tổ chức và hoạt động của

Văn phòng công chứng 60

chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua 61

2.3.1 Những tồn tại trong tổ chức của Văn phòng Công chứng 61

2.3.2 Những bất cập trong hoạt động của Văn phòng công chứng trên

địa bàn thành phố Hà Nội 72 2.3.3 Đảm bảo sự quản lý của nhà nước trong tổ chức và hoạt động

của văn phòng công chứng 76

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ

CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 79

phòng Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội 79

3.1.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật công chứng 79

Trang 6

3.1.2 Phương hướng về Quy hoạch phát triển Văn phòng Công chứng 81

3.2 Giải pháp nâng cao việc tổ chức và hiệu quả hoạt động của các Văn phòng Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội 84

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các tổ chức công chứng 84

3.2.2 Giải pháp hỗ trợ khác 88

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng GRDP Hà Nội giai đoạn 2008-2013 45

Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng GDP Hà Nội quý I từ 2009 - 2014 46

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trước đây, khi nhà nước điều hành, quản lý nền kinh tế và xã hội theo hướng bao cấp, các giao dịch dân sự còn hạn chế và phát triển một

cách manh mún Khi có nhu cầu chủ yếu các bên giao dịch thường chỉ thỏa

thuận với nhau dựa trên sự tin tưởng thể hiện bằng lời nói, chữ viết tay, đôi

khi có sự tham gia của bên thứ ba hoặc cơ quan hành chính nhà nước với

vai trò thị thực

Ngày nay, khi đất nước ngày càng phát triển, nền kinh tế đi lên theo hướng kinh tế thị trường và mở rộng hội nhập quốc tế đã làm gia tăng nhu cầu

giao dịch dân sự, kinh tế Các giao dịch này tăng lên cả về số lượng và tính

chất phức tạp đòi hỏi phải những biện pháp hữu hiệu để đáp ứng những nhu

cầu đó, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch,

tạo nên sự phát triển ổn định và lâu dài cho nền kinh tế và toàn xã hội Sự ra

đời của Phòng Công chứng chưa đủ sức đáp ứng trước nhu cầu giao dịch ngày

càng gia tăng Chính vì lý do đó, thực hiện chủ trương từng bước xã hội hóa

hoạt động công chứng, các Văn phòng Công chứng ra đời đã giúp khắc phục

được những hạn chế đáng kể và sự quá tải trong hoạt động của các Phòng

Công chứng cũng như việc phân định giữa công chứng và chứng thực … Sự

ra đời của Văn phòng Công chứng đã góp phần chuyên nghiệp hóa và xã hội

hóa hoạt động công chứng được coi là bước đột phá trong cải cách hoạt động

công chứng ở Việt Nam Tuy nhiên, việc ra đời của Văn phòng Công chứng

bên cạnh Phòng Công chứng cũng đặt ra những vấn đề cấp bách trong quản

lý, mà Luật Công chứng không thể tiên liệu hết được những vướng mắc, khó

khăn khi triển khai thực hiện trên thực tế với rất nhiều biến động

Với vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Văn phòng Công chứng

Trang 9

trong giai đoạn hiện nay cả về mặt lý luận, thực tiễn cần xây dựng các luận cứ

khoa học, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, vướng

mắc vẫn còn tồn tại trong tổ chức, hoạt động và quản lý một cách hiệu quả

các Văn phòng Công chứng sao cho phù hợp với thực tiễn biến động của lĩnh

vực công chứng tại địa bàn thành phố Hà Nội, một trong những địa bàn phức

tạp nhất toàn quốc Chính vì lý do trên tác giả chọn đề tài “Tổ chức và hoạt

động của các Văn phòng Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm

đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nhận thức được vai trò quan trọng của Văn phòng Công chứng, đã có rất nhiều hoạt động nghiên của về công chứng nói chung và Văn phòng Công

chứng nói riêng Cho đến nay, đã có những bài viết, bình luận, luận văn về

Văn phòng Công chứng được công bố như sau:

Trên thế giới, có nhiều mô hình tổ chức của Văn phòng Công chứng và hoạt động của các tổ chức này cũng được quy định khá rõ ràng và cụ thể trong các

văn bản pháp luật thực định Ở nước ta, công chứng với tư cách là một hoạt động

bổ trợ tư pháp xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, tuy nhiên thời gian qua đã có một

số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như sau:

- Đề tài khoa học mang mã số 92-98-244 về “Cơ sở lý luận và thực tiễn

xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam” do Bộ

Tư pháp tổ chức nghiên cứu và nghiệm thu vào tháng 5 năm 1993;

- Luận án tiến sĩ “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định

phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công

chứng ở nước ta hiện nay” của tác giả Đặng Văn Khanh năm 2000;

- Luận án tiến sĩ luật học “Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số

nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn

thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay”, mã số: 62.38.01.01 của

Trang 10

- Luận văn thạc sĩ “Một số vấn đề công chứng các giao dịch về tài sản

ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” của tác giả Đỗ Xuân Hòa

- Luận văn thạc sĩ “Công chứng Nhà nước những vấn đề lý luận và

thực tiễn ở nước ta” của tác giả Trần Ngọc Nga

- Luận văn thạc sĩ “Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số

vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Quang Minh năm 2009;

- Luận văn thạc sĩ: “Phân cấp QLNN về công chứng, chứng thực (Qua

thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008;

Ngoài ra, một số nghiên cứu đã đề cập đến hoạt động và tổ chức của các Văn phòng Công chứng như:

- Luận án tiến sĩ Luật học: “Tổ chức và hoạt động công chứng nhà

nước ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Khánh năm 2002;

- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở

Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Kim Hoa, năm 2003;

- “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan công

chứng” của tác giả Lê Khả đăng trên báo Pháp Luật, ngày 18/2/2003;

- “Công chứng, chứng thực trong điều kiện cải cách hành chính và

cải cách tư pháp” của tác giả Trần Thất đăng trên tạp chí Dân chỉ và pháp

luật, số 6/2004;

- “Công chứng, chứng thực ở Việt Nam – Thực trạng và định hướng

phát triển” của tác giả Phạm Văn Lợi, đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật,

số 7/2002

Tuy nhiên, các nghiên cứu này đề cập một cách hệ thống về các tổ chức công chứng nói chung hay Phòng công chứng nhà nước nói riêng trên phạm

vi cả nước chứ chưa một đề tài nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận

về Văn phòng công chứng hay thực tiễn tổ chức hoạt động của các Văn phòng

Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội Đặc biệt là trong giai đoạn Luật

Trang 11

công chứng năm 2014 mới có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015 trong đó có

rất nhiều quy định về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công chứng có tác

động tích cực cũng như những hạn chế nhất định tới hoạt động công chứng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích

Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công

chứng và thực tiễn áp dụng các văn bản đó trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ

đó luận văn đưa ra được những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp khắc

phục những tồn tại cũng như phát huy những lợi thế đã đạt được trong tổ chức

và hoạt động của các Văn phòng Công chứng ở Việt Nam nói chung và trên

địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng

Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn xác định một số mục tiêu cụ thể sau:

 Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công chứng tại Việt Nam: Khái niệm, đặc điểm Văn phòng Công chứng; Các

yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công chứng, kinh

nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công chứng

 Thực trạng tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng; tồn tại, hạn chế;

 Giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng trên cả nước nói chung và tại địa bàn

thành phố Hà Nội nói riêng;

Trang 12

Nội nói riêng Một số kết quả dự kiến sẽ đạt được sau khi nghiên cứu, cụ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tổng quát các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động và thực tiến hoạt động của các Văn phòng

Công chứng tại Việt Nam nói chung và trên đại bàn thành phố Hà Nội nói

riêng trên các mặt xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về công

chứng, theo dõi thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật về công chứng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm, đường lối, chủ

trương của Đảng về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, cải

cách hành chính, cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 13

- Trên cơ sở đó Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh để nêu

bật tình hình, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp Trong đó phương pháp phân tích

được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của Luận văn để giải quyết

những vấn đề mang tính lý luận như khái niệm, đặc điểm Văn phòng Công

chứng và phương thức hoạt động của Văn phòng Công chứng Phương pháp

chứng minh, thống kê được sử dụng thông qua việc đưa ra các thông tin, số liệu

và các ví dụ thực tế có tính chất điển hình để minh chứng cho nhận định, đánh

giá của tác giả Phương pháp so sánh cũng được sử dụng ở cả phần lý luận khi

dẫn chiếu các quy định của hệ thống pháp luật và phần thực trạng pháp luật khi

đối chiếu với các quy định của pháp luật về cùng vấn đề ở các văn bản quy

định về công chứng nói chung và Văn phòng Công chứng nói riêng

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Hiện nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu lý luận chung về công chứng

và các Văn phòng công chứng Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu

về mặt lý luận của tổ chức và hoạt động của Văn phòng công chứng, do đó

việc nghiên cứu đề tài “Tổ chức và hoạt động của các văn phòng công chứng

trên địa bàn thành phố Hà Nội” về cơ bản là mới Đề tài sẽ hệ thống hóa, làm

sáng tỏ thêm cơ sở lý luận dựa trên sự nghiên cứu các khái niệm, quan điểm,

đặc điểm về công chứng nói chung và về mặt tổ chức và hoạt động của Văn

phòng Công chứng nói riêng Đề tài cũng có sự nghiên cứu kinh nghiệm của

các quốc gia khác so sánh với cơ sở lý luận của Việt Nam để thấy được sự

phát triển của công chứng Việt Nam bên cạnh sự phát triển của nghề công

Trang 14

chứng với sự phát triển của về số lượng và tính chất phức tạp của các giao

dịch Qua đó, thấy được những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế để đưa

ra một số đề xuất về quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Công

chứng của Việt Nam nói chung, kiện toàn về mặt tổ chức và hoạt động của

các Văn phòng công chứng tại thành phố Hà Nội nói riêng

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của

đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công chứng và tổ chức, hoạt động của Văn

phòng Công chứng

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công

chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp trong việc tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt

động của các Văn phòng Công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG

CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG

1.1 Những điểm chung về công chứng và lịch sử phát triển công chứng ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm công chứng

Nội hàm của hoạt động công chứng là việc xác định khái niệm công chứng Xác định rõ khái niệm công chứng có vai trò lý luận quan trọng cũng

như trong thực tiễn Căn cứ vào đó chúng ta có thể xác định được phạm vi,

nội hàm của việc công chứng mà đặc biệt nó còn xác định được mô hình tổ

chức, cơ chế hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng, quyền hạn và

nghĩa vụ của những cá nhân, được tổ chức được giao chức năng quản lý nhà

nước về công chứng

Công chứng ở nước ta được công nhận với tư cách là một thể chế pháp lý từ rất sớm (năm 1930 dưới thời Pháp thuộc), nhưng mãi đến năm

1987, thuật ngữ “công chứng” mới bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi

Cho đến nay, thuật ngữ “công chứng” trở thành một thuật ngữ khá phổ biến

không chỉ trong các từ điển, tài liệu luật học mà còn trong các văn bản quy

phạm pháp luật:

Về mặt xã hội, có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về công chứng được đưa ra Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Công chứng

là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp

đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công

chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng Theo quan điểm

của Dương Khánh trong Luận án tiến sĩ Luật học với đề tài Tổ chức và hoạt

động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay đã đưa ra quan điểm của mình

Trang 16

Hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng

cứ cho hoạt động của toàn án theo nghĩa hẹp nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; có tác dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết các tranh chấp đồng thời góp phần vào việc duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội [16, tr.25]

Về mặt pháp lý, thuật ngữ “công chứng” lần đầu tiên được giải thích tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công

tác công chứng nhà nước như sau:

Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa [26]

Đến năm 1991, thuật ngữ “công chứng” được nghiên cứu sửa đổi để đưa ra một cách ngắn gọn hơn trong Nghị định số 45/HĐBT của HĐBT ngày

27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định

Thông tư 06/2015/TT-BTP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

điều của Luật Công chứng ngày 15/06/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn

thi hành một số điều của Luật Công chứng:

Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và

Trang 17

giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ [25]

Kế thừa và phát triển tinh thần của Nghị định số 45/HĐBT của HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, tại Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996

của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, khái niệm

“Công chứng” đã được bổ sung và làm rõ vai trò của Công chứng nhà nước

bên cạnh chức năng công chứng của Ủy ban nhân dân:

Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng

và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa

vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban Nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu [6]

Cũng chính từ khái niệm này, từ giai đoạn này, các Phòng công chứng (công chứng nhà nước) được ra đời Đây được coi là bước tiến quan trọng

trong quá trình triển công chứng Việt Nam theo định hướng xã hội hóa

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, thuật ngữ

“công chứng” cũng không ngừng thay đổi theo từng thời kỳ để phù hợp và

được ghi nhận qua các Nghị định, Nghị quyết khác nhau của chính phủ Năm

2000, khái niệm công chứng được đưa ra là việc Phòng Công chứng chứng

nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác

lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện

Trang 18

các việc khác theo quy định của Nghị định này” [4, Điều 2] Đáng chú ý, tại

khái niệm này đã có sự phân định rõ khái niệm công chứng và chứng thực,

điều mà các quan điểm, khái niệm trước đây chưa làm rõ được, bản chất của

hành vi công chứng là:“chứng nhận tính xác thực của hợp đồng”, còn hành vi

chứng thực lại chỉ là việc “xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và

chữ ký của cá nhân” Như vậy, theo khái niệm nêu trên, hành vi công chứng

chính là việc xác lập giá trị pháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn hành vi chứng

thực chỉ đơn thuần là việc sao lại các văn bản, hợp đồng mà thôi

Năm 2006, năm với dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển công chứng khi Luật Công chứng đầu tiên được thông qua đưa ra khái niệm về

công chứng một cách hoàn chỉnh, Theo đó, công chứng là việc Công chứng

viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác

bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân,

tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [21, Điều 2] Khái niệm này một lần

nữa được sửa đổi mô tả để phù hợp với những quy định mới về chứng thực

chữ ký và bản dịch tại Luật Công chứng 2014 có hiệu lực thi hành ngày

01/01/2015 vừa qua:

Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [22, Điều 2]

Như vậy, có thể thấy rằng, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, khi nền kinh tế, văn hoá và xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu giao

Trang 19

dịch dân sự của người dân ngày càng tăng cả về số lượng và tính phức tạp,

khái niệm công chứng cũng từ đó mà có những thay đổi nhất định Sự thay

đổi này thể hiện quan điểm của nhà nước ta về công chứng thêm rõ ràng và cụ

thể hơn, nhưng xét về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn không thay

đổi Nội hàm của khái niệm công chứng là tạo lập nên một loại chứng cứ viết,

có giá trị pháp lý cao, vì các hợp đồng, giấy tờ này được chứng nhận tính xác

thực của nó do những người có thẩm quyền công chứng, chứng nhận nên nó

mang dấu ấn của công quyền và trở thành “công chứng thư” Về ngoại diên

của khái niệm công chứng bao hàm các loại giấy tờ, hợp đồng mà theo quy

định của pháp luật bắt buộc phải công chứng, hoặc cá nhân tổ chức tự nguyện

công chứng để những giấy tờ này trở thành một chứng cứ pháp lý Vì vậy,

dưới góc độ chung nhất chúng ta có thể hiểu công chứng là việc chứng nhận

tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo

quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức có nhu cầu tự

nguyện yêu cầu công chứng do Công chứng viên của một tổ chức hành nghề

công chứng thực hiện

1.1.2 Đặc điểm của công chứng

Thứ nhất, công chứng là hành vi do Công chứng viên thực hiện

Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của

người yêu cầu công chứng đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch sau khi được

chứng nhận có giá trị pháp lý như một văn bản của cơ quan công quyền

Công chứng viên cũng được phân thành hai dạng khác nhau phụ thuộc vào tổ chức hành nghề công chứng mà công chứng viên đang hàng nghề:

- Công chứng viên Phòng Công chứng là công chức, viên chức nhà nước được hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

Trang 20

- Công chứng viên Văn phòng Công chứng không phải là công chức, viên chức nhà nước, lương và các khoản thu nhập khác được trích từ nguồn

thu phí công chứng, thù lao công chứng và nguồn thu hợp pháp khác từ hợp

đồng công chứng

Đặc điểm này phân biệt với hành vì chứng thực là hành vi không chỉ do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà còn do người đại diện

của cơ quan hành chính công quyền thực hiện

Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là chứng nhận các hợp đồng

và lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng nhận

các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật

Có thể nhận thấy từ khái niệm được ghi nhận trong Luật Công chứng

2014 có hai loại Hợp đồng, giao dịch là những Hợp đồng, giao dịch mà pháp

luật bắt buộc phải công chứng và những Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật

không bắt buộc phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức giao kết tự nguyện

yêu cầu công chứng khi thấy cần thiết để đảm bảo tính an toàn cho giao dịch:

- Loại Hợp đồng, giao dịch pháp luật quy định bắt buộc phải qua công chứng là những Hợp đồng, giao dịch trong trường hợp mang tính chất phức

tạp và dễ xảy ra tranh chấp hoặc đối tượng giao dịch nhà nước cần kiểm soát

và quản lý Quy định này còn được thể hiện trong Bộ luật Dân sự 2005:

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [19, Điều 401]

Trang 21

Loại hợp đồng giao dịch này có thể kể đến như:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán nhà ở, Văn bản cam kết, phân chia tài sản chung, riêng của vợ chồng, Hợp đồng tặng cho tài sản, Di chúc của người

bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ, Di chúc miệng, Di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài, Hợp đồng về việc mang thai hộ…

- Loại Hợp đồng, giao dịch mà nhà nước không bắt buộc phải công chứng nhưng vẫn được các cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng để

công chứng viên xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hình thức, nội

dung hợp đồng, giao dịch có vi phạm quy định pháp luật, có trái với đạo đức

xã hội và có bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không

Ngoài ra, còn để kiểm tra năng lực hành vi, tính tự nguyện, của các chủ thể

tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch và tính chân thật của đối tượng Hợp

đồng, giao dịch Cụ thể, Luật Nhà ở 2014 quy định các hợp đồng, giao dịch

không cần phải công chứng, chứng thực như:

Văn bản tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; Hợp đồng mua bán mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ

chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở [24]

Ngoài ra, một số giao dịch dân sự khác cũng chỉ công chứng khi các

bên có nhu cầu là: Giấy ủy quyền, Hợp đồng thế chấp quyền tài sản,…

Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt động công chứng để phân biệt với các hoạt động mang tính chất hành chính khác của các cơ quan công quyền

Việc lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng và

chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật chính là việc

Trang 22

tạo nên các văn bản công chứng Lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của

người yêu cầu công chứng là việc Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên

môn của mình giúp người yêu cầu công chứng thể hiện được ý chí, nguyện

vọng của mình được thỏa thuận bằng văn bản, không vi phạm pháp luật,

không trái đạo đức xã hội; hoặc tư vấn, góp ý để người yêu cầu công chứng

thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của mình một cách rõ ràng, chính xác

trong các văn bản họ tự lập nhằm đảm bảo tính hợp pháp của các hợp đồng,

giao dịch họ tự lập Nói cách khác, hành vi của Công chứng viên nhằm xác

nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng hoặc các giao dịch Chứng

nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật là việc Công chứng

viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình xác nhận tính hợp pháp của hợp

đồng, giao dịch Đây là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng nội dung

(công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức (công chứng hệ

Anglosason) Đặc điểm này của công chứng nước ta đã quy định chức năng

phòng ngừa các tranh chấp trong hợp đồng, giao dịch, kể cả những giao dịch

không yêu cầu qua công chứng

Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị thi hành và giá trị chứng cứ

Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận [22, Điều 4, Khoản 2] Giá trị pháp lý của văn bản

công chứng bao gồm giá trị thi hành và giá trị chứng cứ

Giá trị thi hành của văn bản công chứng được quy định tại Khoản 2,

Điều 5, Luật Công chứng 2014 như sau: Hợp đồng, giao dịch được công

chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có

nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia

hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác

Văn bản công chứng do Công chứng viên lập theo trình tự, thể thức bắt

Trang 23

buộc, ghi lại chính xác thời gian, không gian, ý chí, nguyện vọng cũng như

năng lực chủ thể của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch Văn

bản công chứng trước hết nhằm tạo lập giá trị thực hiện giữa các bên tham gia

giao dịch, hợp đồng bằng việc ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên, là

căn cứ pháp lý không thể bác bỏ buộc các bên phải thực hiện đúng các cam

kết đã xác lập, đồng thời có giá trị pháp lý cả với bên thứ ba

Giá trị chứng cứ là vấn đề mấu chốt, khi thiếu những căn cứ để xác

định quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý, thì cần phải có một bằng chứng

chứng minh sự tồn tại của nó, nếu không quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý

đó sẽ được coi là không tồn tại Vậy, chứng cứ là gì? Chứng cứ là “những gì

có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án

hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định

mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương

sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần

thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự theo Điều 81 Bộ luật tố tụng

dân sự sửa đổi năm 2011, chứng cứ

Văn bản công chứng là chứng cứ tin cậy để các chủ thể giao kết chứng minh trước tòa khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, đồng thời

cũng là chứng cứ để tòa án có thể giải quyết vụ việc tranh chấp một cách

nhanh chóng và chính xác Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp

đồng, giao dịch là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị

chứng cứ Điều này được quy định cụ thể tại Luật công chứng năm 2014 về

giá trị pháp lý của văn bản công chứng: “Hợp đồng, giao dịch được công

chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch

được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố

là vô hiệu” [22, Điều 5, Khoản 3]

Trong pháp luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề

Trang 24

cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là

chứng cứ Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là

do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được Công

chứng viên xác nhận Tính xác thực này được Công chứng viên kiểm chứng

và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết,

sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: Sự

tự nguyện của các bên khi ký kết hợp đồng) và do đó, nếu không có Công

chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể

xác minh được Công chứng viên dù là công chức nhà nước làm việc tại các

Phòng công chứng hay là công chứng viên làm việc tại các Văn phòng công

chứng đều là một chức danh tư pháp được nhà nước trao quyền thực hiện việc

chứng nhận hợp đồng, giao dịch và chỉ có công chứng viên mới được nhân

danh nhà nước chứng nhận các hợp đồng, giao dịch đó Từ đó, tính xác thực

do công chứng viên chứng nhận biến các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng,

giao dịch thành chứng cứ hiển nhiên trước tòa, còn các hợp đồng, giao dịch

khác không được công chứng thì vẫn phải chứng minh Tuy nhiên, văn bản

công chứng vẫn có khả năng không có giá trị chứng cứ nếu không thực hiện

đúng thẩm quyền hoặc không tuân thủ theo quy định của pháp luật về công

chứng hoặc bị tuyên vô hiệu trước tòa

Thứ tư, Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với tổ chức và hoạt động

công chứng

Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công Công chứng là một biện pháp phòng ngừa tranh chấp, giúp công dân, tổ chức thực

hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng pháp luật Hoạt động

công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hợp đồng tư

pháp nhưng hoàn toàn khác với hoạt động của các cơ quan tư pháp

Trước đây, công chứng ở Việt Nam hoàn toàn do các cơ quan nhà nước

Trang 25

thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước Hiện nay, theo Luật Công chứng

năm 2006 và sau đó là Luật Công chứng năm 2014 tổ chức hành nghề công

chứng gồm Phòng Công chứng (do UBND cấp tỉnh thành lập, trực thuộc Sở

Tư pháp, có trụ sở và con dấu riêng) và Văn phòng Công chứng (do Công

chứng viên thành lập, hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp) Cả 2

loại hình này đều đặt dưới sự quản lý của nhà nước

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của công chứng ở Việt Nam

1.1.3.1 Công chứng nước ta trước cách mạng tháng tám 1945

Hoạt động công chứng xuất hiện là do yêu cầu của việc quản lý của nhà nước đối với các hoạt động giao dịch, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho cơ quan

tài phán Ở nước ta trước thời kì pháp thuộc, chưa thấy xuất hiện thuật ngữ

công chứng Nhưng nếu xét về lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước phong

kiến ở Việt Nam thì thấy đã có mầm mống về hoạt động công chứng Dưới thời

Lê, di chúc được làm dưới dạng chúc thư; để có giá trị thì chúc thư phải lập

thành văn bản dưới hình thức nhất định, nếu người làm chúc thư không biết

chữ thì chúc thư phải được xã trưởng viết hộ và chứng thực nhằm ngăn ngừa

việc gian lận đối với chức thư, đồng thời luật cũng quy định việc xử phạt đối

với việc làm giả mạo giấy tờ Vào thời kì bảo hộ của pháp, công chứng với tư

cách là thể chế bắt đầu xuất hiện và được áp dụng ở Việt Nam cùng với sự

thành lập tổ chức và hoạt động của tòa án Pháp tại Việt Nam và được tổ chức

theo mô hình công chứng của Pháp Trong giai đoạn này, tổ chức và hoạt động

công chứng được xác lập bằng sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng

hòa Pháp về tổ chức công chứng được áp dụng ở Đông Dương

Tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta chịu sự chi phối bởi pháp luật công chứng của Pháp Chưởng ấn Bộ trưởng tư pháp bổ nhiệm công

chứng viên, thành lập văn phòng công chứng, giám sát hoạt động nghề nghiệp

của công chứng viên Hội đồng công chứng tối cao được đặt bên cạnh Bộ tư

Trang 26

pháp chịu trách nhiệm quản lý điều hành hội đồng công chứng các khu vực

Hội đồng công chứng các khu vực chịu sự giám sát của Tòa thượng thẩm Mô

hình công chứng được thiết lập theo mô hình công chứng hệ La tinh, công

chứng viên đứng ra tổ chức và điều hành mọi hoạt động của văn phòng công

chứng, chịu trách nhiệm về hành vi công chứng

1.1.3.2 Công chứng nước ta trong giai đoạn từ 1945 - 1991

Sau cách mang tháng tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ tư pháp đã ký nghị định bổ nhiệm

ông Vũ Quý Vỹ mang quốc tịch Việt Nam làm công chứng viên tại văn phòng

công chứng ở Hà Nội, nghị định quy định các luật lệ cũ về công chứng vẫn

được thi hành, trừ những điều khoản không phù hợp với nền độc lập và chính

thể dân chủ cộng hòa Việt Nam Có thể nói đây là tổ chức công chứng đầu

tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tổ chức công chứng mang

đậm dấu ấn của công chứng Pháp

Ngày 15/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc lệnh 59/SL

ấn định thể lệ về thị thực các giấy tờ Theo sắc lệnh này, việc thị thực chỉ là

thủ tục hành chính, quyền thị thực các giấy tờ trước đây giao cho lý trưởng

các làng và trưởng phố ở thành thị thì nay giao về ủy ban nhân dân của làng

hoặc ủy ban nhân dân hàng phố Ủy ban làm nhiệm vụ thị thực phải là ủy

ban nơi trú quán của một hoặc các bên đương sự lập khế ước; đối với bất

động sản phải là ủy ban nơi có bất động sản đó thị thực, nếu có nhiều bất

động sản ở nhiều nơi thì giấy tờ lập ra về những bất động sản ấy phải do ủy

ban mỗi nơi có bất động sản đó thị thực Các ủy ban thị thực phải chịu trách

nhiệm về việc thị thực, khi xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không

đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường Ngày

29/2/1952, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh 85/SL về

việc mua bán cho, đổi nhà cửa, ruộng đất Theo quy định thì ủy ban kháng

Trang 27

chiến hành chính có thẩm quyền nhận thực vào văn tự theo hai nội dung, chữ

ký của các bên mua bán cho đổi, người đứng ra bán, cho đổi là chủ những

nhà cửa ruộng đất đem bán cho hay đổi

Hai sắc lệnh nói trên là cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động thị thực của ủy ban hành chính kháng chiến và sau này là ủy ban nhân dân trong gần

nửa thế kỷ Nguyên nhân của tổ chức và hoạt động công chứng không được

phát triển trong giai đoạn này là do điều kiện kinh tế, xã hội, hoàn cảnh chiến

tranh của nước ta trong thời kì này và việc không chấp nhận chế độ sở hữu

các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể Vì thế, tổ chức công

chứng không được thành lập, mọi giao lưu kinh tế dân sự đều dựa trên quan

hệ hành chính, hoạt đông công chứng rất đơn giản

Từ sau năm 1954 kéo dài đến cuối những năm 70, Nhà nước ta thiết lập một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng cách phát triển và cải tạo

nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế nhiều thành phần

thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, thiếu thủ tục hành chính và

các thủ tục thể hiện vai trò kiểm soát kinh tế có hiệu quả của nhà nước, không

đủ các thủ tục tài phán hành chính để điều hòa mối quan hệ giữa nhà nước và

công dân Xuất phát từ những nguyên nhân trên, dẫn đến hoạt động công

chứng không có điều kiện để phát triển

1.1.3.3 Công chứng nước ta trong giai đoạn từ 1991 đến nay

Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, đặc biệt là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược kinh tế, xã

hội, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường đã tạo ra những mối quan hệ mới

trong lĩnh vực phát triển và quản lý nền kinh tế, các giao dịch dân sự, kinh tế,

thương mại phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có thể chế phù hợp phục vụ cho

cơ chế kinh tế đó Trong lĩnh vực công chứng đặt ra nhiệm vụ mới, cần phải

Trang 28

có một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp Trên cơ sở đó, ngày 27/2/1991 Hội

đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động

công chứng nhà nước Nghị định quy định về tổ chức công chứng nhà nước,

trình tự thủ tục thực hiện các việc công chứng, quản lý tổ chức và hoạt động

công chứng, tiêu chuẩn công chứng viên, giá trị pháp lý của văn bản công

chứng Nghị định 45/HĐBT ra đời đánh dấu một sự tiến triển mới của mối

liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán, tổ chức

hoạt động công chứng thay thế công việc của ủy ban nhân dân về công chứng,

đối với những nơi chưa thành lập Phòng công chứng thì ủy ban nhân dân

được tiếp tục thực hiện một số việc công chứng Tuy nhiên, sự phát triển các

quan hệ gia đình với điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển dẫn

đến Nghị định 45/HĐBT trở nên không phù hợp Ngày 18/5/1996, Chính phủ

đã ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước

thay thế cho Nghị định 45/HĐBT Do nhu cầu phục vụ sự phát triển kinh tế,

xã hội của đất nước, ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định

75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực Nghị định này quy định về phạm

vi công chứng, chứng thực, tổ chức Phòng công chứng, nguyên tắc hoạt động,

thủ tục, trình tự thực hiện việc công chứng, chứng thực, công tác chứng thực

của ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và ủy ban

nhân dân cấp xã, phường, thị trấn

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công

chứng Ngày 29/11/2006, Luật Công chứng ra đời đưa ra định hướng đúng

đắn về xã hội hóa hoạt động công chứng Bên cạnh các phòng công chứng

nhà nước thì các văn phòng công chứng ra đời, đáp ứng tốt hơn nhu cầu

của người dân, tổ chức trong các giao dịch dân sự tác phong phục vu, lề lối

làm việc cũng tốt hơn, bớt đi tình trạng cửa quyền, khó khăn của các phòng

công chứng trước kia

Trang 29

Xét về cơ cấu của cơ quan thực hiện công chứng hiện nay bao gồm Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, ngoài cơ quan công chứng

chuyên trách thì cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm

quyền công chứng một số việc theo quy định của Luật Công chứng

1.2 Khái quát chung về Văn phòng Công chứng

1.2.1 Khái niệm Văn phòng công chứng

Văn phòng Công chứng là một trong hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng được quy định tại Điều 23 của luật công chứng Mô hình tổ chức

Văn phòng công chứng đã có từ rất lâu trên thế giới, còn ở Việt Nam, văn

phòng công chứng chỉ xuất hiện sau khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu

lực thi hành Đây là lần đầu tiên Việt Nam thừa nhận một mô hình văn phòng

công chứng, tồn tại song song bên cạnh Phòng Công chứng Văn phòng Công

chứng được hình thành xuất phát từ những lý do sau đây:

- Thực tiễn hoạt động của công chứng trong thời gian qua cho thấy, nhu cầu công chứng của tổ chức cá nhân ngày một tăng cao trong khi sự phát triển

của các Phòng công chứng không theo kịp, dẫn đến quá tải Công chứng viên

là công chức nhà nước nên việc phát triển đội ngũ công chứng viên gặp rất

nhiều khó khăn do thiếu biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất từ đó dẫn đến việc

phát triển các tổ chức hành nghề công chứng không theo kịp sự phát triển về

nhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân Đồng thời, thực hiện chủ trương xã

hội hoá công chứng đã được đề ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của bộ

Chính chị là “xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng

Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi thích hợp để

từng bước xã hội hoá công việc này”

- Nền kinh tế nước ta chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường thì việc phải thay đổi cách làm, cách nghĩ bằng chủ

trương xã hội hoá là chủ trương rất lớn mà Đại hội lần thứ X đặt ra và điều

Trang 30

đó là phù hợp Trong xây dựng nhà nước pháp quyền Nhà nước không thể

ôm tất cả, cơ quan nhà nước chỉ làm những gì đích thực mình phải làm, còn

lại nhà nước phải trở thành bà đỡ cho các hoạt động khác trên cơ sở ban

hành chính sách pháp luật

- Việc quy định Văn phòng Công chứng do công chứng viên không phải là công chức nhà nước thành lập phù hợp với mô hình công chứng Latin,

phù hợp với xu thế phát triển của công chứng nhiều nước trên thế giới; công

chứng viên không phải là công chức nhà nước nhưng do nhà nước bổ nhiệm,

miễn nhiệm Văn phòng Công chứng không phải là cơ quan hành chính nhà

nước Một số nước theo mô hình công chứng nhà nước thuần tuý trước đây

cũng dần dần chuyển đổi và tồn tại và cả hai mô hình công chứng nhà nước

và công chứng hành nghề tự do như Trung Quốc, Nga, Ba Lan…

Xuất phát từ những lý do trên, Văn phòng công chứng chính thức được ra đời dưới cơ sở pháp lý là Luật Công chứng 2006 và hiện nay là

Đến Luật Công chứng 2014 quy định rất cụ thể về hình thức tổ chức, người đại diện theo pháp luật, tên gọi và hoạt động của Văn phòng công

chứng là:

Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên

Trang 31

quan đối với loại hình công ty hợp danh Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn [22, Điều 22]

Qua đây có thể thấy sự chuyển biến trong khái niệm về Văn phòng công chứng trong hai giai đoạn này Luật Công chứng 2006 quy định cho

phép có 2 loại hình hoạt động của Văn phòng công chứng là loại hình doanh

nghiệp tư nhân do một công chứng viên thành lập và loại hình doanh nghiệp

công ty hợp danh do hai công chứng viên trở lên thành lập Điều này dẫn đến

việc đối với Văn phòng công chứng hoạt động dưới hình thức công ty tư nhân

thì hoạt động của Văn phòng chịu phụ thuộc nhiều vào công chứng viên thành

lập dẫn đến việc khó khăn trong chuyển đổi mô hình nếu công chứng viên

muốn rút tên khỏi văn phòng mà chưa có người kế nhiệm Chính vì lẽ đó,

Luật Công chứng 2014 đã định nghĩa lại khái niệm Văn phòng công chứng

chỉ còn hình thức duy nhất là công ty hợp danh có từ hai công chứng viên trở

lên và không có thành viên góp vốn

Ngoài ra, một số nguồn khác cũng đưa ra khái niệm về Văn phòng công chứng như Bách khoa toàn thư mở Wikipedia có định nghĩa:

Văn phòng công chứng tại Việt Nam là loại hình công chứng mới theo Luật công chứng năm 2006 Trước đây, việc công chứng

do Nhà nước, đại diện là các công chức Nhà nước được bổ nhiệm chức danh công chứng viên thực hiện Văn phòng công chứng do những người không phải là công chức nhà nước đảm nhiệm chức năng công chứng Luật Công chứng

Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thật sự đầy đủ và thể hiện đúng tính chất của văn phòng công chứng sau khi Luật Công chứng 2014 có hiệu lực

khác với tính chất của Văn phòng công chứng theo Luật Công chứng 2006

Như vậy, tác giả xin phép được tóm lược khái niệm Văn phòng công

Trang 32

chứng theo tinh thần của Luật Công chứng 2014 này như sau: Văn phòng

công chứng là loại hình công chứng có tổ chức và hoạt động theo mô hình

công ty hợp danh có từ hai công chứng viên hợp danh trở nên và không có

thành viên góp vốn Văn phòng công chứng có con dấu, tài khoản riêng và

hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính

1.2.2 Khái quát về tổ chức và hoạt động của văn phòng công chứng

Có thể nói, sự ra đời của Luật Công chứng 2006, với chủ trương chuyển giao, sắp xếp lại thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tổ

chức có thẩm quyền công chứng, cũng như việc luật hóa mô hình Văn phòng

công chứng đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý nhà nước đối

với hoạt động công chứng ở nước ta, là bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực

công chứng Hiện nay, qua nhiều năm hoạt động, Luật Công chứng 2014 với

nhiều sửa đổi, bổ sung tiến bộ so với Luật Công chứng 2006 là cơ sở pháp lý

để nhà nước quản lý các giao dịch dân sự và thúc đẩy chủ trương xã hội hóa

hoạt động công chứng

Tổ chức và hoạt động của Văn phòng công chứng là những điều kiện cần và đủ để thành lập văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật và

cách thức để văn phòng hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả

Về mặt tổ chức, Văn phòng Công chứng ngoài người đại diện theo pháp luật là Trưởng Văn phòng Công chứng – phải là một công chứng viên

còn có các công chứng viên hợp danh Văn phòng Công chứng có trụ sở, con

dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng

nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao

công chứng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác Tuy nhiên, cũng có điểm

khác biệt giữa công ty Hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014

và Văn phòng Công chứng đó là Văn phòng Công chứng không có thành viên

góp vốn để tránh trường hợp chủ đầu tư làm chủ văn phòng

Trang 33

Về mặt hoạt động, việc xác định Văn phòng Công chứng hoạt động theo loại hình Công ty hợp danh nhằm mục đích chính là xác định về thuế,

thuê lao động, kế toán, thống kê… Đây cũng chính là điểm tạo nên sự khác

biệt giữa Văn phòng Công chứng và Phòng công chứng Phòng công chứng là

do Nhà nước bảo đảm về cơ sở vật chất, biên chế nhân sự, kinh phí, còn Văn

phòng Công chứng là do Công chứng viên tự chủ toàn bộ về cơ sở vật chất,

biên chế nhân sự, kinh phí Còn về chức năng, nhiệm vụ của Phòng công

chứng và Văn phòng Công chứng theo quy định của Luật công chứng 2014 có

hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 thì không có điểm gì khác biệt Văn

phòng Công chứng và Phòng công chứng trên toàn quốc đều hoạt động theo

Luật Công chứng, đều thực hiện công chứng các Hợp đồng, giao dịch luật quy

định bắt buộc phải công chứng và các Hợp đồng, giao dịch do người yêu cầu

công chứng yêu cầu công chứng Văn bản công chứng do Công chứng viên

Văn phòng Công chứng chứng nhận và văn bản do Công chứng viên Phòng

công chứng chứng nhận đều có giá trị pháp lý như nhau

Có thể nói, văn phòng công chứng ra đời đánh dấu một bước phát triển

xã hội hóa, xoá bỏ độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực công chứng Trong

quá trình đó, nhà nước rút dần khỏi việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công

chứng, tiến tới chuyển giao hẳn cho các chủ thể phi nhà nước thực hiện, nhà

nước chỉ đóng vai trò duy nhất là người thực hiện quản lý nhà nước Vì đây là

mô hình hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ, nên việc tổ chức thực hiện việc quản

lý không tránh khỏi những bỡ ngỡ Trong giai đoạn đầu của quá trình cải

cách, song song tồn tại hai hệ thống bên cạnh các Phòng Công chứng nhà

nước đã thành lập, với các Công chứng viên nhà nước và các Văn phòng công

chứng mới thành lập, dần được nhân rộng với các Công chứng viên hành

nghề tự do, đặt dưới sự quản lý bằng pháp luật của nhà nước

Mặc dù còn nhiều khó khăn trong tổ chức, hoạt động, song trong giai

Trang 34

đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất nước, văn phòng công

chứng thực sự đã góp phần tạo môi trường pháp lý cho các giao dịch dân sự,

kinh tế, thương mại phát triển, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật,

tạo sự ổn định cho xã hội Điều quan trọng hơn là sự ra đời của văn phòng

công chứng đã góp phần mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để người dân bước

đầu hình thành ý thức sử dụng các công cụ pháp lý, biện pháp hợp pháp để

bảo vệ mình trong đời sống dân sự; tạo cho người dân ý thức, trách nhiệm tốt

hơn khi tham gia giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại

1.3 Một số kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động công chứng

Công chứng không còn xa lạ mà đã tồn tại từ rất lâu và ngày càng trở nên phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay Có thể khái quát

công chứng trên thế giới thành ba hệ thống như sau:

1.3.1 Hệ thống công chứng Latinh

Hệ thống công chứng Latinh là hệ thống chịu ảnh hưởng của hệ thống Luật La Mã và hệ thống pháp luật của một số nước lục địa Châu Âu Hệ

thống này tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch

và Anh); châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ - La

tinh, bang Quebec của Canada, bang Luisane của Hoa Kỳ, một số nước châu

Á (Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ ) Hiện này, hệ thống công chứng Latinh đã hình

thành tổ chức quốc tế của mình đó là Liên đoàn Công chứng quốc tế Latinh

(tên viết tắt là UINL) với thành viên chính thức khoảng hơn 60 quốc gia Do

đặc điểm của các nước theo hệ thống civil law là trọng vật chứng hơn nhân

chứng Hệ thống luật latinh có nhưng đặc điểm sau:

- Phạm vi công chứng được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ việc nào phải công chứng (bặt buộc), việc nào không phải công chứng nhưng

đương sự yêu cầu công chứng;

- Giá trị pháp lý cuả văn bản công chứng rất cao, văn bản có hiệu lực

Trang 35

thi hành đối với các bên đương sự như một phán quyết của tòa án Ở một số

nước gọi Công chứng viên là “thẩm phán về hợp đồng”;

- Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, có thể là công chức hoặc không, nhưng để hành nghề công chứng họ phải được Nhà nước bổ nhiệm và

hoạt động chuyên trách chứ không kiêm nhiệm về công chứng;

1.3.2 Hệ thống công chứng của các nước theo luật án lệ

- Hệ thống công chứng của các nước theo luật án lệ (Hay hệ thống công chứng Anglo-saxon, gắn liền với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common

Law), tồn tại ở các quốc gia: Vương quốc Anh, Mỹ (trừ bang Luisane),

Canada (trừ bang Quebec); Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đài Loan

Luật án lệ tương đối linh hoạt, nhân chứng được tôn trọng hơn vật chứng Hoạt động công chứng này mang đặc điểm sau:

- Phạm vị công chứng không được quy định rõ ràng; Nội dung hành

vi, hình thức văn bản không được pháp luật quy định chặt chẽ, văn bản

công chứng không có hiệu lực bắt buộc thực hiện với các bên như một

phán quyết của tòa

Công chứng là một nghề tự do, và luật sư có thể kiêm cả công chứng

Với những đặc tính này, cho thấy tính chất chuyên môn nghề nghiệp về công

chứng ở quốc gia này không cao

1.3.3 Hệ thống công chứng Collectiviste

Hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) tồn tại ở các nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) trước đây và phát triển mạnh vào các năm

70 của thế kỷ XX đến trước năm 1990, bao gồm: Liên Xô, Ba Lan, Đông

Đức, Bungari, Hungari, Rumani, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam

Trước đây, công chứng tập thể là công chứng Nhà nước, Công chứng viên là công chức nhà nước, Phòng Công chứng là cơ quan Nhà nước, Nhà

nước lập ra theo đơn vị hành chính Nhưng nơi chưa có Phòng Công chứng

Trang 36

thì chính quyền thực hiện việc công chứng Có nơi Phòng Phòng chứng và

chính quyền cùng thực hiện hành vi công chứng: Hành vi công chứng được

xác định một cách rõ ràng bằng cách liệt kê những công việc Công chứng

viên được làm, hình thức của văn bản công chứng không được quy định cụ

thể; đặc biệt rất ít quan tâm đến công tác lưu trữ văn bản, giá trị pháp lý của

văn bản không được coi trọng, vai trò trách nhiệm của Công chứng viên nhất

là trách nhiệm vật chất không được đề cập Họ chỉ chịu trách nhiệm hành

chính trước cơ quan Nhà nước cấp trên mà không chịu trách nhiệm dân sự

trước đương sự Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa tan rã, thì hầu

hết các nước này đã chuyển dần sang mô hình công chứng Latinh

Tóm lại, dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quy, chỉ có hai mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thống

công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình công

chứng nhà nước (chỉ tồn tại ở hệ thống công chứng Collectiviste)

Ở mô hình công chứng tự do, các Công chứng viên được nhà nước bổ nhiệm, hành nghề tự do theo quy định của pháp luật đối với các hình thức

Văn phòng công chứng tư nhân hoặc Văn phòng công chứng tập thể, tự chủ

trong tổ chức, hoạt động, tự hạch toán và đóng thuế cho nhà nước Công

chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình, phải

bồi thường thiệt hại bằng tài khoản tiền ký quỹ của mình nếu hành vi công

chứng gây thiệt hại cho khách hàng hoặc người thứ ba

Ở mô hình công chứng nhà nước, cơ quan công chứng là thiết chế nhà nước, Công chứng viên là công chức nhà nước, do nhà nước bổ nhiệm,

hưởng lương từ ngân sách nhà nước, Công chứng viên không phải chịu

trách nhiệm vật chất trước đương sự về các hậu quả do hành vi công chứng

trái pháp luật của mình gây ra, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước

nhà nước Lệ phí công chứng được nộp cho ngân sách nhà nước, có trích

Trang 37

lại một phần để trang trải thêm cho hoạt động của phòng công chứng Có

thể nói, với sự bao cấp toàn bộ của nhà nước, mô hình công chứng nhà

nước chỉ phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hiện

vật, trong đó, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại không phát triển ở

đó, vai trò công chứng chủ yếu là nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,

bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản cá nhân

Có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô hình công chứng tự do so với

mô hình công chứng nhà nước Đó là sự đề cao, phát huy trách nhiệm cá nhân

của Công chứng viên, tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực để các

Công chứng viên phát huy tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt động

của mình, giảm nhẹ sự bao cấp của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước tinh

giản, gọn nhẹ, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung ứng

dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng Mô hình tổ chức này không chỉ tiết

kiệm cho ngân sách nhà nước mà còn tăng thu ngân sách thông qua việc đóng

thuế của các Công chứng viên Về mặt tổ chức và hoạt động, mô hình công

chứng tự do tạo ra sự linh hoạt về mặt tổ chức, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu

cầu công chứng của nhân dân

Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng của hệ thống công chứng tập thể, sau này khi có Luật Công chứng năm 2006 Việt Nam đã có một bước chuyển

mới, song vẫn chịu ảnh hưởng nặng của hệ thống công chứng này Ngày

9/10/2013, tại Đại hội công chứng quốc tế lần thứ XXVII được tổ chức ở

Thành phố Lima, thủ đô của Pê-ru, Việt Nam chính thức trở thành thành viên

thứ 84 của Liên minh công chứng quốc tế Sự kiện này đánh dấu sự phát triển

lớn mạnh của ngành công chứng Việt Nam và sự hội nhập sâu rộng của công

chứng Việt Nam với công chứng thế giới Ngành công chứng Việt Nam có

thêm nhiều cơ hội tốt để học hỏi, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm với công chứng

quốc tế, điều này góp phần đưa công chứng Việt nam ngày càng phát triển

Trang 38

Sau khi ra nhập Liên minh công chứng Quốc tế, công chứng Việt Nam

có những bài học kinh nghiệm đáng kể như chuyển dần sang mô hình công

chứng tự do, thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, chuyển

đổi các Phòng công chứng nhà nước sang loại hình Văn phòng công chứng

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng nhằm đề cao và phát huy trách

nhiệm cá của công chứng viên để nâng cao tính an toàn pháp lý cho giao dịch,

đồng thời giảm thiểu sự sự bao cấp của nhà nước Ngoài ra, từ bài học của công

chứng thế giới đối với Việt Nam đó là việc kiểm soát nội bộ thông qua mô hình

hội công chứng – là mô hình tổ chức nghề nghiệp của các tổ chức hành nghề

công chứng Nhờ có tổ chức này, hoạt động công chứng tại địa phương hay

trên cả nước được kiểm soát tốt hơn, hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động quản lý nhà

nước về công chứng

1.4 Những yêu cầu việc tổ chức và hoạt động của Văn phòng Công chứng

1.4.1 Sự tồn tại hợp pháp của Văn phòng Công chứng

- Nguyên tắc và thủ tục xin thành lập và đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng

Nguyên tắc thành lập Văn phòng Công chứng phải tuân theo quy định của Luật Công chứng 2014 và phù hợp vi Quy hoạch tổng thể phát triển tổ

chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt [22, Điều 18]

Quy định này đảm bảo cho việc phân bổ các tổ chức công chứng phù hợp với

nhu cầu giao dịch của từng địa phương như ở nội thành thành phố Hà Nội, tại

các phường, quận trung tâm, đông dân cư, nhu cầu giao dịch của người dân lớn

thì số lượng tổ chức công chứng được thành lập sẽ lớn hơn những huyện ngoại

thành, dân cư tập trung thưa thớt, ít các hoạt động thương mại và dự án đầu tư

lớn Ngoài ra, việc cho phép thành lập tổ chức công chứng theo quy hoạch này

sẽ tránh tình trạng quá nhiều tổ chức công chứng thành lập trên một địa bàn

dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức công chứng

Trang 39

Thủ tục và quy trình xin thành lập và đăng ký hoạt động Văn phòng Công chứng quy định cụ thể tại điều 23 Luật Công chứng 2014 Theo đó, khi

xin phép thành lập Văn phòng Công chứng, công chứng viên thành lập Văn

phòng Công chứng phải có hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng gửi Uỷ ban nhân

dân cấp tỉnh, hồ sơ gồm có: Đơn đề nghị thành lập Văn phòng Công chứng và

đề án thành lập Văn phòng công chứng Đề án này cần phải nêu rõ sự cần thiết

thành lập, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều

kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện, bản sao quyết định bổ nhiệm

công chứng viên Văn phòng Công chứng có trụ sở riêng với địa chỉ cụ thể và

phải đáp ứng các yêu cầu như phải đủ diện tích làm việc cho công chứng viên,

nhân viên, tiếp người yêu cầu công chứng và lưu trữ hồ sơ theo quy định của

pháp luật Mục đích của việc quy định này là để công chứng viên khi chuẩn bị

các thủ tục thành lập Văn phòng Công chứng phải xác định rõ: hoạt động công

chứng phải tương xứng với tính chất là một tổ chức thay mặt Nhà nước thực

hiện dịch vụ công, phải được tổ chức thực hiện một cách quy củ, tránh tình

trạng tạm bợ của hoạt động công chứng hoặc kết hợp thực hiện các dịch vụ

khác không phù hợp với tính nghiêm túc của hoạt động công chứng

Trong thời hạn luật định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép thành lập Văn phòng Công chứng và sau đó Văn phòng Công chứng

phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi đã ra quyết định cho

phép thành lập với các nội dung về: Tên gọi của Văn phòng Công chứng, Họ

tên Trưởng Văn phòng Công chứng, Địa chỉ trụ sở của Văn phòng Công

chứng, Danh sách công chứng viên hợp danh và danh sách công chứng viên

làm việc theo chế độ hợp đồng của Văn phòng Công chứng

- Hợp nhất, sát nhập, chuyển nhượng Văn phòng Công chứng Việc hợp nhất Văn phòng Công chứng là việc hai hoặc một số Văn phòng Công chứng có trụ sở trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung

Trang 40

ương chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang hợp

thành một Văn phòng Công chứng mới, đồng thời chấm dứt hoạt động của

các Văn phòng Công chứng bị hợp nhất

Việc sáp nhập Văn phòng Công chứng là việc một hoặc một số Văn phòng Công chứng có thể chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích

hợp pháp sang Văn phòng Công chứng để sáp nhập vào một Văn phòng Công

chứng khác có trụ sở trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,

đồng thời chấm dứt hoạt động của Văn phòng Công chứng bị sáp nhập

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép hợp nhất, sáp nhập Văn phòng Công chứng Chính phủ quy định chi tiết thủ tục hợp nhất, sáp

nhập Văn phòng Công chứng tại Điều 13 và 14 Nghị định 29/2015/NĐ-CP

Việc chuyển nhượng Văn phòng công chứng cho các công chứng viên khác khi đáp ứng các điều kiện quy định của Luật công chứng Văn phòng

công chứng chỉ được chuyển nhượng khi đã hoạt động công chứng được ít

nhất là 02 năm

- Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là người

đứng đầu và đại diện cho văn phòng công chứng, thực hiện các quyền và

nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của văn phòng công chứng, đại diện cho văn

phòng công chứng với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trước Trọng Tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy

định của pháp luật Theo quy định của Luật Công chứng 2014, người đại diện

theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng Trưởng Văn

phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng và đã

hành nghề công chứng từ 02 năm trở nên

- Bổ nhiệm công chứng viên Công chứng viên là người chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích (2008), “Xã hội hoá hoạt động công chứng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công chứng” Tạp chí Dân chủ pháp luật, Bộ Tư pháp, (6), tr. 5 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá hoạt động công chứng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công chứng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ pháp luật
Năm: 2008
2. Bộ Tư pháp (1987), Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 hướng dẫn công tác công chứng nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 hướng dẫn công tác công chứng nhà nước
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1987
3. Chính phủ (1996), Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
4. Chính phủ (2000), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư. Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
6. Chính phủ (2007), Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Thông tư liên tịch số 04/2006 TTLT/BTP-BTNMT hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Thông tư liên tịch số 04/2006 TTLT/BTP-BTNMT
Năm: 2007
7. Chính phủ (2015), Nghị đinh 29/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị đinh 29/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
8. Chính phủ (2015), Nghị định Số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định Số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
9. Lê Thị Bích Hạnh (2010), Cần có quy định và hướng dẫn cụ thể một số thủ tục công chứng”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, (chuyên đề), tr. 23 - 25, 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có quy định và hướng dẫn cụ thể một số thủ tục công chứng
Tác giả: Lê Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Năm: 2010
10. Nguyễn Thị Hạnh (1998), Công chứng hợp đồng kinh tế và các thoả thuận biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế - thực trạng và giải pháp, Luận án thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chứng hợp đồng kinh tế và các thoả thuận biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 1998
12. Lê Quốc Hùng (2009), “Luật công chứng và vấn đề xã hội hoá hoạt động công chứng”, Phòng quốc hội, (21), tr.52 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật công chứng và vấn đề xã hội hoá hoạt động công chứng
Tác giả: Lê Quốc Hùng
Nhà XB: Phòng quốc hội
Năm: 2009
13. Trịnh Duy Hưng (2010), Một số ý kiến về việc thực hiện yêu cầu công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch của doanh nghiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, (chuyên đề), tr. 30 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về việc thực hiện yêu cầu công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch của doanh nghiệp
Tác giả: Trịnh Duy Hưng
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Năm: 2010
14. Chu Văn Khanh (2009), Quyết định chuyển đổi mô hình hoạt động của văn phòng sang loại hình công ty hợp danh theo Quyết định số 1488/QĐ-UBND ngày 31/3/2009 của UBND thành phố Hà Nội và Giấy đăng ký hoạt động số 09/TP-ĐKHĐ ngày 8/4/2009 của Sở Tư pháp thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định chuyển đổi mô hình hoạt động của văn phòng sang loại hình công ty hợp danh theo Quyết định số 1488/QĐ-UBND ngày 31/3/2009 của UBND thành phố Hà Nội và Giấy đăng ký hoạt động số 09/TP-ĐKHĐ ngày 8/4/2009 của Sở Tư pháp thành phố
Tác giả: Chu Văn Khanh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
15. Đặng Văn Khanh (2000), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay, Luận án TS Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đặng Văn Khanh
Nhà XB: Luận án TS Luật học
Năm: 2000
16. Dương Khánh (2002), Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
Tác giả: Dương Khánh
Nhà XB: Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật
Năm: 2002
17. Nguyễn Quang Minh (2009), Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Quang Minh
Nhà XB: Luận án thạc sĩ luật học
Năm: 2009
18. Phạm Xuân Phương (2010), “Hà Nội với việc thực hiện xã hội hoá công chứng”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, (chuyên đề), tr. 13 -15 19. Quốc hội (2005), Luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
20. Quốc hội (2006), Luật công chứng năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật công chứng năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
26. Sở Tư pháp - Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2013), Ngành Tư pháp Thủ đô với nhiều hoạt động mừng ngày truyền thống, http://www.sotuphap.hanoi.gov.vn/Portalview/trangchitiet.aspx?idmenu=95&idtin=256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Tư pháp Thủ đô với nhiều hoạt động mừng ngày truyền thống
Tác giả: Sở Tư pháp - Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Năm: 2013
27. Chu Hồng Sơn (2016), “Đôi điều về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên”, Tạp chí dân chủ và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên
Tác giả: Chu Hồng Sơn
Nhà XB: Tạp chí dân chủ và pháp luật
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w