1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyen De 18 Bai 2.Doc

11 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Sự Trỗi Dậy Của Nền Kinh Tế Trung Quốc - Ấn Độ - ASEAN Tới Kinh Tế Thế Giới Và Khu Vực
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 134 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ch©u ¸ víi ba cùc kinh tÕ ®ang ph¸t triÓn TÁC ĐỘNG CỦA SỰ TRỖI DẬY CỦA NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC ẤN ĐỘ ASEAN TỚI KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC 1 Tác động tới kinh tế thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của Trun[.]

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ TRỖI DẬY CỦA NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC - ẤN

ĐỘ - ASEAN TỚI KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC

1 Tác động tới kinh tế thế giới

Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN được coi là một trong những động lực chính thúc đẩy kinh tế thế giới tăng trưởng trong những năm vừa qua Theo đánh giá của WB, nếu tính theo GDP danh nghĩa, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là 3 trong số 15 nền kinh tế đóng góp nhiều nhất vào tổng GDP của thế giới trong suốt giai đoạn 1998 - 2004 Tính theo tỷ trọng đóng góp vào GDP toàn cầu, Trung Quốc đứng thứ 6, ASEAN đứng thứ 8 còn Ấn Độ đứng thứ 10 Thứ hạng của Trung Quốc chỉ sau Mỹ, EU, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, còn trên cả Tây Ban Nha (thứ 8) và Canađa (thứ 9) Trong khi đó GDP của ASEAN và Ấn Độ vượt qua cả Hàn Quốc (thứ 11) và các nước đang phát triển lớn trên thế giới là Nga (thứ 16), Braxin (thứ 15) và một số nước phát triển châu Âu Còn nếu tính theo ngang giá sức mua (PPP), tỷ lệ đóng góp của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN vào GDP của thế giới còn cao hơn rất nhiều Theo số liệu của WB, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA), Trung Quốc và Ấn Độ là hai nền kinh tế đứng thứ 2 và thứ

4 tính theo tỷ trọng đóng góp vào GDP của thế giới (tính theo PPP) , cao hơn cả các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản (thứ 3), Đức (thứ 5), Anh (thứ 6), Pháp (thứ 8) Thứ hạng của cả 10 nước ASEAN là thứ 6, trong đó có một số nước có thứ hạng khá cao như Inđônêxia (thứ 15 với tỷ lệ đóng góp khoảng 1,4%), Thái Lan (thứ 20 với tỷ lệ đóng góp khoảng 0,9%), Philippin (thứ 25), Malaixia (thứ 33), Việt Nam (thứ 39), Xingapo (thứ 54) trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới

Tỷ trọng đóng góp của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN trong tổng GDP danh

nghĩa của thế giới giai đoạn 1998 – 2004

n v : % Đơn vị: % ị: %

1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004

Trung bình cả giai đoạn Thế giới 100 100 100 100 100 100 100 100

Trung Quốc - 3,77 3,97 4,30 4,42 4,75 4,99 4,36

Ấn Độ 1,40 1,45 1,45 1,53 1,57 1,65 1,72 1,52

ASEAN 1,55 1,73 1,80 1,73 1,86 1,85 1,95 1,80

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (WB)

Điều đáng chú ý là tỷ trọng của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN trong kinh tế thế giới ngày càng tăng trong khi phần đóng góp của các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản,

EU dần giảm đi Dự báo trong khi tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP toàn thế giới

dự kiến sẽ giảm (từ 21% hiện nay xuống còn 18% vào năm 2025) thì tỷ trọng của Ấn

Trang 2

Độ dự kiến sẽ tăng lên 11% vào năm 2025 Cuối thập kỷ này, mức đóng góp của Trung Quốc vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ lớn hơn so với cả 6 quốc gia lớn nhất

EU Mặc dù không phát triển lớn mạnh bằng Trung Quốc và Ấn Độ, tỷ trọng đóng góp của ASEAN vào GDP của toàn thế giới dự báo cũng sẽ tăng mạnh

Tỷ trọng đóng góp của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN trong tổng GDP tính theo

ngang giá sức mua của thế giới năm 2005

n v : % Đơn vị: % ị: %

Theo WB Theo IMF Theo CIA

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Cơ quan tình báo

Trung ương Mỹ (CIA)

1.1 Tác động đối với thương mại toàn cầu

Trong những năm vừa qua, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh (khoảng 8% đối với Trung Quốc, 5% đối với Ấn Độ và khoảng 5,4% đối với riêng khu vực ASEAN)

và quy mô kinh tế lớn (dân số Trung Quốc là trên 1,3 tỷ người, chiếm 21% tổng dân số thế giới, trong khi con số này của Ấn Độ là trên 1 tỷ người (chiếm 17%) và ASEAN là 537,11 triệu, chiếm gần 9%), những thay đổi trong cơ cấu cung – cầu của khu vực này

đã tác động lớn tới thương mại thế giới

Thu nhập bình quân đầu người tại các quốc gia này không ngừng tăng trong những năm qua khiến mức tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người cũng tăng và cơ cấu chi tiêu của các hộ gia đình đã chuyển từ hàng sơ cấp sang hàng chế tác Cỗu về các sản phẩm dịch vụ gia tăng như dịch vụ vận tải, điện và nhà ở cũng tăng cao Hơn nữa, do thu nhập bình quân đầu người tăng và tác động của quá trình đô thị hóa khiến

cơ cấu thực phẩm của các hộ gia đình cũng thay đổi: Tỷ lệ các loại ngũ cốc chính giảm

và tỷ lệ thịt cá, các sản phẩm sữa và rau, hoa quả có xu hướng tăng nhanh; tỷ lệ sử dụng các loại thực phẩm chế biến sẵn cũng tăng Tính đến cuối những năm 90, mức tiêu thụ calo bình quân đầu người tại Trung Quốc chỉ kém 10% so với các nước phát triển, trong khi của Ấn Độ là thấp hơn 20% so với Trung Quốc

Chính sự thay đổi về cơ cấu tiêu dùng tại Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN phần nào đã làm tăng cầu thế giới đối với các sản phẩm từ vật nuôi, cây có dầu, dầu thực vật, hoa quả và rau Lượng thịt tiêu thụ của thế giới đã tăng hơn 50% trong hơn một thập kỷ qua, trong đó cầu thịt lợn đã tăng thêm 1/3 Các dự báo cho thấy chỉ riêng Trung Quốc chiếm hơn 40% mức tăng thêm trong cầu về thịt của thế giới trong giai

Trang 3

đoạn 1997-2020

Bên cạnh đó, việc thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa và sự phát triển của ngành chế tác trong nước, tốc độ đầu tư cao, đặc biệt là đầu tư vào cơ sở hạ tầng của

ba nền kinh tế trên là một trong những nhân tố khiến cầu đối với các nguyên liệu và nhiên liệu cơ bản (như bông, cao su, gỗ, quặng sắt, kim loại màu), cầu đối với năng lượng (dầu mỏ, than đá, ), và cầu đối với phần lớn các hàng hóa sơ cấp tại các quốc gia này cũng tăng nhanh Trong giai đoạn 1994-2003, với nhịp độ tăng GDP trung bình khoảng 8,2%/năm, tốc độ tăng tiêu dùng nhôm bình quân của Trung Quốc là 13,6%; đồng tăng 14,9%; niken tăng 13,0%; thép tăng 9,2% Trong khi đó, với mức tăng trưởng GDP trung bình là 5,8%/năm, mức tăng cầu đối với các kim loại trên của

Ấn Độ là 3,2%, 12,4%, 3,7%, và 4,4% Nhập khẩu quặng sắt và đỗ tương của Trung Quốc chiếm 28,7% và 32,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới Trung Quốc cũng là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới đối với nhiều loại mặt hàng như cao su thiên nhiên, gỗ xẻ, giấy, Trong nhiều năm tới, UNCTAD dự báo Trung Quốc vẫn

là nước đóng vai trò lớn nhất trên thị trường quặng sắt thế giới Đồng thời, Trung Quốc và Ấn Độ cũng chiếm lần lượt 19,9% và 24,3% mức tăng cầu dầu mỏ thế giới

Tỷ trọng nhập khẩu các hàng hóa sơ cấp của Ấn Độ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới cũng tăng lên (trừ đồng và cao su), nhưng mức tăng thấp hơn của Trung Quốc

Nhu cầu nhập khẩu lớn của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là nguyên nhân chính làm cầu thế giới tăng Cỗu thế giới tăng trong khi nguồn cung hạn chế khiến giá hàng hóa thế giới tăng trong thời gian gần đây Kể từ năm 2002, giá các loại hàng hóa

đã tăng mạnh theo cả giá thực tế và danh nghĩa, đặc biệt đối với khoáng sản, các loại quặng và kim loại Giá bông thế giới cũng chịu sự tác động trực tiếp từ Trung Quốc do nước này chiếm khoảng 1/4 sản lượng thế giới và là nước tiêu thụ bông lớn nhất thế giới (chiếm gần 1/3 tổng khối lượng tiêu thụ và 1/4 tổng khối lượng nhập khẩu bông thế giới) Dự báo ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian tới khiến giá những mặt hàng này vẫn có thể sẽ cao hơn mức trung bình giai đoạn kể từ giữa những năm 80 Những yếu tố này sẽ góp phần làm tăng khối lượng và/hoặc giá xuất khẩu của các hàng hóa sơ cấp của các quốc gia đang phát triển khác trên thế giới

Xét về khía cạnh xuất khẩu, Trung Quốc, ASEAN và Ấn Độ cũng đóng góp tích cực vào thúc đẩy hoạt động thương mại toàn cầu Trong những năm qua, hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN không ngừng phát triển Trong khi Ấn Độ đóng góp khoảng 1% vào tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới, mức đóng góp của Trung Quốc là 8% Tổng kim ngạch thương mại thế giới của ASEAN năm

2004 cũng tăng 23% so với năm 2003, từ 845,5 tỷ USD lên trên 1 nghìn tỷ USD Kể

từ khi gia nhập WTO, xuất nhập khẩu của Trung Quốc tăng mạnh Trong năm 2003

và 2004, tốc độ tăng xuất khẩu của Trung Quốc là hơn 30%, đạt mức thặng dư

Trang 4

thương mại tương ứng là 25,5 tỷ USD và trên 20 tỷ USD Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2005 của Trung Quốc là trên 1 nghìn tỷ USD Từ 1995-2004, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc trên tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ đã tăng từ 16,6% lên 21,1%, trong khi tỷ lệ này ở EU tăng từ 12,8% lên 16,8%

Tỷ trọng đóng góp và thứ hạng của Trung Quốc, Ấn Độ và mười nước ASEAN

vào tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới năm 2005

Nguồn: Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA)

Tuy nhiên, việc hàng hóa đến từ Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN tràn ngập toàn thế giới, đặc biệt là hàng hóa của Trung Quốc, khiến nhiều quốc gia thực sự lo ngại hàng hóa sản xuất trong nước có thể bị hàng hoá rẻ, chất lượng cao đến từ các quốc gia châu Á này đè bẹp Không chỉ có năng lực cạnh tranh ở những sản phẩm sử dụng nhiều lao động, những năm gần đây các doanh nghiệp Trung Quốc, ASEAN và Ấn

Độ bắt đầu sản xuất những hàng hóa có chất lượng quốc tế Tích lũy tư bản, cả vật chất và con người, đã làm tăng năng suất lao động; những thay đổi về lợi thế so sánh khiến các quốc gia này đang tìm cách cải thiện cơ cấu xuất khẩu theo hướng chuyển sang những hàng hóa có tiềm năng tăng năng suất tương đối cao Những năm vừa qua, châu Âu đã không ngừng tìm cách gây khó dễ cho hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc, ASEAN và Ấn Độ vào thị trường khu vực này, thể hiện qua hàng loạt

vụ kiện phá giá đánh vào hàng hóa của các nước ASEAN cũng như việc buộc Trung

Trang 5

Quốc phải hạn chế hàng xuất khẩu dệt may vào châu Âu khi Hiệp định dệt may (ATC) chấm dứt vào năm 2005

Sự phát triển của Ấn Độ gây ra ít lo ngại hơn so với sự phát triển của Trung Quốc, mặc dù tiềm năng phát triển của Ấn Độ được đánh giá cao hơn cả của Trung Quốc Xuất khẩu trong các ngành sử dụng nhiều lao động của Ấn Độ không có vị trí nổi trội trong luồng thương mại thế giới như Trung Quốc Đồng thời, tốc độ tăng tiêu dùng các nguyên liệu thô của Ấn Độ cũng không bằng Trung Quốc Mối lo ngại của các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ về tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ chủ yếu tập trung vào hoạt động hướng ra bên ngoài (outsourcing) trong lĩnh vực dịch vụ Các doanh nghiệp Ấn Độ hiện là nhà sản xuất dược phẩm lớn nhất thế giới về các sản phẩm dựa trên công nghệ gien, là nhà xuất khẩu hàng đầu trong lĩnh vực phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Tỷ trọng xuất khẩu phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin trong tổng doanh thu xuất khẩu của Ấn Độ đã tăng từ 20% năm 1990 lên 30% năm

2003, đưa tỷ trọng của Ấn Độ trong tổng giá trị xuất khẩu dịch vụ của các nước đang phát triển tăng từ 3% lên 7% trong cùng thời kỳ Cũng trong giai đoạn này, xuất khẩu dịch vụ của Trung Quốc tăng 8 lần, đạt 47 tỷ USD năm 2003

1.2 Tác động đối với đầu tư toàn cầu

Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu, có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN đã tạo ra những xu thế mới trong đầu tư thế giới Cách đây vài thập kỷ, hầu hết các luồng vốn đầu tư nước ngoài là từ các trung tâm vốn của thế giới như Mỹ, EU, tới chính những quốc gia phát triển đó thì hiện nay, các dòng vốn này lại chuyển hướng sang các nền kinh tế đang nổi lên, trong đó ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ là những địa điểm nhận đầu tư lớn nhất thế giới Tổng vốn FDI vào Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN tăng lên cả về số lượng tuyệt đối cũng như tỷ trọng đóng góp vào tổng vốn FDI trên toàn thế giới Ngược lại, tốc độ phát triển đầu tư nhanh và mạnh mẽ tại Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng là một trong những nguyên nhân đẩy FDI toàn thế giới tăng nhanh FDI v o Trung Qu c, n ào Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 ốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 Ấn Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 ào Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 ộ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 ốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 ước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 v m t s n c ASEAN giai o n 2003 – 2005đoạn 2003 – 2005 ạn 2003 – 2005

Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005

Tỷ USD

Tỷ trọng (%)

Tỷ USD

Tỷ trọng (%)

Tỷ USD

Tỷ trọng (%)

Trang 6

Xingapo 9,3 1,46 16,1 2,31 15,9 1,83

Nguồn : Báo cáo đầu tư thế giới 2006, UNCTAD 2005.

Với các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quy mô và sức mua của thị trường lớn, giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là những địa điểm rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Trung Quốc

và Ấn Độ được đánh giá là những nước thu hút FDI hàng đầu trong khu vực Cũng như trên thế giới Theo kết quả khảo sát về những địa điểm kinh doanh hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư tại Châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 2005-2006, Trung Quốc và Ấn Độ được đánh giá rất cao, tiếp theo đó là các nước ASEAN (Xem bảng) FDI vào Trung Quốc liên tục tăng mạnh trong các năm gần đây và luôn ở mức trên 55

tỷ USD/năm Chỉ riêng Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN đã chiếm tới hơn 14% tổng FDI toàn cầu năm 2004, góp phần đưa châu Á trở thành khu vực nhận đầu tư lớn nhất thế giới trong một vài năm trở lại đây, chiếm 28% FDI thế giới

Những địa điểm kinh doanh hấp dẫn nhất tại châu Á - Thái Bình Dương giai

đoạn 2005-2006

1 Trung Quốc

2 Ấn Độ

3 Thái Lan

4 Hàn Quốc

5 Malaixia

6 Inđônêxia

7 Việt Nam

8 Xingapo

1 Trung Quốc

2 Ấn Độ

3 Thái Lan

4 Hàn Quốc

5 Malaixia

6 Inđônêxia

7 Việt Nam

8 Xingapo

Nguồn: Báo cáo triển vọng đầu tư toàn cầu 2005, UNCTAD

Bên cạnh việc là những nước nhận đầu tư chủ yếu, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN còn nổi lên là những nước đầu tư ra nước ngoài lớn nhờ những thay đổi về chính sách cả ở tầm quốc gia và khu vực Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế trong nước, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng góp phần thúc đẩy và làm đa dạng hóa các dòng vốn đầu tư toàn cầu nhằm duy trì khả năng cạnh tranh toàn cầu của mình Trong khi FDI ra nước ngoài của EU đã giảm 25%, chỉ còn 280 tỷ USD năm 2004, thì từ năm 2000 đến 2003, FDI ra nước ngoài của ASEAN đạt 45 tỷ USD, riêng trong năm

2004 là 13,62 tỷ USD Trong giai đoạn 2001-2003, ASEAN chiếm tới 10% vốn FDI

Trang 7

vào trong nước của các quốc gia đang phát triển Trong năm 2004, với việc Trung Quốc theo đuổi mục tiêu tìm kiếm các nguồn nguyên liệu tự nhiên, Mỹ Latinh đã trở thành khu vực nhận đầu tư lớn nhất của Trung Quốc ; hơn một nửa trong tổng số 1,8 tỷ USD vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc là vào khu vực này FDI ra nước ngoài của Ấn Độ cũng đã tăng hơn 2 lần trong 2 năm, từ mức 1,107 tỷ USD năm 2002 lên 2,2 tỷ USD năm 2004

Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng góp phần thúc đẩy xu hướng mua lại và sát nhập (M&As) và xu hướng đầu tư mới (greenfield) vốn đang rất phổ biến trong hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới Năm 2004, Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng hơn một nửa trong tổng số các dự án đầu tư mới và các dự án xin mở rộng tại các quốc gia đang phát triển Đồng thời, trong những năm vừa qua, thế giới đã chứng kiến một số vụ M&A có quy mô lớn giữa các doanh nghiệp của Trung Quốc và Ấn Độ với các tập đoàn lớn của Mỹ, ví dụ như vụ hãng Lenovo của Trung Quốc mua lại chi nhánh của hãng máy tính cá nhân IBM của Mỹ ; hay việc tập đoàn Reliance và VSNL của Ấn Độ đầu tư vào tập đoàn viễn thông FLAG và Tyco Global Network của Mỹ

2 Tác động tới kinh tế khu vực châu Á

Sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN có tác động rất lớn tới tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, hợp tác và cạnh tranh, cũng như vị thế của các nước trong khu vực Năm 2005, tăng trưởng GDP của châu Á khá khả quan (trong đó tăng trưởng của khu vực Đông Á lên tới 7,1%), chủ yếu nhờ tốc độ tăng trưởng mạnh của Trung Quốc,

Ấn Độ và ASEAN Điều đáng chú ý là trong bối cảnh Mỹ và Nhật Bản - hai thị trường quan trọng nhất của châu Á tăng trưởng khiêm tốn, thì dự báo năm 2006, GDP của Trung Quốc tăng 9-9,2%, Ấn Độ tăng 7,5-8% và ASEAN tăng 6%, kéo mức tăng trưởng của toàn khu vực lên 6% (theo WB, ADB và IDE)

Mối quan hệ mật thiết về kinh tế giữa Trung Quốc - Ấn Độ - ASEAN đã đặt nền móng cho một cấu trúc hợp tác mới giữa Đông, Đông Nam và Nam châu Á Một loạt các sáng kiến về liên kết kinh tế khu vực đã được xúc tiến, trong đó ASEAN nắm vai trò liên kết các nền kinh tế với mô hình liên kết khu vực ASEAN+3 (Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc), khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ, ASEAN - Trung Quốc… Châu Á ngày càng có vai trò lớn hơn trong nền kinh tế thế giới, và tiếng nói của các nền kinh tế châu Á đang phát triển ngày càng có trọng lượng hơn, nhờ đó làm giảm sự thua thiệt của các nền kinh tế đang phát triển châu Á trước sức ép của các nước phát triển lớn như Nhật Bản, EU và đặc biệt là Mỹ Trong khu vực, nếu như trước đây với thuyết “mô hình đàn sếu bay”, Nhật Bản được coi là nền kinh tế dẫn đầu châu Á, thì ngày nay vai trò của Nhật Bản đã bị giảm đi đáng kể Nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc đến một mô hình khác, trong đó Trung Quốc sẽ thay thế Nhật Bản trở thành nền kinh tế dẫn đầu, và cùng với Ấn Độ, ASEAN trở thành động lực chính cho nền kinh tế khu vực Trong năm 2005, phần còn lại của châu Á đã vượt qua Nhật Bản

Trang 8

về tổng sản phẩm kinh tế quốc dân danh nghĩa tính theo USD (theo ước tính của Lehman Brothers) Theo các số liệu của IMF, điều này chưa từng xảy ra từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước

Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cùng với quá trình hội nhập sâu rộng đã tạo nên một khu vực kinh tế có quy mô sản xuất khổng lồ và một thị trường lớn đầy tính cạnh tranh Từ giá trị thương mại hai chiều khá lớn của những hàng hóa trung gian và thành phẩm trong những ngành giống nhau giữa Trung Quốc,

Ấn Độ, ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, có thể thấy xu hướng liên kết mạng lưới sản xuất đang ngày một rõ nét ở châu Á Việc hình thành những chuỗi cung ứng toàn cầu

đã khiến cho một số nền kinh tế và thành phố trong khu vực, như Hồng Công, Xingapo, và gần đây là Ichêon, Thượng Hải, Thẩm Quyến , trở thành những trung tâm công nghiệp và thương mại của thế giới Mặt khác, do Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN có lợi thế cạnh tranh ở những mặt hàng tương tự nhau và tương tự như các nước châu Á khác, cạnh tranh giữa các nước trong khu vực trở nên đặc biệt gay gắt Khả năng cạnh tranh cao và quy mô sản xuất lớn của ba nền kinh tế đã đặt các quốc gia châu Á khác, cũng như chính các nước Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN trước một sức ép phải thay đổi cơ cấu nền kinh tế để tận dụng tối đa lợi thế của mình, và đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển Đặc biệt, sự lớn mạnh của Trung Quốc là một thách thức lớn đối với toàn bộ các quốc gia còn lại Ấn Độ, ASEAN và các nước châu

Á khác đang phải cố gắng cạnh tranh với làn sóng Trung Quốc đang không chỉ có lợi thế lớn ở các thị trường bên ngoài, mà còn chiếm lĩnh thị trường khu vực Sự phát triển của Trung Quốc buộc nhiều quốc gia châu Á phải tìm kiếm hướng đi mới cho các ngành kinh tế của mình Ví dụ, Ấn Độ có chiến lược tập trung vào công nghệ thông tin, công nghệ cao và các ngành dịch vụ, những ngành nước này hiện có lợi thế hơn Trung Quốc Mặc dù vậy, đây cũng là những ngành Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển Theo một khảo sát gần đây đối với các doanh nghiệp Ấn Độ và một số nước ASEAN, việc phải cạnh tranh với Trung Quốc là nguy cơ xếp thứ bảy trong các nguy

cơ lớn nhất đối với sự phát triển của doanh nghiệp các nước này

2.1 Tác động tới thương mại khu vực

Sự tăng trưởng của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN thúc đẩy thương mại trong nội bộ châu Á tăng cao, bù đắp những ảnh hưởng từ việc cầu của các thị trường chính (Mỹ, EU và Nhật Bản) tăng trưởng thấp Nếu như năm 1999, thị trường Mỹ chiếm hơn 1/3 tổng giá trị xuất nhập khẩu của châu Á, thì đến nay tỷ lệ này đã giảm xuống còn 23% Trong khi đó, thương mại giữa các nước châu Á đã tăng từ 53% năm 1999 lên 65% năm 2005 (theo RBC Capital Markets Corporation) Thương mại trong khu vực châu Á là động lực quan trọng cho sự tăng trưởng xuất khẩu của các nước trong khu vực Do thương mại của các nước châu Á với Mỹ bị đình trệ, các nước này đã chuyển hướng thương mại sang Trung Quốc, khiến kim ngạch xuất khẩu của châu Á vào Trung Quốc tăng mạnh Do vậy, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã tạo nên một thị

Trang 9

trường mới và lớn hơn, và điều này có lợi cho các quốc gia châu Á Đồng thời, do 60% lượng nhập khẩu của Trung Quốc là từ các nước châu Á, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã làm tăng kim ngạch xuất khẩu tiềm năng của châu Á vào Trung Quốc Các cam kết của Chính phủ Trung Quốc về việc nới lỏng các quy chế đãi ngộ quốc gia với các doanh nghiệp nước ngoài đang mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu hơn đối với các lĩnh vực dịch vụ, từ viễn thông tới ngân hàng

Cùng với sự tăng trưởng thương mại giữa các nước, có sự dịch chuyển về cơ cấu các đối tác xuất nhập khẩu chính của các nền kinh tế châu Á Hàng xuất khẩu Trung Quốc đã thay thế hàng hóa của nhiều nước châu Á ở các thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản Ví dụ, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào Mỹ năm 2005 tăng 20,4%

so với năm 2004, và xét cả giai đoạn 2001-2005 thì kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào Mỹ đã tăng hơn 200% Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của đa số các nền kinh tế châu Á sang thị trường Mỹ tăng trưởng thấp Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và ASEAN chỉ tăng trung bình 2-4% năm Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ trong giai đoạn 2001-2005 chỉ tăng 8%, Hàn Quốc là gần 20% và ASEAN là 13% Tuy nhiên, nhập khẩu của Trung Quốc đối với các hàng hóa

từ các nước châu Á lại tăng mạnh Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia và Xingapo sang Trung Quốc đã tăng hơn 100%, trong đó xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng từ 42,8 tỷ USD năm 2001 lên 85,6 tỷ USD năm

2004 Đó là do cầu đối với nguyên liệu và sản phẩm trung gian nhằm phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu của Trung Quốc tăng cao Nền kinh tế phát triển nhanh chóng của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng tạo ra một thị trường rộng lớn cho hàng tư liệu sản xuất, hàng hóa trung gian và các sản phẩm dịch vụ từ các nước châu Á phát triển như Nhật Bản và Hàn Quốc

Vai trò của Trung Quốc trong sự chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu của các

nước châu Á

Tuy nhiên, thương mại giữa các nước trong khu vực còn chưa phát huy hết tiềm năng của nó Trước hết đó là do châu Á còn phụ thuộc nhiều vào cầu của các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, EU Thứ hai, kim ngạch thương mại giữa Nam Á và

Nguyên liệu, sản

phẩm trung gian…

Trung Quốc

Các nước châu Á khác

Mỹ

Th nh phào Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN giai đoạn 2003 – 2005 ẩm

(giảm) (tăng)

Trang 10

Đông Á còn thấp, do cơ chế thương mại của các nước Nam Á còn ít mở và khoảng cách về địa lý giữa hai khu vực

2.2 Tác động tới đầu tư khu vực

Sự tăng trưởng mạnh mẽ và viễn cảnh khả quan của kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ

và ASEAN là nguyên nhân chính khiến cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh vào khu vực Mặc dù việc dòng vốn đầu tư ồ ạt chảy vào Trung Quốc làm nhiều người tỏ ra lo ngại về việc vốn đầu tư tới các quốc gia khác sẽ giảm đi, nhưng trên thực tế các nền kinh tế khu vực và thế giới thực sự có lợi từ việc FDI vào Trung Quốc tăng lên Một nghiên cứu của ADB đã đưa ra những con số để chứng minh cho điều này: Khi dòng vốn FDI đổ vào Trung Quốc tăng 10% sẽ khiến dòng FDI đổ vào các nước Đông và Đông Nam Á tăng từ 1 đến 3% Nguyên nhân là do mạng lưới sản xuất giữa các nước châu Á và Trung Quốc, cũng như cầu đối với nguồn lực từ Trung Quốc đang ngày càng tăng Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc cũng dẫn tới sự chuyển dịch dòng vốn từ các nước Đông Nam Á sang Đông Bắc Á Đã có những thời kỳ vốn FDI vào Đông Nam Á cao gấp 2 lần so với Đông Bắc Á, nhưng hiện con số này đã bị đảo ngược

2.3 Tác động tới tài chính khu vực

Cùng với sự phát triển kinh tế đầy năng động của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN, các quốc gia châu Á đã đạt được những bước tiến lớn trong lĩnh vực tài chính Quy mô thị trường trái phiếu châu Á (trừ Nhật Bản) hiện nay đã tăng gấp ba lần so với năm 1997, lên 1,3 nghìn tỷ USD Nguồn vốn huy động từ các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân tuy còn chiếm tỷ lệ thấp nhưng đang tăng lên nhanh chóng Dự trữ ngoại hối của Ấn Độ, ASEAN và đặc biệt là Trung Quốc tăng mạnh (riêng Trung Quốc đã có dự trữ lên đến trên 800 tỷ USD) đã góp phần quan trọng đối với an ninh tiền tệ khu vực ASEAN và Trung Quốc cũng là những nước đề xướng thành lập Quỹ tiền tệ Đông Á (EAMF), có vai trò đảm bảo sự ổn định tiền tệ và tài chính trong khu vực Theo các nước đề xuất, Quỹ tiền tệ Đông Á sẽ là bước khởi đầu hình thành Quỹ tiền tệ châu Á nhằm thay thế những hoạt động của IMF ở khu vực (vốn được cho là chưa thực sự hiệu quả), tiến tới một khối tiền tệ châu Á trong dài hạn

Việc Trung Quốc thay đổi cơ chế tỷ giá đồng nhân dân tệ (NDT) đã kéo theo một loạt các thay đổi về cơ chế tiền tệ khác ở các nước láng giềng Mặc dù đồng USD vẫn có vai trò lớn tại châu Á, hầu hết các quốc gia trong khu vực hiện nay thể hiện quyết tâm xây dựng một cơ chế tài chính khẩn cấp của khu vực và một hệ thống hối đoái hợp lý hơn, ví dụ như cơ chế “giỏ tiền tệ”, trong đó các đồng NDT, rupi Ấn

Độ, đôla Xingapo và một số đồng tiền của các nước đang nổi khác có một chỗ đứng đáng kể

2.4 Tác động tới thị trường lao động

Sự tăng trưởng sản xuất của ba nền kinh tế đòi hỏi một lượng lao động rất lớn

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w