1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bg thuc tap duoc lieu 2 2164

37 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dược liệu Chứa Tannin
Người hướng dẫn Phạm Duy Lân, Giảng viên
Trường học Trường Đại Học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Dược học
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 673,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phân biệt hai loại tannin pyrogallic và pyrocatechic có thể dựa vào phản ứng thế và phản ứng ngưng tụ trên nhân thơm của tannin pyrocatechic cũng như sự tạo màu sắc khác nhau của cả h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA DƯỢC 

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

BÀI GIẢNG MÔN HỌC

Tên môn học: THỰC TẬP DƯỢC LIỆU 2

Trình độ: Đại học

Số tín chỉ: 1 Giờ thực hành: 30 tiết

Thông tin Giảng viên:

Tên Giảng viên: Phạm Duy Lân

 Đơn vị: Trung Tâm Thực Hành Y Dược

 Điện thoại : 01202166774

 Email: phamduylan1911@gmail.com

Trang 3

BÀI 1: DƯỢC LIỆU CHỨA TANIN

Mục tiêu

Sau khi thực hành bài Dược liệu chứa tannin, sinh viên phải:

- Thực hiện được các phản ứng định tính chung của tannin trong dược liệu

- Phân biệt dược hai loại tannin bằng phản ứng hóa học

- Định lượng được tannin trong dược liệu bằng phương pháp oxy hóa với KMnO 4

I CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tannin (tannin, taninoid) là những hợp chất pholyphenol phức tạp, có nguồn gốc thực vật, có vị chat và có tính thuộc da

Dựa vào cấu trúc hóa học người ta xếp tannin vào hai nhóm chính:

- Tannin thủy phân được (tannin pyrogallic)

- Tannin không thủy phân được (tannin ngưng tụ, tannin pyrocatechic)

Tannin dễ tan trong kiềm loãng, trong hỗn hợp cồn nước

Tannin tan được trong cồn, glycerin, propylene glyconl, acetone và ethyl acetate Tannin không tan trong dung môi kém phân cực

Tannin tạo tủa với dung dịch nước của protein Đây là tích chất quan trọng để định tính tannin

Để phân biệt hai loại tannin pyrogallic và pyrocatechic có thể dựa vào phản ứng thế và phản ứng ngưng tụ trên nhân thơm của tannin pyrocatechic cũng như sự tạo màu sắc khác nhau của cả hai loại tannin với các thuốc thử FeCl3, thuốc thử Styasny, nước Brom v.v…

Có nhiều phương pháp định lượng tannin như phương pháp chuẩn độ thể tích, phương pháp đo màu v.v… DĐVN III (2002, trang PL-141) quy định dụng phương pháp bột

da để định lượng tannin trong dược liệu

II THỰC NGHIỆM 1.Nguyên vật liệu thí nghiệm

1.1 Dụng cụ, hóa chất và thuốc thử

Hóa chất, thuốc thử

Dung dịch gelatin muối 1%1

Trang 4

1 Dung dịch gelatin muối : Dung dịch gelatin 1% trong nước muối 10%

2Thuốc thử Stiasny: Dung dịch Formol- HCl đậm đặc (2:1), pha khi dùng

3 Chỉ thị Sulfo indigo: Hòa tan 1g carmin indigo trong 25ml acid sulfuric đậm đặc (TT)

Thêm 25 ml acid sulfuric đậm đặc nữa.Sau đó pha vào nước đến vừa đủ 1000ml

1.2 Dược liệu

-Ngũ bội tử ( Galla chinensis) là tổ sâu ký sinh trên cây Muối ( Rhus chinensis Mill.,Anacardiaceae)

- Lá ổi ( Folium Psidii) là lá của cây ổi ( Psidium guajava L., Mytarceae)

- Kim ngân hoa ( Flos Lonicerae) là hoa của cây kim ngân ( Lonicera japonica Thunb., Caprifoliaceae)

- Lá bàng ( Folium Terminaliae catappae) là lá của cây bàng ( Terminalia catappa L., Combrataceae)

2.Định tính tannin

2.1 Chiết các hợp chất tannin từ dược liệu

Lấy khoảng 1g bột dược liệu cho vào bình nón 100ml, thêm vào bình nón 40 ml nước

đã đun sôi, tiếp tục đun trên bếp cách thủy sôi 10 phút, lắc đều khi đun Lọc nóng lấy dịch lọc trong Chiết tiếp bã dược liệu lần 2 với 10ml nước, nếu cần

Dịch lọc thu được dùng làm các phản ứng định tính tannin

2.2 Định tính chung tannin trong dược liệu

2.2.1 Phản ứng với dung dịch protein

Lấy vào ống nghiệm 1ml dịch chiết, cho vào đó 1 giọt thuốc thử gelatin muối

Phản ứng dương tính nếu có tủa trắng đục

Trang 5

2.2.2 Phản ứng với muối kim loại nặng:

Cho vào 3 ống nghiệm mỗi ống 2 ml dịch chiết.Thêm vào lần lượt các thuốc thử: Ống 1 : 1 giọt TT FeCl3 1%

Ống 2 : 1 ml thuốc thử chì acetat 1%

Ống 3 : 1 giọt thuốc thử đồng acetat 1 %

Quan sát màu, mức độ tạo màu, tạo tủa của các dược liệu Nếu cần có thể pha loãng ( nhỏ vài giọt sản phẩm vào ống nghiệm chứa 5 ml nước) để quan sát rõ hơn

2.3 Định tính phân biệt hai loại tannin

Cho vào 3 ống nghiệm lớn ( 16x16 ) mỗi ống 2 ml dịch chiết Thêm vào lần lượt các thuốc thử :

Ống 1 : 1 giọt thuốc thử FeCl3 1%

Ống 2 : 1 ml TT Stiasny

Ống 3 : 1 giọt nước Brom

Quan sát sự tạo màu, tạo tủa của dung dịch để kết luận loại tannin

Chú ý: Có thể pha loãng vào nước để dễ quan sát

- Stiasny + đun cách thủy

(10 phút)

2.4 Xác định 2 loại tannin trong một dược liệu

Lấy 5ml dịch chiết của dược liệu chứa 2 loại tannin (kết quả của mục 2.3) vào ống nghiệm lớn (16x16), thêm thuốc thử stiasny, đun cách thủy 10 phút, lọc trong Dịch lọc tiếp tục với 1ml thuốc thử Stiasny mới nếu không còn tủa thì ngưng; nếu còn tủa thì tiếp tục lọc lấy dịch trong, tiến hành lặp lại như trên cho đến khi không còn tủa nữa Lọc lấy dịch trong

Trang 6

Trung hòa dịch lọc bằng dung dịch NaOH 10% đến pH 5-6 rồi tiếp tục thêm Natri acetate* (dung dịch đậm đặc hay tinh thể) cho tới pH trung tính hoặc kềm nhẹ rồi

chia vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 2ml

Thêm vào ống thứ nhất vài giọt thuốc thử Gelatin muối,

Thêm vào ống thứ 2 một giọt thuốc thử FeCl3

Quan sát: nếu ống thứ nhất có tủa trắng đục, ống thứ 2 có màu xanh đen thì dược liệu

có tannin polygallic

2.5 Tìm catechin tự do trong dược liệu

Lấy 5ml dược liệu chứa tannin catechin (kết quả mục 2.3), thêm dung dịch Gelatin muối, lọc lấy dịch trong Dịch lọc tiếp tục thêm gelatin muối, nếu còn tủa thì lọc tiếp cho đến khi dịch lọc không xuất hiện thêm tủa với gelatin muối nữa, lọc lấy dịch trong Dịch lọc được chia thành 2 ống nghiệm, mỗi ống 2ml Ống thứ nhất được thêm 1 giọt thuốc thử Stiasny, ống thứ 2 thêm 1 giọt thuốc thử FeCl3

Nếu ống thứ nhất sau khi đun cách thủy 10 phút có tủa vón màu đỏ gạch và ống thứ 2

có màu xanh rêu thì dược liệu chứa catechin tự do

3 Định lượng tannin trong dược liệu

3.1 Nguyên tắc

Tannin bị KMnO4 oxy hóa ở môi trường acid Điểm kết thúc định lượng được xác định bằng chỉ thị màu sulfo indigo Từ lượng KMnO4 tiêu thụ, tính ra lượng chất oxy hóa trong dược liệu theo 1 tannin chuẩn

3.2 Tiến hành

Cân chính xác 1g bột lá ổi (qua rây 0,5mm) cho vào bình nón 250ml Thêm 50ml nước sôi và đun cách thủy trong 30 phút, thỉnh thoảng lắc Gạn vào lọc dịch lọc qua bông vào 1 becher 250ml ( tránh để các mảnh dược liệu rơi lên bông)

Tiếp tục chiết nhiều lần như trên cho tới khi dịch lọc không còn phản ứng với thuốc thử sắt III cloric 1% (hoặc phèn sắt amoni)

Làm nguội dịch chiết trong becher và chuyển toàn bộ dịch chiết (nhớ tráng becher) vào

1 bình định mức 250ml rồi thêm nước vừa đủ tới vạch

Trang 7

Lấy 10ml dung dịch trên (pipet chính xác) cho vào bình nón 1000ml, thêm 250ml nước và 10ml (buret) dung dịch sulfo indigo (TT)

Định lượng bằng dung dịch KMnO4 0,01N (Pha loãng 10 lần từ KMnO4 0,1N bộ môn chuẩn bị sẵn) cho tới khi chuyển sang màu vàng

1ml dung dịch KMnO4 0,01N tương ứng với 0.0004157 gam tannin tinh khiết

Song song định lượng 1 mẫu trắng gồm 10ml dung dịch sulfo indigo và 250ml nước Hàm lượng phần trăm tannin trong dược liệu (chưa trừ độ ẩm) được tính theo công thức:

10

100 250 0004157 ,

0 ).

a: số ml dung dịch KMnO4 0.1N dùng cho mẫu

b: số ml dung dịch KMnO4 0.1N dùng cho mẫu trắng

m: số gam bột dược liệu cân được

(Tham khảo từ DĐVN I tập I, trang 732)

III GỢI Ý THẢO LUẬN

1 Phản ứng nào là quan trọng nhất trong định tính để kết luận 1 dược liệu có tannin hay không?

2 Trên cùng 1 mẫu dược liệu, các phương pháp định lượng tannin cho kết quả rất khác nhau Giải thích tại sao?

Trang 8

KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU CHỨA ALKALOID

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG

Các alkaloid (alkaloid) là những base hữu cơ thường dễ tan trong các dung môi hữu cơ như (ether, benzene, chloroform, acetone, methanol và ethanol)

Đa số các alkaloid base thực tế không tan trong nước

Một vài alkaloid có cấu trúc ammonium bậc IV tan được trong nước và kém tan hơn trong dung môi hữu cơ

Một số alkaloid không có oxy tồn tại dưới trang thái lỏng có thể tan ít trong nước Một số alkaloid dạng lỏng có thể bay hơi và lôi cuốn được theo hơi nước

Một số alkaloid không có oxy ở dạng rắn có thể thăng hoa được ở áp suất thường Một số alkaloid có OH phenol có thể tan một phần trong dung dịch kiềm mạnh

Dưới dạng muối, các alkaloid thường tan trong nước, cồn (ethanol, methanol) hay hỗ hợp cồn nước; chúng không tan hoặc rất kém tan trong các dung môi hữu cơ kém phân cực (ether, benzene, chloroform)

1 TÍNH CHẤT CHUNG CỦA ALKALOID

Alkaloid thường là những base yếu, tan trong các dung môi hữu cơ, không tan trong nước Khi cho alkaloid tác dụng với acid sẽ thu được alkaloid dạng muối

Các muối của alkaloid thường dễ tan trong nước Các muối này dễ bị các chất kiềm vô

cơ (NH4OH, NaOH) thậm chí cả các muối khác (Na2CO3, đôi khi cả NaHCO3) đẩy ra khỏi muối cho lại alkaloid ban đầu

Alkaloid phản ứng với các thuốc thử chung (thuốc thử tạo tủa) tạo thành các muối khó

tan (dạng kết tinh hay vô định hình) được ứng dụng trong định tính alkaloid Một số alkaloid hay nhóm alkaloid có thể cho màu sắc đặc trưng với một số thuốc thử

được gọi là thuốc thử đặc hiệu của alkaloid (thuốc thử tạo màu) ứng dụng trong định

tính hoặc làm thuốc thử phát hiện trong sắc ký

2 KIỂM ĐỊNH CÁC ALKALOID

Trong kiểm định các dược liệu chứa alkaloid, ngoài các chỉ tiêu kiểm định chung cho mọi dược liệu, người ta phải tiến hành định tính và định lượng các alkalioid trong dược liệu đó

Trang 9

Có thể định tính alkaloid trưc tiếp trong các mô thực vật hay trên dịch chiết dược liệu

Để định tính alkaloid trong vi phẩu thực vật, người ta quan sát tủa của alkaloid với thuốc thử Bouchardat dưới kính hiển vi Đôi khi có thể định tính trực tiếp alkaloid trên mặt cắt dược liệu bằng thuốc thử đặc hiệu Để định tính alkaloid trong dịch chiết dược liệu, các thuốc thử chung, thuốc thử tạo màu và sắc ký lớp mỏng là những phương pháp thường dùng

Có nhiều phương pháp định lượng alkaloid trong dược liệu như phương pháp cân, phương pháp thể tích, phương pháp quang phổ Tùy trường hợp mà lựa chọn phương pháp thích hợp Cũng có thể kết hợp các phương pháp phân tách (thường là các phương pháp sắc ký) với việc định lượng (thường là các phương pháp quang phổ) để định lượng riêng một hay một vài alkaloid nào đó trong hỗn hợp alkaloid toàn phần Kết quả có thể được biểu thị bằng:

 % của alkaloid toàn phần có trong dược liệu (phương pháp trực tiếp)

 % của alkaloid toàn phần có trong dược liệu quy theo một alkaloid chính (PP cân gián tiếp, chuẩn độ acid-base, quang phổ)

 % của một alkaloid nào đó có trong dược liệu (PP kết hợp sắc ký – quang phổ)

3 CHIẾT XUẤT CÁC ALKALOID

Trong cây, alkaloid thường tồn tại dưới dạng muối hòa tan với acid hữu cơ hoặc vô cơ hay dạng kết hợp với tannin Người ta có thể chiết alkaloid ra khỏi nguyên liệu thực vật bằng nhiều cách nhưng nhìn chung có thể quy về 2 cách chính là:

 Chiết alkaloid ra khỏi dược liệu dưới dạng alkaloid base bằng dung môi hữu cơ

 Chiết alkaloid ra khỏi dược liệu dưới dạng muối bằng dung môi phân cực (nước, cồn, hỗ hợp cồn nước đã được acid hóa)

Với một vài alkaloid đặc biệt, người ta có thể chiết xuất bằng:

 Phương pháp cất kéo lôi cuốc theo hơi nước (chiết xuất nicotin từ Thuốc lá)

 Phương pháp thăng hoa (chiết xuất cafein từ Trà)

Trang 10

Dựa vào tính tan khác nhau của dạng base và dạng muối alkaloid trong các dung môi, người ta có thể phân loại phần nào các tạp chất ra khỏi dịch chiết trước khi định tính, định lượng hay phân lập các alkaloid tinh khiết

Các quy trình chiết dưới đây thường được sử dụng trong chiết xuất alkaloid từ nguyên liệu thực vật dùng cho định tính alkaloid

Dịch chiết CHCl3

Dịch chiết nước acid

- Kiềm hóa băng NH 4 OH đậm đặc vừa đủ ẩm)

- Chiết bằng 20-30 ml CHCl 3

- Đun nóng nhẹ/BM 10 phút, lọc hoặc chiết bằng Sohxlet

- Bột dược liệu (5g)

Dịch chiết CHCl3

Định tính bằng phương pháp sắc kí

Trang 11

3.2 Phương pháp 2: chiết bằng nước acid

BM 10 phút, lọc.

Dịch chiết nước acid

Dịch chiết CHCl3

Dịch chiết nước acid

Chiết với H2SO4 2% (5mlx2).

Định tính bằng thuốc thử đặc hiệu.

Định tính bằng thuốc thử chung.

Định tính bằng thuốc thử đặc hiệu.

Định tính bằng thuốc thử chung.

- Trung hòa đến pH= 5-6 (nếu cần).

- Bay hơi cồn trên bếp cách thủy đến cắn

- Hòa tan cắn trong nước nóng ( 10mlx2 lần), lọc.

NH4OH dd → pH=10.

Chiết bằng 10ml CHCl3

Trang 12

3.4 Phương pháp 4: Chiết bằng cất kéo theo nước

Định tính bằng thuốc thử đặc hiệu Bốc hơi đến cắn khô

- Kiềm hóa băng NaOH 10%

- Cất lôi cuốn theo hơi nước

- Hứng vào bình có chứa sãn 5 ml H 2 SO 4 10%

- Bột dược liệu (10g)

Dịch cất (50ml)

Trang 13

BÀI 2: ĐỊNH TÍNH ALKALOID TRONG DƯỢC LIỆU BẰNG PHẢN ỨNG

HÓA HỌC VÀ SẮC KÍ LỚP MỎNG

Mục tiêu học tập

Sau khi thực hiện bài “ Định tính alkaloid bằng phản ứng hóa học và sắc kí lớp mỏng”, sinh viên phải :

- Chiết được alkaloid ra khỏi dược liệu bằng các phương pháp thích hợp

- Xác định được alkaloid trong dịch chiết dược liệu bằng các thuốc thử chung

- Phát hiện được alkaloid trong dược liệu bằng phương pháp SKLM

I CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1 Định tính alkaloid bằng thuốc thử chung

Để phát hiện alkaloid trong dược liệu bằng các phương pháp hóa học, thông thường người ta chiết alkaloid ra khỏi cơ quan thực vật bằng phương pháp chiết thích hợp rồi dùng các thuốc thử để phát hiện và đánh giá sơ bộ sự có mặt của chúng trong dược liệu Tùy theo phản ứng mà sử dụng dịch chiết thích hợp.Các phản ứng với thuốc thử chung thường được thực hiện với muối alkaloid trong môi trường nước acid

Các thuốc thử chung cho với các alkaloid một tủa vô định hình có màu sắc không đặc trưng thay đổi tùy theo thuốc thử.Với một số thuốc thử , tủa này có thể tan lại trong một lượng thuốc thử thừa

Trong những điều kiện quy định về lượng dược liệu, lượng dung môi, cách chiết và thuốc thử sử dụng có thể dựa vào mức độ tạo tủa, lượng thuốc thử sử dụng để đánh gía

sơ bộ hàm lượng alkaloid trong dược liệu

Các thuốc thử thường dùng là Bouchardat, Valse-Mayer, Dragendorff, Bertrand, Hager, và các tannic

2 Định tính alkaloid bằng phương pháp sắc kí lớp mỏng

SKLM được sử dụng như một phương pháp phát hiện sự có mặt , đồng thời đánh giá

sơ bộ thành phần alkaloid của dược liệu khi sử dụng các hệ dung môi thích hợp Tiền hành sắc kí song song với một alkaloid chuẩn còn cho phép nhận định sự có mặt của

Trang 14

một alkaloid nào đó trong dược liệu SKLM còn hữu dụng trong việc xác định 1 dược liệu khi sắc kí so sánh với dược liệu chuẩn

Pha tĩnh : Trong định tính alkaloid bằng sác kí lớp mỏng thường dùng sicagel G, F254, GF254 Các pha tĩnh khác như nhôm oxyd, Silicagel pha đảo đôi khi cũng được sử dụng

Dung môi triển khai SKLM:

Dung môi khai triển cho sắc kí alkaloid thường là hỗn hợp của 2 hay 3 dung môi hữu cơ; thường từ phân cực yếu tới phân cực trung bình( như hexan, benzene, ether ethylic, chloroform, dichlometan, ethyl acetat) Có thể sử dụng thêm các dung môi hữu cơ có tính kiềm ( pyrindin, dimethyl formamid, dimethylamin, trimethylamin) hoặc một lượng nhỏ các kiềm vô cơ ( NH3 đặc) bằng cách pha thẳng vào hệ dung môi hay bằng cách để bão hòa khí quyển trong bình sắc kí

Đôi khi, các dung môi phân cực mạnh hơn như butanol, ethanol, methanol, nước, các acid như acid acetic , acid formic cũng được dùng đối với alkaloid phân cực mạnh Mẫu thử : mẫu thử thường là alkaloid base hay hỗn hợp alkaloid base toàn phần, được hòa tan trong các dung môi ít phân cực và dể bay hơi như Chloroform Ether…

Các dung dịch alkaloid muối ( pha trong EtOH, MeOH) cũng có thể được sử dụng khi dung môi khai triển là các hệ dung môi phân cực mạnh, thường có thêm acid

Phát hiện vết

Để phát hiện vết alkaloid trên bản sắc kí người ta thương phun ( hoặc nhúng) với thuốc thử Dragendorff Các alkaloid sẽ cho các vết màu đỏ cam trên nền vàng cam Các cách phát hiện thông thường như soi đèn UV ( 254 nm và 365 nm) hoặc hơ trong hơi iod cũng được dùng như là pp bổ sung nhưng không đặc hiệu

Trang 15

Trong những điều kiện sắc ký nhất định, giá trị Rf của một chất là một trong những đăc trưng của chất đó trong hệ dung môi đã sử dụng Tuy nhiên, do giá trị Rf phụ thộc vào khá nhiều yếu tố ( bản chất, bề dày và đọ hoạt hóa của pha tĩnh, pha động, mức đọ bão hòa dung môi, đọ ẩm và nhiệt độ của môi trường…) nên người ta còn sử dụng giá trị Rx ổn đinh hơn để biểu thị đặc trưng của chất ấy Rx của một chất A so với chất quy chiếu X được định nghĩa là tỷ số giữa đoạn đường di chuyển của chất A và đoạn đường di chuyển của chất quy chiếu X trong cùng một bản sắc ký Chất quy chiếu thường được dùng trong sắc ký alkaloid là quinine, khi đó Rs của một alkaloid so với quinine được ghi là RQ

II Thực hành

1.Nguyên vật liệu thí nghiệm

1.1 Dung môi, thuốc thử

Trang 16

- Bách bộ(Radix Stemonae tuberosae ) là rễ củ của cây Bách bộ (Stemona tuberose L.,

2.1 Chiết xuất alkaloid

- Bình vôi, Bách bộ: chiết bằng dung môi hữu cơ ( pp1) Lấy dịch chiết nước acid để định tinh với thuốc thử chung của alkaloid dịch chloroform dùng

để SKLM

- Lá sen, dừa cạn, vông nem: chiết bằng nước acid (PP2) Lấy dịch chiết nước acid lần 2 (sau giai đoạn chloroform) để định tính với thuốc thử chung của alkaloid, dịch chloroform dùng để SKLM

- Tâm sen, mức hoa trắng chiết bằng cồn acid Lấy dịch chiết nước acid ( trong thực tập, lấy dịch chiết nước acid ở giai đoạn đầu để định tinh với thuốc thử chung của alkaloid dịch chloroform dùng để SKLM

- Thuốc lá: chiết bằng phương pháp cất kéo theo hơi nước lấy dung dich nước acid làm phản ứng với thuốc thử chung, lấy cắn alkaloid base làm phản ứng với thuốc thử đặc hiệu

2.2 Định tính alkaloid bằng thuốc thử chung

Lấy 5 ống nghiệm nhỏ, mỗi ống cho vào 2 ml dịch chiết nước acid

Trang 17

Cho riêng vào mỗi ống nghiệm 3 giọt thuốc thử lần lượt là Bouchardat, Mayer, Dragendorff, Bertrand, Hager Lắc đều, quan sát và nhận định kết quả.Nếu cần có thể cho thêm 1- 2 giọt thuốc thử nữa

Valse-Nhận định kết quả

(-) dung dịch vẫn trong

(+) dung dịch đục mờ nhưng không lắng xuống

(++) dung dịch đục, có tủa lắng xuống sau vài phút

(+++) có tủa lắng xuống ngay Dung dịc đục khi thêm giọt thuốc thử thứ 2 (++++) có tủa nhiều

2.3 Định tính alkaloid bằng pp SKLM

Chuẩn bị bản mỏng

Chuẩn bị dung môi và binh sắc kí

Bình sắc kí được rửa sạch và sấy nhẹ đến khô Lót lòng trong bình bằng giấy lọc NHỏ lên trên miếng giấy lọc này 3=4 giọt NH4OH đậm đặc rồi rót dung môi sắc kí vào bình ( lớp dung môi này cao khoảng 0,5 cm )

Đậy nắp kính ( nếu cần , có thể thoa 1 ít vaselin trên miệng bình), đặt ở nơi phẳng, để yên trong ít nhất 30 phút trước khi triển khai

Các hệ dung môi sử dụng :

S1 = benzene- aceton ( 4:1)

S2 = CHCl3 – methanol- NH4OH (50:9:1)

Đưa mẫu lên bản mỏng, triển khai và phát hiện

Dùng mao quản chấm lên bản sắc kí 3 vết, tuần tự từ trái sang phải là 3 dung dịch alkaloid base toàn phần trong chloroform của sen, dừa cạn, vông nem Phát hiện vết :

- Soi dưới đèn UV 254 và 365 nm

- Phun thuốc thử Dragendorff ( trong tủ hốt)

Vẽ sắc kí đò khi phát hiện bằng UV 254 và thuốc thử Dragendorff

Ghi nhận lại màu của các vết trong UV 365 và sau khi phun thuốc thử

Tính Rf của các vết lên màu với thuốc thử Ghi nhận xét

Trang 18

III GỢI Ý THẢO LUẬN

1 Những điểm chú ý khi tiến hành định tính alkaloid bằng thuốc thử chung

2 Ý nghĩa của việc dùng NH4OH trong hệ dung môi hay bão hòa bình sắc

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w