1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN CHUYỂN GIAO rủi RO TRONG hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG HOÁ QUỐC tế THEO QUY ĐỊNH CÔNG ước VIÊN và INCOTERMS 2020

34 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Chuyển Giao Rủi Ro Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Quốc Tế Theo Quy Định Công Ước Viên Và Incoterms 2020
Tác giả Nhóm 5
Người hướng dẫn ThS. Tô Bình Minh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương - Cơ Sở II Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 154,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, VĂN BẢN PHÁP LUẬT, TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI LIÊN (4)
    • 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (4)
    • 2. Văn bản pháp luật, tập quán thương mại liên quan (8)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO RỦI RO ÁP DỤNG CISG VÀ (20)
    • 1. Thực trạng áp dụng CISG (0)
    • 2. Thực trạng áp dụng INCOTERMS (0)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (25)
    • 1. Giải pháp phòng tránh các rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp trong việc soạn thảo hợp đồng thương mại (25)
    • 2. Tìm hiểu kỹ tư cách pháp lý của người ký kết hợp đồng (27)
    • 3. Giải pháp phòng tránh rủi ro từ phía chủ thể của hợp đồng (28)
    • 4. Giải pháp phòng tránh rủi ro từ phía Nhà nước và tổ chức xã hội hỗ trợ chủ thể giao kết hợp đồng (29)
  • KẾT LUẬN (24)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (33)

Nội dung

Quy định của CISG về thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa • Nguyên tắc chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nguyên tắc chuyển giao rủi ro

KHÁI NIỆM, VĂN BẢN PHÁP LUẬT, TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI LIÊN

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Điều 1 của CISG quy định rằng yếu tố quốc tế của một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định duy nhất bởi nơi đặt trụ sở thương mại của các bên ở các quốc gia khác nhau, bất kể nơi ký kết hợp đồng và bất kể hàng hóa có được dịch chuyển qua biên giới hay không.

Theo quy định của CISG, nhất là Điều 30 và Điều 53, hợp đồng mua bán hàng hóa được hiểu là thỏa thuận trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, cung cấp chứng từ và chuyển quyền sở hữu hàng hóa, còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng Các nghĩa vụ này xác định vai trò của hai bên trong giao dịch: bên bán chịu trách nhiệm về giao hàng đúng hạn, chứng từ liên quan và chuyển giao quyền sở hữu, trong khi bên mua phải thanh toán đầy đủ và tiếp nhận hàng hóa theo hợp đồng Như vậy, chuẩn mực CISG phân định rõ ràng quyền và nghĩa vụ giữa người bán và người mua, đảm bảo tính liên tục và an toàn cho hoạt động mua bán hàng hóa.

Theo quan điểm của Việt Nam, Bộ luật dân sự 2015 không quy định trực tiếp về hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; tuy nhiên, tại khoản 2 Điều của Bộ luật này nêu rõ các nguyên tắc về thỏa thuận, quyền và nghĩa vụ của các bên và các điều kiện giao kết, hiệu lực và xử lý vi phạm, từ đó các giao dịch mua bán hàng hóa – kể cả hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – được điều chỉnh bởi các nguyên tắc dân sự chung Do đó, khi áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên cần chú ý đến nội dung thỏa thuận về giá cả, điều kiện giao hàng, rủi ro, thanh toán và trách nhiệm của mỗi bên, đồng thời tham khảo các văn bản hướng dẫn và nguyên tắc dân sự để đảm bảo tính hợp pháp và thực thi của giao dịch.

Trong Bộ luật dân sự năm 2015, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là một quan hệ dân sự mà ít nhất một bên tham gia là cá nhân nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài.

(2) việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

(3) đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Việc xem xét sự giao thoa giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cho phép xác định tính quốc tế của hợp đồng dựa trên nhiều yếu tố khác nhau Tuy nhiên, xây dựng khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố lãnh thổ làm cho nhận diện yếu tố quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản và thực tiễn hơn trong thương mại toàn cầu.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, còn được gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng ngoại thương, là thỏa thuận giữa các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; theo đó bên bán (người xuất khẩu) cung cấp và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua (người nhập khẩu), và bên mua có nghĩa vụ nhận hàng cũng như thanh toán tiền hàng.

1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên tham gia, gồm người bán và người mua Hai bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau, tạo nên tính chất xuyên biên giới cho giao dịch và ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là động sản, tức là hàng hóa có thể di chuyển qua biên giới của một nước Hiểu đúng về động sản giúp xác định phạm vi áp dụng các quy định thương mại quốc tế và trách nhiệm của các bên khi hàng hóa được vận chuyển xuyên biên giới Vì đặc thù là hàng hóa có thể di chuyển, hợp đồng này tập trung vào giao nhận, vận chuyển quốc tế và sự chuyển giao rủi ro cũng như quyền sở hữu giữa người bán và người mua trong quá trình giao dịch xuyên biên giới.

Về đồng tiền thanh toán trong giao dịch thương mại quốc tế, các bên có thể thỏa thuận dùng đồng nội tệ hoặc đồng ngoại tệ Ví dụ, hợp đồng giữa người bán Việt Nam và người mua Hà Lan có thể xác định đồng euro làm tiền thanh toán; khi đó euro là ngoại tệ đối với phía Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với phía Hà Lan Ngược lại, cũng có trường hợp hai bên đều dùng đồng nội tệ cho thanh toán, đặc biệt khi các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu chọn đồng euro làm đồng tiền chung cho các giao dịch.

Về ngôn ngữ của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các thỏa thuận thường được ký kết bằng ngôn ngữ nước ngoài, trong đó tiếng Anh chiếm tỷ lệ áp đảo Việc chọn tiếng ký kết phản ánh tính toàn cầu của thị trường và sự phổ biến của tiếng Anh trong giao dịch thương mại quốc tế, đồng thời thường đi kèm với các bản dịch hoặc bản gốc bằng nhiều ngôn ngữ để đảm bảo hiểu đúng và tuân thủ pháp lý ở các nước tham gia.

Về cơ quan giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tranh chấp phát sinh từ việc ký kết và thực hiện có thể được đưa ra trước tòa án nước ngoài hoặc trọng tài nước ngoài, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên và quy định luật áp dụng Lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp ảnh hưởng đến chi phí, thời gian xử lý và tính ràng buộc của quyết định Do đó, khi soạn thảo hợp đồng, nên xác định rõ cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án hay trọng tài nước ngoài), đồng thời xác định luật áp dụng và điều kiện thi hành các quyết định tại các quốc gia liên quan.

Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang tính đa dạng và phức tạp Điều này có nghĩa là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể chịu sự điều chỉnh không chỉ bởi luật pháp nước đó mà còn bởi luật nước ngoài (luật nước người bán, luật nước người mua hoặc luật của một nước thứ ba), thậm chí bởi các điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc án lệ Tập quán thương mại quốc tế và án lệ cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu lực và nội dung của hợp đồng Do đó, khi soạn thảo và thực thi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần xem xét kỹ nguồn luật áp dụng để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ được thực thi đúng với quy định pháp lý và điều kiện thương mại.

(tiền lệ pháp) để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Ngay cả khi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết đầy đủ và chi tiết, nó vẫn không thể dự liệu hết mọi vấn đề và tình huống phát sinh trong thực tế Vì vậy, cần bổ sung cơ sở pháp lý cho hợp đồng bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó Do tính chất quốc tế của hợp đồng, luật áp dụng có thể là luật nước của người bán hoặc luật nước của người mua; nếu luật áp dụng là luật nước của người mua thì với người bán đây được coi là luật nước ngoài Người bán và người mua cần hiểu rõ xem luật này có bảo vệ quyền lợi của họ hay không, và ngược lại, cơ quan giải quyết tranh chấp như tòa án hay trọng tài cũng phải nghiên cứu kỹ luật áp dụng để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình.

Trong tư pháp quốc tế về mua bán hàng hóa, các bên được quyền tự do thỏa thuận chọn nguồn luật áp dụng cho hợp đồng của mình Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế về thương mại, tập quán thương mại quốc tế và thậm chí cả án lệ (tiền lệ xét xử) Việc lựa chọn nguồn luật phù hợp giúp bảo vệ quyền lợi của các bên, đồng thời đòi hỏi xem xét tính dự đoán, sự tương thích giữa các hệ thống pháp luật và tính thực thi ở các nơi áp dụng hợp đồng.

1.3 Thời điểm chuyển rủi ro trong mua bán hàng hóa quốc tế

1.3.1 Rủi ro trong mua bán hàng hóa là gì?

Rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể phát sinh dưới nhiều hình thức, như mất mát hàng hóa, vỡ hàng hoặc biến dạng hàng hóa Những rủi ro này có thể làm cho hàng hóa không còn đúng như những gì được mô tả hoặc cam kết trong hợp đồng đã giao kết Vì vậy, quản lý và phân tích rủi ro là yếu tố thiết yếu để đảm bảo hàng hóa được giao đúng chất lượng, số lượng và thời hạn theo thỏa thuận.

1.3.2 Thời điểm chuyển rủi ro khi mua bán hàng hoá

Văn bản pháp luật, tập quán thương mại liên quan

CISG (Công ước Viên 1980) của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được soạn thảo nhằm mục tiêu thống nhất nguồn luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các nước.

CISG xây dựng hệ thống nguyên tắc nhằm xác định thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa, được nêu tại Chương IV, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các bên tham gia phân bổ rủi ro trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế Hệ thống này làm rõ khi nào rủiro thuộc về người bán hoặc người mua và định hướng quyền và nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa trong giao dịch xuyên biên giới, từ đó nâng cao tính dự đoán và an toàn pháp lý cho các bên Đồng thời, cơ sở pháp lý do CISG cung cấp góp phần giảm tranh chấp và tăng hiệu quả thị trường thương mại quốc tế bằng cách chuẩn hóa quy định về chuyển giao rủi ro và trách nhiệm đối với hàng hóa.

2.1.2 Quy định của CISG về thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa

• Nguyên tắc chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Nguyên tắc chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa theo CISG được quy định tại Điều 66 Theo nguyên tắc này, khi rủi ro đã chuyển sang người mua, sự mất mát hay hư hỏng hàng hóa xảy ra sau thời điểm đó không miễn cho người mua nghĩa vụ thanh toán Người mua vẫn phải trả tiền cho hàng hóa, trừ khi sự mất mát hay hư hỏng đó là do hành động của người bán gây ra, lúc này người bán phải chịu trách nhiệm về thiệt hại.

Theo Điều 66 CISG, rủi ro mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua khi người mua nhận hàng Nếu hàng hóa bị hư hỏng hoặc mất mát đó phát sinh do hành vi thiếu sót của người bán, thì người mua có nghĩa vụ chứng minh rằng nguyên nhân là do sự sơ suất của người bán.

• Thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

CISG quy định thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua các quy định tại Điều 67, Điều 68 và Điều 69 Theo các điều này, rủi ro mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua khi hàng hóa được giao cho đơn vị vận chuyển đầu tiên để truyền tải tới người mua hoặc tới người được chỉ định theo hợp đồng, hoặc khi hàng hóa được đặt sẵn để giao cho người mua theo thỏa thuận trong hợp đồng Các điều khoản này cũng làm rõ các trường hợp đặc biệt liên quan đến địa điểm giao hàng và thời điểm giao hàng, cũng như hậu quả khi người mua chậm nhận hàng, từ đó xác định rõ thời điểm chuyển giao rủi ro Trong mọi trường hợp, nếu hợp đồng có thỏa thuận khác, các thỏa thuận đó sẽ được ưu tiên và điều chỉnh theo đúng nội dung hợp đồng.

Điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có quy định về vận chuyển được nêu tại Điều 67 Điều khoản này thiết lập hai quy tắc để xác định thời điểm rủi ro hàng hóa được chuyển giao, trong đó Quy tắc “người vận chuyển đầu tiên” là quy tắc đầu tiên áp dụng nhằm xác định thời điểm rủi ro chuyển từ người bán sang người mua dựa trên việc hàng hóa được bàn giao cho người vận chuyển đầu tiên.

Rủi ro đối với hàng hóa được chuyển giao cho người mua tại thời điểm hàng hóa được giao cho người vận chuyển đầu tiên Người vận chuyển phải là một đơn vị vận chuyển độc lập; nếu người bán tự vận chuyển hàng hóa hoặc thông qua nhân viên của mình thực hiện việc vận chuyển, thì người bán vẫn phải chịu rủi ro đối với hàng hóa.

(ii) Quy tắc “địa điểm xác định”.

Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa là khi hàng hóa được giao cho người vận chuyển tại địa điểm được chỉ định Người vận chuyển ở đây được hiểu tương tự như quy tắc “người vận chuyển đầu tiên” Tuy nhiên, hàng hóa sẽ trải qua một lần vận chuyển trung gian từ cơ sở của người bán đến địa điểm xác định thông qua một người vận chuyển khác, nên trong quá trình vận chuyển trung gian này người bán vẫn phải gánh chịu những rủi ro đối với hàng hóa.

Điều 67 quy định một trường hợp ngoại lệ: rủi ro liên quan đến hàng hóa sẽ không được chuyển cho người mua cho tới khi hàng hóa được xác định rõ là hàng hóa cung cấp cho hợp đồng Hợp đồng này phải được ký kết bởi cả người bán và người mua.

Theo Điều 68, trong hợp đồng mua bán đối với hàng hóa đang trên đường vận chuyển, thời điểm chuyển giao rủi ro cho người mua được quy định tại thời điểm ký kết hợp đồng, có nghĩa là rủi ro mất mát hoặc hư hỏng sẽ thuộc về người mua ngay khi hai bên ký kết Nếu tại thời điểm ký kết, người bán biết hoặc phải biết hàng hóa đã bị mất mát hoặc hư hỏng nhưng vẫn không thông báo cho người mua, thì người bán phải chịu trách nhiệm đối với những mất mát hoặc hư hỏng đó.

Điều 69 quy định thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong các trường hợp còn lại và xây dựng hai nguyên tắc xác định thời điểm chuyển rủi ro cho hai trường hợp sau đây.

Thứ nhất, trường hợp người mua có nghĩa vụ nhận hàng tại địa điểm kinh doanh của người bán (khoản 1 Điều 69)

Rủi ro hàng hóa được chuyển giao cho người mua tại thời điểm người mua nhận hàng khi hàng được giao tại địa điểm kinh doanh của người bán; trong trường hợp người mua ủy quyền cho một đơn vị vận chuyển nhận hàng thay, thời điểm chuyển rủi ro vẫn là khi đơn vị được ủy quyền nhận hàng tại địa điểm kinh doanh của người bán.

Ngoài ra, nếu người mua không nhận hàng đúng hạn theo hợp đồng, rủi ro liên quan đến hàng hóa sẽ được chuyển giao cho người mua kể từ thời điểm hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua Điều này có nghĩa là khi hàng hóa đã ở trong sự kiểm soát hoặc được người mua quản lý, mọi rủi ro mất mát, hư hỏng hoặc thiệt hại sẽ do người mua chịu trách nhiệm, ngay cả khi hàng hóa chưa được nhận.

Thứ hai, trường hợp người mua có nghĩa vụ nhận hàng tại một địa điểm khác (khoản 2 Điều 69).

Trong trường hợp người mua có nghĩa vụ nhận hàng tại một địa điểm khác với địa điểm kinh doanh của người bán, rủi ro đối với hàng hóa sẽ được chuyển giao cho người mua tại thời điểm giao hàng Điều này áp dụng khi việc giao hàng được thực hiện đúng thời hạn trong hợp đồng hoặc khi hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của người mua và người mua nhận thức được quyền định đoạt đó.

CISG được xem là nỗ lực hài hòa hóa pháp luật trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và được coi là thành công nhất trong lịch sử Theo thống kê, có tới 3.000 vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tòa án và trọng tài giải quyết dựa trên CISG, cho thấy công ước này đóng vai trò thiết yếu trong việc chuẩn hóa và thúc đẩy thương mại toàn cầu.

THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO RỦI RO ÁP DỤNG CISG VÀ

Thực trạng áp dụng INCOTERMS

Việc ký hợp đồng theo điều kiện CIF thay vì CIP (2) đã làm phát sinh rủi ro về bảo hiểm và trách nhiệm giữa người bán và người mua Khi hư hỏng hoặc mất mát xảy ra trên quãng đường từ CY hay ICD tới Terminal, đặc biệt trong trường hợp container bị "rút ruột", bảo hiểm sẽ từ chối bồi thường và người bán khó lòng thoái thác trách nhiệm với người mua Vì vậy, lựa chọn đúng điều kiện giao hàng CIP giúp xác định rõ nghĩa vụ bảo hiểm và trách nhiệm bồi thường, giảm thiểu rủi ro cho các bên trong quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hóa.

Trong phần Guidance Note của các quy tắc FAS, FOB, CFR và CIF, các chuyên gia cho rằng khi giao hàng bằng container thì những điều kiện này không phù hợp Ví dụ từ Guidance Note của quy tắc CIF cho thấy hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi bốc lên tàu—ví dụ hàng đóng container—thường khiến giao hàng diễn ra tại bến bãi, do đó nên áp dụng quy tắc CIP Các khuyến nghị tương tự cũng được nêu rõ trên các trang 171, 199 và 204 của cuốn Guidance to Incoterms.

2010 (Hướng dẫn sử dụng Incoterms 2010) của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) xuất bản tháng 10-2010 Doanh nghiệp cần lưu ý những hướng dẫn này để tránh tình trạng

“quýt làm cam chịu” như hiện nay.

GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Giải pháp phòng tránh các rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp trong việc soạn thảo hợp đồng thương mại

- Xác định chính xác tên gọi của hợp đồng thương mại.

Việc đặt tên cho hợp đồng nhằm thể hiện bản chất pháp lý và tồn tại ở hình thức, nhưng khi hai bên soạn thảo có thể vô tình gắn nhầm tên với bản chất thực sự của quan hệ pháp lý, ví dụ hợp đồng gia công hàng hóa được ghi là mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ đại lý lại ghi là hợp đồng khuyến mại; sự nhầm lẫn này là do ý chí của các bên và không làm thay đổi nội dung thực thi hợp đồng Khi tranh chấp phát sinh, thao tác đầu tiên của thẩm phán là xác định bản chất của hợp đồng để làm rõ các điều khoản cơ bản và nghĩa vụ của các bên Vậy vấn đề cần lưu ý là làm thế nào để xác định được các điều khoản nền tảng của hợp đồng dựa trên bản chất pháp lý thực tế, từ đó định hướng giải quyết tranh chấp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bên.

Pháp luật thừa nhận thỏa thuận giữa các bên ở một giới hạn nhất định, và việc xác định giới hạn này dựa trên căn cứ pháp lý, nội dung hợp đồng và mục đích giao dịch Cơ sở để lựa chọn và áp dụng thỏa thuận vào trường hợp cụ thể phụ thuộc vào quy định của pháp luật hiện hành, sự đồng thuận giữa các bên và tính hợp lệ của hình thức ký kết Trong thực tế, việc hai bên xác định sai tên hợp đồng ngay từ đầu có thể gây khó khăn trong giải quyết tranh chấp, đòi hỏi rà soát lại nội dung, mục đích và phạm vi hiệu lực của thỏa thuận để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên.

- Áp dụng nguồn luật điều chỉnh và tập quán thương mại khu vực phù hợp trong hợp đồng thương mại.

Mọi hợp đồng nên bắt đầu bằng việc ghi rõ căn cứ pháp lý ký kết để các bên nhận thức đúng các quy định áp dụng cho quan hệ hợp đồng Việc xác định và trình bày chính xác luật điều chỉnh giúp các bên áp dụng đúng quy định liên quan, từ đó đảm bảo sự thống nhất trong quá trình thực thi hợp đồng Luật điều chỉnh cung cấp căn cứ để giải quyết các vấn đề chưa được thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng khi phát sinh tranh chấp, giúp xử lý tranh chấp hiệu quả và đúng quy trình.

Khi một doanh nghiệp ký hợp đồng thương mại với đối tác nước ngoài, việc chọn luật áp dụng càng phức tạp vì cùng một hợp đồng có thể chịu tác động của luật từ nhiều nước và xung đột pháp lý là điều khó tránh Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế hoặc tập quán thương mại quốc tế Luật áp dụng có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế hoặc các tập quán thương mại quốc tế Ví dụ, các bên có thể ghi trong hợp đồng một điều khoản như: “Hợp đồng được lập giữa các bên sẽ được điều chỉnh và giải thích theo luật của Canada”, hoặc “Luật áp dụng hiệu lực và việc thực hiện hợp đồng này sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước người mua ghi trên đơn đặt hàng này” Sau khi các bên thỏa thuận chọn luật áp dụng, dù có thể không có mối liên hệ thực tế với hệ thống luật được chọn, sự lựa chọn đó vẫn có hiệu lực.

Tập quán thương mại khu vực (địa phương) là các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng, có thể khác với chuẩn chung Ví dụ tại Hoa Kỳ, điều kiện giao hàng FOB được định nghĩa lại trong Định nghĩa ngoại thương của Mỹ sửa đổi năm 1941, cho thấy có sáu loại FOB với quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua khác biệt so với FOB theo Incoterms 2000 Cụ thể, FOB ở Mỹ quy định rằng người bán có nghĩa vụ đưa hàng lên tàu hoặc giao cho phương tiện vận chuyển, hoặc giao cho người vận chuyển nội địa tại điểm khởi hành được chỉ định (named inland carrier at named inland point of departure), và rủi ro cũng chi phí kể từ khi hàng hóa được giao cho người vận chuyển sẽ do người mua chịu tùy thuộc vào từng biến thể FOB.

Qua phân tích trên, ta nhận thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn nguồn luật áp dụng cho hợp đồng để bảo đảm lợi ích hai bên và tránh hiểu lầm không đáng có khi ký kết Việc xác định đúng nguồn luật giúp dự báo rủi ro pháp lý, tăng cường sự minh bạch và tin cậy giữa các bên Do đó, cân nhắc kỹ lưỡng nguồn luật áp dụng là yếu tố then chốt để ký kết hợp đồng an toàn và hiệu quả.

- Ghi rõ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng.

Theo Điều 17 của Luật Bán hàng năm 1979 của Anh, trong trường hợp hợp đồng mua bán đối với hàng hóa đặc định, quyền sở hữu đối với hàng hóa đó được chuyển từ người bán sang người mua tại thời điểm mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng; nếu không có thỏa thuận về thời điểm chuyển giao, thời điểm chuyển quyền sở hữu sẽ được xác định theo các điều kiện và quy tắc áp dụng của luật.

Điều 62 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định rằng thời điểm chuyển giao về mặt pháp lý hoặc chuyển giao thực tế không được quy định rõ, nên doanh nghiệp phải thỏa thuận và thống nhất với đối tác Để hạn chế tối đa các rủi ro liên quan đến chuyển giao, cần soạn thảo hợp đồng đầy đủ, chi tiết và ghi nhận rõ ràng các điều kiện, nghĩa vụ và quyền lợi của bên liên quan.

- Tìm hiểu kỹ các điều kiện làm vô hiệu hợp đồng.

Khi hợp đồng bị vô hiệu, nếu phát sinh thiệt hại thực tế, người có lỗi sẽ phải bồi thường các khoản thiệt hại gồm hai loại: thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần Thiệt hại vật chất là thiệt hại về tài sản, có thể tính bằng tiền và bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất Thiệt hại tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và các lợi ích nhân thân khác Do đó, doanh nghiệp cần xác định và loại bỏ các điều kiện có thể khiến hợp đồng bị vô hiệu trong quá trình soạn thảo.

- Ngôn ngữ trong hợp đồng cần phải mạch lạc, chuẩn xác.

Qua ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại, các bên thể hiện rõ các vấn đề thỏa thuận và sự đồng thuận, và ngôn từ cũng ảnh hưởng tới lợi thế trong tranh chấp Vì vậy doanh nghiệp nên nắm vững các từ ngữ quan trọng trong Incoterms 2010 và Incoterms 2020, chỉ dùng tiếng Anh, với từ ngữ đơn nghĩa, rõ ràng, đúng và đầy đủ Các từ viết tắt như FCA, FOB và CIF trong Incoterms xác lập quyền và nghĩa vụ cụ thể, đồng thời định hình chi phí, rủi ro và trách nhiệm vận chuyển của từng bên Việc hiểu và áp dụng đúng các điều khoản này sẽ tăng tính minh bạch, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả thương mại quốc tế cho doanh nghiệp.

Tìm hiểu kỹ tư cách pháp lý của người ký kết hợp đồng

Rủi ro về tư cách pháp lý khi ký hợp đồng thường xuất hiện trong hai tình huống chính: một là người ký kết không phải là đại diện theo pháp luật của thương nhân đó, hai là người được ủy quyền ký kết đã vượt quá phạm vi ủy quyền Các trường hợp này có thể làm cho hợp đồng thiếu cơ sở pháp lý, phát sinh tranh chấp và có thể dẫn tới vô hiệu một phần hoặc toàn bộ hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên Vì vậy, xác định đúng tư cách đại diện và phạm vi ủy quyền là yếu tố then chốt để bảo đảm tính hợp lệ và an toàn pháp lý của hợp đồng ký kết.

Do đó, doanh nghiệp nên tìm hiểu kỹ đối tác trước khi chính thức ký kết hợp đồng. Không chỉ trong lần đầu hợp tác mà cả những lần sau nếu tiếp tục ký kết hợp đồng thì cũng thường xuyên xem xét lại điều kiện và những thay đổi của phía đối tác một cách chi tiết thông qua những nguồn thông tin tin cậy.

- Đảm bảo độ an toàn khi ký kết giao dịch đặc biệt.

Các giao dịch đặc biệt trong thương mại bao gồm hai loại: các hợp đồng phát sinh tư lợi gắn liền với các giao dịch phát sinh tư lợi theo quy định của luật doanh nghiệp (loại này cần có sự chấp thuận của chủ sở hữu công ty theo một tỷ lệ, nếu người đại diện ký kết loại này mà không có sự chấp thuận của chủ sở hữu công ty thì hợp đồng này bị tuyên bố vô hiệu) và các giao dịch chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần.

Doanh nghiệp nên áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định bởi pháp luật dân sự, kinh doanh – thương mại để tăng tính ràng buộc và đảm bảo an toàn giao dịch; các hình thức bảo đảm phổ biến gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc, ký quỹ, ký cược và tín chấp Tùy từng nội dung giao dịch mà các bên tham gia cần cân nhắc để chọn hình thức bảo đảm phù hợp và không phải giao dịch nào cũng giống nhau Các biện pháp bảo đảm này giúp tạo sự tin tưởng giữa các bên và nâng cao độ an toàn khi thực hiện hợp đồng.

Giải pháp phòng tránh rủi ro từ phía chủ thể của hợp đồng

- Nâng cao hiểu biết pháp luật và trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

Theo chương 2, 80-90% doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu CISG, trong khi Việt Nam là quốc gia thứ hai trong ASEAN sau Singapore tham gia Công ước CISG; vì thế, doanh nghiệp Việt Nam cần cập nhật các thông tin kinh tế thị trường và tình hình áp dụng luật trong hoạt động thương mại quốc tế, đồng thời tham khảo án lệ của CISG để phòng tránh tranh chấp và biết cách giải quyết khi có tranh chấp.

Chuyên môn nghiệp vụ đóng vai trò then chốt trong quá trình giao kết hợp đồng Thiếu năng lực chuyên môn khiến một bên dễ nhường cho đối phương cơ hội soạn thảo các điều khoản quan trọng và có thể ký kết những điều khoản bất lợi ngay từ đầu Do đó, đảm bảo có sự tham gia của người có chuyên môn hoặc nâng cao năng lực chuyên môn giúp bảo vệ lợi ích của mình, giảm thiểu rủi ro và tăng cơ hội đạt được các điều khoản công bằng, minh bạch và có lợi cho cả hai bên Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới tính hợp pháp, tính khả thi và chất lượng của mọi thỏa thuận hợp đồng.

Đào tạo và nâng cao kỹ năng đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng là một quá trình phát triển và nỗ lực liên tục của doanh nghiệp; trình độ đàm phán và ký kết càng cao sẽ tỷ lệ thuận với sự phát triển và vị thế ngày càng lớn mạnh của doanh nghiệp Vì vậy, đầu tư vào đào tạo những kỹ năng này là điều không thể thiếu Chương trình đào tạo nên tập trung vào các nội dung thiết yếu như chuẩn bị thông tin cho cuộc đàm phán, lập và ký xác nhận các biên bản ghi nhớ khi đàm phán diễn ra nhiều phiên, nâng cao trình độ ngôn ngữ và chú trọng quản lý rủi ro.

Song song với việc chấp nhận rủi ro, chủ doanh nghiệp phải quản trị rủi ro để hạn chế tổn thất ở mức có thể chấp nhận được Để làm được điều này, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả, bao gồm nhận diện và đánh giá rủi ro, phân tích mức độ ảnh hưởng và xác định mức độ ưu tiên, thiết lập và triển khai các biện pháp kiểm soát, ứng phó và phục hồi, đồng thời theo dõi, đo lường kết quả và điều chỉnh liên tục nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản trị rủi ro, bảo vệ tài sản và danh tiếng, cũng như tối ưu hóa hiệu suất kinh doanh.

Nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trong doanh nghiệp giúp họ nhận diện, đánh giá và phân tích các nguy cơ rủi ro một cách bài bản, từ đó đề xuất các phương án phòng ngừa khả thi để giảm thiểu tác động đến hoạt động kinh doanh Quá trình này được thực hiện một cách hệ thống nhằm đảm bảo mọi yếu tố có thể gây rủi ro được xem xét kỹ lưỡng và cập nhật liên tục Nhờ chuẩn hóa quy trình nhận diện và phân tích rủi ro, doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược phòng ngừa hiệu quả và tăng cường sự chủ động trong quản trị rủi ro.

Doanh nghiệp nên thiết lập quỹ dự phòng rủi ro và trích một phần lợi nhuận định kỳ để xây dựng quỹ này Quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng để nhận diện, đo lường và khắc phục các rủi ro phát sinh, từ đó nâng cao khả năng ứng phó với biến động và bảo vệ hoạt động kinh doanh cũng như dòng tiền của doanh nghiệp.

Ngày đăng: 14/12/2022, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] L. M. Khuê, "Áp dụng công ước viên 1980 CISG đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế," [Online] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng công ước viên 1980 CISG đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: L. M. Khuê
[2] UNCITRAL, "Sale Goods," [Online]. Available: https://uncitral.un.org/en/texts/salegoods Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sale Goods
Tác giả: UNCITRAL
[3] P. T. Anh, "Thời điểm chuyển giao rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa," [Online] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời điểm chuyển giao rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Tác giả: P. T. Anh
[4] T. L. 500, "Tranfer of risk on international sales," 11 March 2020. [Online]. Available: https://www.legal500.com/developments/thought-leadership/transfer-of-risk-on-international-sales/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranfer of risk on international sales
Tác giả: T. L. 500
Nhà XB: Legal 500
Năm: 2020
[5] WTO, "Sơ lược lịch sử Công ước Viên 1980 (CISG)," 14 September 2014. [Online]. Available: https://trungtamwto.vn/chuyen-de/1147-so-luoc-lich-su-cong-uoc-vien-1980-cisg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược lịch sử Công ước Viên 1980 (CISG)
Tác giả: WTO
Nhà XB: World Trade Organization
Năm: 2014
[6] WTO, "Những nội dung cơ bản của Công ước Viên 1980," 07 September 2013. [Online]. Available: https://trungtamwto.vn/chuyen-de/1146-nhung-noi-dung-co-ban-cua-cong-uoc-vien-1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của Công ước Viên 1980
Tác giả: WTO
Nhà XB: World Trade Organization
Năm: 2013
[7] Công ty Luật Thái An, "Thời điểm chuyển rủi ro của hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa," [Online]. Available: https://dangkydoanhnghiep.org.vn/thoi-diem-chuyen-rui-ro-cua-hang-hoa-trong-hop-dong-mua-ban-hang-hoa.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời điểm chuyển rủi ro của hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Tác giả: Công ty Luật Thái An
Nhà XB: dangkydoanhnghiep.org.vn
[8] Thesaigontimes, "Container bị rút ruột và bài học quýt làm cam chịu," [Online].Available: https://thesaigontimes.vn/container-bi-rut-ruot-va-bai-hoc-quyt-lam-cam-chiu/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Container bị rút ruột và bài học quýt làm cam chịu
[9] B. H. Phát, "Chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa theo quy định của công ước viên 1980 và Incoterms 2010," 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa theo quy định của công ước viên 1980 và Incoterms 2010
[10] N. T. T. Dương, "Quản trị rủi ro khi giao kết hợp hợp đồng mua bán hàng hoá," 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro khi giao kết hợp hợp đồng mua bán hàng hoá
Tác giả: N. T. T. Dương
Năm: 2021
[11] Pháp luật doanh nghiệp, "Rủi ro pháp lý trong kinh doanh thương mại," 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro pháp lý trong kinh doanh thương mại
Nhà XB: Pháp luật doanh nghiệp
Năm: 2020
[12] HALE EXIM TRAINING CENTER, "Incoterm 2020 - Quy tắc của ICC về sử dụng điều kiện thương mại quốc tế và nội địa," 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoterm 2020 - Quy tắc của ICC về sử dụng điều kiện thương mại quốc tế và nội địa
Tác giả: HALE EXIM TRAINING CENTER
Năm: 2020
[13] T. N. C. Thắng, "Chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa theo quy định Công ước viên 1980 và Incoterms 2010&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa theo quy định Công ước viên 1980 và Incoterms 2010
Tác giả: T. N. C. Thắng
[14] "Tình hình áp dụng Incoterms ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Incoterms&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình áp dụng Incoterms ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Incoterms

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w