1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) SO SÁNH QUY ĐỊNH về hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG hóa TRONG LUẬT THƯƠNG mại 2005 và CÔNG ước VIÊN 1980

44 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Trong Luật Thương Mại 2005 Và Công Ước Viên 1980
Tác giả Nhóm 7
Người hướng dẫn Ths. Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Báo Cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 285,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Đối tượng nghiên cứu (6)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (6)
  • 5. Bố cục của bài báo cáo: gồm 3 chương (6)
  • CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA (7)
    • 1.1 Khái quát hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mại 2005 (7)
      • 1.1.1. Khái niệm (7)
      • 1.1.2. Đặc điểm (7)
      • 1.1.3. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa (8)
    • 1.2 Khái quát hợp đồng mua bán hàng hóa trong Công ước viên 1980 (9)
      • 1.2.1. Sơ lược lịch sử ra đời Công ước viên 1980 (9)
      • 1.2.2. Khái niệm (10)
      • 1.2.3. Đặc điểm (10)
      • 1.2.4. Phạm vi áp dụng và không áp dụng (11)
        • 1.2.4.1 Phạm vi áp dụng (11)
        • 1.2.4.2 Phạm vi không áp dụng (12)
  • CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA (15)
    • 2.1. Quy định của pháp luật về mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 2005 (15)
      • 2.1.1. Giao kết hợp đồng (15)
      • 2.1.2. Hiệu lực của hợp đồng (16)
      • 2.1.3. Hình thức của hợp đồng (17)
      • 2.1.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên (17)
      • 2.1.5. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (20)
      • 2.1.6. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (20)
      • 2.1.7. Hủy bỏ hợp đồng (22)
    • 2.2 Quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Công ước viên 1980 (23)
      • 2.2.2 Hiệu lực của hợp đồng (24)
      • 2.2.3 Hình thức của hợp đồng (24)
      • 2.2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên (25)
      • 2.2.5 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (27)
      • 2.2.6 Trách nhiệm bồi thường hợp đồng (29)
      • 2.2.7 Hủy bỏ hợp đồng (31)
    • 2.3. Những điểm giống và khác biệt cơ bản giữa Luật thương mại 2005 và Công ước viên 1980 (32)
  • CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP KHI VIỆT (41)
    • 3.1. Thực tiễn khi Việt Nam gia nhập Công ước viên 1980 (41)
      • 3.1.1. Thuận lợi của Việt Nam Công ước viên 1980 (41)
      • 3.1.2. Bất lợi khi Việt Nam tham gia vào Công ước viên 1980 (41)
    • 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm phù hợp với Công ước viên 1980 (43)
      • 3.2.1 Hai thuật ngữ “vi phạm cơ bản” và “vi phạm nghiêm trọng” (43)
      • 3.2.2. Chưa quy định hủy bỏ hợp đồng khi có vi phạm cơ bản hợp đồng dự đoán trước (43)

Nội dung

cũng không biết việc lựa chọn áp dụng công ước sẽ có lợi hơn hay luật việt nam có lợihơn, vì vậy đề tài so sánh giữa hai quy định này đã được nhóm chúng em nghiên cứunhằm chỉ ra những ưu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong báo cáo là phân tích, so sánh văn bản nhằm tìm ra những điểm khác biệt giữa hai văn bản tạo ra sự hiểu biết tốt hơn về chủ đề.

Bố cục của bài báo cáo: gồm 3 chương

Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật thương mại

2005 và công ước viên 1980 ( CISG)

Chương 2: So sánh quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật tương mại 2005 và công ước viên 1980 (CISG)

Chương 3: Một số vấn đề bất cập và kiến nghị giải pháp khi việt nam gia nhập công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Khái quát hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mại 2005

Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 LTM 2005, mua bán hàng hóa được định nghĩa là “ Hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.” Quan hệ mua bán hàng hóa có bản chất là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán được thực hiện cụ thể thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Tại điều 385 Bộ luật Dân Sự 2015 có quy định

“ Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự“.

Tuy nhiên, LTM 2005 không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng bản chất của hợp đồn mua bán hàng hóa trong thương mại có thể được suy ra từ quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng mua bán tài sản Theo quy định tại Điều 430 Bộ Luật Dân sự 2015, định nghĩa hợp đồng mua bán tài sản là “

Là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.”

Với những định nghĩa trên, đó có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán và sự thỏa thuận này phải dẫn đến thống nhất ý chí giữa các bên Theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán tiền hàng Còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán và nhận hàng, quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Là hình thức pháp lí của quan hệ mua bán hàng hoá, hợp đồng mua bán hàng hoá có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hoá như sau:

Thứ nhất, về chủ thể hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân Theo quy định của Luật thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá Hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá phải tuân theo Luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật thương mại.

Thứ hai, về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được thiết lập theo cách thức nào mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận mua bán hàng hoá giữa các bên. Tại Điều 24 Luật thương mại năm 2005 quy định "Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó"

Thứ ba, về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hoá có đối tượng là hàng hoá.

Hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cẩu của con người Tại khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005 hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai.

Thứ tư, về nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và trả tiền cho bên bán Hành vi mua bán của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất hành vi thương mại Mục đích thông thường của các bên mua bán là lợi nhuận.

1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa

Căn cứ vào phạm vi của hợp đồng có thể chia ra hai loại:

Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước: Là hợp đồng giao kết để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam mà không có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia hoặc giữa nội địa với khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định pháp luật

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Là hợp đồng mua bán hàng hóa có thêm yếu tố quốc tế, tức là vượt ra phạm vi một quốc gia Tại Điều 27 LTM 2005 quy định

“Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”

Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:

Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa: Là phương thức mua

Giao dịch hàng hoá Tại Điều 63 Luật thương mại 2005 quy định thì mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó các bên thoả thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hoá nhất định của Sở giao dịch hàng hoá theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa với giá được thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai

Hợp đồng mua bán hàng hóa không qua sở giao dịch hàng hóa: Là cách thức thực hiện hợp đồng trên cơ sở gặp gỡ trực tiếp giữa các thương nhân với thương nhân hoặc giao kết bằng sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện trên thị trường phi tập trung.

Khái quát hợp đồng mua bán hàng hóa trong Công ước viên 1980

1.2.1 Sơ lược lịch sử ra đời Công ước viên 1980

Công ước Vienna 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) soạn thảo trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ XX với sự ra đời của hai Công ước La Haye năm 1964 Tuy nhiên, hai Công ước này rất ít được sử dụng trên thực tế bởi nhiều lý do khác nhau.

Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật nội dung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964. Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước La Haye, song Công ước Vienna 1980 có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản Công ước này được thông qua tại Vienna (Austria) ngày 11/4/1980 tại Hội nghị của Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế và có hiệu lực từ ngày 1/1/1988 (khi có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Điều 99 của Công ước).

Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập để trở thành viên thứ 84 của CISG Theo đó, CISG chính thức có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày01/01/2017.

Theo khoản 1 Điều 1 CISG 1980 có thể hiểu: Hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định trong Công ước viên 1980 chủ yếu là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Về bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa này vẫn mang đầy đủ đặc trưng cơ bản như sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên của một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường trong thương mại, tuy nhiên có thêm yếu tố quốc tế

Như vậy, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau.

Các đặc điểm cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biểu hiện như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng là bên bán và bên mua là các thương nhân có trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau Nếu các bên không có trụ sở thương mại thì sẽ căn cứ vào nơi cư trú thường xuyên của họ Việc căn cứ vào quốc tịch của cá nhân ít được sử dụng do không phổ biến và đôi khi khó khăn Ví dụ hai người trực tiếp ký vào hợp đồng đều mang quốc tịch Việt Nam nhưng đại diện cho các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau, và hợp đồng này vẫn là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng là hàng hoá phải qua biên giới quốc gia

(biên giới hải quan) hay giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác nhau; hoặc hàng hoá không phải qua biên giới nhưng hàng được các tổ chức quốc tế dùng ở lãnh thổ Việt Nam (sứ quán, công trình đầu tư nước ngoài ) Thuật ngữ “biên giới hải quan” được sử dụng xuất phát từ thực tiễn hình thành các kho ngoại quan, các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế, và những quy chế hải quan đặc biệt dành cho sự hoạt động của các khu vực này làm cho biên giới lãnh thổ không thật chính xác để xác định ranh giới di chuyển của hàng hoá xuất nhập khẩu.

Thứ ba, về nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển giao quyền sở hữu của hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau.

Thứ tư, đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết Phương thức thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng.

1.2.4 Phạm vi áp dụng và không áp dụng

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước viên 1980 sẽ được áp dụng trong 02 trường hợp:

- Khi các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia là thành viên Công ước (Điều 1.1.a)

- Khi theo các quy tắc của tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của quốc gia thành viên Công ước (Điều 1.1.b)

Trường hợp thứ nhất: Khi các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia là thành viên Công ước Đây là trường hợp áp dụng phổ biến nhất của Công ước viên 1980 Ví dụ, Công ước viên sẽ được áp dụng thay cho pháp luật quốc gia đối với hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty Việt Nam và công ty có trụ sở ở Pháp, Đức, Úc, Hàn Quốc,… bởi lẽ Việt Nam và các nước này đều là thành viên của Công ước Quy định này đáp ứng mục tiêu trọng tâm của Công ước là xây dựng một khung pháp lý thống nhất cho các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra trên toàn cầu Theo đó, khi các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước thì Công ước trở thành một phần nội luật của quốc gia đó và sẽ đương nhiên được áp dụng đối với các giao dịch giữa các công dân của quốc gia thành viên đó

Trong trường hợp chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế có thể có nhiều trụ sở thương mại đặt ở nhiều quốc gia khác nhau hoặc không có trụ sở thương mại nào thì áp dụng Điều 10 của Công ước viên 1980 Cụ thể, Nếu một bên có hơn một trụ sở thương mại trở lên thì trụ sở thương mại của họ sẽ được coi là trụ sở nào đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với việc thực hiện hợp đồng đó, có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự đoán được vào bất kỳ lúc nào trước hoặc vào thời điểm hợp đồng Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ.

Trường hợp thứ hai: Khi theo các quy tắc của Tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của quốc gia thành viên Công ước này Đây được gọi là trường hợp áp dụng “gián tiếp” Công ước và mở rộng đáng kể phạm vi áp dụng của Công ước này đối với các hợp đồng ngay cả khi một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng không có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên của Công ước

Ví dụ, trong một tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán giày giữa công ty Đức và công ty Italia vào năm 19894 Tại thời điểm ký kết hợp đồng, Đức không không phải là thành viên của Công ước viên 1980 Trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên phát sinh tranh chấp liên quan đến chất lượng hàng hóa; do đó, người mua Đức đã đệ trình một đơn khởi kiện lên Tòa án quận Aachen (Đức) Để xác định luật áp dụng đối với hợp đồng này, Tòa án quận Aachen đã áp dụng các quy tắc Tư pháp quốc tế của Đức và kết luận rằng: Luật của nước nơi người bán thực hiện hoạt động kinh doanh chủ yếu sẽ là luật áp dụng, mà ở đây là luật của Italia Tuy nhiên, Italia bấy giờ đã là một thành viên của Công ước viên 1980, do đó, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1, Công ước sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng này

Như vậy, trường hợp thứ hai thường được giải thích như sau:

Khi áp dụng các quy phạm xung đột trong Tư pháp quốc tế của một quốc gia (thông thường là quốc gia có tòa án đang giải quyết tranh chấp) dẫn chiếu đến luật của một quốc gia thành viên Công ước thì Công ước sẽ được áp dụng Ngoài ra, trường hợp này cũng xảy ra khi các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng là luật của một nước thành viên Công ước bởi quy tắc các bên trong hợp đồng được tự do lựa chọn luật áp dụng là nguyên tắc thông dụng và cốt lõi của Tư pháp quốc tế về hợp đồng.

1.2.4.2 Phạm vi không áp dụng

Không áp dụng trong các trường hợp quy định tại Điều 2 Công ước Viên năm 1980:

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Quy định của pháp luật về mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 2005

Các nguyên tắc khi giao kết hợp đồng được quy định tại Luật Thương mại:

- Nguyên tắc các thương nhân bình đẳng trước pháp luật (Điều 10)

- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại (Điều 11)

- Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại (Điều 12)

- Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại (Điều 13)

- Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14)

Vấn đề đề nghị giao kết hợp đồng:

Lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán là những điều khoản do một bên đưa ra cho phía bên kia Lời đề nghị này mới chỉ thể hiện ý chí, nguyện vọng của một bên trong quan hệ hợp đồng và phải được chấp nhận bởi các bên còn lại mới hình thành sự nhất chí thỏa thuận chung. Đề nghị giao kết hợp đồng phải có các điều khoản chủ yếu như đối tượng của hợp đồng mà cụ thể ở đây là hàng hóa hay địa điểm giao hàng hoặc phương thức thanh toán; phải thể hiện mong muốn ràng buộc trách nhiệm đồng thời hướng đến một chủ thể hoặc một số chủ thể nhất định và phải tuân theo hình thức pháp luật quy định. Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm chủ thể phía bên kia nhận được đề nghị Cụ thể là thời điểm đề nghị được chuyển đến nơi cư trú của bên được đề nghị hoặc được đưa vào hệ thống thông tin của bên được đề nghị.

Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng do bên đề nghị ấn định Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.

Theo quy định của pháp luật, đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực theo một trong các trường hợp:

- Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp thuận

- Hết thời hạn trả lời chấp nhận mà bên được đề nghị không trả lời

- Bên đề nghị thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực

- Bên đề nghị thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực

- Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.

- Chấn nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:

Là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được xác định khác nhau trong các trường hợp sau:

- Trong thời hạn bên đề nghị yêu cầu Nếu thông báo đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết thì thông báo chấp nhận vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp thuận đó.

- Nếu bên đề nghị nhận được trả lời khi đã hết thời hạn thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

- Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau (kể cả trường hợp qua điện thoại hay phương tiện khác như fax, internet…) thì bên được đề nghị phải trả lời ngay là có chấp nhận hay không chấp nhận, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời.

- Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là khác nhau đối với các hợp đồng giao kết với hình thức khác nhau:

- Đối với hợp đồng giao kết trực tiếp bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký tên vào văn bản.

- Đối với hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản thì hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.

- Đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói: thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung hợp đồng.

2.1.2 Hiệu lực của hợp đồng Để một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực pháp luật thì cần phải đảm bảo các điều kiện sau:

Các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ thể Trong thực tiễn, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán chủ yếu là thương nhân Khi tham gia hợp đồng mua bán với mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng kí kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán Còn trong trường hợp mua bán hàng hóa không điều kiện thì các thương nhân phải đáp ứng theo quy định của pháp luật.

Người giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải là người đại diện hợp pháp của các bên Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội.

Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết không trái với các nguyên tắc ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật: tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.

Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản như: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng mua bán nhà thì các bên phải tuân theo quy định đó.

Như vậy, một hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đảm bảo các điều kiện nêu trên Do đó, các doanh nghiệp khi soạn thảo hay ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa cần phải chú ý, nghiên cứu thật kỹ, tránh trường hợp sau khi ký kết hợp đồng xong do vi phạm một điều khoản nhất định dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu.

2.1.3 Hình thức của hợp đồng

Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí, các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá có quyền tự lựa chọn hình thức thể hiện ý chí phù hợp, tuy nhiên để thiết lập sự an toàn pháp lý trong quan hệ hợp đồng bán cũng như bảo toàn chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích của các bên thì phải tuân thủ pháp luật về hình thức hợp đồng Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể (Khoản 1 Điều 24 Luật Thương mại 2015).

Các hình thức có giá trị tươnng đương văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp điện tử và các sinh thức khác theo quy định của pháp luật (khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2015).

Tuy nhiên, đối với hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định thành lập bằng văn bản thì phải thành lập bằng văn bản (Khoản 2 Điều 24 Luật Thương mại 2015)

Ví dụ: Như hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hoá có luật chuyên ngành điều chỉnh có quy định phải xác lập bằng văn bản (Khoản 2 Điều

2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quyền và nghĩa vụ của bên bán

Quyền của bên bán chủ yếu xoay quanh quyền được nhận tiền từ bên mua Bên bán có quyền nhận được thanh toán từ bên mua theo đúng những nội dung mà hai bên đã thỏa thuận trước như phương thức thanh toán, địa điểm, thời hạn thanh toán, Đối với trường hợp mất mát hàng hóa, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua thì bên mua vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán (Điều 50 Luật Thương mại 2015).

Quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Công ước viên 1980

2.2.1 Giao kết hợp đồng Điều 14 CISG định nghĩa một đề nghị giao kết hợp đồng hình thành một chào hàng khi nó được gửi đến một hoặc nhiều người xác định, thể hiện ý chí của người chào hàng muốn ràng buộc mình trong trường hợp chào hàng được chấp nhận, và nêu rõ hàng hóa, ấn định hoặc quy định cách xác định số lượng và giá cả. Điều 14 CISG cũng phân biệt một chào hàng với một lời mời đưa ra chào hàng Theo đó, một đề nghị không gửi cho những người xác định chỉ được coi là một lời mời đưa ra chào hàng. Điều 15 CISG quy định một chào hàng sẽ có hiệu lực khi nó tới nơi người được chào hàng Ngoài ra, chào hàng, dù là loại không thể hủy ngang, có thể bị rút lại nếu thông báo rút lại chào hàng tới nơi người được chào hàng trước hoặc cùng lúc với chào hàng Thực chất sự rút lại chào hàng theo điều này không phải là sự hủy bỏ chào hàng vì chào hàng này chưa có hiệu lực. Điều 16 CISG quy định về nguyên tắc, một chào hàng có thể bị hủy ngang Tuy nhiên, điều kiện để hủy bỏ chào hàng là nếu thông báo về việc hủy bỏ tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 16 CISG quy định hai ngoại lệ quan trọng trong đó chào hàng không thể bị hủy ngang là :

- Khi đề nghị quy định rõ là không thể bị hủy ngang, bằng cách quy định rõ một thời hạn nhất định cho việc chấp nhận

- Bên đề nghị có cơ sở hợp lý để tin là đề nghị không hủy ngang và đã hành động theo chiều hướng đó. Điều 17 CISG ghi nhận một quy tắc được chấp nhận phổ biến rằng một chào hàng dù là loại không thể hủy ngang vẫn có thể chấm dứt hiệu lực khi thông báo từ chối chấp nhận chào hàng đến nơi người chào hàng. Điều 18 CISG định nghĩa một chấp nhận chào hàng là một lời tuyên bố hoặc một hành vi khác của người được chào hàng thể hiện rõ sự đồng ý với chào hàng Sự im lặng hoặc không hành động không mặc nhiên có giá trị là một chấp nhận.

-Về thời điểm để một chấp nhận chào hàng có hiệu lực, CISG căn cứ vào thời điểm chấp nhận chào hàng tới nơi người chào hàng Một chấp nhận chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người chào hàng trong thời hạn quy định hoặc trong một thời hạn hợp lý (nếu không ấn định thời hạn). Điều 19 CISG ghi nhận trường hợp trả lời chấp nhận chào hàng có kèm theo những nội dung sửa đổi đề nghị chào hàng ban đầu sẽ cấu thành một chào hàng mới, trừ khi những sửa đổi không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng ban đầu Các yếu tố sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, chất lượng và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, phạm vi trách nhiệm của các bên, giải quyết tranh chấp được coi là làm biến đổi một các cơ bản nội dung của chào hàng. Điều 22 CISG quy định về việc chấp nhận chào hàng có thể bị rút lại nếu thông báo rút lại tới nơi người chào hàng trước hoặc cùng thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực Về thời điểm giao kết hợp đồng, CISG quy định hợp đồng được giao kết kể từ thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực.

2.2.2 Hiệu lực của hợp đồng

Theo CISG về cơ bản không điều chỉnh tính hiệu lực của hợp đồng để các nước tham gia tùy nghi lựa chọn luật Quốc gia để quy định hợp đồng

2.2.3 Hình thức của hợp đồng

Công ước Viên 1980 không quy định bắt buộc về hình thức hợp đồng Do thành viên của Công ước Viên 1980 gồm nhiều nước khác nhau từ các nước kém phát triển cho đến các nước phát triển , mỗi nước có quan điểm khác nhau về hình thức hợp đồng Vì vậy theo Điều 11 Công ước Viên : “ Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ bất cứ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng mình bằng mọi cách , kể cả lời khai của nhân chứng ” Đây là điểm khác biệt cơ bản của luật Việt Nam và CISG về thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện bằng văn bản như Việt Nam có quyền bảo lưu sự khác biệt này theo Điều 96 của Công ước Viên khi tham gia Công ước Với một nước đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, pháp luật đang trong quá trình xây dựng hoàn thiện và còn khá nhiều thiếu sót Do vậy , việc quy định hình thức bắt buộc của hợp đồng là văn bản sẽ giúp bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam vì hình thức hợp đồng bằng văn bản mang đến sự bảo đảm cao hơn :

- Về tính an toàn : khi thỏa thuận bằng văn bản , các bên sẽ biết chính xác là họ đã thỏa thuận những gì Và nếu có xảy ra tranh chấp thì họ có thể kiểm tra lại những nội dung quy định trong hợp đồng

- Về tính toàn diện : khi soạn thảo hợp đồng , ngoài những điều khoản chính , các bên còn có thể thảo luận các điều khoản phụ mà họ đã quên không đề cập đến khi thảo luận trực tiếp

- Về tính rõ ràng : Khi xảy ra tranh chấp , tố tụng thì hợp đồng sẽ là bằng chứng vững chắc cho những gì hai bên đã thỏa thuận với nhau

- Ngoài ra , nếu việc mua bán hàng hóa quốc tế có liên quan đến bên thứ ba thì hợp đồng sẽ giúp bên thứ ba hiểu rõ hơn về thỏa thuận của hai bên

2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên

Quyền và nghĩa vụ của bên bán:

Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ có liên quan (Điều 31; Điều 33; Điều 35; Điều 41 Công ước Viên năm 1980 ).

Bên bán có nghĩa vụ giao hàng và các chứng từ có liên quan đến hàng hoá cho bên mua theo đúng thoả thuận trong hợp đồng về thời gian Đó là thời điểm mà các bên trong hợp đồng hoặc nếu không có thoả thuận cụ thể trong hợp đồng thì có thể căn cứ vào hợp đồng để xác định được Nếu các bên không thoả thuận một thời điểm cụ thể mà thoả thuận một khoảng thời gian thì bên bán được coi là giao hàng đúng thời hạn nếu hàng được giao vào bất kỳ một thời điểm nào trong khoảng thời gian đó. Ngoài các trường hợp trên, bên bán được giao hàng vào một thời hạn hợp lý sau khi hợp đồng được ký kết (Điều 33 Công ước Viên năm 1980).

Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất như mô tả trong hợp đồng hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng nếu hàng hoá không thích hợp với mục đích sử dụng mà các hàng hoá cùng loại thường đáp ứng hoặc không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên bán đã biết vào lúc ký kết hợp đồng hoặc hàng có các tính chất của hàng mẫu hay kiểu dáng mà bên bán đã cung cấp cho bên mua và hàng không được đóng gói theo cách thông thường cho những hàng hoá cùng loại hoặc theo cách thích hợp để có thể bảo vệ hàng hoá đó (Điều 35 Công ước Viên năm 1980).

Bên bán có nghĩa vụ giao cho bên mua hàng hoá không bị ràng buộc bởi bất cứ quyền hạn hay yêu sách nào của người thứ ba trên cơ sở quyền sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ khác (Điều 41 Công ước Viên năm 1980).

Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất và điều kiện giao hàng tại địa điểm quy định Nếu các bên không thoả thuận về địa điểm giao hàng thì bên bán phải giao hàng theo quy định tại (điều 31 Công ước Viên năm 1980).

Quyền của bên bán (Điều 62; Điều 63; Điều 64; Điều 74; Điều 78 Công ước Viên năm 1980)

Bên bán có quyền được thanh toán theo những quy định trong hợp đồng Trong trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ của mình thì bên bán có quyền thực hiện những biện pháp bảo hộ pháp lý theo quy định tại Công ước Đó là:

- Yêu cầu bên mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng và thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua

- Cho phép bên mua một thời gian để bổ sung thực hiện các nghĩa vụ chưa hoàn chỉnh

- Tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng trong một số trường hợp Công ước quy định;

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại

- Yêu cầu trả tiền lãi khi bên mua chậm thanh toán.

Quyền và nghĩa vụ của bên mua

Nghĩa vụ bên mua (Điều 53; Điều 59; Điều; Điều 60 Công ước Viên năm

Theo quy định tại Điều 53 Công ước Viên năm 1980, bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước.

Bên mua có nghĩa vụ trả tiền vào ngày thanh toán đã quy định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng hoặc theo Công ước mà không cần có yêu cầu hoặc việc thực hiện một thủ tục mào về phía bên bán (Điều 59 Công ước Viên năm 1980) Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của bên mua bao gồm việc áp dụng các biện pháp và tuân thủ các hàng tại địa điểm nhất định Nếu hợp đồng không quy định cụ thể địa điểm trả tiền sẽ là nơi bên bán có trụ sở thương mại hoặc nơi giao hàng hoặc giao chứng từ nếu việc trả tiền phải được thực hiện cùng lúc với việc giao hàng hoặc chứng từ Nếu trong hợp đồng không quy định thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải trả tiền khi bên bán đặt hàng hoá hoặc thanh chứng từ nhận hàng dưới sự định đoạt của bên mua.

Những điểm giống và khác biệt cơ bản giữa Luật thương mại 2005 và Công ước viên 1980

Tiêu chí Luật thương mại 2005 Công ước viên 1980 So sánh

- Chế tài bồi thường thiệt hại : với chế tài bồi thường thiệt hại, cả pháp luật Việt Nam và Công ước viên CISG đều quy định khá giống nhau và tương đối chi tiết những thiệt hại đảm bảo được bồi thường đó là những tổn thất và giá trị lợi nhuận mang lại mà bên bị thiệt hại đáng được hưởng từ chính hợp đồng đã ký kết trước đó nếu như không có sự vi phạm hợp đồng của phía bên kia ( K1 Điều

302 Luật Thương mại 2005 và Điều 74 CISG )

- Chế tài hủy hợp đồng : Đối với chế tài hủy hợp đồng về cơ bản cả pháp luật Việt nam và CISG đều đưa ra các quy định trong việc lồng ghép giữa các quyền của người mua và người bán Mặc dù khi đưa nhất định song về bản chất cả CISG và Luật thương mại 2005 đều cho rằng việc hủy hợp đồng là vấn đề hết sức quan trọng và là chế tài nghiêm khắc nhất được sử dụng nhằm áp dụng trong trường hợp những hành vi vi phạm hợp đồng cơ bản

- Công ước và Luật Thương mại có quy định tương tự nhau về địa điểm giao hàng, theo đó hàng hóa có thể được giao cho người chuyên chở đầu tiên, hoặc tại kho chứa hàng/nơi sản xuất hoặc chế tạo hàng hóa, hoặc trụ sở kinh doanh của người bán Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn cụ thể hóa trường hợp hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hóa đó.

- Theo Công ước và pháp luật Việt Nam, người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng Về nội dung cụ thể, các yêu cầu đối với người mua và người bán trong việc thanh toán và nhận hàng (như

Xác định giá, Xác định giá theo trọng lượng, Địa điểm thanh toán, Thời hạn thanh toán) theo Công ước hoàn toàn tương thích với quy định của Luật

Thương mại. Đảm bảo hiệu lực của hợp đồng Điều 24 Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1 Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2 Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Điều 4 : Công ước này chỉ điều chỉnh việc ký kết hợp đồng mua bán và các quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua phát sinh từ hợp đồng đó Trừ trường hợp có quy định khác được nêu trong Công ước, Công ước không liên quan tới: a Tính hiệu lực của

CISG không cần hình thức nào, Luật

TM bắt buộc bằng văn bản Đây là điểm duy nhất VN bảo lưu

Nên HDMBHH vẫn phải lập thànhVB Điều 27 Mua bán hàng hoá quốc tế

1 Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

2 Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. cứ điều khoản nào của hợp đồng hoặc bất kỳ tập quán nào. b Hệ quả pháp lý mà hợp đồng có thể tạo ra đối với quyền sở hữu hàng hóa được bán. Điều 11 : Hợp đồng mua bán không bắt buộc phải được giao kết hoặc chứng minh bằng văn bản cũng như không bắt buộc phải tuân thủ bất kỳ quy định nào về hình thức Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng nhân chứng.

Chế tài lãi chậm thanh toán Điều 306 Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán

Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp Ðiều 78:

Nếu một bên chậm thanh toán tiền hàng hay mọi khoản tiền thiếu khác, bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó mà không ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại mà họ có quyền đòi hỏi chiếu theo Điều 74.

Cả Luật Thương mại 2005 và CISG đều không quy định rõ về lãi suất ( Án lệ 09/2016 có quy định là 3 ngân hàng TMCP tại địa phương ) luật có quy định khác.

Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng Điều 297 Buộc thực hiện đúng hợp đồng

1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.

2 Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm.

3 Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có Ðiều 28: Nếu một bên có quyền yêu cầu bên kia phải thi hành một nghĩa vụ nào đó thì chiếu theo các quy định của Công ước này, Tòa án không bị bắt buộc phải đưa ra phán quyết buộc bên kia thực hiện thực sự hợp đồng trừ trường hợp nếu tòa án ra phán quyết đó trên cơ sở luật nước mình đối với các hợp đồng mua bán tương tự không do Công ước này điều chỉnh. Ðiều 46:

1 Người mua có thể yêu cầu người bán phải thực hiện nghĩa vụ, trừ phi người mua sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý không hợp với yêu cầu đó

2 Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể đòi người bán phải giao hàng thay thế nếu sự không

Luật thương mại vàCISG có nhiều điểm tương đồng như : sửa chữa,thay thế. quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.

4 Bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều này.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP KHI VIỆT

Ngày đăng: 07/12/2022, 20:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w