Đề 16 Vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG MỤC LỤC 2A PHẦN MỞ ĐẦU 2B PHẦN NỘI DUNG 2I Khái quát chung 4II Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG 41 Chuyển rủi ro trong trường hợp có sự tham gia của bên vận chuyển, 72 Chuyển rủi ro trong trường hợp hàng hóa đang trên đường vận chuyển 73 Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác 9III Liên hệ với pháp luật Việt Nam về thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng.
Trang 1Đề 16: Vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
B PHẦN NỘI DUNG 2
I Khái quát chung 2
II Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG .4
1 Chuyển rủi ro trong trường hợp có sự tham gia của bên vận chuyển, 4
2 Chuyển rủi ro trong trường hợp hàng hóa đang trên đường vận chuyển 7
3 Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác 7
III Liên hệ với pháp luật Việt Nam về thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa 9
1.Thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 9 2.Thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật thương mại 2005 10
C PHẦN KẾT LUẬN 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Rủi ro là điều không tránh khỏi trong bất kỳ hoạt động nào trong thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng Vì vậy, xác định về trách nhiệm chịu rủi ro là một vấn đề mà cả người bán và người mua đều quan tâm Có những trường hợp giá trị hàng hóa rất lớn, quá trình vận chuyển lại gặp rủi ro nên dễ gây ra những tranh chấp khó giải quyết Vì vậy, ngay khi giao kết hợp đồng mua bán, các bên cố gắng thỏa thuận và đưa ra những điều khoản rõ ràng
để tránh hiểu nhầm Tuy nhiên, không phải trường hợp nào các bên cũng có thể thỏa thuận cùng nhau để đưa ra những giải pháp tối ưu nhất Để giải quyết vấn
đề này Công ước viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980 (CISG) đã đưa ra một số cách giải quyết
Thông qua đề tài: “Vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG 1980” giúp tập trung phân tích bản chất
pháp lý, nội dung các quy định pháp luật về vấn đề rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Bài làm gồm 4 phần: Phần I: Khái quát về thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; Phần II: Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG; Phần III: Liên hệ với pháp luật Việt Nam về thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa
B PHẦN NỘI DUNG
I
Khái quát chung
Rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự mất mát, hư hỏng
hàng hóa xảy ra do những sự kiện khách quan không mong muốn như thiên tai, bão, lũ, trộm, cướp,… tác động trong quá trình vận chuyển hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác, gây ra những thiệt hại, tổn thất không nhỏ về tài sản Đối với thương nhân, họ luôn đặt lợi nhuận lên hằng đầu, tính thực dụng luôn được đề cao vì vậy khi xảy ra thiệt hại đối với hàng hóa, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải xác định xem trách nhiệm đối với những thiệt hại, tổn thất này thuộc về bên nào và khi nào thì bên có trách nhiệm phải nhận những rủi ro
về hàng hóa đó Thời điểm mà trách nhiệm đối với những rủi ro đã xảy ra được
Trang 3chuyển từ bên bán sang bên mua được gọi là thời điểm chuyển giao rủi ro Như
vậy, có thể hiểu thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thời điểm mà kể từ đó những rủi ro đối với hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua.
Thộng thường, các bên sẽ tự thỏa thuận với nhau để đảm bảo được quyền lợi một cách tối ưu Nếu không thỏa thuận được thì có thể viện dẫn những quy định trong những điều ước quốc tế (ĐƯQT), pháp luật quốc gia để áp dụng Cụ thể, pháp luật quốc tế có quy định vấn đề này chủ yếu trong CISG và INCOTERMS 2010 Trong đó, CISG có vai trò như luật nội dung áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng mua bán quốc tế, còn INCOTERMS 2010 chỉ
là một tập quán thương mại quốc tế được ghi nhận và áp dụng rộng rãi cho một
số vấn đề cụ thể nhất định trong hợp đồng Tuy vậy, CISG và INCOTERMS có mối quan hệ chặc chẽ tương hỗ với nhau giúp giải quyết được những vấn đề vướng mắc, tạo điều kiện cho việc xác định thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được rõ ràng, chính xác, không mâu thuẫn, tránh được các tranh chấp, xung đột pháp luật
Khi đã xác định được thời điểm chuyển giao rủi ro, những mất mát hay hư hỏng hàng hóa không do hành động của người bán xảy ra sau đó sẽ do người mua gánh chịu, đồng thời người mua phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền theo đúng như hợp đồng Đối với trường hợp việc mất mát hay
hư hỏng hàng hóa là do hành động của người bán gây nên thì người mua không phải chịu tổn thất do việc mất mát, hư hỏng hàng hóa gây nên và người mua không phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng đối với hàng hóa đó Điều này có thể hiểu rằng khi người bán thực hiện bất kỳ một hành vi nào dẫn đến việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa thì người bán phải chịu trách nhiệm đối với những tổn thất đã xảy ra và người mua được miễn trừ nghĩa vụ trả tiền cho người bán với hàng hóa đó Hành vi của người bán thực hiện có thể là hành vi
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc hành vi ấy không vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng hành vi ấy gây thiệt hại cho hàng hóa.1
1 Xem thêm: Điều 66 CISG quy định “Việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa xảy ra sau khi rủi ro chuyển sang người mua không miễn trừ cho người này nghĩa vụ phải trả tiền, trừ phi việc mất mát
Trang 4II C huyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG
Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa - Công ước Viên 1980 (CISG) không có quy định cụ thể như thế nào là thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ quy định về cách xác định thời điểm này Bên cạnh đó, CISG còn quy định các quy tắc về việc chuyển rủi
ro Một cách vắn tắt, Điều 66 quy định các hậu quả pháp lý của việc chuyển rủi
ro trong đó nêu rõ rằng người mua sẽ là bên gánh chịu rủi ro liên quan đến hàng hóa một khi hàng hóa đó được chuyển giao cho người mua, ngoại trừ các mất mát hoặc thiệt hại xảy ra do 'một hành động hoặc thiếu sót của người bán’ Mặc dù nguyên tắc chung vừa nêu, CISG liệt kê ba trường hợp hợp điển hình về chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước này tại chương IV, các Điều 67, Điều 68 và Điều 69 Cụ thể, CISG phân ra 03
tình huống để xác định thời điểm chuyển dịch rủi ro bao gồm: Chuyển rủi ro trong trường hợp có sự tham gia của bên vận chuyển; Chuyển rủi ro trong trường hợp hàng hóa đang trên đường vận chuyển và Chuyển rủi ro trong các trường hợp còn lại ngoài hai trường hợp trên
1 Chuyển rủi ro trong trường hợp có sự tham gia của bên vận chuyển,
Vấn đề chuyển rủi ro trong trường hợp có sự tham gia của bên vận chuyển
được quy định tại Điều 67 CISG như sau: “Khi hợp đồng mua bán quy định việc vận chuyển hàng hóa và người bán không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định, rủi ro được chuyển sang người mua kể từ lúc hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao cho người mua chiếu theo hợp đồng mua bán Nếu người bán bị buộc phải giao hàng cho một người chuyên chở tại một nơi xác định, các rủi ro không được chuyển sang người mua nếu hàng hóa chưa được giao cho người chuyên chở tại nơi đó Sự kiện người bán được phép giữ lại các chứng từ nhận hàng không ảnh hưởng gì đến sự chuyển giao rủi ro.”
Người chuyên chở trong điều luật này có thể hiểu là một bên mà với người
đó việc vận chuyển được ký hợp đồng.2 Trong trường hợp có sự tham gia của
hay hư hỏng ấy là do hành động của người bán gây nên.”
2 Xem thêm: Giải thích thuật ngữ trong INCOTERMS 2010
Trang 5người chuyên chở, để xác định thời điểm chuyển rủi ro CISG phân ra thành hai trường hợp nhỏ hơn bao gồm: Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định và Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định Cụ thể như sau:
- Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định.
Đối với trường hợp này, tại Điều 67 CISG quy định rằng nếu trong hợp đồng mua bán mà bên mua và bên bán có thỏa thuận về việc vận chuyển hàng hóa và bên bán không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định thì rủi ro được chuyển sang người mua kể từ lúc hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao cho người mua chiếu theo hợp đồng mua bán
Theo quy định này, thời điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua
là thời điểm hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao cho người mua chiếu theo hợp đồng mua bán khi có đủ hai điều kiện sau:
Thứ nhất, trong hợp đồng mua bán có quy định về việc vận chuyển hàng
hóa nhưng không xác định địa điểm giao hàng cụ thể Khi kí kết hợp đồng, bên bán và bên mua đã thỏa thuận, trao đổi và thống nhất với nhau về việc vận chuyển hàng hóa để đảm bảo lợi ích của cả hai bên, nhưng trong một số trường hợp, vì một số lí do mà hai bên không ấn định về một địa điểm giao hàng cụ thể
Thứ hai, người bán không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định
Như vậy trong trường hợp thỏa mãn cả hai điều kiện trên thì bên mua sẽ phải chịu rủi ro kể từ khi hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất
- Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định Đối
với trường hợp này, khoản 1 Điều 67 CISG quy định rằng trong trường hợp hai bên có thỏa thuận về địa điểm giao hàng và bên bán bị buộc phải giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm đó thì rủi ro được chuyển cho người mua khi người bán hoàn thành việc giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm xác định
Trang 6Theo quy định này, thời điểm chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định là thời điểm mà người bán giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm giao hàng đã xác định khi có đủ hai điều kiện sau:
Thứ nhất, có địa điểm giao hàng xác định Địa điểm này do các bên trong
hợp đồng thỏa thuận, thống nhất với nhau trên cơ sở đảm bảo quyền, lợi ích của
cả bên bán và bên mua
Thứ hai, người bán bị buộc phải giao hàng cho người chuyên chở tại địa
điểm xác định và người bán đã giao hàng cho người chuyên chở thứ nhất đại địa điểm đó Trong trường hợp người bán chưa giao được hàng hóa cho người chuyên chở thứ nhất tại đúng địa điểm mà hai bên đã thỏa thuận thì rủi ro chưa được chuyển sang người mua
Như vậy khi có đủ hai điều kiện ấy thì thời điểm chuyển rui ro trong trường hợp này là thời điểm mà người bán giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm giao hàng đã xác định
Tóm lại, thời điểm chuyển rủi ro trong trường hợp có sự tham gia của người chuyên chở có sự khác biệt khi các bên trong hợp đồng có thỏa thuận về điểm giao hàng xác định hay không Cần lưu ý rằng việc người bán giữ lại các chứng từ nhận hàng không ảnh hưởng đến sự chuyển giao rủi ro sang người mua.3 Thêm nữa là điều kiện để rủi ro được chuyển sang người mua là hàng hóa phải được đặc định hóa Đặc định hóa tức là làm cho hàng hóa có thể phân biệt được so với những hàng hóa khác cùng loại, không thể bị nhầm lẫn Việc đặc định hóa phải rõ ràng, phục vụ cho mục đích của hợp đồng hoặc bằng các ghi
ký mã hiệu trên hàng hóa, bằng các chứng từ chuyên chở, bằng một thông báo gửi cho người mua hoặc bất cứ phương pháp nào khác giúp xác định trách nhiệm của bên bán, phải bán đúng hàng hóa như đã thỏa thuận và xác định trách nhiệm của người chuyên chở, phải vận chuyển đúng hàng hóa, không được có hành vi trao đổi hay đánh tráo hàng hóa
3 Khoản 1 Điều 67 CISG
Trang 72 Chuyển rủi ro trong trường hợp hàng hóa đang trên đường vận chuyển
Vấn đề chuyển rủi ro trong trường hợp hàng hóa đang trên đường vận
chuyển được quy định tại Ðiều 68 CISG như sau: “Người mua nhận rủi ro về mình đối với những hàng hóa bán trên đường vận chuyển kể từ lúc hàng hóa được giao cho người chuyên chở là người đã phát chứng từ xác nhận một hợp đồng vận chuyển Tuy nhiên, nếu vào lúc ký kết hợp đồng mua bán, người bán
đã biết hoặc đáng lẽ phải biết sự kiện hàng hóa đã bị mất mát hay hư hỏng và
đã không thông báo cho người mua về điều đó thì việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa do người bán phải gánh chịu.”
Chiếu theo điều luật này, ta có thể hiểu rằng thời điểm chuyển giao rủi ro trong trường hợp hàng hóa đang trên đường vận chuyển là kể từ lúc hàng hóa được giao cho người chuyên chở- người đã phát chứng từ xác nhận một hợp đồng vận chuyển, từ thời điểm đó người mua phải nhận mọi rủi ro về mình Mặc dù vậy, điều luật này cũng quy định về trường hợp vào lúc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa mà người bán đã biết hoặc đáng lẽ phải biết sự kiện hàng hóa
đã bị mất mát hay hư hỏng và người bán đã không thông báo cho người mua về điều đó thì người mua sẽ được miễn trách nhiệm đối với những tổn thất về hàng hóa đó, người bán phải tự mình gánh chịu những mất mát hay hư hỏng đó Việc quy định trường hợp người bán phải chịu trách nhiệm đối với những hàng hóa
bị mất mát, hư hỏng nếu người đó đã biết về sự việc đó khi kí kết hợp đồng mà không thông báo với người mua tạo cơ sở nhằm đảm bảo quyền lợi của bên mua, đồng thời khiến cho bên bán phải có trách nhiệm đối với hàng hóa của mình và đối với bên bán, tránh trường hợp người bán cố ý che giấu sự mất mát,
hư hỏng của hàng hóa mình, gây thiệt hại cho bên mua
3 Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác
Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác là việc chuyển rủi ro ngoài những trường hợp chuyển rủi ro khi có sự tham gia của người chuyên chờ và trường hợp chuyển rủi ro khi hàng hóa đang trên đường vận chuyển được quy định tại điều 67 và 68 CISG Đối với những trường hợp khác này, việc xác định thời điểm chuyển rủi ro được quy định tại Điều 69 CISG như sau:
Trang 8“1 Trong các trường hợp không được nêu tại các điều 67 và 68, các rủi
ro được chuyển sang người mua khi người này nhận hàng hoặc, nếu họ không làm việc này đúng thời hạn quy định, thì kể từ lúc hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua và người mua đã vi phạm hợp đồng vì không chịu nhận hàng.
2 Tuy nhiên, nếu người mua bị ràng buộc phải nhận hàng tại một nơi khác với nơi có xí nghiệp thương mại của người bán, rủi ro được chuyển giao khi thời hạn giao hàng phải được thực hiện và người mua biết rằng hàng hóa
đã được đặt dưới quyền định đoạt của họ tại nơi đó.
Nếu hợp đồng mua bán liên quan đến hàng hóa chưa được cá biệt hóa, hàng chỉ được coi là đã đặt dưới quyền định đoạt của người mua khi nào nó được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng này.”
Vậy có thể thấy, CISG đã đưa ra cách xác định thời điểm chuyển giao rủi ro với những trường hợp còn lại như sau:
Thứ nhất, đối với trường hợp người mua tiếp nhận hàng hóa tại xí nghiệp thương mại của người bán và khác các trường hợp tại Điều 67, 68 CISG.
Đối với trường hợp này, theo quy định tại khoản 1 Điều 69, thời điểm chuyển giao rủi ro sang người mua là thời điểm mà người mua nhận hàng theo thỏa thuận của cả hai bên Trong trường hợp người mua không nhận hàng theo đúng thời hạn đã quy định trong hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ nhận hàng trong hợp đồng thì thời điểm chuyển giao rủi ro từ người bán sang người mua sẽ là thời điểm hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua, tức là khi người mua có toàn quyền đối với hàng hóa đó thông qua các chứng từ, biên lại xác nhận,… hoặc qua các hình thức khác
Thứ hai, đối với trường hợp người mua tiếp nhận hàng tại một nơi khác với nơi có xí nghiệp thương mại của người bán.
Nơi khác với nơi có xí nghiệp thương mại của người bán là địa điểm mà bên bán và bên mua đã thỏa thuận mà tại đó việc giao hàng cho bên mua được thực hiện Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 khi người mua tiếp nhận hàng tại một nơi khác với nơi có xí nghiệp thương mại của người bán thì thời điểm
Trang 9chuyển giao rủi ro sang người mua là thời điểm mà hàng hóa được giao theo thời hạn đã được định trước và người mua biết rằng hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của họ tại nơi đó Quyền định đoạt của người mua đối với hàng hóa được thể hiện bằng các chứng từ, biên lai, giấy tờ hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật quốc tế
Như vậy đối với hai trường hợp trên thì đã có sự khác nhau về thời điểm chuyển giao rủi ro Cần lưu ý là nếu hợp đồng mua bán liên quan đến hàng hóa chưa được cá biệt hóa thì hàng hóa chỉ được coi là đã đặt dưới quyền định đoạt của người mua khi nào nó được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng mà hai bên đã kí kết
III
Liên hệ với pháp luật Việt Nam về thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Hiện nay, vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa được đề cập chủ yếu trong Bộ luật dân sự 2015, Luật thương mại 2005 như sau:
1 Thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
Thời điểm chuyển giao rủi ro được quy định tại Điều 441, theo đó: Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Đối với trường hợp mà hợp đồng mua bản có tài sản hợp là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Như vậy, BLDS vẫn đề cao tinh thần tự nguyện, tự thỏa thuận giữa các bên, theo đó thời điểm chuyển giao rủi ro được xác định trên cơ sở thỏa thuận của bên bán và bên mua, trong trường hợp không có thỏa thuận thì thời điểm chuyển giao tài sản sẽ là thời điểm bên mua nhận tài sản hoặc là thời điểm bên bán hoàn thành thủ tục đăng ký và chuyển giao lại cho bên mua đối với hợp đồng có đối tượng là tài sản phải đăng ký
Trang 10Việc quy định về thời điểm chuyển giao rủi ro theo BLDS chưa có sự tương đồng với quy định trong CISG, điều này được lí giải do ngày 18/12/2015 Việt Nam mới chính thức phê duyệt việc gia nhập CISG và CISG mới có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017, vì vậy, có thể trong thời gian tới sẽ có sự thay đổi nhất định hơn để phù hợp với thông lệ quốc tế
2 Thời điểm chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật thương mại 2005
Vấn đề chuyển dịch rủi ro được quy định từ điều 57 đến điều 61 Luật thương mại 2005 Các trường hợp chuyển rủi ro bao gồm4: (1) Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: Thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua là thời điểm khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá (2) Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định5: Thời điểm chuyển giao rủi ro cho bên mua là thời điểm khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên (3) Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển6: Thời điểm chuyển giao rủi ro cho bên mua là: Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá hoặc khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua (4) Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển7: Thời điểm chuyển giao rủi ro cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng
Đối với những trường hợp khác thì rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua và người mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng Cần lưu ý là rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận
4 Điều 57 Luật thương mại 2005
5 Điều 58 Luật thương mại 2005
6 Điều 59 Luật thương mại 2005
7 Điều 60 Luật thương mại 2005