1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo luật hình sự việt nam

97 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Trọng Hiếu
Người hướng dẫn TS. Phan Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 16,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (11)
    • 1.1. Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực (11)
    • 1.2. Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực (0)
    • 1.3. Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản (26)
  • CHƯƠNG 2. ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI (34)
    • 2.1. Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu (34)
    • 2.2. Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn (0)
    • 2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu (40)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

- Một số luận văn có liên quan đến vấn đề định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam như: 1 Luận văn Thạc sĩ “Dấu hiệu định tội của tội lạm d

Trang 1

NGUYỄN TRỌNG HIẾU

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Định hướng ứng dụng

Mã số: 8380104

Người hướng dẫn khoa học : TS Phan Anh Tuấn

Học viên : Nguyễn Trọng Hiếu

Lớp : Cao học Luật, Phú Yên khóa 1

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những tài liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022

Người cam đoan

Nguyễn Trọng Hiếu

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ DÙNG VŨ LỰC 6 1.1 Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp

có dùng vũ lực 6 1.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực 9 1.3 Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực 21 Kết luận Chương 1 28 CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI 29 2.1 Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu 29 2.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu 31 2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu 35 Kết luận Chương 2 37 KẾT LUẬN 38 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi

là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ” Vì vậy, để có một bản án công minh,

khách quan, toàn diện và đúng quy định của pháp luật đòi hỏi phải được chứng minh theo trình tự luật định, trong đó, việc định tội danh mà người bị buộc tội đã thực hiện được tiến hành ở nhiều giai đoạn trong quá trình TTHS, với sự tham gia của các cơ quan tiến hành tố tụng là CQĐT, VKSND, TAND trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình ở từng giai đoạn tố tụng đó Định tội danh đúng, chuẩn xác giúp quá trình tố tụng diễn ra đúng hướng, thuận lợi, nhanh chóng, có sức thuyết phục cao, được dư luận đồng tình, ủng hộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội

và những tham gia tố tụng khác, cũng như nâng cao vị thế, uy tín, hiệu lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH nói chung, tội phạm có hành vi CĐTS có dùng vũ lực, dùng thủ đoạn gian dối trong các tội XPSH nói riêng (tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội lừa đảo CĐTS, tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS) ở nước ta diễn biến rất phức tạp, có xu hướng gia tăng ở một số địa phương, tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng, gây hậu quả xấu cho xã hội, thiệt hại ngày càng tài sản lớn Các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử nghiêm các loại tội phạm này theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, hạn chế, nhất là trong việc định tội danh, như: định tội danh không chính xác; nhầm lẫn giữa các tội với nhau (tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản, tội lừa đảo CĐTS với tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS…)… Nguyên nhân của tình trạng trên là do văn bản hướng dẫn thi hành các điều luật quy định về các tội nêu trên chưa có hoặc có nhưng chưa

rõ ràng, cụ thể; đội ngũ cán bộ áp dụng pháp luật hình sự (định tội danh) nhận thức chưa thống nhất về các quy định của pháp luật hình sự đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH; việc phối hợp của các cơ quan tiến hành TTHS trong định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH còn chưa thật sự hiệu quả…

Vì vậy, yêu cầu đặt ra phải khắc phục những khó khăn, vướng mắc, bất cập

và những hạn chế trong việc định tội danh đối với hành vi CĐTS có dùng vũ lực,

Trang 7

dùng thủ đoạn gian dối trong các tội XPSH nói riêng (tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội lừa đảo CĐTS, tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS) để đảm bảo việc xử lý đối với hành vi này được chính xác, khách quan,

nghiêm minh, đúng pháp luật Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Định tội

danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo Luật Hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn

Ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học, tác giả nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này cũng đã được đề cập ở nhiều nhóm tài liệu khác nhau, cụ thể:

- Một số giáo trình của các cơ sở đào tạo như: (1) Võ Khánh Vinh (Chủ biên)

(2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (2) Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Hình sự Việt

Nam - Phần Các tội phạm, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (3) Trường Đại

học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần

Các tội phạm, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TPHCM; (4) Lê Cảm (Chủ

biên) (2007), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội… Những giáo

trình nêu trên có đề cập đến dấu hiệu định tội của các tội như: tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa đảo CĐTS, tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS Đây là tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo khi nghiên cứu vấn đề dấu hiệu pháp lý của các tội

có hành vi CĐTS trong Luật Hình sự Việt Nam

- Một số luận văn có liên quan đến vấn đề định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam như: (1) Luận văn Thạc sĩ

“Dấu hiệu định tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự

Việt Nam” của tác giả Huỳnh Thị Diễm Thúy (2018), Trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh; (2) Luận văn Thạc sĩ “Dấu hiệu hành hung để tẩu thoát trong các

tội xâm phạm sở hữu theo Luật Hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018; (3) Luận văn Thạc sĩ “Dấu

hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam” của tác

giá Thái Xuân Trinh (2020) Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh… Các công trình nghiên cứu này đã đề cấp đến vấn đề dấu hiệu định tội của một số tội danh

Trang 8

cụ thể là tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS, tội lừa đảo CĐTS hay dấu hiệu định khung

“hành hung để tẩu thoát” trong các tội XPSH Tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa đề cập đến định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH, song

cũng là tài liệu tham khảo cho tác giả nghiên cứu đề tài luận văn

- Các sách, bài viết có đề cập đến đến hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam có thể kể đến: (1) Sách “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, Phần thứ hai Các tội phạm, Chương XVI Các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Đinh Văn Quế, Nhà xuất bản Thông tin và Truyển thông, năm 2017; (2) Bài viết “Bàn về yếu tố “Chiếm đoạt tài sản trong các tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đăng trên Tạp chí Kiểm sát, VKSND tối cao số 09 (2012), tr.52-54; (3) Bài viết

“Một số đề xuất hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 2015” của tác giả Phạm Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh số 08 (102), năm 2016, tr.48-55; (4) Bài viết “Một số vấn đề về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của tác giả Đinh Văn Quế đăng trên Tạp chí Kiểm sát, VKSND tối cao số 01 (2020), tr.35-44…

Trong các tài liệu nêu trên, các tác giả đều có đề cập đến hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH ở nhiều góc độ khác nhau, gắn liền với các XPSH nói chung hay các tội danh cụ thể trong các tội XPSH… Tuy nhiên, các sách và bài viết nêu trên chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về định tội danh đối với hành vi CĐTS có dùng vũ lực, dùng thủ đoạn gian dối trong các tội XPSH

Do đó, đề tài luận văn “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản

trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo Luật Hình sự Việt Nam” là vấn đề vẫn

còn nhiều nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, có giá trị lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn

- Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn về định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở đó, đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH nhằm hạn chế oan, sai và vi phạm pháp luật trong thực tiễn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Trang 9

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu như sau: + Phân tích quy định của BLHS 2015 về hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH;

+ Đánh giá thực trạng định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH, từ đó chỉ ra các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân;

+ Đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn định tội danh đối với hành

vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của luật hình sự Việt Nam trên phạm vi cả nước

+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH thời gian từ năm 2017 đến năm 2021

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, về chính sách hình sự Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và các tội XPSH nói riêng

- Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về hành vi CĐTS có dùng

vũ lực, dùng thủ đoạn gian dối, cũng như làm rõ những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam

Trang 10

+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ những điểm giống và khác nhau trong việc định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH để xử lý hình sự

+ Phương pháp bình luận: Phương pháp này được sử dụng để bình luận các bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử

đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được cấu trúc thành 02 chương:

Chương 1: Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các

tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực

Chương 2: Giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh đối với hành vi chiếm

đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo Luật Hình sự Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TRONG NHÓM CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ DÙNG VŨ LỰC 1.1 Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực

Trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì dấu hiệu “dùng vũ lực” được quy định là dấu hiệu định tội của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), là một trong các thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc được thể hiện là dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS)

Dấu hiệu dùng vũ lực trong các tội phạm nêu trên được hiểu như sau:

(1) Dấu hiệu dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) được hiểu như sau:

Dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào người khác nhằm làm cho người này lâm vào tình trạng không thể chống cự được Hành vi dùng vũ lực của người phạm tội có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội và phải nhằm vào con người (có thể là chủ tài sản hoặc người

có trách nhiệm quản lý, bảo vệ tài sản hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng họ đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của mình) Nếu hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên vật thì không được gọi là hành vi “dùng vũ lực”

Hành vi dùng vũ lực ở tội cướp tài sản phải nguy hiểm ở mức độ có khả năng làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được Có nghĩa là trong ý thức chủ quan của người phạm tội, hành vi dùng vũ lực phải nhằm làm cho sự chống cự của nạn nhân không xảy ra; hoặc xảy ra nhưng không có kết quả; hoặc người bị tấn công tê liệt ý chí nên không dám chống cự Hành vi dùng vũ lực có thể được thể hiện như: bắn, đánh, trói, chém… người đang quản lý tài sản hoặc người ngăn cản hành vi chiếm đoạt

(2) Dùng vũ lực là một trong các thủ đoạn thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) được hiểu như sau:

Trang 12

Hành vi khác quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) là hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản làm cho họ sợ mà phải giao tài sản Bắt cóc con tin là hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật Hành vi bắt cóc có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, dụ dỗ, mua chuộc, lừa dối…

Như vậy, dùng vũ lực chỉ là một trong các thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS)

(3) Dùng vũ lực được thể hiện là dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung

để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản

Vấn đề tiếp theo cần đặt ra là hiểu các khái niệm “hành hung để tẩu thoát” quy định các Điều 171, 172, 173 BLHS năm 2015 như thế nào? Nếu không thống nhất về vấn đề này thì chúng ta không có cơ sở để đánh giá việc áp dụng tình tiết này trên thực tiễn để chỉ ra các vướng mắc, bất cập qua đó hoàn thiện pháp luật hình sự

Dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” quy định tại quy định các Điều 171, 172,

173 BLHS năm 2015 có nội hàm như thế nào trên thực tế hiện nay lại dựa vào các văn bản hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi lẽ các hướng dẫn của các

cơ quan tiến hành tố tụng có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các cơ quan tiến hành

tố tụng, còn các tài liệu khác chỉ có giá trị tham khảo

Theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, TAND tối cao, VKSND tối cao về việc áp dụng các quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999 (viết tắt là: TTLT số 02/2001) đã hướng dẫn dấu hiệu “hành hung

để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu như sau:

Trang 13

“6 Khi áp dụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1 Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã nhằm tẩu thoát

6.2 Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là

"hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

Hướng dẫn trên về dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm

sở hữu tuy không đủ để giải quyết tất cả các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tình tiết này nhưng cũng là cơ sở để thống nhất cách hiểu về dấu hiệu này trong thực tiễn

niệm định tội danh Theo GS.TS Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là việc xác

định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành

vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với hành

vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực như sau:

Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi này với các dấu hiệu cấu thành tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định trong luật hình sự

1 Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9-10

Trang 14

Định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là một trường hợp định tội danh cụ thể, do đó nó

: + Thứ nhất, Định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là một quá trình lô gích nhất định, là hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của hành vi này với các dấu hiệu của các cấu thành tội phạm được quy định trong luật

+ Thứ hai, định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm

sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là việc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với hành vi này

Như vậy, định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực thực chất là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi xâm phạm sở hữu trong trường hợp này với các dấu hiệu cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS)

1.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực

Như trên đã phân tích, hành vi dùng vũ lực trong các tội xâm phạm sở hữu tùy từng trường hợp có thể định tội danh là Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc là dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS)

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trên thực tế cho thấy định tội danh đối với trường hợp dùng vũ lực CĐTS còn có những vướng mắc dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm sở hữu này Các vướng mắc trong trường hợp này được thể hiện trong nội dung các bản án sau:

2 Võ Khánh Vinh (2013), tlđd (1), tr.10

Trang 15

- Thứ nhất, vướng mắc trong xác định trường hợp “hành hung để tẩu thoát” trong một số tội XPSH với trường hợp chuyển hóa sang tội cướp tài sản

Vụ án thứ nhất: Bản án số 11/2018/HSST ngày: 19/4/2018 của TAND

Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 11 năm 2017, Nguyễn Sê C điều khiển xe mô tô biển số 65H7-6189 chở Định Đại L chạy từ xã L đi thị trấn R Đến đoạn đường gần nhà máy nước, thuộc k6, thị trấn R, huyện G, Sê C phát hiện chị

Đỗ Thanh N đang điều khiển xe mô tô, có để một chiếc điện thoại di động ở túi quần phía trước bên trái ló ra, nên Sê C nói với L “Có điện thoại kìa” L trả lời

“Làm” Sê C rủ L cướp giật điện thoại và L đồng ý), Sê C điều khiển xe chạy bám theo xe chị N, khi qua khỏi nhà lồng chợ G một đoạn, Sê C điều khiển cho xe chạy vượt lên và ép vào xe chị N, L ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy điện thoại của chị N rồi cả hai nhanh chống bỏ chạy, chị N đuổi theo và truy hô “Cướp” nên được nhiều người dân cùng tham gia truy đuổi, trong lúc bỏ chạy L lấy bình xịt hơi cay xịt về phía người dân truy đuổi để tẩu thoát Sê C chạy về hướng xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, chạy vào nhà ông Kim D để lẩn trốn thì bị lực lượng Công an huyện R bắt giữ về hành vi cướp giật tài sản

* Phần nhận định của Bản án

Hành vi phạm tội của các Bị cáo sử dụng xe mô tô là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác khi đang tham gia điều khiển phương tiện giao thông Đồng thời, khi các Bị cáo chiếm đoạt được tài sản nhưng bị phát hiện

và bị người dân bao vây bắt giữ, trong lúc bỏ chạy Bị cáo L dùng bình xịt hơi cay xịt về phía người dân truy đuổi nhằm tẩu thoát là “Hành hung để tẩu thoát”

3 Tòa án nhân dân huyện Giồng Giềng, tỉnh Kiên Giang (2018), Bản án số: 11/2018/HSST ngày 19/4/2018

của Tòa án nhân dân huyện Giồng Giềng, tỉnh Kiên Giang, nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn/

2ta126058t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày 15/4/2022)

Trang 16

Xử phạt Đinh Đại L 04 bốn) năm tù Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08/11/2017

- Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt Nguyễn Sê C 04 bốn) năm tù Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08/11/2017

* Nhận xét và vướng mắc đặt ra từ bản án

Trong vụ án này, tòa án lại xử lý các bị cáo về tội cướp giật tài sản với tình tiết “hành hung để tẩu thoát” do có hành vi dùng bình xịt hơi cay xịt về phía người dân truy đuổi Bản án có nêu việc dùng vũ lực trong trường hợp này nhằm tẩu thoát nên áp dụng tình tiết định khung hình phạt là “Hành hung để tẩu thoát” Vậy nếu các bị cáo vừa dùng vũ lực để giữ cho bằng được tài sản chiếm đoạt được và cũng vừa để tẩu thoát thì định tội danh trong vụ án này như thế nào: xử lý hình sự về tội cướp tài sản hay tội cướp giật tài sản với tình tiết “hành hung để tẩu thoát”

Vướng mắc được đặt ra từ vụ án này là phải làm rõ nội hàm dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” có bao gồm cả trường hợp dùng vũ lực vừa để giữ tài sản chiếm đoạt được và cũng vừa để tẩu thoát hay không, trường hợp nào thì chuyển hóa sang tội cướp tài sản?

Vụ án thứ hai: Bản án hình sự sơ thẩm số: 185/2022/HS-ST ngày 07/07/2022

Huỳnh Thế V là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và trong giai đoạn giãn cách xã hội do dịch bệnh Covid 19 vào thời điểm tháng 8/2021, V thiếu tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 28/8/2021, Huỳnh Thế V đi bộ từ nhà trọ địa chỉ Ô 3, DC01, khu phố 4, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đến địa chỉ Ô 11 Lô D, khu dân cư Hòa Lân 2, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì phát hiện cửa sổ tầng một của nhà bà Hồ Thị M không khóa nên nảy sinh ý định CĐTS Để thực hiện ý định, V đi

4 Tòa án nhân dân Thành phố Thuận Anh, tỉnh Bình Dương (2022), Bản án hình sự sơ thẩm số:

185/2022/HS-ST ngày 07/07/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Thuận Anh, tỉnh Bình Dương, nguồn:

https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta989531t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày: 19/8/2022)

Trang 17

bộ ra ngoài đường Thuận Giao 22 đến địa chỉ Lô A11, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương lén lút lấy 01 xe đạp màu xanh của bà Lê Thị Hồng T đang dựng trước nhà và V đi đến địa chỉ số 1/403, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương lén lút lấy 01 chiếc thang tre dài khoảng 4 mét của ông Nguyễn Công Đ đang dựng trước nhà rồi mang đến nhà bà M để tìm cách vào trong V đi vòng ra phía sau nhà bà M để chui vào cửa thông gió nhà vệ sinh nhưng không chui lọt, thấy có tiếng chó của nhà người dân xung quanh sủa nhiều, V sợ bị phát hiện nên chạy xe đạp về phòng trọ chờ đến rạng sáng quay lại tìm cách vào nhà bà M CĐTS Trên đường về phòng trọ, xe đạp bị thủng lốp, V bỏ xe lại bên đường rồi đi

bộ về phòng trọ tắm, thay đồ ngủ Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 29/8/2021, V đem theo sợi dây rút nhựa màu trắng đi bộ đến nhà bà M, tại địa chỉ Ô 11 Lô D, khu dân cư Hòa Lân 2, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận

An, tỉnh Bình Dương Khi đến nơi, V dựng thang tre đã chuẩn bị trước đó bên hông nhà, leo thang lên tầng một mở cửa chính vào bên trong Tại đây, V thấy bà

M đang nằm ngủ nên lén lút lấy 01 giỏ xách hiệu Elly màu đen bên trong có số tiền 25.000.000 đồng đang treo trên tường rồi đeo trên vai, lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu xanh dung lượng 128Gb, sim số 0825823844 gần nơi bà M đang ngủ và lấy 01 Laptop nhãn hiệu Asus màu trắng bạc, loại X515MA- BR109T đang để ở sàn nhà trong phòng bỏ vào trong ba lô Lúc này, bà

M thức giấc phát hiện V liền tri hô và đứng dậy bỏ chạy ra cửa sát với cầu thang

để mở thì V đuổi theo dùng tay kéo bà M lại, dùng tay bịt miệng, dùng tay tát vào mặt bà M, dùng tay cầm cục đá màu xanh đánh về phía người bà M trúng vào đầu gây thương tích chảy máu, V đè bà M nằm xuống dùng dây rút nhựa màu trắng trói tay bà M lại và nói “mày không được la, tao giết mày, tao lấy tiền thôi” bà M

sợ bị đánh nên im lặng và nói “Ừ, ừ”; Vũ tiếp tục lấy số tiền 47.500.000 đồng trong ví màu đen bỏ vào túi xách đang đeo trên vai Sau đó, V kéo bà M ra ban công tầng một đóng cửa lại để bà M đứng tại đây và leo thang xuống phía dưới đường bỏ chạy thoát Bà M bỏ chạy vào trong phòng, truy hô nên ông Hồ Lẫy N

và bà Hà Mỹ L ngủ phòng cạnh bên nghe thấy liền chạy qua nhìn thấy bà M bị thương nên ông N đưa bà M đến bệnh viện điều trị thương tích và trình báo lực lượng Công an phường Thuận Giao vụ việc trên

Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, V đem 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đen và 01 Laptop nhãn hiệu Asus, màu trắng bạc đi đến tiệm

Trang 18

cầm đồ Bảo Tín bán cho ông Trần Danh B với giá 3.000.000 đồng V dùng tiền đã chiếm đoạt được mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 với giá 5.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Pro Max với giá 20.000.000 đồng và chuộc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số: 61K1- 088.70 mà V đã cầm cố trước đó với số tiền 22.500.000 đồng, V nhờ ông B chuyển 4.500.000 đồng từ tài khoản ông B vào tài khoản của V Đến khoảng 22 giờ 45 phút ngày 30/8/2021, lực lượng Công an phường An Phú kiểm tra hành chính phòng trọ số 6, địa chỉ Ô 3, DC01, khu phố 4, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương phát hiện

V và bà Dương Thị Thu N có biểu hiện đã sử dụng ma túy, tại phòng trọ phát hiện

01 điện thoại di động có gắn sim số 0825823844 mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công thành phố Thuận An đã thông báo truy tìm vật chứng nên mời V về trụ sở làm việc và Vũ đã khai nhận hành vi phạm tội

* Phần Quyết định của Tòa án:

1 Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thế V phạm tội “Cướp tài sản”

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế V 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2021

* Nhận xét và đánh giá về bản án

Trong vụ án này, bị cáo Huỳnh Thế V lúc đầu chỉ có ý định trộm cắp tài sản của bà M, tuy nhiên trong quá trình trộm cắp tài sản thì bà M thức giấc và phát hiện Khi đó, V dùng vũ lực đối với bà M để CĐTS và bị Tòa án xử lý hình sự về Tội cướp tài sản

Từ vụ án thứ nhất và thứ hai cho thấy, cả hai vụ án đều có dùng vũ lực khi CĐTS, tuy nhiên vụ thứ nhất thì người phạm tội bị xử lý về tội cướp giật tài sản với tình tiết “hành hung để tẩu thoát”; còn ở vụ án thứ hai, người phạm tội bị xử lý về tội bị xử lý về tội cướp tài sản Như vậy, vướng mắc được đặt ra là cần phải làm rõ

là trong trường hợp CĐTS có dùng vũ lực nào thì trường hợp nào định tội trộm cắp tài sản với dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” và trường hợp nào thì xử lý chuyển hóa để định tội cướp tài sản?

- Thứ hai, vướng mắc trong trường dùng vũ lực trong CĐTS nếu gây thương tích cho người khác

Trang 19

Vụ án thứ ba: Bản án hình sự số: 65/2022/HS-PT ngày 18/7/20225 của TAND TP Đà Nẵng có nội dung như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/5/2021, Đặng Quốc H1, Huỳnh Văn D, Vũ Đình D1, Trương Gia H2, Trần Quốc K1, Lê Trung H3, Phạm Văn Hx, đang ngồi uống cà phê tại quán của vợ chồng anh Lê Đình T2 và chị Nguyễn Thị Hồng T3 ở

bờ kè nằm giữa cầu cảng số 2 và cầu cảng số 3 trong Âu thuyền - Cảng cá TQ, để chờ thu mua cá bò cho anh Nguyễn Văn H Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/5/2021, khi thấy có tàu thuyền vào neo đậu tại bờ kè thì Trần Quốc K1, Trương Gia H2 và Vũ Đình D1 xuống tàu tìm mua cá bò và thấy có cá bò nên Vũ Đình D1 quay lại quán cà phê gặp Huỳnh Văn D lấy số tiền 500.000 đồng để đi thu mua cá Khi quay lại nơi mua cá, H2, K1, D1 mua được 05 kg cá bò gai, được đựng trong

05 bao ny lông màu trắng với số tiền 100.000 đồng của chị Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1967; Trú tại: Thôn TT, xã TT1, thành phố TK, tỉnh Quảng Nam) - là chủ tàu cá số hiệu 30xxx Sau khi mua được cá bò thì cả ba để vào trong 01 ky nhựa, màu vàng

và Trần Quốc K1 đưa ky cá này về chỗ bàn cả nhóm đang ngồi uống nước và đặt bên cạnh chân trái của anh D

Lúc này, nhóm của Trần Đăng T gồm: Trần Đăng T ngồi chung bàn với Cao Văn K, còn Nguyễn Anh T1 ngồi chung bàn với Nguyễn Minh P và Thạch M tại quán nước của anh Lê Đình T2 và đang chờ thu mua cá bò cho anh Nguyễn Anh Tú (sinh năm 1982; Trú tại: Số 1xx, đườngọiK, phường TT, quận TK, thành phố Đà Nẵng) Và Trần Đăng T thấy K1, H2 và D1 mang ky cá bò lên để chỗ bàn đang ngồi uống nước thì Trần Đăng T nói với cả nhóm biết là: “Cá bò kìa, lên lấy lại!”, sau khi nói xong Trần Đăng T đứng dậy đi đến chỗ bàn của các anh D, H2, D1, K1, H1, H3 đang ngồi, đồng thời ngay lúc này, K, M, P, Nguyễn Anh T1 nghe Trần Đăng T nói vậy cũng đứng dậy và K, M, P cùng đi theo Trần Đăng T qua bàn của nhóm anh D Tại đây, Trần Đăng T đứng sau lưng nơi Đặng Quốc H1 đang ngồi và nói với nhóm anh D là: “Đ.M, Ai bán cá cho tụi bay Ai cho phép tụi bay xuống đây mua cá?” “Ta tha cho tụi bay mấy lần rồi, Đ.M, ngày mai ta mà nhìn thấy tụi bay lãng vãng ở bến thì ta giết tụi bay”, “Đ.M, tụi bay nhỏ đừng để mang đầu máu về” Sau đó, Trần Đăng T đi vòng đến chỗ đang để ky cá bò, đồng thời cúi xuống để lấy ky cá bò lên thì Huỳnh Văn D dùng tay giữ lại thì bị Trần

5 Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng (2022), Bản án hình sự số: 65/2022/HS-PT ngày 18/7/2022 của Tòa án

nhân dân TP Đà Nẵng, nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta980598t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập

ngày: 17/8/2022)

Trang 20

Đăng T dùng ngón tay búng 01 cái vào tai của D nên anh D không dám phản kháng lại và thả ky cá ra D, H3, H1 cùng những người trong bàn nghe Trần Đăng T đe dọa và búng tai anh D như vậy nên hoảng sợ, ngồi im không dám phản ứng gì Trần Đăng T liền cầm ky cá lên và nói “Tụi bay nhỏ, về nhà ăn ngủ đi, xuống đây giành cá với anh làm cái chi” Rồi Trần Đăng T đưa ky cá bò cho Cao Văn K mang về bàn cà phê nơi Trần Đăng T và K đã ngồi trước đó Thấy K đã mang ky cá về nên Nguyễn Minh P, Thạch M cũng quay về bàn cà phê của mình ngồi trước đó để tiếp tục uống nước Sau đó, Trần Đăng T cũng quay trở về bàn

cà phê của mình để ngồi, đồng thời quay người qua bàn nơi có Nguyễn Anh T1 đang ngồi nói: “Quậy (tức Nguyễn Anh T1) xuống trả tiền cho tàu đi” Sau khi nói xong, Trần Đăng T nhìn xuống khu vực bờ kè thì thấy Nguyễn Anh T1 đang đứng nói chuyện với chị Nguyễn Thị Thu Hx (sinh năm 1978; Trú tại: Tổ xx, phường

TQ, quận ST, thành phố Đà Nẵng) - là đầu nậu mua bán cá Tại đây, Nguyễn Anh T1 hỏi chị Hx vì sao bán cá bò cho nhóm thanh niên kia Chị Hx trả lời là không bán cá cho tụi nó, mà tụi nó mua trực tiếp từ chủ tàu cá, cá ít nên không mua và chỉ người đã bán cá bò cho Nguyễn Anh T1 biết Cùng lúc này, Trần Đăng T đi tới chỗ Nguyễn Anh T1 hỏi mấy thanh niên kia mua cá ở đâu, thì Nguyễn Anh T1 trả lời: “Mấy thanh niên trên mua cá trực tiếp từ chủ tàu, chứ không mua cá bò từ chị Hoa” Đồng thời, Nguyễn Anh T1 đến gặp chị Nguyễn Thị Đ - người đã bán cá bò

và hỏi: “Cá bò mà mấy đưa nhỏ kia cân hết bao nhiêu tiền”, chị Đ trả lời: “Bán

05 kg với giá 100.000 đồng” Nghe vậy, Nguyễn Anh T1 lấy ra tờ tiền 100.000 đồng đưa cho chị Đ và chị Đ đưa lại cho Nguyễn Anh T1 02 tờ tiền loại có mệnh giá 50.000 đồng Trong lúc này, Trần Đăng T cũng đứng bên cạnh phía sau Nguyễn Anh T1 dùng tay vỗ vào vai của Nguyễn Anh T1 và nói Nguyễn Anh T1 đưa lại tiền cho Trần Đăng T để mang lên trả cho nhóm của anh D Trần Đăng T mang tiền đến chỗ bàn uống nước của nhóm của anh D để trả lại thì không có ai lấy nên Trần Đăng T để lại số tiền 100.000 đồng này trên mặt bàn nước nơi của nhóm anh Huỳnh Văn D đang ngồi và đi về lại bàn của mình đã ngồi trước đó Lúc này, cả nhóm gồm anh D đứng dậy đi ra ngoài Âu thuyền - Cảng cá TQ, riêng

Vũ Đình D1 cũng đứng dậy và cầm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đến hỏi Huỳnh Văn D: “Giờ tiền này sao”; D nói là: “Cá bò đã mua rồi, lấy tiền làm chi” nên D1 để lại 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng này trên bàn Khi ra bên ngoài cảng cá, Đặng Quốc H1 gọi điện thoại thông báo cho anh Nguyễn Văn H biết sự việc Khoảng 05 phút sau, Nguyễn Văn H đi một mình bằng xe môtô Honda

Trang 21

AirBlade đến gặp anh D và hỏi: “Có cân ký, trả tiền mua chưa”, anh D trả lời:

“Cân rồi, trả tiền và bỏ vào ky đem tới chỗ bọn em ngồi luôn rồi, rứa mà anh T

“móm” kêu người bao quanh tụi em lại, giật lấy lại ky cá bò đó rồi!” Nghe vậy, anh Nguyễn Văn H nói để anh H vào lấy lại cá, anh D thấy anh H đi một mình nên

đi theo cùng anh H quay lại bàn của nhóm Trần Đăng T để lấy cá Cùng lúc này, Trần Đăng T cũng đi bộ từ bên nhà lồng khu chợ hải sản quay về Khi đến nơi, anh Nguyễn Văn H nói với anh D: “Cá này, cân trả tiền rồi, bưng về đi em!” Anh Nguyễn Văn H nói xong thì lấy 03 bao cá bò cầm trên tay thì liền bị Trần Đăng T giật lại 03 bao cá, nói “Cá ni anh em ta cân lâu rồi, ai cho mi cân” và Trần Đăng

T dùng tay trái đẩy người anh Nguyễn Văn H ra Lúc này, Cao Văn K cũng đứng dậy nói: “Mi thích thì đi ra ngoài bến đánh nhau luôn mi” và giữa K, H nói qua lại với nhau thì Nguyễn Văn H dùng tay đánh 01 cái trúng vào vùng má bên phải của K, K dùng tay bóp cổ H, H liền dùng cái ghế nhựa màu đỏ, loại nhỏ có tựa lưng đánh K thì K đưa tay đỡ và chụp được cái ghế nhựa này Sau đó, K dùng cái ghế nhựa đã chụp được đánh H khoảng từ 02 đến 03 cái vào vùng đầu của H và chiếc ghế bị bể văng ra ngoài K tiếp tục lấy 01 ky nhựa có dạng hình hộp chữ nhật, màu vàng, kích thước khoảng 70x40x15 cm đánh vào người của H, nhưng trúng vào đâu thì K không xác định được và H bỏ chạy theo hướng cầu cảng số 2 đến khu vực nhà lồng thì K đuổi theo H một đoạn rồi quay ra lấy xe về nhà

Trong lúc thấy Cao Văn K cầm ghế nhựa đánh anh Nguyễn Văn H thì anh D vào can ngăn thì bị 01 người (không xác định) đánh váo phía sau làm anh D ngã xuống đất và bất tỉnh Sau đó, Thạch M và Nguyễn Minh P đi đến nhặt cá bò bị rơi vãi trong lúc giằng co, bỏ vào lại ky nhựa, màu vàng, rồi ra lấy xe để đi về Khi ra khỏi cổng cảng cá thì Nguyễn Anh T1 thấy Thạch M chở Nguyễn Minh P bằng xe

mô tô, trên tay P có giữ 01 ky cá bò đã lấy trước đó của nhóm anh D nên cả ba cùng nhau đi về nhà của mình Trần Đăng T cũng lấy xe đi về nhà Sau đó, anh D được Vũ Đình D1 đưa đi Trung tâm Y tế quận ST cấp cứu, rồi được chuyển đến Bệnh viện Đà Nẵng điều trị; còn Nguyễn Văn H cũng đến Trung tâm Y tế quận ST

sơ cứu vết thương, rồi đến Bệnh viện Đà Nẵng nhập viện điều trị

Khi Nguyễn Anh T1, Thạch M, Nguyễn Minh P đi về đến nhà (nhà của ba người này liền kề với nhau), Nguyễn Minh P đặt ky cá bò xuống chỗ ghế đá trước nhà Thạch M và đi về nhà ngủ, còn Thạch M gom cá bò bỏ vào trong 01 cái bao

ni lông lớn đem vào nhà để bỏ vào tủ lạnh, nhưng do tủ lạnh nhà mình hết chỗ nên

Trang 22

M mang qua bỏ vào tủ lạnh của Nguyễn Anh T1 Đến khoảng 09 giờ ngày 22/5/2021, Thạch M gặp Nguyễn Anh T1 trước nhà của mình và nói cho T biết là

số cá bò lúc tối đã được M cất trong tủ lạnh của T Nguyễn Anh T1 “Uh” và không nói gì

* Phần nhận định của Tòa án

Hành vi trên của các bị cáo Trần Đăng T, Cao Văn K, Nguyễn Anh T1, Thạch

M và Nguyễn Minh P là thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự, như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là

có căn cứ, đúng pháp luật Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng tiếp nhận ý chí của nhau, sử dụng số lượng đông người với thái độ hung hãn để đe dọa bị hại là anh D và những người bạn của anh D để chiếm đoạt bằng được số lượng các

bò mà nhóm của anh D đã mua được từ chủ tàu cá Hành vi Cướp tài sản của các bị cáo đã hoàn thành từ khi các bị cáo lấy được ky đựng cá bò mang về bàn của mình

Sau khi hành vi Cướp số cá bò hoàn thành, anh Nguyễn Văn H là người nhờ nhóm của anh D đi thu mua cá đến, biết được sự việc anh H đến đòi lại số cá bò từ nhóm Trần Đăng T và Cao Văn K thì lúc này giữa Cao Văn K và anh Nguyễn Văn

H xảy ra xô xát Cao Văn K đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gồm 01 cái ghế nhựa màu đỏ, loại nhỏ có tựa lưng và 01 ky nhựa có dạng hình hộp chữ nhật, màu vàng, kích thước khoảng 70x40x15cm đánh nhiều cái vào vùng đầu và người của anh H, gây thương tích cho anh H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%, anh H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án nên hành vi này của bị cáo Cao Văn K là có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo K là đúng

* Phần Quyết định của Tòa án

1.1 Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST ngày 21/4/2022 của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với

bị cáo Cao Văn K do người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án Đình chỉ vụ

án “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Cao Văn K

Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự Xử phạt: Trần Đăng T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 26/5/2021

Trang 23

Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự Xử phạt: Cao Văn K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 29/6/2021

Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự Xử phạt: Nguyễn Anh T1 09 (Chín) tháng 05 (Năm) ngày

tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 26/5/2021

Bị cáo Nguyễn Anh T1 bị tạm giam từ ngày 26/5/2021 đến ngày 03/3/2022 (09 tháng 05 ngày), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù

* Nhận xét, đánh giá về vụ án:

Trong vụ án này, bị cáo Cao Văn K có hành vi dùng vũ lực đánh anh D và những người bạn của anh D để chiếm đoạt bằng được số lượng cá bò mà nhóm của anh D đã mua được từ chủ tàu cá thì hành vi này đã đủ dấu hiệu tội cướp tài sản Tuy nhiên, Tòa án lập luận rằng khi anh H đến đòi lại số cá bò từ nhóm Trần Đăng

T và Cao Văn K thì Cao Văn K đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm đánh nhiều cái vào vùng đầu và người của anh H, gây thương tích cho anh H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%, anh H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án nên hành vi này của bị cáo Cao Văn K là có đủ các dấu hiệu cấu thành tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự

Vướng mắc đặt ra từ vụ án này là trong trường hợp gây thương tích cho anh

H trong vụ án này thì bị cáo Cao Văn K chỉ bị xử lý về Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) hay xử lý thêm về Tội cố ý gây thương tích?

Vụ án thứ tư: Bản án hình sự số: 490/2022/HS-PT ngày 25 tháng 7 năm

2022 của TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh có nội dung như sau:

Bị cáo Trần Vĩnh Kh sống chung như vợ chồng với Phạm Minh Th tại nhà thuê thuộc xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang Kh có mối quan hệ bạn bè với bị cáo Nguyễn Văn Hải Đ Vào ngày 08/6/2021, Kh điện thoại rủ Đ tìm các sòng bạc tham gia, Đ đồng ý và hẹn ngày hôm sau gặp tại thành phố V2, tỉnh Hậu Giang Đến trưa ngày 09/6/2021, Đ từ nhà thuê tại thành phố Cần Thơ đến cửa hàng cho thuê xe H, địa chỉ: đường X, khu dân cư C, phường A1, quận N, thành phố Cần Thơ do Trần Phạm Phúc H, làm chủ thuê xe mô tô nhãn hiệu Satria, biển kiểm soát 65B2-115.48

Đ chở bạn gái là bị cáo Trần Thị Huỳnh Nh đến quán nước giải khát thuộc địa phận thành phố V2, tỉnh Hậu Giang gặp Kh và Th

Trang 24

Sau khi uống nước được một lúc, Th điều khiển xe về nhà trọ, Nh ở lại tại quán, Đ điều khiển xe chở Kh đi theo sự chỉ dẫn của Kh tìm các điểm đánh bài, đá

gà để tham gia nhưng không gặp Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, cả 02 đến chợ K, thuộc ấp 6, xã V3, huyện L, tỉnh Hậu Giang Đ chở Kh qua chợ di chuyển theo lộ nông thôn cặp K một đoạn đến chỗ vắng người thì Kh kêu dừng lại Một lúc sau, Kh thấy bà Nguyễn Thị T, ĐKTT: ấp 6, xã V3, huyện L, tỉnh Hậu Giang làm nghề buôn bán nhỏ tại chợ K điều khiển xe máy trên đường về nhà phía bên lộ đối diện K Do

Kh từng sinh sống tại khu vực này nên biết trên người bà T có tài sản Kh đang cần tiền tiêu xài nên hỏi Đ: “làm không”, Đ hiểu ý của Kh nên đồng ý Sau đó, trên đường về cả hai bàn bạc, Kh kêu Đ đổi xe khác để qua ngày sau gây án, Đ chỉ việc điều khiển xe, còn Kh sẽ trực tiếp thực hiện

Khoảng 14 giờ ngày 10/6/2021, Đ tiếp tục đến cửa hàng H thuê xe mô tô nhãn hiệu Vario màu đỏ - đen, biển kiểm soát 95H1-533.98 chở Nh đến khu vực gần Trại giam K, thuộc xã H, thành phố V2, tỉnh Hậu Giang gặp Kh Lúc này, Kh và Th cũng đã đến Kh chuẩn bị sẵn cây cần câu bằng nhựa cứng, màu đen, đường kính khoảng bằng ngón tay cái, khi thu gọn dài khoảng 50cm lên xe để Đ chở đi vào khu vực chợ K Th và Nh thì điều khiển xe đi xung quanh các tuyến đường lân cận chơi

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Kh và Đ đến địa điểm đã phát hiện bà T vào ngày 09/6/2021 thì dừng lại đợi Khoảng 15 phút sau, cả hai phát hiện bà T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 95H2-9803 phía lộ đối diện K, cùng chiều di chuyển với Đ và Kh, trên xe có túi xách để phía trước Đ điều khiển xe chở

Kh đuổi theo bà T, bỗng nhiên bà T dừng lại để xử lý việc riêng nên Đ điều khiển xe

đi đến gần cầu bắc qua K thì dừng lại đợi Khi bà T điều khiển xe đến, Đ chở Kh qua cầu sang K rẽ trái chạy theo sau 01 đoạn rồi vượt lên phía bên trái của bà T, Kh ngồi sau dùng tay phải cầm cây cần câu sau khi được thu gọn lại đánh 01 cái từ sau ra trước trúng vào sau cổ làm bà T và xe té ngã về bên trái nằm bất tỉnh Kh và Đ xuống

xe lấy tài sản của bà T gồm: 01 lắc đeo tay bằng vàng 18K, trọng lượng 03 lượng; 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,6 lượng và 01 túi xách vải bên trong có các tài sản gồm: 01 đôi bông tai vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ; 03 đôi bông tai vàng 18K, mỗi đôi trọng lượng 0,5 chỉ; 01 nhẫn trơn vàng 18K, trọng lượng 0,5 chỉ; tiền Việt Nam 63.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 116/21/TgT ngày 08/7/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe của Nguyễn Thị T là 03%

Trang 25

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS tỉnh Hậu Giang kết luận: Tổng giá trị của các tài sản gồm: 01 lắc đeo tay vàng 18K, trọng lượng 03 lượng; 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,6 lượng; 01 đôi bông tai vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ; 03 đôi bông tai vàng 18K, mỗi đôi trọng lượng 0,5 chỉ; 01 nhẫn trơn vàng 18K, trọng lượng 0,5 chỉ và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 của Nguyễn Thị T tại thời điểm xảy ra vụ án là 156.477.652 đồng

* Phần Quyết định của Tòa án:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Vĩnh Kh, Nguyễn Văn Hải Đ phạm tội “Cướp tài sản” Bị cáo Phạm Minh Th phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

Từ thực tiễn định tội danh trong trường hợp dùng vũ lực chiếm đoạt tài san gây thương tích cho nạn nhân của Tội cướp tài sản cho thấy các bản án định tội danh khác nhau: bản án thứ ba xử lý người phạm tội về hai tội: cướp tài sản và tội

cố ý gây thương tích; bản án thư tư chỉ xử lý người phạm tội về tội cướp tài sản Thực tiễn này đã chỉ ra vướng mắc cần phải giải quyết là định tội danh trong trường

Trang 26

hợp dùng vũ lực khi CĐTS thì trường hợp nào xử lý về một tội (chẳng hạn: Tội cướp tài sản) và trường hợp nào thì xử lý về nhiều tội (chẳng hạn: Tội cướp tài sản

và Tội cố ý gây thương tích)?

1.3 Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực

Tại Mục 1.2 đã chỉ ra các vướng mắc trong việc định tội danh đúng đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực gồm:

- Thứ nhất, trong trường hợp CĐTS có dùng vũ lực nào thì trường hợp nào định tội trộm cắp tài sản với dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” và trường hợp nào thì xử lý chuyển hóa để định tội cướp tài sản?

- Thứ hai, định tội danh trong trường hợp dùng vũ lực khi CĐTS thì trường hợp nào xử lý về một tội (chẳng hạn: Tội cướp tài sản) và trường hợp nào thì xử lý

về nhiều tội (chẳng hạn: Tội cướp tài sản và Tội cố ý gây thương tích)?

* Đối với vướng mắc thứ nhất, nguyên nhân của vướng mắc nêu trên xuất phát từ các lý do sau:

(1) Hiện nay, theo Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 25/12/2001 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - TAND Tối cao - VKSND Tối cao về việc áp dụng các quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm

02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999 (viết tắt là: TTLT số 02/2001) đã hướng dẫn dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu như sau:

“6 Khi áp dụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1 Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã nhằm tẩu thoát

6.2 Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc

Trang 27

người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là

"hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

Thông tư liên tịch số 02/2001 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn nên

đã hướng dẫn bằng cách liệt kê ra các trường hợp cụ thể của tình tiết “hành hung để tẩu thoát” và của trường hợp chuyển hóa từ “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu sang tội cướp tài sản Chính sự liệt kê đó làm giới hạn phạm vi của tình tiết rất khái quát là “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu và cũng giới hạn của cả trường hợp cướp tài sản là dùng vũ lực (hành hung) nhằm (để) CĐTS Hay nói cách khác, đây là trường hợp mà hình thức (các trường hợp cụ thể của tình tiết “hành hung để tẩu thoát”, trường hợp cụ thể chuyển hóa sang cướp tài sản”) không phản ánh được hết nội hàm của tình tiết “hành hung để tẩu thoát” và dấu hiệu “dùng vũ lực nhằm CĐTS” của tội cướp tài sản Do đó, trong thực tiễn khi gặp trường hợp phạm tội cụ thể mà không rơi vào các trường hợp Thông tư liên tịch số 02/2001 đã liệt kê làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng khi xác định trường hợp cụ thể này là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” hay chuyển hóa sang tội cướp tài sản

(2) Về mặt lý luận, tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm

sở hữu và việc chuyển hóa tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu luôn được gắn liền với quá trình CĐTS từ lúc hành vi chiếm đoạt bắt đầu đến lúc kết thúc Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 02/2001 đã liệt kê theo hướng từng tội gốc hoàn thành (cướp giật tài sản, công nhiên CĐTS, trộm cắp tài sản) rồi mới cấu thành tội cướp tài

sản thì mới coi là chuyển hóa sang cướp tài sản: “Nếu người phạm tội đã chiếm đoạt

được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực … có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

Trên cơ sở đó tác giả kiến nghị TAND Tối cao ra nghị quyết hướng dẫn mới

về tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu thay thế nội dung hướng dẫn tình tiết này tại Thông tư liên tịch số 02/2001 để làm rõ hơn nội hàm của tình tiết này và phân biệt tình tiết này với trường hợp chuyển hóa sang tội cướp tài sản theo các hướng sau:

- Thứ nhất, tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu

và trường hợp chuyển hóa sang tội cướp tài sản khác nhau ở dấu hiệu mục đích: nếu hành hung “để tẩu thoát” thì đây là trường hợp “hành hung để tẩu thoát”, còn nếu hành hung “để CĐTS” thì đây là trường hợp cướp tài sản mà không phụ thuộc vào

Trang 28

điều kiện “nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại” có hay không như

hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001 Trong trường hợp người phạm tội hành hung “để tẩu thoát” và cũng “để CĐTS” thì đây là trường hợp cướp tài sản

Cơ sở để hướng dẫn nêu trên là quy định của BLHS năm 2015 về dấu hiệu

“hành hung để tẩu thoát” trong các tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS), công nhiên CĐTS (Điều 172 BLHS), trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) và dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) Trong quy định của BLHS năm 2015, dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” chỉ bao gồm dấu hiệu “hành hung” kết hợp với dấu hiệu “để tẩu thoát” mà không bao gồm các điều kiện nào khác; còn để cấu thành tội cướp tài sản thì theo Điều 168 BLHS năm 2015 thì chỉ cần dấu hiệu “dùng vũ

gồm các điều kiện nào khác

- Thứ hai, trong trường hợp hành hung để CĐTS, có nghĩa là chuyển hóa sang tội cướp tài sản thì dấu hiệu “hành hung” phải có mức độ có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của bị hại hoặc người khác tham gia đuổi bắt người phạm tội

Cơ sở để hướng dẫn này là xuất phát từ đặc điểm của hành vi dùng vũ lực

trong tội cướp tài sản: “Hành vi dùng vũ lực trong tội cướp tài sản phải ở mức độ

có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự, nghĩa là có khả năng làm cho sự chống cự về mặt thực tế không xảy ra được hoặc xảy ra nhưng không có kết quả

thực tế, trong vụ án thứ hai có tình tiết “Danh H giật mạnh sợi dây chuyền và xô bà

Th ngã xuống nền xi măng” thì tình tiết “xô ngã” ở vụ án này chưa phải là tình tiết

dùng vũ lực trong tội cướp tài sản do không “ở mức độ có khả năng đè bẹp hoặc

làm tê liệt sự chống cự” của bị hại

- Thứ ba, tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu hay “hành hung” chuyển hóa sang tội cướp tài sản phải trong phạm vi thời gian hành vi chiếm đoạt đã bắt đầu và chưa kết thúc Hành vi chiếm đoạt chưa kết thúc ở đây được hiểu là người phạm tội chưa có khả năng thực tế thực hiện đầy đủ các

6 Khoản 1 Điều 168 BLHS năm 2015 quy định về dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản như sau: “1 Người

nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”

7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hình sự - Phần các tội phạm, Quyển 1, NXB Công an

nhân dân, tr 188

Trang 29

quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản về mặt thực tế Việc hành hung sau khi hành vi chiếm đoạt đã kết thúc thì không coi là “hành hung để tẩu thoát” hay chuyển hóa sang tội cướp tài sản

Cơ sở để hướng dẫn này là về mặt lý luận tình tiết “hành hung để tẩu thoát” chỉ có thể là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của các tội cướp giật tài sản, công nhiên CĐTS, trộm cắp tài sản phải gắn liền với quá trình thực hiện việc CĐTS, có nghĩa là trước khi việc chiếm đoạt kết thúc Còn đối với trường hợp hành hung và chuyển hóa sang tội cướp tài sản về bản chất là sự thay đổi của hình thức chiếm đoạt sản trong quá trình CĐTS, trong đó hình thức chiếm đoạt là cướp tài sản thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi hơn so với các hình thức CĐTS khác như cướp giật tài sản, công nhiên CĐTS, trộm cắp tài sản Việc chuyển hóa này chỉ có thể xảy ra trong quá trình CĐTS, có nghĩa là hành vi chiếm đoạt đã bắt đầu và chưa kết thúc (người phạm tội chưa có khả năng thực tế thực hiện đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản về mặt thực tế)

Trên cơ sở các phân tích nêu trên, Luận văn kiến nghị kiến nghị TAND Tối cao ra nghị quyết hướng dẫn mới về tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu thay thế nội dung hướng dẫn tình tiết này tại Thông tư liên tịch số 02/2001 để làm rõ hơn nội hàm của tình tiết này và phân biệt tình tiết này với trường hợp chuyển hóa sang tội cướp tài sản cụ thể như sau:

Thông tư liên tịch số 02/2001 Kiến nghị ban hành trong Nghị quyết

mới hướng dẫn BLHS hiện hành

“6 Khi áp dụng tình tiết "hành hung để

tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 136;

điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản

2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1 Phạm tội thuộc trường hợp "hành

hung để tẩu thoát" là trường hợp mà

người phạm tội chưa chiếm đoạt được

tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản,

nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị

bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi

chống trả lại người bắt giữ hoặc người

Khi áp dụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS; điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS) cần chú ý:

- Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung

để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng

bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người

Trang 30

bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô

ngã nhằm tẩu thoát

6.2 Nếu người phạm tội chưa chiếm

đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt

được tài sản, nhưng đã bị người bị hại

hoặc người khác giành lại, mà người

phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa

dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công

người bị hại hoặc người khác nhằm

chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường

hợp này không phải là "hành hung để tẩu

thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu

thành tội cướp tài sản.”

bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã nhằm tẩu thoát

- Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt

được tài sản hoặc đang giành giật tài

sản với bị hại hoặc đã chiếm đoạt được

tài sản, mà người phạm tội tiếp tục dùng

vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản

Việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc trong trường hợp này phải ở mức độ có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của bị hại hoặc người khác tham gia bắt giữ người phạm tội

Trong trường hợp người phạm tội dùng

vũ lực vừa để tẩu thoát và cũng vừa để chiếm đoạt cho được tài sản thì đây có dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản Tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS; điểm đ khoản

2 Điều 173 BLHS) hay trong trường hợp cấu thành tội cướp tài sản nêu trên phải trong phạm vi thời gian hành vi chiếm đoạt đã bắt đầu và chưa kết thúc Hành

vi chiếm đoạt chưa kết thúc ở đây được hiểu là người phạm tội chưa có khả năng thực tế thực hiện đầy đủ các quyền

Trang 31

chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản về mặt thực tế Việc dùng vũ lực sau khi hành vi chiếm đoạt đã kết thúc thì không coi là “hành hung để tẩu thoát” hay cấu thành tội cướp tài sản

* Đối với vướng mắc thứ hai (định tội danh trong trường hợp dùng vũ lực khi

CĐTS thì trường hợp nào xử lý về một và trường hợp nào thì xử lý về nhiều tội), theo chúng tôi, nguyên nhân xuất phát từ các lý do sau:

(1) Do tính đa dạng của về khách thể trong cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu: có tội chỉ có một khách thể trực tiếp là quyền sở hữu của người khác (như tội trộm cắp tài sản, lừa đảo CĐTS …); có tội có nhiều khách thể trực tiếp (như tội cướp tài sản có hai khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân) … dẫn đến sự phức tạp khi định tội danh trong trường hợp CĐTS có dùng vũ lực

(2) TAND tối cao chưa có văn bản hướng dẫn về định tội danh trong trường hợp này đối với từng tội cụ thể

Trên cơ sở đó tác giả kiến nghị TAND Tối cao ra nghị quyết hướng dẫn về định tội danh trong trường hợp dùng vũ lực khi CĐTS theo hướng sau:

- Thứ nhất, trong trường hợp phạm tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực khi CĐTS mà gây thương tích (khi có đủ dấu hiệu của Tội cố ý gây thương tích) thì xử

lý như sau:

(i) Không xử lý hình sự thêm về Tội cố ý gây thương tích khi người phạm tội dùng vũ lực gây thương tích cho nạn nhân đối với các tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc Tội cướp giật tài sản trong trường hợp dùng vũ lực hành hung để tẩu thoát (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS)

(ii) Đối với các tội còn lại khi dùng vũ lực khi có đủ dấu hiệu của Tội cố ý gây thương tích thì xử lý thêm tội này (có nghĩa là xử lý hình sự về hai tội: tội xâm phạm sở hữu và tội cố ý gây thương tích)

Cơ sở để hướng dẫn nêu trên xuất phát từ đặc điểm cấu thành tội phạm của các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm CĐTS đều có hai khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, do đó, tội cố ý gây thương tích nằm trong nội hàm

Trang 32

của CTTP của các tội này; tội cướp giật tài sản có khách thể bổ sung là sức khỏe người khác, do đó cũng không xử lý hình sự thêm về tội cố ý gây thương tích; còn các tội phạm CĐTS khác (Tội trộm cắp tài sản …) không có khách thể là sức khỏe của người khác nên phải xử lý về nhiều tội

- Thứ hai, trong trường hợp phạm tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực khi CĐTS mà hoặc cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân thì xử lý về tội xâm phạm sở hữu và tội giết người (Điều 123 BLHS)

Cơ sở để hướng dẫn này xuất phát từ đặc điểm cấu thành tội phạm của các tội CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu thì không có tội nào có khách thể trực tiếp (hoặc bổ sung) là tính mạng của con người Do đó, khi có hành vi xâm phạm tính mạng con người thì các tội này đều không bao hàm khách thể là tính mạng người khác nên phải xử về nhiều tội: tội xâm phạm sở hữu và tội giết người (Điều

123 BLHS)

- Thứ ba, khi hành vi phạm tội chiếm đoạt đã kết thúc, có nghĩa là việc CĐTS đã kết thúc thì việc dùng vũ lực sẽ cấu thành tội độc lập (nếu có đủ dấu hiệu của tội này)

Cơ sở để hướng dẫn này xuất phát từ đặc điểm khi việc CĐTS đã kết thúc thì tội phạm gốc đã kết thúc và do đó việc dùng vũ lực không có liên hệ gì với hành vi CĐTS trước đó và do đó nó sẽ cấu thành tội độc lập Hay nói cách khác, người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội độc lập với nhau và cấu thành nhiều tội (phạm nhiều tội thực tế)

Trang 33

Kết luận Chương 1

Kết quả nghiên cứu Chương 1 của Luận văn được thể hiện qua các nội dung sau:

1 Trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì dấu hiệu “dùng vũ lực” được quy định là dấu hiệu định tội của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), là một trong các thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc được thể hiện là dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS)

2 Chương 1 của Luận ăn tại Mục 1.2 đã chỉ ra các vướng mắc trong việc định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực gồm:

- Thứ nhất, trong trường hợp CĐTS có dùng vũ lực nào thì trường hợp nào định tội trộm cắp tài sản với dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” và trường hợp nào thì xử lý chuyển hóa để định tội cướp tài sản?

- Thứ hai, định tội danh trong trường hợp dùng vũ lực khi CĐTS thì trường hợp nào xử lý về một tội (chẳng hạn: Tội cướp tài sản) và trường hợp nào thì xử lý

về nhiều tội (chẳng hạn: Tội cướp tài sản và Tội cố ý gây thương tích)?

3 Tại Mục 1.3 Chương 1 của Luận văn cũng chỉ ra nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên và đã đưa ra kiến nghị TAND tối cao hướng dẫn định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI 2.1 Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu

Trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thủ đoạn gian dối được quy định là dấu hiệu định tội của Tội lừa đảo CĐTS (Điều 174 BLHS), Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS (Điều 175 BLHS)

* Thủ đoạn gian dối là dấu hiệu định tội của Tội lừa đảo CĐTS được hiểu như sau:

Thủ đoạn gian dối CĐTS của người phạm tội là đặc điểm nổi bật của tội phạm lừa đảo CĐTS Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Để lừa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, người phạm tội có rất nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh tổ chức,… làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản tin tưởng, từ đó tự nguyện chuyển giao tài sản cho người phạm tội Tuy nhiên, thủ đoạn gian dối CĐTS không chỉ là dấu hiệu riêng có của tội phạm lừa đảo CĐTS mà còn là dấu hiệu của một số tội phạm khác Trong khi đó, quy định của pháp luật về thủ đoạn này còn hạn chế nên việc xác định thủ đoạn này xảy ra ở thời điểm nào còn gặp phải vướng mắc nhất định Tác giả nghiên cứu thực tiễn xét xử về thủ đoạn này, chỉ ra được nguyên nhân của việc áp dụng không thống nhất trong thực tiễn; từ đó, đề xuất một số giải pháp khắc phục để việc áp dụng pháp luật được thống nhất

Khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 quy định về tội lừa đảo CĐTS như sau:

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối CĐTS của người khác….”

Như vậy, hành vi khách quan của tội lừa đảo CĐTS là hành vi CĐTS của người khác bằng thủ đoạn gian dối, hành vi này bao gồm hai hành vi thực tế: thủ đoạn lừa dối (dưới dạng hành vi) và hành vi CĐTS

Thủ đoạn (hành vi) lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật Xét về mặt khách quan, thủ đoạn lừa dối

Trang 35

là hành vi đưa ra những thông tin giả Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật

Về thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo CĐTS có nhiều hình thức thực hiện khác nhau Việc nghiên cứu các hình thức thực hiện này không có ý nghĩa trong việc định tội lừa đảo CĐTS, nhưng xem xét hình thức thực hiện có giá trị lớn trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm này

Trong tội lừa đảo CĐTS, thủ đoạn gian dối nhằm CĐTS luôn xảy ra trước thời điểm có việc giao nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội Nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo CĐTS, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể, thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che dấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS

* Phân biệt thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo CĐTS với dấu hiệu gian dối trong tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS

Để phân biệt được tội lừa đảo CĐTS với tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS thì cần phải xác định rõ thủ đoạn gian dối xảy ra thời điểm nào

Trước hết, ở tội lừa đảo CĐTS: Người phạm tội có mục đích CĐTS trước khi thực hiện giao kết hợp đồng Việc giao kết hợp đồng thực chất là phương thức để CĐTS Hợp đồng này là hoàn toàn giả tạo nhằm tạo lòng tin để người bị hại giao tài sản Khi người phạm tội nhận được tài sản từ hợp đồng cũng là thời điểm tội lừa đảo CĐTS hoàn thành Hành vi giao kết giả tạo là hành vi lừa dối và hành vi nhận tài sản là hành vi chiếm đoạt được Hành vi (thủ đoạn) gian dối của tội lừa đảo CĐTS là cơ sở quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội nên hành vi gian dối là dấu hiện bắt buộc trong cấu thành tội phạm lừa đảo CĐTS

Còn ở tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS: Ban đầu người phạm tội chưa có ý định CĐTS, việc giao kết hợp đồng chỉ nhằm mục đích vay, mượn, thuê được tài sản Người phạm tội nhận tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp thông qua hợp đồng giao kết trước và trong khi nhận tài sản không có ý thức CĐTS Do đó, việc giao kết hợp đồng hay nhận tài sản từ hợp đồng đã giao kết không bị coi là hành vi phạm tội Chỉ sau đó, khi đến thời hạn nhất định hoặc thời hạn phải trả tài sản mới có ý định không trả lại hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm CĐTS, theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS Như vậy, mục đích CĐTS nảy sinh sau khi đã nhận được tài sản trên cơ sở hợp đồng

Trang 36

Để thực hiện ý định chiếm đoạt, người pham tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS

có thể hành vi gian dối như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản nhưng hành vi gian dối này chỉ để che giấu hành vi chiếm đoạt Hành vi gian dối không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS

Để CĐTS, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác như bỏ trốn hay cố tình không trả lại tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS

Do đó, việc xem xét người đó phạm tội đảo CĐTS hay lạm dụng CĐTS phải xem xét đến những căn cứ chứng minh người phạm tội ban đầu trước khi giao kết hợp đồng là hoàn toàn ngay thẳng hay gian dối Người phạm tội lừa đảo CĐTS thì CĐTS dựa vào hành vi gian dối tạo ra Còn người phạm tội lạm dụng tín nhiệm để CĐTS dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản

Tuy nhiên, trong thực tế không phải hành vi gian dối nào cũng là biểu hiện khách quan của tội lừa đảo CĐTS Trường hợp người phạm tội có hành vi là dùng thủ đoạn gian dối CĐTS nhưng hành vi này đã được Bộ luật hình sự quy định thành tội phạm độc lập thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo CĐTS mà bị truy cứu về tội phạm tương ứng khác Chẳng hạn, hành vi gian dối trong việc cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng,… để gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi phạm tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 BLHS năm 2015 Hay trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian dối để tiếp cận tài sản, làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản sơ hở nhằm dễ dàng CĐTS, nhưng hành vi chiếm đoạt này là công khai và nhanh chóng - đây là hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015; hay trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian dối để cho chủ sở hữu mất cảnh giác, không tập trung quản lý tài sản nhằm dễ dàng CĐTS, nhưng hành vi chiếm đoạt là lén lút, che giấu không cho chủ sở hữu biết - đây là hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015…

2.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu

Thực tiễn định tội danh đối với hành vi CĐTS có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu còn có những vướng mắc dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm sở hữu này Các vướng mắc trong trường hợp này được thể hiện trong nội dung các bản án sau:

Trang 37

- Bản án thứ năm: Bản án hình sự số 106/2018/HS-PT ngày 18-12-2018 của

TAND tính Lâm Đồng có nội dung như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày14/5/2018 Phan Minh T điều khiển xe máy Vision màu đen đỏ biển số 49H1- 337.96 chở bà Nguyễn Thị T (là mẹ nuôi của T) ra thành phố Bảo Lộc để lấy thẻ ATM và khám bệnh Trên đườn ra Bảo Lộc, T ghé đổ xăng thì phát hiện túi đựng tiền của bà T để trong cốp xe nên nảy sinh ý định CĐTS T không thẳng đường Quốc lộ 725 mà điều khiển xe đi đườn Lộc Quảng, Bảo Lâm Thấy vậy bà T hỏi “Sao đi đườn này” thì T nói “Vào nhà bạn lấy đồ” Khi T điều khiển xe đến thôn 1 xã Lộc Quảng, lợi dụn đường vằng người qua lại nên T móc điện thoại trong túi quần bên trái ra rồi cố ý làm rơi điện thoại, chạy được một đoạn thì T dừng xe lại để bà T xuống nhặt điện thoại Khi bà T xuống xe đang nhặt điện thoại thì

T điều khiển xe máy bỏ chạy về hướng thành phố Bảo Lộc Khi chạy xe đến đường

Hà Giang phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc thì T dừng xe kiểm tra phát hiện trong cốp xe có 03 cọc tiền Việt Nam, tiền đôla Mỹ và nhiều giấy tờ khác, T lấy 02 cọc tiền, còn 01 cọc tiền, số tiền đô la Mỹ và các giấy tờ khác bỏ vào bịch nylong màu đen, rồi gửi lại nhà chị Nguyễn Thị D tại tổ 10, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, rồi nhắn tin cho bà T ra nhà chị D lấy tiền và giấy tờ Sau đó T điều khiển xe 49H1- 337.96 đi về hướng đèo Bảo Lộc, khi đi đến xã Đại Lào, thành phố Bào Lộc thì bị lực lượng tại đèo Bảo Lộc bắt giữ Qua kiểm đếm xác định tổng số tiền trong 02 cọc tiền trong cốp xe của T 166.610.000 đ và các giấy tờ tùy thân của T

* Phần Quyết định của Tòa án

Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Phan Minh T 03 (ba) năm tù

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2018

* Nhận xét về bản án

Trong vụ án này, T có thủ đoạn gian dối là giả vờ làm rơi điện thoại và nhờ bà Nguyễn Thị T xuống nhặt điện thoại, lợi dụng khi bà Nguyễn Thị T xuống nhặt điện thoại thì thì T điều khiển xe máy bỏ chạy Việc dùng thủ đoạn gian dối của T để CĐTS trong vụ án này có dấu hiệu của Tội lừa đảo CĐTS (Điều 174 BLHS) nhưng việc CĐTS một cách nhanh chóng lại có dấu hiệu của Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS) Tác giả đồng ý với Tòa án về việc định tội danh đối với hành vi phạm tội của

Trang 38

T là tội cướp giật tài sản Tuy nhiên để tránh nhầm lẫn trong việc định tội danh đối với hành vi CĐTS có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu đòi hỏi TAND tối cao cần có hướng dẫn về định tội danh trong trường hợp này

Vụ án thứ sáu: Bản án số: 264/2020/HSST ngày 07-9-2020 của TAND

Khi đến nhà H sau khi đã lấy túi xách H rủ H đi mua điện thoại di động cùng H, đồng thời cho H xem 01 túi ni lông đựng các đồ trang sức bằng mỹ ký của

H mục đích để H tin tưởng H có tiền mua điện thoại H đồng ý Sau đó cả hai cùng lên xe taxi trên và đi đến cửa hàng Thế giới di động địa chỉ 570 đường G, phường

V, thành phố N Khi đến nơi H bảo lái xe taxi chờ ngoài cửa để lát nữa đi tiếp, H

và H vào trong cửa hàng Trong quá trình lựa chọn sản phẩm, để giữ chân H và tạo niềm tin cho nhân viên cửa hàng, H nói mua tặng anh Hòa 01 chiếc điện thoại di động, H đồng ý và nhờ H chọn giúp H đã chọn mua 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra LTE màu xám đen và chọn cho H 01 chiếc điện thoại Xiaomi Note 9S màu trắng H nói với anh Hoàng Văn N, sinh năm 1992, trú tại: 3/314 T, phường V, thành phố N) và anh Vũ Minh T, sinh năm 1996, trú tại: 27/587 T, phường V, thành phố N là nhân viên cửa hàng làm thủ tục để H mua 02 chiếc điện thoại trên Quá trình cài đặt điện thoại H đưa cho anh T 01 sim điện thoại số

0967114365 để lắp vào chiếc điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra LTE màu xám

8 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định (2020), “Bản án số: 264/2020/HSST ngày 07-9-2020”,

nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta606416t1cvn/chi-tiet-ban-an, (truy cập ngày 03/10/2020)

Trang 39

đen, đồng thời H giới thiệu tên mình là “T” để tránh sự phát hiện của Cơ quan Công an sau này Để kéo dài thời gian H đã yêu cầu dán kính cường lực cho cả hai chiếc điện thoại và dán chiếc điện thoại mua cho anh H trước Quan sát thấy mọi người không để ý, H vẫn đang ngồi trong cửa hàng H nói với anh T cho H mượn chiếc điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra LTE màu xám đen mà H đã chọn mua

để ra ngoài nói chuyện điện thoại và hút thuốc Do tin tưởng khách hàng và thấy H

là người đi cùng H vẫn đang ngồi trong cửa hàng nên T đồng ý Đi gần ra đến cửa

H gặp anh N, anh N thông báo số tiền H phải thanh toán là 33.330.000 đồng H nói với anh N chờ H một lúc rồi tiếp tục đi về phía cửa và đi ra ngoài đường H tiếp tục quan sát không thấy ai để ý đến mình nên lên xe taxi do anh T điều khiển đang chờ sẵn ở cửa và yêu cầu anh T chở H xuống Thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định để bán chiếc điện thoại trên Không thấy H nên anh N kiểm tra Camera an ninh tại cửa hàng thì phát hiện H đã lên xe taxi đi nên đã đến Công an phường V, thành phố N trình báo sự việc

* Phần Quyết định của bản án:

1 Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật TTHS năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H (tên gọi khác Nguyễn Văn Huệ) phạm tội

Tuy nhiên, khi xác định hành vi chiếm đoạt của bị cáo Nguyễn Huy H trong

vụ án này, tác giả nhận thấy H tuy có dùng thủ đoạn gian dối nhưng để tạo điều

kiện để lén lút CĐTS thể hiện ở các tình tiết “H nói với anh N chờ H một lúc rồi

Trang 40

tiếp tục đi về phía cửa và đi ra ngoài đường H tiếp tục quan sát không thấy ai để

ý đến mình nên lên xe taxi do anh T điều khiển đang chờ sẵn ở cửa và yêu cầu anh

T chở H xuống Thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định để bán chiếc điện thoại trên Không thấy H nên anh N kiểm tra Camera an ninh tại cửa hàng thì phát hiện H đã lên xe taxi đi nên đã đến Công an phường V, thành phố N trình báo sự việc.”

Việc chiếm đoạt chiếc điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra LTE của H là khi H lén lút đi ra khỏi cửa hàng điện thoại mà không thanh toán tiền mua và nó được thực hiện một cách lén lút Việc anh N không biết bị chiếm đoạt chiếc điện thoại

được thể hiện ở tình tiết: “Không thấy H nên anh N kiểm tra Camera an ninh tại

cửa hàng thì phát hiện H đã lên xe taxi đi nên đã đến Công an phường V, thành phố N trình báo sự việc.” và khi đưa chiếc điện thoại cho H xem - không có nghĩa

là anh N đã chuyển dịch các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chiếc điện thoại cho bị cáo H Theo quan điểm của tác giả, bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) chứ không phải phạm tội lừa đảo CĐTS (Điều 174 BLHS) như tòa án đã xét xử bị cáo H

Từ vụ án này, cho thấy vướng mắc được đặt ra là trong những vụ án có tuy

có “thủ đoạn gian dối” và “hành vi CĐTS” nhưng không phải lúc nào cũng xử lý hình sự về tội lừa đảo CĐTS Do đó, vấn đề này cần được hướng dẫn trong từng trường hợp cụ thể để phân biệt tội lừa đảo CĐTS với các tội phạm CĐTS khác khi

có “thủ đoạn gian dối”

2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu

Tại Mục 2.2 của Luận văn đã chỉ ra các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi CĐTS có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu là: TAND Tối cao cần được hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự trong từng trường hợp cụ thể để phân biệt tội lừa đảo CĐTS với các tội phạm CĐTS khác khi

có “thủ đoạn gian dối”

* Nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên xuất phát từ các lý do sau:

- Thứ nhất, do năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành

tố tụng khác nhau nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau về thủ đoạn gian dối trong chiếm đoạt tài của các tội xâm phạm sở hữu, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN