Khái niệm định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Định tội danh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật, là hoạt động được thực hiện xuyên su
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO VĂN LINH
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI BẮT CÓC
NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO VĂN LINH
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI BẮT CÓC
NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
Hà nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong quá trình nghiên cứu , học viên đã tham khảo nhiều công trình nghiên cứu khác, có kế thừa, phân tích, bình luận và phát triển Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Học viên đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất
cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đào Văn Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt trong luận văn
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANHĐỐI VỚI
TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 7
1.1.1 Khái niệm định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 7 1.1.2 Ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản 9
1.2 Căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với
tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 10
1.2.1 Căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản 10 1.2.2 Căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản 15
1.3 Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo
các giai đoạn thực hiện tội phạm 17
1.3.1 Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo giai
đoạn tội phạm hoàn thành 17 1.3.2 Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo giai
đoạn tội phạm chưa hoàn thành 21
1.4 Phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đối với một số tội
Trang 51.4.1 Phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản 22 1.4.2 Phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài
sản 24
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANHĐỐI VỚI TỘI BẮT
CÓCNHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢNTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 27 2.1 Một số kết quả đạt được trong định tội danh đối với tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản 27 2.2 Một số hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân trong định tội danh
đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 34
2.2.1 Một số hạn chế, vướng mắc trong định tội danh đối với tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản 34 2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong định tội danh đối với tội
bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 42
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH ĐÚNG TỘI DANHĐỐI
VỚI TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 52 3.1 Sự cần thiết phải định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản 52
3.1.1 Yêu cầu về chính trị, xã hội và lý luận, thực tiễn 53 3.1.2 Yêu cầu về lập pháp hình sự 54
3.2 Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản 56
3.2.1 Một số quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản đã được sửa đổi bổ sung trong Bộ luật hình sự năm 2015……… 56 3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 59
Trang 63.3 Một số giải pháp khác bảo đảm định đúng tội danh đối với tội
bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 67
3.3.1 Tăng cường hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về
tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 67 3.3.2 Chú trọng tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình
sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản……… 69 3.3.3 Nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng trong định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 71 3.3.4 Bảo đảm công tác phối hợp trong quá trình định tội danh đối với tội
bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 73
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
SĐBS: Sửa đổi, bổ sung TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhândân tối cao THTT: Tiến hành tố tụng
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 832
Biểu đồ 2.2
Mức độ tăng giảm của số người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn cả nước từ năm 2005 đến năm 2015
33
Trang 9MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay trước tình hình đất nước đang có nhiều thay đổi về mặt kinh tế chính trị, cùng với sự phát triển của đất nước, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hoạt động giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến các tội phạm xâm phạm sở hữu đã đạt được những thành tựu nhất định, góp phần bảo đảm trật tự, an ninh, bình yên trong cuộc sống của người dân, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững Tuy nhiên trong thời gian gần đây, tình hình tội phạm đang có những diễn biến phức tạp, một số loại tội phạm đang có xu hướng gia tăng với mức độ và tính chất nguy hiểm ngày càng cao gây bất an trong dư luận Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những hành vi nguy hiểm đáng bị lên
án, thể hiện sự manh động và coi thường pháp luật của người phạm tội Thời gian qua, nhiều địa phương trong cả nước đã xảy ra những vụ bắt cóc tống tiền khiến dư luận xôn xao, trong đó, có vụ thủ phạm đã xuống tay tàn độc giết chết con tin Điển hình như vụ án bắt, giết bé trai 11 tuổi của đối tượng Nguyễn Bảo Vũ tại tỉnh Bình Thuận Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của loại tội phạm trên thường xuất phát từ mục đích kinh tế, đồng thời hệ lụy từ nạn mua bán người đang diễn ra phức tạp không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới và khu vực trong thời gian qua Sự mất cân bằng giới tính, nhất là ở các nước Châu Á, cùng với nạn mại dâm, bóc lột lao động, bóc lột tình dục, thậm chí là mua bán nội tạng đã thúc đẩy thị trường mua bán người, trong đó có mua bán trẻ em ngày càng diễn ra phức tạp Ngoài ra, quá trình giải quyết các vụ án còn tồn tại nhiều vấn đề, chưa thể hiện đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi này, việc đánh giá, giải quyết vụ án một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, bảo vệ vững chắc các
Trang 10quyền và tự do của công dân bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay, phụ thuộc rất nhiều vào việc cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền định tội danh xác định tội danh đã được thực hiện trong thực tế khách quan có chính xác hay không Do đó, vấn đề định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trở thành một vấn đề mang tính cấp thiết có liên quan trực tiếp đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, đến trật tự xã hội và tình hình phát triển của đất nước
Việc nghiên cứu các quy định về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh đối với loại tội phạm này trong thực tiễn, thống nhất cách nhìn nhận khoa học về các hành vi vi phạm, tạo lập
cơ chế vững chắc trong việc xác định tội danh đối với loại tội phạm này, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, tác
giả chọn đề tài “Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam - Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2.Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Ở nước ta, hoạt động giải quyết các vụ án liên quan đến vấn đề bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản luôn được giới khoa học pháp lý và đặc biệt là những người làm công tác xét xử và thi hành án của ngành tư pháp quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên đây với những khía cạnh và mức
độ khác nhau như: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Luận án tiến sĩ luật học (2000); “Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam” của Nguyễn Kim Chi, Luận văn Thạc sĩ luật học (2011); “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam” của Trần Thị Phượng, Luận văn Thạc sĩ luật học (2015); Bài viết “Những quy định về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới”, của
Trang 11Nguyễn Kim Chi, Học viện tư pháp (2012); “Người bị hại trong vụ án hình sự” của Đinh Văn Quế, Tạp chí Tòa án nhân dân số 12 năm 1997 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ phản ánh ở những góc độ khác nhau về vấn
đề bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, chưa có công trình nào phân tích chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn đối với việc định tội danh hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, do đó, cần nghiên cứu chuyên sâu nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đíchnghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội, nhằm hoàn thiện lý luận về định tội danh đối với loại tội phạm này, đồng thời trên cơ sở thực tiễn áp dụng chỉ ra những hạn chế, bất cập, vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của BLHS, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội loại tội phạm này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội
- Phân tích dựa trên số liệu thực tiễn, những bản án, quyết định của Tòa
án và một số văn bản liên quan nhằm làm rõ hơn về vấn đề định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Phân tích, làm rõ một số thiếu sót, sai lầm thường gặp trong quá trình xác định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Trang 12- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam
về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Đưa ra giải pháp bảo đảm định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 1999
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quá trình giải quyết các vụ án liên quan đến định tội danh về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2015 trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống lý luận pháp luật hình sự ở một số quốc gia trên thế giới
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu thuộc chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự như: phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp v.v
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn nghiên cứu một cách đồng bộ, có hệ thống lý luận về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam, làm rõ các quy định cụ thể liên quan đến tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Trang 13- Chỉ ra những điểm bất hợp lý trong khoa học định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình lý luận về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn làm rõ nội dung, ý nghĩa và thực tiễn áp dụng pháp luật về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này
- Chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục và hoàn thiện
7 Một số điểm mới của luận văn
Một số điểm mới cơ bản của luận văn:
- Xây dựng khái niệm về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Phân tích và nêu ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội, so sánh đối chiếu tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và một số tội liên quan, từ đó chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và một số nguyên nhân cơ bản
- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
8 Kết cấu luận văn
Luận văn được xây dựng theo hệ thống gồm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Chương 2: Thực trạng định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp bảo đảm định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Khái niệm định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Định tội danh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật, là hoạt động được thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm xác định sự thật khách quan, đưa ra những đánh giá chính xác
về mặt pháp lý hình sự giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trong thực tế khách quan, với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự, tạo tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người Định tội danh đúng sẽ tạo cơ sở cho việc thực hiện hàng loạt các nguyên tắc tiến bộ bảo vệ quan hệ nhân thân, bảo đảm sự công minh và nhân đạo của pháp luật Do đó, việc nghiên cứu khoa học pháp lý về định đội danh
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Hiện nay, xung quanh khái niệm định tội danh còn có nhiều quan điểm khác nhau
Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm và PGS.TS Trịnh Quốc Toản thì “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của
Trang 16hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định”[14, tr.21]
Theo tác giả Nguyễn Đức Cường trong bài viết “Định tội danh trong
vụ án hình sự cụ thể” thì “Định tội danh là việc xác định hành vi khách quan thỏa mãn cấu thành một tội phạm nhất định được quy định trong Bộ luật hình sự” [18]
Theo ThS Lê Văn Luật thì “Định tội danh là một vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.”[27]
Tuy nhiên, nhìn chung đa số các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học
hình sự đều nhìn nhận quan điểm: Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp
lý hình sự được thực hiệntrên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được để xác định có hay không có sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm
cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự
Theo Từ điển Luật học bắt cóc là hành vi “bắt người một cách đột ngột
và đem giấu đi” [48] Đây là hành vi tước đoạt tự do của người khác một cách
bất hợp pháp, thể hiện sự manh động trong việc thực hiện hành vi phạm tội, xem thường pháp luật.Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm mục đích buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc một khoản tài sản thì mới thả người bị bắt [32, tr.53]
Trang 17Như vậy, định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có thể được hiểu là việc xác nhận về mặt khoa học pháp lý hình sự,được thực hiện trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, để xác định có hay không có sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các yếu tố cấu thành tộiphạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự
1.1.2 Ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có mức độ phức tạp trong việc thực hiện hành vi phạm tội, với những thủ đoạn khác nhau người phạm tội đồng thời xâm phạm cùng lúc hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Do đó, để đưa một vụ án ra xét xử nghiêm minh và công bằng đối với người phạm tội, thì việc định tội danh có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trước hết, định tội danh là cơ sở cần thiết đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Trên cơ sở xác định người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của BLHS, người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ quyết định một hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội đó Vì thế, định tội danh được xem là tiền đề, điều kiện cho việc quyết định hình phạt đúng đắn, định tội danh chính xác sẽ giúp bảo vệ quan hệ nhân thân, bảo đảm trật tự ổn định xã hội, bảo vệ pháp luật, tạo ra sự tin tưởng trong xã hội đối với các cơ quan thực thi pháp luật, đồng thời, định tội danh chính xác sẽ là căn cứ để phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như cá thể hóa hình phạt và là cơ sở để áp dụng một số các quy định khác nhằm bảo vệ nhân quyền trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Ngược lại, định tội danh sai không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, mà còn làm giảm
Trang 18uy tín của các cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
1.2 Căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Điều 2 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy, căn cứ pháp lý duy nhất của việc định tội danh đối với
hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự hiện hành quy định rõ tội danh và khung hình phạt cụ thể đối với hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Điều 134, với nội dung cụ thể như sau:
Điều 134 Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1 Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ năm năm đến mười hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; đ) Đối với trẻ em;
e) Đối với nhiều người;
g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
h) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
Trang 19i) Gây hậu quả nghiêm trọng
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ mười năm đến mười tám năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm [37]
Ngoài ra còn có các quy định mang tính bổ trợ khác làm căn cứ cho việc xác định tội danh như: Mục I Thông tư liên tịch số 02/VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữuBộ luật hình sự
Trang 20Điểm 3 Khi áp dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”,
“gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143 BLHS) cần chú ý: 3.1 Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả) Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà Nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội)
3.2 Đối với các tội quy định tại các Điều 133, 134 và 136 thì thiệt hại về sức khỏe, tính mạng đã được quy định thành tình tiết định khung riêng biệt, cho nên không xem xét các thiệt hại này một lần nữa
để đánh giá hậu quả do hành vi phạm tội gây ra được hướng dẫn tại tiểu mục 3.4 Mục 3 này
3.3 Đối với các tội có quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị sử dụng trái phép, giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc bị làm
hư hỏng, thì việc xác định hậu quả thiệt hại về tài sản không phải căn
cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị sử dụng trái phép, giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng, vì giá trị tài sản này đã được quy định thành tình tiết định khung riêng biệt Hậu quả phải là thiệt hại về tài sản xẩy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị sử dụng trái phép, gí trị tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng
Ví dụ: A trộm cắp một lô thuốc chữa bệnh gia súc trị giá 40 triệu đồng Do thuốc chữa bệnh cho gia súc bị trộm cắp nên không có thuốc để kịp thời chữa bệnh, dẫn đến đàn gia súc trị giá 100 triệu đồng
bị chết Trong trường hợp này giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 40 triệu đồng và hậu quả thiệt hại về tài sản là 100 triệu đồng
Trang 213.4 Để xem xét trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nguyên tắc chung phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các hậu quả (thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và các thiệt hại phi vật chất)
Nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản thì được xác định như sau:
a) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả nghiêm trọng:
a.5) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại
về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;
a.6) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới
Trang 22b.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của năm đến bảy người với tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%, nếu không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b.2 và b.3 trên đây;
b.5) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;
b.6) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản mà hậu quả thuộc hai đến ba điểm từ a.1 đến điểm a.6 tiểu mục 3.4 này
c) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:
c.5) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên;
c.6) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản mà hậu quả thuộc bốn điểm trở lên từ điểm a.1 đến điểm a.6 tiểu mục 3.4 này; c.7) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản mà hậu quả thuộc hai điểm trở lên từ điểm b.1 đến điểm b.6 tiểu mục 3.4 này Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực
Trang 23hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng [44]
1.2.2 Căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cơ sở khoa học và mô hình pháp lý của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là các yếu tố cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản gồm các yếu tố sau:
1.2.2.1.Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân được pháp luật hình sự bảo vệ và bị hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản xâm phạm
Người bị bắt cóc thường là người bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, còn người bị xâm phạm đến tài sản là người có mối quan hệ đặc biệt với người bị bắt cóc như: bố, mẹ, anh, chị, em, bạn bè, người nắm giữ bí mật thông tin v.v Tuy nhiên, cũng có trường hợp người bị bắt cóc đồng thời cũng là chủ sở hữu tài sản bị xâm phạm
1.2.2.2 Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Người phạm tội thực hiện hành vi bắt giữ người khác làm con tin - tức bắt giữ người trái pháp luật nhằm đe dọa, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau gây sức ép tâm lý buộc người bị hại phải giao tài sản Thủ đoạn bắt cóc không phải là dấu hiệu đặc trưng của hành vi phạm tội (không có ý nghĩa trong việc định tội danh), nhưng hành vi bắt cóc người làm con tin lại là đặc trưng cơ bản của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bởi mục đích của việc bắt giữ
Trang 24người làm con tin chính là một thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản Người bị bắt giữ làm con tin thường có mối quan hệ đặc biệt với người bị hại
Hành vi gây sức ép tâm lý đối với người bị hại, có thể là đe dọa về mặt tinh thần đối với người bị hại bằng nhiều phương thức khác nhau (như đánh đập, hành hạ hoặc thủ đoạn khác đối với người bị bắt) nhằm đòi người bị hại giao một khoản tài sản nhất định
Là tội phạm có cấu thành hình thức, hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành ở thời điểm người phạm tội đã bắt cóc và có mục đích nhằm đòi tiền (tài sản) chuộc từ người bị hại
Hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội, nhưng có ý nghĩa trong việc định khung tăng nặng Nếu hành vi bắt cóc cấu thành một tội độc lập khác thì người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình
sự cả về tội độc lập đó
1.2.2.3 Chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trong trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 134là tội phạm nghiêm trọng, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự (vì khoản 2 Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng)
Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS thì bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều 134 BLHS đều là chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1.2.2.4 Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản
Trang 25Lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nhận thức rõ hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của mình là nguy hiểm cho xã hội và mong muốn thực hiện bằng được hành vi đó
Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội danh Tuy nhiên, cần chú ý mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản có thể nảy sinh trước hoặc sau khi thực hiện hành vi bắt cóc, khi xác định tội danh cụ thể, trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện hành vi có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản này cần có sự phân hóa rõ ràng giữa các cá nhân phạm tội.[32, tr.52]
1.3 Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo các giai đoạn thực hiện tội phạm
1.3.1 Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo giai đoạn tội phạm hoàn thành
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi hành vi phạm tội
đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệutrong cấu thành cơ bản của tội phạm này Đó là, người phạm tội đã thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản
Định tội danh đối với hành vi phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
đã hoàn thành là sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, trên cơ sở đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệu của hành vi ấy với các yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 134 BLHS [14, tr.48]
Như vậy, để xác định chính xác tội danh do hành vi phạm tội gây ra, thì quá trình định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành cần dựa trên cơ sở đánh giá về mặt pháp lý hình sự các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Cụ thể trong quá trình định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần xác định đúng những yếu tố sau:
Trang 26vi phạm pháp luật thuộc Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu, tạo cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 134 BLHS
Trang 27vi phạm tội Vì vậy, để định tội danh chính xác, đúng người, đúng tội người định tội danh cần đánh giá chính xác tính chất và mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội cũng như mục đích, thủ đoạn phạm tội đối với các khách thể mà người phạm tội xâm hại
1.3.1.2.Xác định đúng mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc xác định tội danh cụ thể, từ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
có thể xác định được lỗi, mục đích, thủ đoạn của người thực hiện hành vi phạm tội Do đó, để xác định chính xác hành vi phạm tội vi phạm Điều 134 BLHS quy định về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần xem xét, đánh giá các dấu hiệu sau:
Bắt cóc là hành vi bắt giữ người trái pháp luật Đối tượng thực hiện hành vi bắt cóc thường dùng những thủ đoạn nhất định như: Cưỡng ép, lừa dối hoặc thủ đoạn khác nhằm bắt cóc người làm con tin, sau đó tìm cách đe dọa, thông báo cho người thân của người bị bắt cóc biết nhằm chiếm đoạt một
số lượng tài sản nhất định (để bảo đảm cho sự an toàn của người bị bắt cóc làm con tin)
Người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có nghĩa là hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã xảy ra trên thực tế, bằng hành
Trang 28động hoặc không bằng hành động xâm hại các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ.Hành vi ấy bị pháp luật hình sự cấm
- Người phạm tội đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có nghĩa là tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã đủ độ tuổi do pháp luật quy định (độ tuổi để có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm và tính trái pháp luật của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi ấy) Tuy nhiên, trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS thì bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều 134 BLHS đều là chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản [32, tr.52]
1.3.1.4.Xác định đúng mặt chủ quan của tội phạm
- Khi định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần chứng minh được lỗi của hành vi là lỗi cố ý trực tiếp, có nghĩa là phải xác định được sự thống nhất cả về mặt lý trí lẫn ý chí của người thực hiện hành vi phạm tội đối với hành vi và hậu quả do họ thực hiện
Do không có trường hợp người thực hiện hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với lỗi vô ý, cho nên khi xác định tội danh đối với hành vi này, người định tội danh cần xem xét các yếu tố về động cơ và mục đích của người
Trang 29phạm tội (đây là những dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản)
- Người phạm tội có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản và mục đích này là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội danh [47, tr.74]
1.3.2 Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo giai đoạn tội phạm chưa hoàn thành
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 134 BLHS
có cấu thành hình thức, cho nên, khi định tội danh các chủ thể định tội danh cần phân biệt rõ đối với loại tội phạm này chỉ tồn tại 2 giai đoạn phạm tội, đó là: Giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn tội phạm chưa đạt chưa hoàn thành Đồng thời, tội phạm chưa đạt chưa hoàn thành chỉ xảy ra với lỗi cố ý trực tiếp, việc hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa thực hiện được đến cùng là do nguyên nhân khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người phạm tội
Định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa hoàn thành là sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện trong các giai đoạn đầu tiên của hoạt động phạm tội, trên cơ sở đối chiếu, so sánh và kiểm tra, để xác định sự phù hợp ở một mức
độ nhất định nào đó giữa dấu hiệu của hành vi trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, với các yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 134 BLHS [14, tr.47-48]
Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, nếu đối tượng thực hiện hành vi phạm tội mặc dù chưa đạt được mục đích cuối cùng nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng hành vi đã cấu thành nhiều tội khác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm đó
Ví dụ: Mua bán trái phép vũ khí quân dụng để thực hiện hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì phải chịu trách nhiệm hình sự về 02 tội: Tội
Trang 30mua bán trái phép vũ khí quân dụng (đã hoàn thành) và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội)
Đối với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cũng như quy định chung của pháp luật hình
sự Việt Nam, quy định này thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự, khuyến khích người phạm tội từ bỏ vĩnh viễn ý định thực hiện tội phạm đến cùng Do đó, khi người có ý định phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (chuẩn bị phạm tội), dù nhận thức được hoàn toàn có khả năng thực hiện hành
vi đến cùng, nhưng đã có ý thức tự nguyện đình chỉ hành vi phạm tội của mình không tiếp tục thực hiện dù không hề có một yếu tố khách quan nào ngăn cản, đồng thời tích cực ngăn chặn hành vi phạm tội của các đồng phạm không cho hậu quả xảy ra và hậu quả của hành vi hoàn thành đã không xảy ra nhờ hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này (họ chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm khác nếu hành vi chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã cấu thành tội phạm khác này)
1.4 Phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm có liên quan
1.4.1 Phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản
Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể tự vệ được nhằm chiếm đoạt tài sản
Cũng như bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản là hành vi cố ý xâm phạm nghiêm trọng quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Đặc điểm chung của 2 tội phạm nàyđều hướng đến việc chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp, thông qua những thủ đoạn khác nhau Người phạm tội xâm phạm
Trang 31trực tiếp hoặc gián tiếp quan hệ nhân thân nhằm đạt được mục đích cuối cùng
là chiếm đoạt được tài sản Chính vì thế, việc phân biệt các dấu hiệu đặc trưng giữa 2 tội phạm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định đúng tội danh
Tội bắt bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có những đặc trưng cơ bản
khác biệtso với tội cướp tài sản như sau:
Tiêu chí
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Khái niệm
Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể tự vệ được nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt
chất) ngay tức khắc hoặc có
hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản
- Người phạm tội thực hiện hành vi bắt giữ và đưa người
bị bắt đến một nơi nào đó rồi tìm cách thông báo cho người thân của người bị bắt cóc biết, đồng thời yêu cầu người thân của họ phải nộp tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt cóc, nếu không nộp tiền hoặc tài sản thì người bị bắt cóc sẽ
Trang 32bị nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm
Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS (vì khoản 1 Điều 134 BLHS là tội phạm nghiêm trọng)
1.4.2 Phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi cố ý đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản cũng có những điểm tương đồng nhưtội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Do đó, trong quá trình định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần phân biệt rõ những dấu hiệu đặc trưng của hành vi phạm tội này với những dấu hiệu cơ bản cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản
Tiêu chí
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Khái niệm Tội cưỡng đoạt tài sản là
hành vi đe dọa sẽ dùng vũ
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người
Trang 33lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản
làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt
bị nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm
Kết luận chương 1
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi đặc biệt nguy hiểm trong xã hội, ngoài việc xâm phạm đến quan hệ sở hữu, thì hành vi này còn xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ nhân thân như quyền sống, quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể Đây là hành vi đáng bị lên án và luôn theo kèm những chế tài nghiêm khắc
So với những hành vi phạm tội khác liên quan đến mục đích chiếm đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đồng thời xâm phạm đến hai
Trang 34khách thể là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Vì vậy, khi tiến hành giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là trong công tác định tội danh, việc xác định đúng hành vi phạm tội cũng như áp dụng đúng hình phạt không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm pháp chế,
mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị - xã hội, tạo ra sự ổn định trật
tự xã hội, cũng như uy tín của các cơ quan thực thi pháp luật
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Một số kết quả đạt được trong định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Định tội danh là việc cụ thể hóa các quy định pháp luật trừu tượng vào đời sống xã hội, là một trong những nội dung quan trọng của quá trình giải quyết vụ án hình sự
Trong những năm qua, công tác xét xử nói chung và giải quyết vụ án hình sự nói riêng của Tòa án các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được những thành tựu nhất định, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo lòng tin trong xã hội Ngày 02-01-2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ/TW "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", tiếp theo là Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24-5-2005 "Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" Việc ra đời của các nghị quyết này đã tạo ra những thay đổi lớn đối với hoạt động tư pháp của đất nước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước [1]
Tuy nhiên, trong tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, đất nước có nhiều thay đổi về kinh tế - xã hội như hiện nay, tình hình tội phạm trên phạm vi cả nước nói chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng đang có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là nhóm các tội xâm phạm sở hữu,
Trang 36trong đó có tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những hành vi nguy hiểm, xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân
Theo thống kê từ năm 2005 đến năm 2015 cho thấy, các tội xâm phạm
sở hữu xảy ra nhiều và chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng số các tội phạm mà Tòa
án đã giải quyết, xét xử Trung bình mỗi năm, ngành Tòa án nhân dân thụ lý
và giải quyết khoảng 60.000 vụ án hình sự sơ thẩm Trong đó, các vụ án xâm phạm sở hữu chiếm khoảng trên 25.000 vụ với 40.000 bị cáo chiếm tỷ lệ 38%
về số vụ và số bị cáo
- Năm 2005, số vụ án phải xét xử là 24.547 vụ, 39.774 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 51 vụ, 75 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.603 vụ, 3.295 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 21.328 vụ, 33.440 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 25 vụ, 60 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 1.540 vụ, 2.904
bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 7 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 2 vụ, 2 bị cáo; chiếm 28,57% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,008% tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2006, số vụ án phải xét xử là 26.871 vụ, 43.887 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 61 vụ, 79 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.760 vụ, 3.661 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 24.510 vụ, 38.980 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 26 vụ, 64 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 514 vụ, 1.103 bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 14 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 3 vụ, 5 bị cáo; chiếm 21,43% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,011% tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2007, số vụ án phải xét xử là 27.033 vụ, 45.658 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 47 vụ, 86 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.801 vụ, 3.939 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 23.327 vụ, 38.001 bị cáo;
Trang 37chuyển hồ sơ vụ án 26 vụ, 65 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 1.832 vụ, 3.567
bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 11 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 2 vụ, 5 bị cáo; chiếm 18,2% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,007% tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2008, số vụ án phải xét xử là 22.462 vụ, 39.118 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 34 vụ, 51 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.258 vụ, 2.900 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 20.145 vụ, 33.908 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 22 vụ, 40 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 512 vụ, 1.061 bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 7 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 3 vụ, 5 bị cáo; chiếm 42,85% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,013 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2009, số vụ án phải xét xử là 24.126 vụ, 43.006 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 29 vụ, 63 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.484 vụ, 3.427 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 22.465 vụ, 34.355 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 17 vụ, 34 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 1.211 vụ, 1.461
bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 9 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 3 vụ, 6 bị cáo; chiếm 33,33% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả; chiếm 0,012 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa án đã thụ lý
- Năm 2010, số vụ án phải xét xử là 23.589 vụ, 44.199 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 64 vụ, 71 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.102 vụ, 3.181 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 18.924 vụ, 36.479 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 24 vụ, 31 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 892 vụ, 1.525 bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 8 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 1 vụ, 3 bị cáo; chiếm 12,5% tổng số vụ bắt cóc nhằm
Trang 38chiếm đoạt tài sản trên cả nước; chiếm 0,004 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa án đã thụ lý
- Năm 2011, số vụ án phải xét xử là 26.297 vụ, 45.260 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 41 vụ, 82 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.658 vụ, 3.410 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 24.232 vụ, 38.691 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 26 vụ, 54 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 1377 vụ, 1.614
bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 11 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 2 vụ, 3 bị cáo; chiếm 18,2% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,008 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2012, số vụ án phải xét xử là 27.462 vụ, 48.854 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 86 vụ, 93 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.573 vụ, 3.142 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 25.478 vụ, 40.503 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 34 vụ, 51 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 714 vụ, 1.666 bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 13 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 3 vụ, 8 bị cáo; chiếm 23,07% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,011 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2013, số vụ án phải xét xử là 25.234 vụ, 41.191 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 59 vụ, 85 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.451 vụ, 2.875 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 22.956 vụ, 37.894 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 40 vụ, 63 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 570 vụ, 821 bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 7 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 2 vụ, 7 bị cáo; chiếm 28,57% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,008 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
Trang 39- Năm 2014, số vụ án phải xét xử là 24.313 vụ, 34.618 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 52 vụ, 79 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.774 vụ, 2.488 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 22.335 vụ, 35.662 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 31 vụ, 46 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 1215 vụ, 2.411
bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 5 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 2 vụ, 2 bị cáo; chiếm 40% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,008 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
- Năm 2015, số vụ án phải xét xử là 25.236 vụ, 37.021 bị cáo; trong đó
số vụ bị đình chỉ xét xử là 44 vụ, 51 bị cáo; số vụ hoàn lại Viện kiểm sát là 1.528 vụ, 2.901 bị cáo; số vụ đã xét xử sơ thẩm là 23.160 vụ, 38.204 bị cáo; chuyển hồ sơ vụ án 34 vụ, 51 bị cáo Số vụ án chưa xét xử là 972 vụ, 1.951 bị cáo Trong đó bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 8 vụ, riêng xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội có 3 vụ, 5 bị cáo; chiếm 37,5% tổng số vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên cả nước; 0,011 % tổng số vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu mà Tòa đã thụ lý
Bảng 2.1: Thống kê số liệu về số vụ án và bị cáo phạm tội bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn cả nướctừ năm 2005 đến hết năm 2015
Trang 402012 13 29
(Nguồn: Tòa án nhândân tối cao)
Biểu đồ 2.1: Thống kê số liệu về số vụ ánbắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến năm 2015
(Nguồn:Tòa án nhândân tối cao)