1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)

103 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Tội Danh Đối Với Tội Cướp Tài Sản Và Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Theo Luật Hình Sự Việt Nam (Trên Cơ Sở Thực Tiễn Địa Bàn Thành Phố Hải Phòng)
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 26,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ các đặc điểm, cơ sở pháp lý củaviệc định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản, cũng như tình hình áp dụng thực tiễn tại phạm vi địa

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bia

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ

MỞ ĐÀU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SÓ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ ĐỊNH TỘI DANH ĐÓI VÓI TÔI CƯỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH Sự VIỆT NAM 7

1.1 Khái niệm, ý nghĩa, căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh 7

1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc định tội danh 7

1.1.2 Căn cứ pháp lý của việc định tội danh 12

1.1.3 Căn cứ khoa học của việc định tội danh 14

1.2 Khái niệm, đặc điểm của việc định tội danh đối với tội cướp tài săn 17

1.2.1 Khái niệm định tội danh đối với tội cướp tài sản 17

1.2.2 Đặc• • • • 1điếm của việc định tội danh đối với cướp tài sản 17

1.3 Khái niệm, đặc điểm của việc định tội danh đối vói tội cưỡng đoạt tài sản 21

1.3.1 Khái niệm định tội danh đối với tội cưởng đoạt tài sản 21

1.3.2 Đặc điểm của việc• • •định tội danh đối với tội cưỡng^2 •đoạt tài sản 22

1.4 Một số nội dung cần phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản vói tội cưỡng đoạt tài sản; giữa tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sử hữu có tính chất chiếm đoạt khác 25

1.4.1 Một số nội dung cần lưu ý, phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản 25

1.4.2 Một số nội dung cần phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với một • • 1 • •số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác 27

Trang 2

1.4.3 Một sô nội dung cân phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cường

đoạt• tài sản với một• số tội• xâm JLphạm • sở hữu có tính chất chiếm đoạt• khác 30

KẾT LUÂN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIÊU KIỆN BẢO ĐẢM VÀ THựC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM VÈ ĐỊNH TỘI DANH ĐÓI VỚI TÔI CƯỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHÓ HẢI PHÒNG 35

2.1 Những điều kiện đảm bảo cho việc định tội danh đối vói tội cưó’p o • • • • • 1 tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản 2.1.1 Năng lực chuyên môn của người định tội danh 35

2.1.2 Đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của người định tội danh 42

2.1.3 Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh 43

2.2 Thực tiễn định tội danh đối vói tội cưó’p tài sản và tội cưõng đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng 44

2.2.1 Khái quát về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng 44

2.2.2 Thực tiễn định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng 47

2.3 Một sô tôn tại hạn chê và nguyên nhân CO’ bản trong thực tiên định• • • V 9 • • X - -tội danh đôi vói -tội cưó’p tài sản, -tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng 52

2.3.1 Một số tồn tại, hạn chế 52

2.3.2 Các nguyên nhân cơ bản 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70

CHƯƠNG 3: MÔT SỔ GIẢI PHÁP NHẲM HOÀN THIÊN VÀ NÂNG• ♦ CAO HIỆU QUẢ VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐÓI VỚI TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 71

3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản 71

3.1.1 về phương diện chính trị - xã hội 71

3.1.2 về phương diện lý luận và thực tiễn 73

Trang 3

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam nhằm nâng cao

hiệu quả của việc định tội danh đối vói tội cướp tài sản và tội ♦ > ••• ♦ ± ♦

cưỡng đoạt tài sản 74

3.2.1 Nhận xét chung 74

3.2.2 Những đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể 75

3.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối vói tội cưóp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng 80

3.3.1 Giải pháp nâng cao năng lực chuyênmôn của người định tội danh 80

3.3.2 Giải pháp về công tác tổchức, cán bộ 84

3.3.3 Các giải pháp khác 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bô• • luât hình sư•

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

TNHS : Trách nhiêm • hình sư•

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIẺU ĐÒ

pẤ • xA

Bảng 2.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo đơn vị hành chính 45

Bảng 2.2 Tồng số vụ án về tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và

một số tội phạm khác trong nhóm các tội phạm xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt bị Tòa án nhân dân các Cấp tại thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trong thời gian 05 năm

Bảng 2.3 Tồng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại

thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm về tội cướp tài sản trong

Bảng 2.4 Tồng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại

thành phố Hải Phòng xét xử sơ thấm về tội cưỡng đoạt tài sản

Bảng 2.5 Tổng số bị cáo về tội cướp tài sản, tội cường đoạt tài sản và một

số tội phạm khác trong nhóm các tội phạm xâm phạm sở hũư cótính chất chiếm đoạt bị Tòa án nhân dân các cấp tại thành phốHải Phòng xét xử sơ thẩm trong thời gian 05 năm (2016-2020) 51

Bảng 2.6 Tổng số vụ án và tổng số bị cáo phạm tội cướp tài sản bị thay

đối tội danh của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố HảiPhòng trong thời gian 05 năm (2016-2020) 51

Bảng 2.7 Tổng số vụ án và tổng số bị cáo phạm tội cường đoạt tài sản bị

thay đối tội danh của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hải

Phòng trong thời gian 05 nãm (2016-2020) 52

F

Biểu 2.1 Tồng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại

thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm về tội cướp tài sản trong

Biểu 2.2 Tồng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại

thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền quan trọng của công dânđược pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng của các quốc gia bảo vệkhỏi sự xâm hại của các hành vi phạm tội Ớ Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện hệ thốngpháp luật để ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân

Trải qua các giai đoạn, các bản Hiến pháp của nước đều ghi nhận quyền sởhữu là quyền thiêng liêng, được Nhà nước bảo hộ Gần đây nhất, Hiến pháp năm

2013 tiếp tục ghi nhận và khẳng định:

1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành,nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác

2 Quyền sở hừu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ

3 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi íchquốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tố chức, cá nhân theo giáthị trường [33, Điều 32]

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, đồng thời kế thừa quy định cùa BLHS 1999; BLHS năm 2015 cũng tiếp tục giành 01 Chương quy định các tội xâm phạm sở hữu (Chương XVI) gồm các Điều từ Điều 168 đến Điều 180 Trong đó, hai loại tộiphạm xâm phạm sở hữu mang tính chất chiếm đoạt là tội cướp tài sản và tội cưỡngđoạt tài sản là loại tội phạm phố biến, có tính chất phức tạp và ngày càng gia tăng

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, cùng với phát triển kinh tế - xã hội củađất nước, tội phạm tội cướp tài sản và tội phạm cường đoạt tài sản ở nước ta đã trởnên báo động và khá nghiêm trọng Các tội phạm này không chỉ gây thiệt hại về tàisản cho Nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tình hình anninh và trât tư xã hôi

1

Trang 7

Từ thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến các tội xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt, có thể thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặpnhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh đối với loại tội phạm này, đặc biệt là hai loại tội phạm có một số dấu hiệu tương đồng là tội cưó’p tài sản và tộicưỡng đoạt tài sản Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ các đặc điểm, cơ sở pháp lý củaviệc định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản, cũng như tình hình áp dụng thực tiễn tại phạm vi địa bàn cụ thể là thành phố Hải Phòng, là nội dung cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đế đảm bảo việc định tội danh và quyết định hình phạt thực sự đúng đắn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp của tổ chức, cá nhân.Đồng thời, trên cơ sở đó đề xuất hướng hoàn thiện quy định pháp luật, các biệnpháp đấu tranh, phòng ngừa và vận dụng linh hoạt quy định vào thực tiễn nhằm phát huy hiệu quả quy định của pháp luật hình sự, góp phần vào công tác đấu tranhphòng chống, giảm thiểu thiệt hại cho xã hội do tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạttài sản gây ra cho xã hội.

Với mục tiêu đó, tôi lựa chọn và nghiên cứu về đề tài “Định tội danh đối với

tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở i r • CJ • • • • Xthực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng)” để thực hiện luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản là tội phạm phố biển, mang tính truyền thống được quy định và dần hoàn thiện trong pháp luật hình sự của Việt Nam Vì vậy, đề tài cũng đã được quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ và mức độkhác nhau:

- Ở cấp độ giáo trình,: 1) Giáo trình sau đại học “ Những vấn đề cơ bản trong

khoa học Luật Hình sự phần chung” của TSKH.GS Lê Vãn Cảm, Khoa Luật- Trường đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, 2) Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2011, - Ở cấp độ

sách chuyên khảo: 1) Nguyễn Mai Bộ (2009), Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộluật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2) Dương Tuyết Miên (2007), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội; 3) Trịnh

2

Trang 8

Quốc Toản (1999), Một số vấn đề lý luận về định tội danh và hướng dẫn phương pháp định tội danh, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

- Ở cấp độ bình luận khoa học. 1) Nguyễn Mai Bộ, “Các tội xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt” Tạp chí Tòa án nhân dân (2007), 2) Phạm Văn Báu,

“Tội cướp tài sản trong Luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học (2010), (3) Triệu Thị• Tuyết ’’Phân biệt •• tội lừa đảo chiếm đoạt• tài sản với một số tội • • X • phạm xâm phạmA •

sờ hữu khác”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (ngày 03/10/2019)

- Ở cấp độ luận án, luận văn: 1) Nguyễn Ngọc Chí (2000), "Trách nhiệm hình sự • đối vó'i các tội 9 xâm phạm sở Ẫ 9 hữu ”, ' Luận9 án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước

và pháp luật; 2) Trần Thị Phường (2011/ “Định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-20 ỉ ỉ ” , Luận văn Thạc sỹLuật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; 3) Lê Trung Nhẫn (2016),

“Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang) ", Luận vănthạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; 4) Bùi Quốc Hà(2011), “Định tội danh đối với tội cướp tài sản theo Luật Hĩnh sự Việt Nam ”, Luận

văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Mặc dù các công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên đều đã cơ bản làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữunhưng ở các góc độ, phạm vi, địa bàn khác nhau Ớ góc độ nghiên cứu tồng quát và

cụ thể nhất về định tội danh đối với 02 tội phạm cụ thể là tội cướp tài sản và tộicưỡng đoạt tài sản trong giai đoạn mới (kế từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) và bài học kinh nghiệm, thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Hải Phòng thì chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến Trên cơ sở học hỏi vàtiếp thu kiến thức và kết quả từ các công trình đã công bố, tôi mong muốn tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện một công trình mới với định hướng nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn áp dụng quy định về định tội danh đối với cáctội phạm này trên địa bàn thành phố Hải Phòng đề góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong thời gian tới

3

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đê tài• • •

Mục đích tồng quát là: nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cường đoạt tài sản theo pháp luật hình sự, đánhgiá khách quan thực tiền việc định tội danh tội cướp tài sản và tội cường đoạt tài sảntrên địa bàn cụ thể là thành phố Hải Phòng; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự đối với tộicướp tài sản và tội cường đoạt tài sản Các mục tiêu cụ thể:

(1) Phân tích, làm sáng tỏ căn cứ pháp lý, càn cứ khoa học của việc định tộidanh;/ khái niệm,• X đặc điếm của việc định tội danh đối với tội cướp1 tài sản và tội•cưỡng đoạt tài sản nói riêng So sánh, phân biệt dấu hiệu pháp lý, việc định tội danh giữa tội cưóp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản, giữa các tội phạm này với một số tộiphạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác

(2) Phân tích, đánh giá thực trạng định tội danh đối với tội cướp tài sản và tộicưỡng đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 05 năm (2016- 2020); từ đó, chỉ ra tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân chủ yếu;

(3) Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụngquy định của pháp luật hình sự về định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡngđoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- về đối tượng' Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề định tội danh đối vớitội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thànhphố Hải Phòng)

- về Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phân tích chuyên sâu vấn đềđịnh tội danh đối với 02 tội phạm cụ thể là tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về định tội danh với các tội phạm này tại các tòa án nhân dân trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, về phân tích và đánh giá thựctrạng, luận văn tập trung vào giai đoạn từ năm 2016 đến 2020 và đề xuất các kiến nghị, giải pháp trong thời gian tới

4

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: luận vàn tiến hành liệt kê và chọn lọc các dữ liệu, kết quả thông qua các báo cáo tổng kết của các cơ quan có thẩm quyền, công trình nghiên cún như: luận văn, các tài liệu tham khảo chuyên ngành,bài đăng trên tạp chí luật chuyên đề về định tội danh, dữ liệu của tòa án các cấp

- Phương pháp tổng hợp và phương pháp lịch sử được sử dụng chú yếu tại Chương 1 nhằm đạt hiệu quả cao trong việc nghiên cứu tài liệu liên quan đến nhữngvấn đề lý luận về tội danh đối với tội cưóp tài sản và tội cường đoạt tài sản trongpháp luật hình sự Việt Nam

- Phương pháp so sánh, đối chiếu kết hợp với phương pháp phân tích quyphạm pháp luật nhằm phân tích thực trạng các toàn thể các quy định cụ thế của phápluật về tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

- Phương pháp thu thập số liệu và đánh giá số liệu thu thập được về thựctiễn áp dụng áp dụng pháp luật về tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản từ các tòa án cấp huyện và tòa án cấp thành phố tại thành phố HảiPhòng tại Chương 2

- Phương pháp tổng hợp kết quả và phân tích để chỉ ra các hạn chế, nguyênnhân và kiến nghị một số biện pháp nhàm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về tội danh đối với tội cướp tài sản vàtội cường đoạt tài sản trong thời gian tới tại Chương 3

6 Ý nghĩa khoa học và lý luận của luận văn

Nghiên cứu lý luận về nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về định tộidanh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành, từ đó có giá trị tham khảo, nghiên cứu và là cơ sở khoa học cho các đề tài saunày Đồng thời, Luận văn đề cập những nội dung mới như sau:

(1) So sánh, đối chiếu, rút ra các đặc điểm cơ bản, đặc trưng trong việc định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

(2) Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng quy định về định tộidanh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản từ năm 2016-2020 trên địa

5

Trang 11

bàn thành phô Hải Phòng, thông qua sô liệu thứ câp và sô liệu thực tê các vụ án liên quan tội phạm này tại các tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hải Phòng.

(3) Đề xuất kiến nghị, phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

về luận về định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản và các nhóm giải pháp cốt lõi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong việc địnhtội danh với các tội phạm này tại địa bàn thành phố Hải Phòng và cả nước

7 Những điểm mói của Luận văn

Đề tài phân tích, đánh giá dựa trên những bản án, quyết định, báo cáo công tác ngành Tòa án tại thành phố Hải Phòng, góp phần làm rõ hơn thực trạng về định tội danh trên địa bàn đã nêu

Đề tài nghiên cứu cứu toàn diện, chuyên sâu về định tội danh đối với 02 tộiphạm cụ thế là tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản trong giai đoạn 2016-2020

và bài học kinh nghiệm, thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Hải Phòng Từ đó chỉ ra những hạn chế và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong việc định tội danh với các tội phạm này tại địa bàn thành phố Hải Phòng và cả nước

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm 3 chương:

Chương ỉ Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội cướp tài sản vàtội cường đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam

Chương 2. Những điều kiện bảo đảm và thực tiễn áp dụng quy định của phápluật hình sự về định tội danh đối với tội cướpJL tài sản và tội cường đoạt ^2 • tài sản trênđịa bàn thành phố Hải Phòng

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

6

Trang 12

Chương 1 MỘT SÓ VÁN ĐÈ CHUNG VÈ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI

TỘI CUỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, ý nghĩa, căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh

/ / / Khái niệm, ỷ nghĩa của việc định tội danh

Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, cùng với việc nghiên cứu các quy định mới của BLHS năm 2015 thì việc nghiên cứuchuyên sâu những vấn đề lý luận cơ bản về định tội danh vẫn luôn được các nhà khoa học, các luật gia quan tâm, nghiên cứu bởi đây là vấn đề không những có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học mà còn về mặt thực tiễn

Do đó, trước khi đi vào phân tích khái niệm và các đặc điểm của việc địnhtội danh đối với các tội phạm cụ thế là tội cướp tài sản và tội cưởng đoạt tài sản thìcần làm rõ khái niệm định tội danh theo nghĩa chung nhất

Đối với khái niệm định tội danh, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu được đưa ra, các quan điểm này cơ bản đều đưa ra nội hàm cơ bản và thống nhất về khái niệm này

Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm, định nghĩa khoa học của khái niệm định tộidanh như sau:

Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời làmột trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự,cũng như pháp luật tố tụng hình sự được các chủ thể có thẩm quyền theoquy định pháp luật tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tàiliệu thu thập được và các tình tiết khách quan của vụ án hình sự đế đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thế tương ứng được luật hình sự quy định [10, tr 21]

7

Trang 13

Theo quan điêm của PGS.TS Trịnh Quôc Toản:

Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp (đồng nhất) giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã đượcthực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng đượcquy định trong Bộ luật hình sự Nói cách khác định tội là việc xác định hành vi cụ thể đà thực hiện thoa mãn đầyJ đủ các dấu hiệu cùa tộinào trong các trong số các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình

sự, đồng thời Kết luận, định tội danh là một quá trình logic nhất định,

là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thực hiện Nó đồngthời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, thểhiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hộiđang được kiếm tra, xác định trong mối tương quan với các quy phạm pháp luật hình sự [40, tr 7-8]

Theo quan điểm của PGS.TS Dương Tuyết Miên:

Định tội danh được hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành

tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiềm sát, Tòa án) và một số cơ quankhác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người

có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tộicho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [21, tr 9]

Còn theo PGS.TS Lê Văn Đệ, định tội danh được hiểu dưới hai nghĩa:

Với ý nghĩa thứ nhất: Định tội danh là một quá trình logic nhất định, làhoạt động của cán bộ có thẩm quyền trong việc xác nhận sự phù hợpgiừa trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong một quy phạm pháp luật thuộc phần các tội phạm• 1 • • • •Bộ luật hình sự

Với ỷ nghĩa thứ hai, định tội danh là sự đánh giá về mặt pháp lý đối vớihành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trong thực tế mà cán bộ có thấmquyền đang xem xét nhằm xác định hành vi đó thỏa mãn những dấu hiệucủa cấu thành tội • JL • phạm được quyJL định tại điều khoản nào cùa Bộ ••luật hình sự [14, tr 10-11]

8

Trang 14

Trên cơ sở tham khảo quan điêm đúng đăn, khoa học cùa GS.TSKH Lê Văn Cảm, tác giả kế thừa các khái niệm và xin nêu lại như sau: Định tội danh là một quá

trình nhận thức lỵ luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng phcip luật hĩnh sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự được các chủ thể có thâm quyền theo quy định pháp luật tiến hành bằng cách - trên cơ sỏ' các chúng cứ, các tài liệu thu thập được và các tĩnh tiết khách quan của vụ án hình

sự để đổi chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu

của hành vỉ nguy hiếm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thê tương ứng được luật hình sự quy định [10, tr 21]

Như vậy, từ khái niệm này có thể khẳng định một cách xác đáng và có căn

cứ rằng: mục đích định tội danh là nhằm đạt được sự< thật4 khách quan X - đưa ra sựđánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thế hóa

và phân hóa TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật

Đồng thời, cũng trên cơ sở tham khào quan điểm nghiên cứu khách quan và toàn diện của GS.TSKH Lê Văn Cảm, tác giả xin kế thừa và tổng hợp những đặcđiếm cơ bản của việc định tội danh như sau:

Thứ nhất, định tội danh là một quấ trình nhận thức lý luận có tính logic được thể hiện dưới hai khía cạnh: Xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho

xã hội được thực hiện có phù hợp (tương đồng) với các dấu hiệu của cấu thành tộiphạm cụ thể do điều tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy định hay không Trên cơ sở đó, đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với một hành

vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã xảy ra trong thực tế khách quan [11, tr.21-22]

Thứ hai, định tội 7 • • danh còn có thế được hiếu là một 4 hình thức hoạt động• ^2 thực tiễn pháp lý của các cơ quan tư pháp hình sự - các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử

để cụ thể hoá các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế, tức làlựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho

xã hội cụ thế nào đó được thực hiện trong thực tế khách quan và từ đó, đưa ra kếtluận là: hành vi được xem xét ấy có đày đủ các dấu hiệu của tội phạm tương ứng đ-ược qui định trong pháp luật hình sự thực định hay không (?) [11, tr.22]

9

Trang 15

Thứ ba, việc thiêt lập các dâu hiệu đặc trưng cơ bản và điên hình đê xác định bản chất pháp lý của hành vi nguy hiềm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan là một vấn đề rất quan trọng của quá trình định tội danh, mà toàn bộ quá trình nàyphải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm của luật nội dung (vật chất) - được quy định trong BLHS, cũng như của luật hình thức - được quy định trong BLTTHS [11, tr.21]

Thứ tư, định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành về cơ bản theo bốn bước cụ thề là: (l)Xemxét và thiết lập đúng các tình tiết thực tế của vụ án trong sự phù họp với hiện thựckhách quan; (2) Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các qui phạm pháp luật hình sự đang có hiệu lực thi hành; (3) Lựa chọn đúng Điều (các điều) tươngứng trong Phần các tội phạm BLHS quy định TNHS đối với tội phạm cụ thể để so sánh, đối chiếu và kiếm tra các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đó với các tình tiết cụthể của hành vi nguy hiềm cho xã hội đà được thực hiện và, cuối cùng; (4) Sau khi đà

so sánh, đối chiếu và kiểm tra đầy đủ và chính xác xong, thì ra một văn bản áp dụngpháp luật mà trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự phù hợp (tương đồng) của hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành tội phạm

cụ thể tương ứng được qui định trong luật hình sự [11, tr 22-23]

Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic diễn ra theo bagiai đoạn mà nội dung cùa chúng dược thế hiện dưới đây:

* Giai đoạn thứ nhất - xác định quan hệ pháp luật Giai đoạn này thể hiệnbằng việc phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của hành vi nguy hiềm cho xã hộiđược thực hiện để xác định xem hành vi đó có các dấu hiệu của tội phạm hay không (?) - có phải là hành vi bị luật hình sự cấm không (hay chỉ là hành vi vi phạm pháp luật khác) Tức là phải dựa vào Điều 143 BLTTHS năm 2015 quy định về các căn

cứ khởi tố vụ hình sự (như: tố giác của công dân, tin báo của cơ quan nhà nước hoặc tố chức xã hội, v.v ) đế “xác định dấu hiệu của tội phạm” Trong giai đoạnthông thường sẽ có ba khả năng như sau xảy ra:

1) Không được khởi tố vụ án hình sự khi có 1 trong 8 căn cứ được quy địnhtại Điều 157 BLTTHS năm 2015;

10

Trang 16

2) Nêu hành vi được thực hiện là vi phạm pháp luật khác, thì tùy theo giaiđoạn tố tụng hình sự tương ứng mà cơ quan chức năng gửi tin báo hoặc đơn báo hoặc đơn tố giác cho cơ quan nhà nước (tồ chức xã hội) hữu quan để giải quyết theo thẩm quyền;

3) Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện có các dấu hiệu của tội phạm, thi có nghĩa là phát sinh quan hệ pháp luật hình sự và như vậy chuyểnsang giai đoạn thứ hai [11, tr 24]

* Giai đoạn thứ hai - tìm nhóm quy phạm pháp luật hình sự Đây là giai đoạn xác định xem tội phạm mà chủ thề thực hiện thuộc chương tương ứng nào trong Phần các tội phạm BLHS quy định và nó được thể hiện bằng việc: (1) Xác định xem khách thể loại (nhóm quan hệ xã hội nào) được pháp luật hình sự bảo vệ đã bị tội phạm xâm hại đến; (2) Người phạm tội, ngoài các dấu hiệu chung chủ thế của tội phạm còn cócác dấu hiệu riêng bố sung khác của chủ thể đặc biệt (như: người có chức vụ hoặc quân nhân, v.v ) hay không và sau đó chuyển sang giai đoạn thứ ba [11, tr 25-26]

* Giai đoạn thứ ba - tìm quy phạm pháp luật hình sự cụ thể Đây là giai đoạn

so sánh, đối chiếu và kiểm tra xem các dấu hiệu của tội phạm mà người phạm tội đã thực hiện thuộc Chương của Phần các tội phạm BLHS đã tìm được (ở giai đoạn trên) là do Điều luật cụ thể nào trong Chương ấy qui định, tức là phải xác định xem

đó là tội phạm gì, đồng thời tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể nào (cấu thànhtội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tàng nặng, cấu thành tội phạm đặc biệt tăngnặng hoặc cấu thành tội phạm giảm) và cấu thành tội phạm ấy thuộc khoản nào trong Điều luật cụ thể đã tìm được [9, tr 15-16]

Việc định tội danh đúng có ý nghĩa không chỉ về pháp luật mà cả về mặt chính trị - xã hội, cụ thể:

Một là, định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, một nội dungquan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự và là một trong những biện pháp đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống Với việc cụ thế hóa các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế, việc định tội danh đúng là tiền đề, là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình

11

Trang 17

sự và pháp luật tố tụng hình sự vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử Chẳng hạn,trong quá trình xét xử, thì chỉ sau khi thực hiện xong việc định tội danh, Toà án mới

có cơ sở để giải quyết vấn đề áp dụng hình phạt này hay hình phạt khác đối vớingười phạm tội

Hai là, định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của luật hình sự quốc tế và luật hình sự trong Nhà nước pháp quyền (như: pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đăng trướcluật hình sự, không tránh khỏi trách nhiệm, công minh và nhân đạo) [10, tr 17-18]

Ba là, định tội danh đúng còn là một trong những cơ sở đề áp dụng chính xáccác quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn tạm giam, thẩmquyền điều tra, thẩm quyền xét xử góp phần có hiệu quả vào việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự [10, tr 18]

Ngược lại, định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt hậu quả tiêu cực như: không bảo đảm được tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật của hình phạt do Tòa án quyết định, truy cứu TNHS người vô tội, bỏ lọt kẻ phạm tội, thậm chí xâm phạm thô bạo danh

dự và nhân phấm, các quyền và tự’ do của công dân như là những giá trị xã hội cao quí nhất được thừa nhận chung trong Nhà nước pháp quyền, cũng như xâm phạm pháp chế, đồng thời còn làm giảm uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa

án, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, v.v [10, tr 18]

1.1.2 Căn cứ pháp lý của việc định tội danh

Dưới góc độ khoa học luật hình sự những căn cứ pháp lý của việc định tội danh

có thế được hiểu trên hai bình diện (hoặc theo hai nghĩa) rộng và hẹp dưới đây

(1) Trên bình diện rộng (hiểu theo nghĩa cả về nội dung và hình thức), thìnhững căn cứ pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các qui phạm pháp luậthình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống cácqui phạm pháp luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bố trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiếm cho xã đượcthực hiện là tội phạm [11, tr 26]

(2) Trên bình diện hẹp (chỉ hiểu theo nghĩa về nội dung), thì những căn cứ

12

Trang 18

pháp lý của việc định tội danh là chỉ có hệ thông các qui phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm [10, tr.27]

Ngoài việc áp dụng điều luật quy định tội phạm cụ thể, thực tiễn vụ án có sự

đa dạng về nhiều vấn đề khác mà đòi hởi khi định tội danh cần căn cứ vào các điềuluật trong phần chung Bộ luật hình sự như: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt,đồng phạm, tái phạm nguy hiểm, mới xác định tội danh chính xác [16, tr 18]

Từ đó có thế thấy Bộ luật hình sự - cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội

danh Như vậy trong quá trình định tội danh nếu hiếu theo nghĩa hẹp (chỉ về nội dung) thì BLHS có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, vì nó đóng vai trò là cơ

sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) của việc định tội danh

GS.TS Võ Khánh Vinh đã nhận định: "Suy cho cùng thì quá trình định tội danh phải đưa ra kết luận; viện dẫn điều nào trong Bộ luật hình sự" [45, tr 7]

Theo GS TSKH Lê Văn Cảm thì việc khẳng định “Bộ luật hình sự - cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh ” có những lý do đúng đắn như sau:

(1) Hiện nay theo pháp luật hình sự Việt Nam, thì BLHS hiện hành được coi

là nguồn trực tiếp và duy nhất ghi nhận toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung,cũng như quá trình định tội danh và quyết định hình phạt nói riêng [ 1 o,tr 27]

(2) Bản chất của việc định tội danh suy cho cùng là so sánh, đối chiếu và kiểm tra để xác định• • xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện• • • • trong thực tế khách quan có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của một tội phạm cụthể nào đó được qui định trong Phần các tội phạm BLHS hay không [10, tr 27]

(3) Nhà làm luật khi xây dựng hệ thống các quy phạm của Phần các tội phạm của BLHS - trong quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội - đà tìm xem các dấu hiệu nào là đặc trưng cơ bản nhất, phố biến nhất và hay được lặp đi lặp lại nhiều nhất trong những hành vi ấy, sau đó điển hình hóa và quy định chúng trong BLHS với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc tương ứng của các cấu thành tộiphạm cụ thể (cẩu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng, cẩu thành

13

Trang 19

tội phạm đặc biệt tàng nặng hoặc câu thành tội phạm giảm nhẹ) đê các cơ quan tưpháp hình sự dùng làm mô hình pháp lý của việc định tội danh [10, tr 27, 28]

(4) BLHS quy định và liệt kê tất cả những hành vi nguy hiểm cho xã hội thường xảy ra trong thực tế bị nhà làm luật nhân danh nhà nước coi là tội phạm Nói một cách khác, BLHS với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội danh chứa đựng những mẫu (mô hình) pháp lý của các tội phạm, mà dựa vào đó nhừng ng­ười có thẩm quyền tiến hành việc định tội danh xác định sự phù hợp của các dấu hiệu của những hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thế tương ứng được thực hiện [10, tr 28]

(5) BLHS bao gồm hệ thống các nhóm quy phạm pháp luật được nhà làm luật sắp xếp thành hai Phần - Phàn chung và Phần các tội phạm, - mà những người

có thẩm quyền tiến hành việc định tội danh đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan phải đồng thời dựa vào cả hai nhóm quy phạm pháp luật hình sự này [10, tr 28, 29]

(6) Đối với các quy phạm pháp luật hình sự, thì về cơ bản phần giả địnhđược đề cập trong Phần chung BLHS, còn phần quy định và phần chế tài - trongPhần các tội phạm [10, tr 29]

(7) Xét về mặt cấu trúc, thì mặc dù các quy phạm pháp luật hình sự khi mô tả các dấu hiệu của mỗi tội phạm trong Phần các tội phạm BLHS năm 2015 về cơ bản

là đều theo một quy định chung - mỗi điều luật đều đề cập đến một mô hình tộiphạm, nhưng cũng có những trường hợp một điều luật đề cập đến nhiều (hai hoặcthậm chí ba) mô hình tội phạm với một chế tài chung Ngoài ra, cấu trúc của quy phạm pháp luật hình sự còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội danh khi nóxác định vị trí và vai trò cúa tình tiết tàng nặng (hoặc giảm nhẹ) nào đó trong một cấu thành tội phạm cụ thể [10, tr 30]

1.1.3 Căn cú' khoa học của việc định tội danh• • • •

Hầu hết các quan điểm nghiên cứu hiện nay đều thống nhất cho rằng: cấu thành tội• JL • phạm chính là căn cứ khoa học của việc định tội danh Hiện tại trong khoahọc luật hình sự khái niệm cấu thành tội • JL • phạm vẫn còn được hiểu theo nhiều nghĩakhác nhau Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, về cơ bản, quan điểm được thừa

14

Trang 20

nhận rộng rãi vê khái niệm của câu thành tội phạm là tông hợp những dâu hiệu đặctrưng cho loại tội phạm cụ thế được quy định trong pháp luật hình sự.

Trên cơ sở phân tích khoa học lý luận về cấu thành tội phạm và nghiên cứuthực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về định tội danh, theo quan điểm cùa tác giả, có thể đưa ra định nghĩa khoa học ngắn gọn của khái niệm cấu thành tộiphạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vàocác dấu hiệu đó một hành vi nguy hiếm cho xã hội bị coi là tội phạm Nói cách khác, một cấu thành tội phạm cụ thể là tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan bátbuộc, mà bằng các dấu hiệu đó, nhà làm luật quy định tại quy phạm của Phần các tộiphạm BLHS tính chất tội phạm và tính chất bị xử phạt (hay còn gọi là tính chất bị xừ

lý về hình sự) của hành vi nguy hiểm cho xã hội tương ứng bị luật hình sự cấm, đồng thời chỉ ra loại hình phạt nào và trong giới hạn nào nó có thể được Toà án áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm ấy [10, tr 35]

Việc nghiên cứu những vấn đề về cấu thành tội phạm, chính vì thế, có ý nghĩa pháp lý hình sự rất quan trọng đối với quá trình định tội danh, vì định tội danhchính xác tức là xác định đúng sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất đinh nào đó được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tộiphạm tương ứng - các dấu hiệu được quy định tại một quy phạm pháp luật hình sự

cụ thể của Phần các tội phạm trong BLHS

Từ khái niệm cấu thành tội phạm đã được đưa ra trên đây cho thấy, bất kỳ cấu thành tội phạm cũng phải có các đặc điểm cần và đủ như sau: [10, tr 36]

Một là, cấu thành tội phạm là một hệ thống các dấu hiệu pháp lý khách quan

15

Trang 21

Và cuôi cùng, câu thành tội phạm chính là mô hình pháp lý của tội phạm [10, tr 36]

Yếu tố của cấu thành tội phạm có thể được định nghĩa là bộ phận hợp thànhcủa cấu trúc trong cấu thành ấy và bao gồm một nhóm các dấu hiệu tương ứng vớicác phương diện (các mặt) cùa hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm(tức là hành vi bị nhà làm luật coi là tội phạm) Quan điềm truyền thống được thừanhận chung trong khoa học luật hình sự là: cấu thành tội phạm có bốn yếu tố -khách thể (1), mặt khách quan (2), chù thể (3) và mặt chù quan (4) của tội phạm Đe nhận thấy rõ bản chất của mỗi yếu tố cấu thành tội phạm, dưới đây chúng ta Cần phải đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm cùa từng yếu tố như sau:

- Khách thế của tội phạm - đó là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo

vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến vàgây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định [12, tr 327]

- Mặt khách quan của tội phạm - đó là mặt bên ngoài cùa sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là

sự thế hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan [12, tr 327]

- Chủ thể của tội phạm - đó là người đã có lồi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuốichịu TNHS theo luật định (ngoài ra, trong một số trường họp cụ thể còn là có một số dấuhiệu bố sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương úng quy định) [12, tr 327]

- Mặt chủ quan của tội phạm - đó là mặt bên trong của sự xâm hại nguyhiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức

là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành

16

Trang 22

1.2 Khái niệm, đặc điêm của việc định tội danh đôi vói tội cướp tài sản

1.2.1 Khái niệm định tội danh đối với tội cướp tài sản• • • • JT

Tội cướp tài sản là loại tội phạm đặc trưng, phổ biến được thực hiện trong nhóm các tội • xâm phạm X • sở hữu có tính chất chiếm đoạt.• Việc định tội danh• • • đối vớitội cướp tài sản là hoạt động tố tụng cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng vànhững người tiến hành tố tụng trên cơ sở những dấu hiệu cơ bản của cấu thành tộiphạm của tội cướp tài sản phân tích, đánh giá nhằm xác định hành vi phạm tội đó cóthỏa mãn các dấu hiệu của hành vi cưóp tài sản, thuộc khoản (khung) cụ thể nào đế

từ đó ban hành các quyết định tố tụng tương ứng theo quy định pháp luật

BLHS năm 2015 quy định về tội “Cướp tài Sếỉrc” như sau: “ỉ Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người

bị tấn công lâm vào tình trạng không thê chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản,

thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm " [34, Điều 168 ]

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, tác giả thống nhất với quan điểm địnhnghĩa về tội cướp tài sản như sau: Tội cướp tài sản là hành vi của một người đủ tuối chịu TNHS và có năng lực TNHS cố ý dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tứckhắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thểchống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản [25, tr 24-25]

Trên cơ sở các khái niệm định tội danh và tội cướp tài sản đã phân tích nêu trên, J có thế đưa ra khái niệm định••• tội danh đối với tội• cướp1 tài sản như sau: Định ••tội danh đổi với tội cướp tài sán là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng

thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, được tiến hành bằng cách — trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và

các tình tiết khách quan của vụ án hình sự đê đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định hành vỉ phạm tội có thỏa mãn nhưng dấu hiệu của cấu thành tội cướp tài

sản hay không, nếu có thì thuộc điếm, khoản nào của Điều 168 Bộ luật hình sự.

1.2.2 Đặc điếm của việc đinh tội danh đối với cướp tài sản • • • • X

Thứ nhất, định tội danh đối với tội cướp tài sản là một quá trình nhận thức lýluận có tính logic4^7 được thế hiện với việc xác định xem các dấu hiệu của hành vi

17

Trang 23

nguy hiêm cho xã hội được thực hiện có phù hợp (tương đông) với các dâu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tại điều 168 BLHS năm 2015.

Thứ hai, định tội danh đối với tội cướp tài sản được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết khách quan của

-vụ án cướp tài sản để đối chiếu, so sánh, kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa cácdấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu cúa cấuthành tội phạm quy định tại điều 168 BLHS năm 2015

Thứ ba, căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội cướp tài sản chính

là BLHS (bao gồm Phần chung và Phần các tội phạm), cụ thể là điều 168 BLHS.Trong khi đó căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội cướp tài sàn chính

là cấu thành tội phạm này (bốn yếu tố: khách thế của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chú thế của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm) Cụ thế:

- Khách thể của tội phạm: Đối với tội cướp tài sản, khách thề của tội phạm baogồm cả quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân, hay nói cách khác, tội cướp tài sản làtội phạm cùng một lúc xâm phạm hai khách thể, nhưng khách thể bị xâm phạm trước

là quan hệ nhân thân, thông qua việc xâm phạm đến nhân thân mà người phạm tộixâm phạm đến quan hệ tài sản (dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản), nếu không xâmphạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội cướp tài sản không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản được Đây cũng là đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản, nếu chỉxâm phạm đến một trong hai quan hệ xã hội thì chưa phản ảnh đầy đủ bản chất củatội cướp tài sản, đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội cướp tài sản với các tội khác xâm phạm sở hữu và các tội mà người phạm tội có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản

Do tội cướp tài sản cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thề, nên trong cùng một vụ án có thể có thể có một người bị hại, nhưng cũng có thể có nhiều người

bị hại, có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản; có người bị hại bị xâm phạmđến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; có người bị hại bị xâm phạm đến cảtài sản, tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự

Những tài sản không phải là đối tượng của tội cưóp tài sản cũng như các tội

18

Trang 24

phạm sở hữu khác: Những tài sản mang tính chât tự nhiên như: rừng nguyên sinh, khoáng sản, động vật hoang dã trong rừng; Những tài sản có tính năng đặc biệt như:

vũ khí, vật liệu nồ, tàu bay, tàu thủy, công trình quan trọng liên quan đến an ninhquốc gia Đối với các tài sản này, BLHS đã có tội riêng để quy định và khi định tộidanh thì định tội danh theo những tội riêng đó

- Mặt khách quan cùa tội phạm: Mặt khách quan của tội cướp tài sản được thểhiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn được mô tả trong điều luật: Dùng

vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấncông lâm vào tình trạng không thề chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Hành vichiếm đoạt là hành vi mong muốn dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sảncủa mình trái pháp luật và trái ý chí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản

Hành vi dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất (có vũ khí hoặccông cụ, phương tiện khác) để chủ động tấn công người quản lý tài sản hoặc người khác; hành động tấn công này có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏecủa người bị tấn công và làm cho họ mất khả năng chống cự lại hoặc công khai đếcho người bị tấn công biết

Đe dọa dùng ngay tức khắc thông thường được kết hợp giữa hành vi sử dụng

vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo tạo cảm giác cho người bị tấncông sợ và tin ràng người phạm tội sẽ dùng bạo lực ngay tức khắc nếu không giao tài sản Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống

cự được là hành vi cho người bị tấn công tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không

có cách nào chống cự được hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng, sức khỏesong không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra

Việc xác định thế nào là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt tội cưóp tài sản với tội cường đoạt tài sản, nếu đe doạ dùng vũ lựcnhưng không ngay tức khắc thỉ đó là là dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản Ngay tứckhắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yểu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội Đe

19

Trang 25

doạ dùng vũ lực ngay tức khăc, cũng có nghĩa là nêu người bị hại không giao tài sảnhoặc không đế cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức và được coi là hoànthành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực,

đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lầmvào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không

- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường Bất

kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS đều có thể trở thành chủ thế của tội cướp tài sản

- Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội không chỉ cố ý thực hiện hành

vi phạm tội mà còn phải có mục đích chiếm đoạt tài sản thì mới là tội cướp tài sản.Như vậy, ý thức chiếm đoạt của người phạm tội phải có trước khi thực hiện hành vidùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người

bị tấn công lâm vào tinh trạng không thể tự vệ được Nếu có hành vi tấn công nhưng

vì động cơ và mục đích khác chứ không nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng sau đó người bị tấn công bở chạy, để lại tài sản và người có hành vi tấn công lấy tài sản đó thi không phải là tội cướp tài sản mà tuỳ vào trường hợp cụ thể mà truy cứu TNHS người có hành vi tấn công theo các tội tương ứng, riêng hành vi chiếm đoạt củangười có hành vi tấn công có thể là hành vi phạm tội công nhiên chiếm đoạt hoặc chiếm giữ trái phép tuỳ thuộc vào tùng trường họp cụ thể

Nhiều trường hợp tuy lúc đầu người phạm tội không có ý định chiếm đoạt tàisản, nhưng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã nảy sinh ýđịnh chiếm đoạt và sau đó tiếp tục có hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lựcngay tức khắc để chiếm đoạt bằng được tài sản thì hành vi chiếm đoạt tài sản vẫn bị coi là hành vi phạm tội cướp tài sản

Như vậy, mục đích giữ lại tài sản sau khi đã chiếm đoạt được bằng cáchdùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc có hành vi khác làm chongười bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là cướp tài sản

Tội cướp được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ

20

Trang 26

hành vi của mình là nguy hiêm cho xã hội, thây trước hậu quả của hành vi đó là tàisản của người khác chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác là yếu tố bắt buộc của cấu thànhtội cướp tài sản Nếu thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tàisản thì không phạm tội cướp tài sản

77n'r tư, kết quả của quá trình định tội danh đối với tội cuớp tài sản thể hiện thông qua một văn bản áp dụng pháp luật và bởi cơ quan, chủ thể có thẩm quyền do pháp luậtquy định Từ văn bản áp dụng pháp luật đó, sẽ phát sinh các hậu quả mà người phạm tộiphải gánh chịu Các loại văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động định tội danh đối vớitội cướp tài sản theo quy định cùa Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm:

- Quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hỉnh sự;

- Quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;

- Quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can;

- Quyết định đinh chỉ vụ án; quyết định đình chỉ điều tra bị can;

- Quyết định điều tra bổ sung, điều tra lại;

- Quyết định phục hồi điều tra;

- Quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra;

- Kết luận điều tra;

- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

- Bản cáo trạng;

- Bản án;

- Bản kháng nghị; quyết định kháng nghị;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

1.3 Khái niệm, đặc điềm của việc định tội danh đối vói tội cưỡng đoạt tài sản

1.3,1 Khái niệm định tội danh đoi vói tôi cưõTig đoạt tài sản• i • • o •

Tương tự như với tội cướp tài sản, việc định tội danh đối với tội cưỡng đoạttài sản là hoạt động tố tụng cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người

21

Trang 27

tiên hành tô tụng trên cơ sở những dâu hiệu cơ bản của câu thành tội phạm của tộicuớp tài sản phân tích, đánh giá nhằm xác định hành vi phạm tội đó có thỏa mãn các dấu hiệu của hành vi cưỡng đoạt tài sản, thuộc khoản (khung) cụ thể nào để từ

đó ban hành các quyết định tố tụng tương ứng theo quy định pháp luật

BLHS năm 2015 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản như sau: "Người nào đe

doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm

đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm " [34, Điều 170]

Từ quy định cùa luật thực định, có thể rút ra định nghĩa khoa học về tội cưỡngđoạt tài sản như sau: Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi của một người đủ tuổi chịuTNHS và có năng lực TNHS có hành vi cố ý uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làmcho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải giao tài sản cho người phạm tội

Trên cơ sở các khái niệm định tội danh và tội cưỡng đoạt tài sản đã phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với tội cưỡng đoạt tài sản như sau:

Định tội danh đối với tội cưỡng đoạt tài sán là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật

hình sự, được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chúng cứ, các tài liệu thu thập

đ-ược và các tình tiết khách quan của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiêm tra

nhằm xác định hành vi phạm tội có thỏa mãn nhũng dấu hiệu của cấu thành tội cưỡngđoạt tài sản hay không, nếu có thì thuộc điếm, khoản nào của Điều 170 BLHS.

1.3.2 Đặc điếm của việc định tội danh đối với tội cưỡng đoạt tài sản• • • • • o •

Thứ nhất, định tội danh đối với tội cường đoạt tài sản là một quá trình nhậnthức lý luận có tính logic được thế hiện với việc xác định xem các dấu hiệu củahành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp (tương đồng) với các dấuhiệu cua cấu thành tội * JL * phạm cụ thể* tại* điều 170 BLHS

Thứ hai, định tội danh đối với tội cưỡng đoạt tài sản được tiến hành bàngcách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết khách quan của vụ án cướp tài sản để đối chiếu, so sánh, kiểm tra để xác định sự phù hợp giữacác dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy định tại điều 170 BLHS

22

Trang 28

Thứ ba, căn cứ pháp lý của việc định tội danh đôi với tội cưỡng đoạt tài sảnchính là Bộ luật hình sự (bao gồm Phần chung và Phần các tội phạm), cụ thể là điềuđiều 170 BLHS Trong khi đó căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội cướp tài sản chính là cấu thành tội phạm này (bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thề của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm) Cụ thể:

- Khách thể cùa tội phạm: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tàisản của người khác (tương tự như khách thể của tội cướp tài sản)

- Mặt khách quan của tội phạm:

Có hành vi đe doạ dùng vũ lực Được hiểu là hành vi của người phạm tội đedoạ sẽ thực hiện một hành động (hay đe doạ sẽ sử dụng sức mạnh vật chất) để gây thiệt hại cho người C2 bị hại • • Mục đích của việc đe doạ này J là làm cho người bị hại sợ

và giao tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt theo đòi hỏi mà người phạm tội đưa

ra gắn liền với hành vi đe doạ nêu trên

Khác với hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực trong tội cướp tài sản, việc đe doạ này không mang tính mãnh liệt và tức thời, người bị hại (người chủ tài sản hoặc người quản lỷ tài sản) hoàn toàn có điều kiện chuẩn bị đối phó và chưa đến mứclàm tê liệt chí ý kháng cự của họ, mà chỉ hạn chế ở chỗ làm cho họ lo sợ ở mức độ nhất định, đồng thời họ vẫn có thời gian để lựa chọn giữa việc kháng cự hay chấpnhận giao tài sản (đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tội cướp tài sản với tội này) Việc đe doạ được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp

+ Đe doạ trực tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe doạ bằng lời nói, cửchỉ, hành động công khai, trực tiếp với người bị hại

+ Đe doạ gián tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe doạ thông qua các hìnhthức như: nhắn tin, điện thoại, thư mà không gặp người bị hại

Các hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác Được hiểu là dùng các thủ đoạn gây áp lực rất lớn về tinh thần của người bị hại để buộc họ phảigiao tài sản cho người phạm tội đế chiếm đoạt theo đòi hỏi mà người phạm tội đưa

ra, kèm với việc dùng thủ đoạn đó

Các thủ đoạn thường sử dụng là lợi dụng những lỗi lầm, khuyết điểm của

23

Trang 29

người bị hại mà người phạm tội biêt được đê đe doạ sè làm ảnh hưởng đên uy tín, danh dự, nhân phấm của họ (ví dụ: Doạ tố cáo bí mật đời tư cúa một người, mà bí mật này sẽ ảnh hưởng đến danh dự của họ) hoặc doạ gây ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ xã hội khác như các mối quan hệ kinh doanh (Ví dụ: phát hiện nước giải khát đóng chai của một công ty có tạp chất, đã doạ công ty này phải đưa mộtkhoản tiền lớn để người phạm tội không tiết lộ thồng tin này )

Thời điểm hoàn thành tội phạm này được tính từ lúc người phạm tội thực hiệnxong hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác kèmtheo đòi hỏi về giao tài sản để (với mục đích) chiếm đoạt Nếu chỉ thuần tuý đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần mà không có hay không gắn liền vớiyêu cầu về tài sản để chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm này

+ Nếu người phạm tội mới có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện, kếhoạch để đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thú đoạn khác nhàm chiếm đoạt tài sảnnhưng chưa thực hiện được thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội này ở giai đoạn chuẩn

- Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi

cố ý Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này

về nguyên tắc mục đích chiếm đoạt tài sản phải có trước hành vi đe doạ

sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần khác Nhưng cũng cótrường hợp chuyến hoá tội phạm, có nghĩa là người phạm tội đã thực hiện mộttội phạm khác, nhưng sau đỏ lại xuất hiện mục đích chiếm đoạt tài sản, thì cũngphạm vào tội này

24

Trang 30

Thứ tư, kêt quả của quá trình định tội danh đôi với tội cưỡng đoạt tài sản thêhiện thông qua một văn bản áp dụng pháp luật và bởi cơ quan, chù thế có thấmquyền do pháp luật quy định Từ văn bản áp dụng pháp luật đó, sẽ phát sinh các hậu quả mà người phạm tội phải gánh chịu Các loại văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động định tội danh đối với tội cường đoạt tài sản theo quy định cùa Bộ luật tốtụng hình sự tương tự như đối với tội cướp tài sản sản đã trinh bày như trên.

1.4 Một số nội dung cần phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản; giữa tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản vói một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác

1.4 ỉ Một số nội dung cần lưu ỷ, phân biệt, làm rô khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản

Tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản có những đặc điếm chung là được thực hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích của tội phạm đều nhàm chiếmđoạt tài sản Chủ thể của hai tội cướp và cưỡng đoạt tài sản đều do bất kỳ người nào thực hiện, khi họ có đủ năng lực TNHS và đủ độ tuổi theo quy định

Thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có tính chất chiếm đoạttài sản, cơ quan tiến hành tố tụng thường nhầm lẫn trong việc định tội danh do dấu hiệu pháp lý đặc trung của những tội phạm này có điểm tương đồng

Theo tác giả Đinh Văn Quế (nguyên Chánh tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao), việc phân biệt loại tội phạm này cần càn cứ vào chủ thể tội phạm; động cơ,mục đích của người phạm tội và điều kiện thực tế đế đánh giá, cụ thế: [28]

Tội cướp tài sản thường chỉ bị nhầm lẫn với tội cưỡng đoạt tài sản trongtrường hợp người phạm tội có hành vi “đe dọa dùng vũ lực”

Trước hết, cần khẳng định cả hai tội này đều có giai đoạn chuẩn bị phạm tội

và phạm tội chưa đạt Tuy nhiên, đối với tội cướp tài sản, phạm tội chưa đạt chỉ xảy

ra trong trường hợp người phạm tội đã có hành vi khác làm cho người bị hại lâmvào tình trạng không thể tấn công được nhằm chiếm đoạt tài sản Còn “dùng vũ lựchoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” thì không có trường hợp phạm tội chưa đạt

mà đều là tội phạm đã hoàn thành

25

Trang 31

Trước đây về lý luận, đều khắng định tội cướp tài sản là tội có cấu thành hìnhthức, tức là chỉ cần người phạm tội có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lựcngay tức khắc là tội phạm đã hoàn thành, không có trường hợp phạm tội chưa đạt Tuy nhiên, sau khi Điều 133 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung và nay BLHSnăm 2015 cũng quy định dấu hiệu “hoặc có hành vi khác”, thì tội cướp tài sản vừa

là tội cấu thành hình thức, vừa là tội cấu thành vật chất, tức là có trường hợp tội phạm chưa đạt

Mặc dù trường hợp dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắckhông có giai đoạn phạm tội chưa đạt nhưng vẫn có giai đoạn chuẩn bị phạm tộinhư: Trường hợp người phạm tội “định” dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, nhưng vì khách quan trở ngại nên không thực hiện được hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực Ví dụ: A, B, c, D bàn bạc chuẩn bị súng, dao để ra đường chặn người đi xe máy cướp tài sản Nhưng trước kill đi thì D sợ nên đã báo với Công an đến “bắt nóng” A, B, c Tuy A, B, c chưa thực hiện hành vi dùng vũlực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhưng A, B, c đều phải bị truy cứu TNHS về tội cướp tài sản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội chỉ có hành vi đe dọa dùng vũ lực chứ không có ý định nếu người bị hại không giao tài sản thì dùng vũ lực Đây làvấn đề khó xác định, vì khi đã đe dọa dùng vũ lực nhưng người bị đe dọa không giaotài sản mà vụ việc bị phát hiện, thì hầu hết người phạm tội đều khai là chỉ dọa cho sợ để lấy tài sản, nếu người bị hại không giao tài sản thì cũng không dùng bạo lực

Cần lưu ỷ là tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản tuy đều có hành vi đedọa dùng vũ lực nhưng hai hành vi này khác nhau về bản chất Ớ tội cướp tài sản,tính chất của sự đe dọa là "đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc", còn ở tội cưỡng đoạt tài sản, tính chất cùa sự đe dọa là "đe dọa sẽ dùng vũ lực" [21, tr 1351

Đe phân biệt trường hợp đe dọa dùng bạo lực ngay tức khắc với chỉ dọa màkhông đe dọa dùng bạo lực ngay tức khác, phải căn cứ vào không gian, thời gianxảy ra vụ án Theo PGS.TS Dương Tuyết Miên, việc phân biệt các dấu hiệu này cần căn cử những điểm sau:

Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thể hiện sự nhanh chóng về thời gian (xảy

26

Trang 32

ra ngay lập tức) và chỉ sự mành liệt của hành vi đe dọa; khi hành vi này xảy ra, người

bị đe dọa hiểu rằng, nếu không trao ngay tài sản cho người đe dọa thì ngay lập tức, tính mạng sức khoe của họ có thể bị xâm hại ở thời điểm xảy ra hành vi đe dọa Sự đedọa này có khả năng làm tê liệt ý chí của người bị đe dọa Dấu hiệu ngay tức khắc chỉđòi hởi người phạm tội đã có hành vi, cử chỉ, thái độ thể hiện ra bên ngoài là dùng vũ lực ngay tức khắc mà không đòi hởi họ phải có ý định thực sự [21, tr 1351

Ở tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực thực chất là đe dọadùng vũ lực trong tương lai chứ không phải là ngay tức khắc; hay nói cách khác,giữa hành vi đe dọa và việc dùng vũ lực có khoảng cách về thời gian, sức mành liệtcủa sự đe dọa chưa đến mức có thề làm tê liệt sự phản kháng của người bị đe dọa

mà chỉ có khả nàng khống chế ý chí của họ, người bị đe dọa vẫn còn khả năng, điềukiện cân nhắc, lựa chọn biện pháp xử sự cho mình [21, tr 136]

Như vậy, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt hai tội này khi người phạm tội thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực là người bị đe dọa có lâm vào tình trạng không thể chống cự được hay không Dấu hiệu này hoàn toàn tùy thuộc vào tìnhhình thực tế để đánh giá [28]

Hai tội cướp và cưỡng đoạt tài sản có hình phạt khác nhau vì tội cướp tài sản

có mức độ nguy hiếm hơn so với tội cưỡng đoạt tài sản Khoản 1 điều 168 BLHS vềtội cướp tài sản quy định phạt tù từ 3 năm đến 10 năm; khoản 1 điều 170 BLHS vềtội cưỡng đoạt tài sản quy định phạt tù từ 1 năm đến 5 năm Khoản 2 điều 168 BLHS về tội cướp tài sản quy định phạt tù từ 7 năm đến 15 năm; khoản 2 điều 170 BLHS về tội cưỡng đoạt tài sản quy định phạt tù từ 3 năm đến 10 năm Hình phạt tù cao nhất của tội cướp tài sản quy đinh tại khoản 3 điều 168 là tù đến 20 năm; Hìnhphạt tù cao nhất của tội cưỡng đoạt tài sản quy đinh tại khoản 3 điều 170 là tù đến

15 năm Hình phạt cao nhất của tội cướp tài sản là từ chung thân hoặc tử hình; hìnhphạt phạt cao nhất của tội cường đoạt tài sản là tù đến 20 năm

1.4.2 Một số nội dung cần phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với một số tôi xâm phạm sở hữu có tỉnh chất chiếm đoạt khác

1.4.2.1 Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS)

27

Trang 33

đêu giông nhau vê chủ thê của tội phạm (bât kỳ người nào có năng lực TNHS) và mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản (định lượng tài sản chiếm đoạt không phải là yếu tố định tội mà chỉ là yếu tố định khung hình phạt.

Tuy nhiên, về hành vi phạm tội: Tội "Cướp tài sản” sử dụng hành vi “dùng

vũ lực, đe dọa vũ lực ngay tức khác hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được”, còn tội cướp giật tài sản người phạm tội không sử dụng vũ lực (tuy một số trường hợp có sử dụng sức mạnh như đạp, xô cho bị hại ngã đế cướp), đe dọa vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được như trong tội ”Cướptài sản” mà chỉ dựa vào sự nhanh nhẹn của bản thân và sự sơ hở của người bị hại,hay trường hợp người bị hại không đủ khả năng bảo vệ tài sản

Như vậy, tính công khai của tội phạm là yếu tố cơ bản để phân biệt hai tội danh này trên thực tế

Chuyển hóa tội phạm: Trường hợp người phạm tội sau khi đã cướp giật đượctài sản nhưng sau đó bị hại hoặc người khác giành, giật lại được tài sản và ngườiphạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người

bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để giành lại tài sản thì có

sự chuyển hóa từ tội ’’Cướp giật tài sản” sang tội "Cướp tài sản” Trường hợp này,người phạm tội bị phát hiện tại thời điểm thực hiện hành vi chứ không phải một khoản thời gian sau và người phạm tội đã dùng vũ lực tấn công nạn nhân (có thể cảngười khác) nhằm mục đích lấy, giữ, chiếm đoạt bằng được tài sản

Ví dụ: A đi xe máy trên đường với ý đồ xem có ai sờ hở thi giật điện thoại vàtúi xách, thấy chị N đang đi xe máy một minh có đeo túi xách, A liền tiếp cận sau

đó giật túi xách của chị N và bỏ chạy thì bị chị Ng giằng co giữ lại A lập tức cóhành vi dùng vũ lực “đạp ngã” chị B xuống đường và giật lại tài sản Như vậy, ở đây đã có sự chuyển hóa tội phạm tù’ tội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản

1.4.2.2 Tội cướp tài sản và tội trộm cắp tài sản

Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS)Điều 173 BLS quy định về tội Trộm cắp tài sản: ”1.Người nào trộm cắp tài

28

Trang 34

sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đông đên dưới 50.000.000 đông hoặc dưới2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạokhông giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Điểm khác nhau cơ bản của hai tội phạm này đó là chính là mức độ côngkhai của hành vi:

Trong tội ”Cướp tài sản" người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lựcngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạngkhông thể chống cự được Trong tội "Trộm cắp tài sản” thì người phạm tội thựchiện một cách lén lút Như vậy, trong tội "Cướp tài sản" tính công khai của người phạm tội rõ ràng hơn so với tội "Trộm cắp tài sản"

Ngoài ra trong tội "Trộm cắp tài sản” định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được quy định trong cấu thành cơ bản còn đối với tội "Cướp tài sản" thì không quy định

Chuyển hóa tội phạm: Cũng giống như hành vi chuyển hóa trong tội "Cướp giật tài sản", trường hợp người phạm tội sau khi đã trộm cắp được tài sản nhưng sau

đó bị hại hoặc người khác giành, giật lại được tài sản và người phạm tội dùng vũ lựchoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vàotình trạng không thể chống cự được để giành lại tài sản thì có sự chuyển hóa từ tội

"Trộm cắp tài sản" sang tội "Cướp tài sản"

Ví dụ: A lợi dụng sơ hở đã lẻn vào nhà của B đế trộm cắp tài sản, trong quá trình lẻn vào nhà B, A quan sát thấy B đang ngủ và có túi xách để ở đầu giường A liền đi đến lấy tiền và điện thoại trong túi rồi tẩu thoát nhưng va vào quạt gây tiếngđộng B nghe tiếng động nên tỉnh dậy hô hoán A liền đấm, đạp vào mặt B làm B ngã lăn ra đất bất tỉnh Sau đó, A dắt chiếc xe máy đi ra khỏi cổng và tẩu thoát Trường hợp này, hành vi của A đã chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tội Cướp tài sản

7.4.2.3 Tội cướp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

BLHS năm 2015 quy định về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:

1 Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giừ đển 03 năm

29

Trang 35

hoặc phạt tù từ 06 tháng đên 03 năm: (a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính vêhành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; (b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và

290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ [34, Điều 172, Khoản 1]

Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hành vi phạm tội này đó là tính công khaitrong hành vi phạm tội: Nếu trong tội ’’Cướp tài sản” người phạm tội dùng vũ lực,

đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được mới chiếm đoạt được thì trong tội

’’Công nhiên chiếm đoạt tài sản’’ người phạm tội không cần dùng thủ đoạn nào cũng vẫn chiếm đoạt được tài sản

Chủ thể tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên còn đối với tội ’’Cướp tàisản” thì chủ thể người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Cũng giống như tội ’’Trộm cắp tài sản” thì tội này tài sản chiếm đoạt có giátrị để định khung hình phạt

1.4.3 Một số nội dung cần phân biệt, làm rô khi định tội danh giữa tội cưỡng đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác o • • • 1 • •

ỉ 4.3 ỉ Tội cường đoạt tài sản với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

BLHS năm 2015 quy định về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản: "Người

nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài săn, thì bị phạt tù từ 02

năm đến 07 năm ” [34, Điều 169, Khoản 1]

Có thể thấy, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện dưới dạnghành vi là bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản Mục đích chiếmđoạt tài sản của người phạm tội thể hiện thông qua hành vi đe dọa người có tài sản

Giữa tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có nhiều điểm tương đồng như cùng xâm phạm đến hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là quan hệ sở hữu

và quan hệ nhân thân; mục • đích chiếm đoạt• tài sản là dấu hiệu • bắt buộc• để định • tội;• Xcùng có hành vi đe dọa dùng vũ lực

30

Trang 36

Tuy nhiên, mức độ xâm hại đên quan hệ nhân thân của hai hành vi cưỡng đoạt tài sản và hành vi bắt cóc người khác làm con tin là khác nhau Tội bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu đã tác động đến quyền tự do thân thể của người bị bắt cóc, sau đó tác động đến tính mạng, sức khỏe của họ Tội cưỡng đoạt tài sản tác động rất ít đến nhân thân, nó chỉ gây ra lo lắng, sợ hãi cho người chủ sởhữu tài sản [14].

Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có thể dùng bất cứ phương thức, thủ đoạnnào đế uy hiếp tinh thần của người khác nhàm chiếm đoạt tài sản nhưng họ không thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin đế uy hiếp tinh thần người khác Nếu người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tàisản thì không kể thời gian giam, giữ con tin là bao lâu thì vẫn phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, ngay cả trong trường họp đối tượng chưa bắt cóc được người khác làm con tin nhưng đủ căn cứ chứng minh đối tượng có ý định bắt cócngười khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản

1.4.3.2 Tội cưỡng đoạt tài sản với tội cướp giật tài sản

Mục đích của người phạm tội cướp giật tài sản cũng là chiếm đoạt tài sảnnhưng khác với các tội cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản hay bắt cóc chiếm đoạt tàisản, mục đích chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu định tội cướp giật tài sản.Người phạm tội phải thực hiện hành vi cướp giật và chiếm đoạt được tài sản trênthực tế thì mới bị xử lý theo tội danh này

Dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản so với các tội xâm phạm sở hừu

có tính chất chiếm đoạt khác là công khai và nhanh chóng Dấu hiệu công khai thểhiện ở chỗ người phạm tội cướp giật tài sản của mình có tính chất công khai và hoàn toàn không che giấu hành vi đó Dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạnthực hiện hành vi chiếm đoạt của người cướp giật tài sản; bằng việc lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn trốn [20]

Khác với tội cường đoạt tài sản, người phạm tội cướp giật tài sản không cómục đích khống chế ý chí kháng cự của chủ sở hữu và không nhằm đe dọa gây nguy

31

Trang 37

hại vê tính mạng và sức khoe cho chủ sở hữu mà chỉ có mục đích công khai vànhanh chóng chiếm đoạt tài sản Thông thường, người chủ sở hữu hoặc người quản

lý tài sản không kịp phản úng để ngăn cản hành vi chiếm đoạt của người phạm tội.Nếu khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội có hành vi đe dọa dùng vũ lực

để uy hiếp tinh thần người khác nhàm công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản thìngười đó phạm tội cưỡng đoạt tài sản chứ không phải cướp giật tài sản Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tội cướp giật tài sản nếu có thì chỉ nhằm giảm quyết tâm bắt giữ của người đang đuối bắt, tạo điều kiện cho người phạm tội chạy thoát chứkhông liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản

1.4.3.3 Tội cưỡng đoạt tài sán với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa sẽ dùng vũ lực đế chiếm đoạt tài sản mà lợi dụng tình trạngchủ sở hữu tài sản ở vào điều kiện, hoàn cảnh không thể ngăn cản được đề thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản, người thực hiện hành vi phạm tội không làmcho chủ sở hữu tài sản lo sợ mà phải giao tài sản

về hậu quả: tội cưỡng đoạt tài sản không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra,hành vi khách quan đã phản ánh đầy đù tính chất nguy hiểm cho xã hội còn tội côngnhiên chiếm đoạt tài sản, hậu quả là yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm

về khách thể: tội cường đoạt tài sản xâm hại cùng một lúc hai khách thể là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng chủ yếu là quan hệ sở hữu, nếu có xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì không phải là những thiệt hại về tính mạng, sứckhỏe mà chỉ có thế là những thiệt hại về tinh thần (sợ hãi, lo âu), tuy có ảnh hưởngđến sức khỏe nhưng không gây ra thương tích cho người bị hại, trong khi đó, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ xâm hại đến một khách thế là quan hệ sở hữu,không xâm hại đến khách thể là quan hệ nhân thân thân

về mặt chủ quan: Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội có thể có trước khi thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người chủ sở hữu hoặc có trách nhiệm quản lý tài sản nhũng cũng có thể xuất hiện trong hoặc sau khi đã thực hiện hành vi đe dọa sẽ

32

Trang 38

dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiêp tinh thân người người chủ sở hữu hoặc

có trách nhiệm quản lý tài sản Trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, mục đíchchiếm đoạt tài sản bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt [20] Nói cách khác thì hành vi chiếm đoạt tài sản bao hàm mục đích của người phạm tội

33

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Định tội danh là hoạt động thực tiên quan trọng của cơ quan có thâm quyên tiến hành tố tụng Đãỵ là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, được cấc chủ thê có thẩm quyền theo quy định pháp luật tiến hành hằng cách - trên cơ sở các

chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tĩnh tiết khách quan của vụ án hĩnh sự

đê đối chiếu, so sánh và kiêm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của

hành vỉ nguy*/ • • hiểm cho xã hội được thực hiện• • với các dấu hiệu của• • cấu thành tội

phạm cụ thế tương ứng được luật hĩnh sự quy định.

Định tội danh dựa trên căn pháp lý trực tiếp là BLHS và căn cứ khoa học là cấu thành tội phạm

Việc định tội danh đối với tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và một sốtội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác có nhiều dấu hiệu tương đồng,

do đó đế việc định tội danh được chính xác, tránh nhầm lẫn cần phân tích, làm rõcác đặc điếm nối bật, cần lưu ý cùa từng loại tội phạm như: mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm

Việc định tội danh đúng với các loại tội phạm này có ỷ nghĩa không chỉ vềpháp luật mà cả về mặt chính trị - xã hội Việc định tội danh đúng là tiền đề, là cơ

sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử

34

Trang 40

Chương 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM VÀ THựC TIỄN ÁP DỤNG

QUY ĐỊNH CƯA PHÁP LUẬT HÌNH sụ VIỆT NAM VÈ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHÓ HẢI PHÒNG

2.1 Những điều kiện đảm bảo cho việc định tội danh đối vói tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Trước khi phân tích, đánh giá về thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự• về định• tội • danh đối với tội• cướp X tài sản và tội • cưỡng đoạt• tài sản trên địa•bàn thành phố Hải Phòng, cần thiết phải phân tích, làm rõ những điều kiện đảm bảocho việc định • • tội• danh đối với tội • cướpX tài sản và tội• cưỡng đoạt tài • sản được• thực•hiện một cách khách quan, đúng đắn Tương tự như với hoạt động định tội danh nóichung, việc định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản cũng cầnđảm bảo các điều kiện như sau:

2.1.1 Năng lực chuyên môn của người định tội danh

Có thể thấy, mặc dù BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 không quy định cụ thể, trực tiếp thẩm quyền trong hoạt động định tội danh, nhưng căn cứ vào quy định nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiếnhành tố tụng hình sự trong hai văn bản luật nói trên, có thể xác định đó là nhữngngười tiến hành tố tụng và những người được phân công tiến hành một số hoạt độngđiều tra (của một số cơ quan điều tra được quy định trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015), đây là nhừng người được quyền hạn, trách nhiệm giải quyết vụ án và có thẩm quyền ký các văn bản của cơ quan có thẩm quyền chung trong việc định tội danh Cụ thể:

- Thủ trưởng, Phó Thù trưởng cơ quan điều tra: Khi tiến hành tố tụng hình

sự, Thủ trưởng cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

4- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định

35

Ngày đăng: 12/07/2022, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
40. Trịnh Quôc Toản (1999), Một sô vân đê lý luận vê định tội danh và hướng dẫn phương pháp định tội danh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sô vân đê lý luận vê định tội danh và hướngdẫn phương pháp định tội danh
Tác giả: Trịnh Quôc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
41. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
42. ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2016), Báo cáo tình hình chấp hành pháp luật trong công tác phòng chống tội phạm và vỉ phạm pháp luật; côngtác phòng chong tham nhũng trên địa bàn thành phổ Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình chấp hànhpháp luật trong công tác phòng chống tội phạm và vỉ phạm pháp luật; công tác phòng chong tham nhũng trên địa bàn thành phổ Hải Phòng
Tác giả: ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Năm: 2016
43. ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2019), Báo cáo kết quả công tác phòng, chống tội phạm và vì phạm pháp luật năm 2019 (phục vụ kỳ họp thứ11 Hội đồng nhân dân thành pho khóa XV), Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tácphòng, chống tội phạm và vì phạm pháp luật năm 2019 (phục vụ kỳ họp thứ 11 Hội đồng nhân dân thành pho khóa XV)
Tác giả: ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Năm: 2019
44. Trịnh Tiên Việt, (2021), 55 Cặp tội danh dê nhảm lân trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đôi, bô sung năm 2017, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: 55 Cặp tội danh dê nhảm lân trong Bộ luật hình sựnăm 2015, sửa đôi, bô sung năm 2017
Tác giả: Trịnh Tiên Việt
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2021
45. Võ Khánh Vinh (1997), Giáo trĩnh lý luận về định tội danh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trĩnh lý luận về định tội danh
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo đơn vị hành chính - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo đơn vị hành chính (Trang 50)
Bảng 2.2: Tông sô vụ án vê tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và một sô - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.2 Tông sô vụ án vê tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và một sô (Trang 53)
Bảng 2.3: Tổng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.3 Tổng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố (Trang 54)
Bảng 2.4: Tổng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.4 Tổng số vụ án và số bị cáo bị Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố (Trang 55)
Bảng 2.5: Tống số bị cáo về tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và một số - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.5 Tống số bị cáo về tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và một số (Trang 56)
Bảng 2.6: Tông sô vụ án và tông sô bị cáo phạm tội cưóp tài sản bị thay đôi tội  danh của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hải Phòng trong thời gian - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.6 Tông sô vụ án và tông sô bị cáo phạm tội cưóp tài sản bị thay đôi tội danh của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hải Phòng trong thời gian (Trang 56)
Bảng 2.7: Tông sô vụ án và tông sô bị cáo phạm tội cưỡng đoạt tài sản bị thay đôi  tội danh của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hải Phòng trong thời gian - Định tội danh đối với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.7 Tông sô vụ án và tông sô bị cáo phạm tội cưỡng đoạt tài sản bị thay đôi tội danh của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hải Phòng trong thời gian (Trang 57)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm