1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người theo luật hình sự việt nam

109 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Tội Danh Đối Với Hành Vi Cố Ý Xâm Phạm Tính Mạng Con Người Theo Luật Hình Sự Việt Nam
Tác giả Trần Thị Diễm Huyền
Người hướng dẫn Ts. Nguyễn Thị Ánh Hồng
Trường học Trường Đại Học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 24,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, quy định pháp luật về các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý tội giết người, tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ DIỄM HUYỀN

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI

CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI

CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Định hướng ứng dụng

Mã số: 8380104

Người hướng dẫn khoa học : Ts Nguyễn Thị Ánh Hồng

Học viên : Trần Thị Diễm Huyền

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung luận văn “Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người theo Luật hình sự Việt Nam” là kết

quả của quá trình tổng hợp và nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa

học của Tiến sỹ Nguyễn Thị Ánh Hồng Các bản án, số liệu, trích dẫn trong luận

văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, có nguồn gốc và được trích dẫn theo đúng quy định của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Nếu có gì không đúng sự thật tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Học Viên

Trần Thị Diễm Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 7 1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý của việc định tội danh đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 7 1.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 13 1.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 22 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25 CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ 26 2.1 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ 26 2.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong khi thi hành công vụ 31 2.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong khi thi hành công vụ 40 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

được pháp luật bảo hộ về tính mạng là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, BLHS đã qui định các tội xâm phạm tính mạng con người và hình phạt tương ứng áp dụng đối với những người phạm tội Các qui định của BLHS đã góp phần tích cực trong bảo vệ quyền được sống, bảo vệ tính mạng con người, góp phần làm ổn định trật tự, an toàn xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đấu tranh phòng ngừa các hành vi xâm phạm tính mạng con người của các cơ quan tiến hành tố tụng còn bộc

lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ tính mạng con người Những hạn chế đó thể hiện ở việc vẫn còn hiện tượng bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt những hành vi xâm phạm tính mạng con người, không bị điều tra xử lý, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều vướng mắc trong việc định tội danh

BLHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các tội xâm phạm tính mạng con người ở các Điều

123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133 Theo đó, quy định pháp luật

về các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý (tội giết người, tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ) có nhiều nội dung còn chưa thống nhất, không cụ thể, chưa có hướng dẫn thi hành, việc xác định dấu hiệu, phân biệt các tội còn gặp nhiều vướng mắc và khó xác định gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người còn nhiều bất cập, vướng mắc trong việc định tội danh như trong trường hợp cố ý xâm phạm tính mạng con người mà có tình tiết trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hoặc yếu tố công vụ trong trường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ, nhiều vụ án việc định tội rất phức tạp, dễ dẫn đến xét xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm

Trang 7

Quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm này còn chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn

Vì vậy, để khắc phục những bất cập trong quy định và vướng mắc trong áp dụng quy định pháp luật về định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người, qua đó đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong tình hình mới, nâng cao hiệu quả quá trình điều tra, truy tố, xét xử nói chung và nâng cao hiệu quả định tội danh thì vấn đề hoàn thiện quy định của pháp luật hình

sự Việt Nam là điều quan trọng, cần thiết Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài:

"Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người theo Luật Hình

sự Việt Nam" làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu trong nước về đề tài định tội danh đối với hành vi

cố ý xâm phạm tính mạng con người cho đến hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan dưới dạng tài liệu chuyên khảo, tham khảo, bài viết tạp chí khoa học, giáo trình, bình luận khoa học, luận án, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp những tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài của tác giả Có thể liệt kê những tài liệu điển hình như sau:

* Các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo, tham khảo, giáo

trình, bình luận khoa học: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm (2018) của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, (2013) của Trường Đại học Luật TP.HCM; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam-Phần Các tội phạm (2007) của Lê Cảm (chủ biên); Giáo trình Luật hình

sự Việt Nam- Phần Các tội phạm (2008) của Võ Khánh Vinh (chủ biên); Bình luận khoa học BLHS, Phần các tội phạm, tập I (Bình luận chuyên sâu) (2002) của Đinh Văn Quế; Bình luận khoa học BLHS (được sửa đổi, bổ sung) (2012) của Trần Minh Hưởng; Sách chuyên khảo Định tội danh và quyết định hình phạt (2010) của Võ Khánh Vinh; “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” (2000) của Trần Văn Luyện;

Những giáo trình, sách chuyên khảo nêu trên có nội dung chủ yếu phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tính mạng con người bao gồm dấu hiệu định tội, định khung hình phạt Đây là tài liệu quan trọng cho luận văn tham khảo khi nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong Luật hình sự Việt Nam

Trang 8

* Các bài viết liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người có thể kể đến:

- Bài viết “Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật Hình sự năm 1999”, tác giả

Trần Văn Luyện, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, năm 2001;

- Bài viết “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người – so sánh giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985”, tác giả Nguyễn

Ngọc Hoà, Tạp chí Luật học số 1, năm 2001;

- Bài viết “Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính mạng con người”, tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, Tạp chí TAND tối cao, Số 2 và 4,

- Luận văn cao học: “Các tội xâm phạm tính mạng con người trong Luật hình

sự Việt Nam (2008) của Trần Nhủ Khuyên;

- Luận văn cao học: “Các tội xâm phạm tính mạng của con người trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở các số liệu xét xử của Toà án tỉnh Bình Dương)”

(2013) của Đoàn Văn Lâm;

- Luận văn cao học: “Các tội phạm xâm phạm tính mạng con người trong Quốc triều Hình luật và sự kế thừa trong Bộ luật hình sự Việt Nam” (2014) của Vũ

Trang 9

- Luận văn cao học: “Dấu hiệu chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam” (2012) của Nguyễn Anh Thu

Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài: Do đề tài nghiên cứu về thực tiễn định tội danh các tội phạm cố ý xâm phạm tính mạng con người theo BLHS năm 2015 nên tác giả chưa tìm thấy các công trình của nước ngoài

Nhìn chung, các đề tài, công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu về các tội

cố ý xâm phạm tính mạng con người ở các góc độ khác nhau và đều đã có những đóng góp nhất định Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu về định tội danh nói chung như khái niệm, các đặc điểm, các bước trong quá trình định tội danh, định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội phạm cũng như định tội danh trong các trường hợp đặc biệt Đồng thời cũng có các công trình nghiên cứu về định tội danh dối với các tội xâm phạm tính mạng con người, phân tích những vấn đề lý luận về tội danh, dấu hiệu pháp lý của các tội có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người, trong

đó có tội giết người, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ…Kết quả khoa học của các công trình nghiên cứu được tác giả tiếp thu, kế thừa Tuy nhiên, có thể nói dưới hình thức luận văn thạc sỹ, hiện chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về việc định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người nhằm chỉ ra những bất cập còn tồn tại của BLHS nhằm đưa ra ý kiến đề xuất góp phần hoàn thiện BLHS Vì vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài “Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người theo luật Hình sự Việt Nam” theo định hướng ứng dụng về tổng thể không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công

bố trong nước trong những năm gần đây liên quan đến đề tài là hoàn toàn cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là qua phân tích các quy định của luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật về định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và trong khi thi hành công vụ, tác giả đánh giá thực trạng cũng như những vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định trong luật hình sự Việt Nam và nâng cao chất lượng định tội danh đối với hành

vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

và trong khi thi hành công vụ

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 10

+ Phân tích những quy định của BLHS về định tội danh đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

+ Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và trong khi thi hành công vụ

+ Đưa các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả định tội danh đối với hành vi cố

ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và trong khi thi hành công vụ

4 Giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người được quy định trong nhiều tội danh Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hai trường hợp: định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong khi thi hành công vụ

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định của BLHS về các tội

cố ý xâm phạm tính mạng con người, cụ thể quy định của BLHS về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và thực tiễn áp dụng về định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và trong khi thi hành công vụ

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về hình sự, về đấu tranh chống các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn, qua đó phân tích quy định của pháp luật hình sự về các vấn

đề liên quan đến hoạt động định tội danh tại BLHS hiện hành và các văn bản pháp

Trang 11

luật có liên quan Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu

+ Phương pháp so sánh: được sử dụng trên cơ sở so sánh giữa các bản án xét

xử liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người

để từ đó chỉ ra các điểm khác biệt, không thống nhất trong thực tiễn liên quan đến việc định tội danh trong các bản án

+ Phương pháp nghiên cứu án điển hình: Đây là phương pháp nghiên cứu quan trọng để thực hiện đề tài; được sử dụng trong việc nghiên cứu bản án điển hình, bình luận án để đưa thực tiễn xét xử vào công trình nghiên cứu; Với phương pháp này học viên lựa chọn những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, nghiên cứu các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả của việc nghiên cứu, cũng như những đề xuất, kiến nghị trong luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với hành vi cố

ý xâm phạm tính mạng con người cho những người làm công tác điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời góp phần nâng cao chất lượng công tác giải quyết các vụ án hình sự

Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của chính học viên và cho những người có quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành hai chương:

Chương 1 Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con

người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Chương 2 Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con

người trong khi thi hành công vụ

Trang 12

CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý của việc định tội danh đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Dấu hiệu định tội là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy

đủ tính chất nguy hiểm của một tội phạm và để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Đó là những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của một tội phạm cụ thể được quy định trong Phần các tội phạm BLHS

Để chủ thể định tội nhận thức đúng các dấu hiệu của CTTP, các dấu hiệu của chúng phải được mô tả chính xác, rõ ràng trong BLHS giúp cho chủ thể định tội nhận thức đúng đắn sự khác nhau giữa tội phạm này với tội phạm khác Đây là một trong các đặc điểm để hoạt động định tội danh diễn ra đúng đắn

Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam, có nhiều quan điểm về khái niệm định tội danh, điển hình một số quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý

sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận

có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc

Thơ, tr.5

Trang 13

Quan điểm thứ tư cho rằng: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các

cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói

Như vậy, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm định tội danh do cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau của các tác giả Tuy nhiên, các quan điểm này đều có đặc điểm chung: Định tội danh về bản chất là đối chiếu, so sánh và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu của CTTP tương ứng được quy định trong BLHS Từ các quan điểm nêu trên, có thể đưa ra khái niệm định tội danh như sau:

Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ thu thập được theo quy định của pháp luật và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định và kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có phạm tội hay không, nếu có thì phạm tội gì, theo điểm khoản điều luật nào của BLHS

Từ khái niệm trên, có thể xác định các bước của quá trình định tội danh như sau:

- Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)

- Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng

- Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (Định tội danh)

- Bước 4: Xác định khung hình phạt

Như vậy, mục đích của định tội danh là nhằm đạt được sự thật khách quan của

vụ án, đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật Khi định tội danh chính thức, cần phải áp dụng cả luật hình

sự và tố tụng hình sự Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ khảo sát quy định của luật hình sự như là cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động định tội danh

Trong các trường hợp định tội danh, chúng ta có trường hợp định tội danh theo bốn yếu tố cấu thành tội phạm (mặt khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, mặt chủ thể), định tội danh đối với các trường hợp đặc biệt (tội phạm chưa hoàn thành, trường hợp đồng phạm, đa tội phạm) Trong đó định tội danh theo các yếu tố

Trang 14

CTTP thực chất là cụ thể hoá quy trình thực hiện giai đoạn 3 của các giai đoạn của quá trình định tội danh Nội dung của bước này là đánh giá sự phù hợp lần lượt từng yếu tố trong 4 yếu tố CTTP

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào mặt khách quan của tội phạm Các dấu hiệu thuộc nội dung mặt khách quan của tội phạm gồm có hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại, mối quan hệ giữa hành

vi và hậu quả; những dấu hiệu bên ngoài khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm Không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm Việc xác định hành vi cụ thể có cấu thành tội phạm hay không thường bắt đầu từ việc nghiên cứu mặt khách quan Chỉ khi đã xác định trong hành vi của con người có những dấu hiệu khách quan của tội phạm thì vấn đề xem xét mặt chủ quan mới được đặt ra

Ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người, hành vi tước đoạt tính mạng con người được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau và dựa vào các cách thức khác nhau đó luật hình sự xây dựng thành các tội phạm khác nhau

Việc BLHS năm 1999 trước đây và nay là BLHS năm 2015 vẫn còn một vài tội phạm mà tính đặc trưng của chúng chưa rõ khiến cho chủ thể định tội gặp khó khăn khi xác định một hành vi là phạm tội này hay tội khác Minh chứng cụ thể là CTTP của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS) và tội giết người (Điều 123 BLHS)

Xuất phát từ thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phát sinh một số vấn đề thuộc về lý luận chưa được hướng dẫn, giải thích một cách thỏa đáng Vì vậy trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử còn có nhiều quan điểm trái ngược nhau về việc áp dụng tội danh này Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân

Thứ nhất, trạng thái tinh thần của người khi thực hiện tội phạm là bị kích động mạnh

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc xác định dấu hiệu định tội

“trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” vẫn dựa vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29.11.1986 của HĐTP TANDTC, mà chưa có một khái niệm hay hướng dẫn cụ thể nào khác Theo hướng dẫn của nghị quyết trên thì:

Trang 15

“Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người Nhưng cá biệt có trường hợp do hành

vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu

Như vậy, theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức Do vậy, có thể hiểu trong trường hợp bình thường

họ không phạm tội mà trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh họ phạm tội thông qua mức độ nhận thức của họ trong lúc này Bình thường, họ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được điều đó là sai, trái pháp luật, phải gánh lấy trách nhiệm pháp lý nên họ kiềm chế hành vi của mình Tuy nhiên, trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; trạng thái tinh thần của họ gần như người mất trí Trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước

Không phải dễ dàng để xác định một người bị kích động mạnh hay chưa mạnh về tinh thần Có trường hợp hành vi có cường độ mạnh nhưng chỉ xảy ra một lần cũng đủ dẫn đến kích động mạnh cũng có trường hợp hành vi dù cường độ thấp nhưng xảy ra nhiều lần cũng có thể dẫn đến tinh thần bị kích động mạnh Hiện BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa có một tiêu chí cụ thể xác định thế nào là bị kích động mạnh về tinh thần Do vậy, phải căn cứ vào từng trường hợp

cụ thể, xem xét một cách toàn diện các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội,….để từ đó xác định mức độ bị kích động về tinh thần có mạnh hay không, mạnh tới mức nào

Trên thực tế việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không là một vấn đề phức tạp Bởi trạng thái tâm lý của mỗi người là khác nhau,

quy định trong phần các tội phạm của BLHS

Trang 16

cùng một sự việc nhưng người này xử sự khác người kia xử sự khác, có người bị kích động mạnh về tinh thần nhưng có người lại không bị kích động mạnh Trường hợp người phạm tội có bị kích động về tinh thần nhưng chưa tới mức mất khả năng tự chủ thì không gọi là bị kích động mạnh và không thuộc trường hợp thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Tuy nhiên họ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do có tình tiết: “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần

do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” theo quy định tại Điều 51 BLHS

Thứ hai, phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 thì: “Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là phạm tội Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã hội, đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem là trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục người khác, tội vu khống) thì cũng được coi là giết người

Theo hướng dẫn trên thì, chỉ trừ những trường hợp đặc biệt khi nạn nhân thực hiện hành vi làm nhục hay vu khống thì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải chưa đến mức cấu thành tội phạm Tuy nhiên, việc xác định tính chất nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật do nạn nhân thực hiện, gây ra trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cho người phạm tội vẫn chưa có một quy định cụ thể và một chuẩn mực chung

Do đó, việc xác định tính chất của hành vi trái pháp luật do nạn nhân thực hiện có nghiêm trọng hay không sẽ tùy thuộc chủ yếu vào nhận định chủ quan của

cơ quan tiến hành tố tụng Mặt khác, việc quy định hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân chưa đến mức cấu thành tội phạm theo hướng dẫn của Nghị quyết nêu trên chưa hợp lý vì để định tội tội danh này thì hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phải được thực hiện ngay sau khi hành vi trái pháp luật của nạn nhân Vì vậy, trong trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêm

quy định trong phần các tội phạm của BLHS

Trang 17

trọng của nạn nhân đến mức cấu thành tội phạm (giết người, cố ý gây thương tích….) đã kết thúc và làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, từ đó giết chết nạn nhân thì việc áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh lại không phù hợp với tinh thần hướng dẫn của Nghị quyết số 04

Ngoài các dấu hiệu định tội được phân tích ở trên thì một trong những căn cứ

để định tội danh này cần dựa vào những dấu hiệu riêng và những quy định riêng trong mặt khách quan của tội phạm Đó là quy định về mặt hậu quả của tội phạm được thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Qua phân tích “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” cho thấy, khi phạm tội người phạm tội không nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây ra hậu quả cụ thể nào và do đó cũng không thể nói họ mong muốn hậu quả cụ thể nào đó xảy ra Khi thực hiện hành vi,

họ chỉ nhận thức một cách khái quát về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả từ hành vi đó gây ra Do đó, người phạm tội trong trường hợp này chỉ có lỗi cố ý gián tiếp khi thực hiện tội phạm Điều này có ý nghĩa trong việc xem xét tội phạm này có giai đoạn thực hiện tội phạm chưa hoàn thành hay không Theo quy định của BLHS, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ xuất hiện ngay khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó, sự kích động đó phải có tính đột xuất, nó đến rất nhanh và cũng qua đi rất nhanh Do vậy, tội này không có giai đoạn tội phạm chưa hoàn thành hoặc phạm tội chưa đạt Vì thế, chỉ có thể định tội danh này khi hậu quả chết người xảy ra

Như vậy, có thể nhận thấy các dấu hiệu định tội “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Nghị quyết số 04 vẫn còn chưa cụ thể, rõ ràng Những người tiến hành tố tụng nói chung chưa xem xét đầy đủ các dấu hiệu phản ánh về tình trạng tinh thần bị kích động mạnh để định tội danh Chưa xem xét đầy đủ các dấu hiệu phản ánh về tình trạng thần kinh bị kích động mạnh để định tội danh có phải là tội giết người trong tình trạng thần kinh bị kích động mạnh hay tội giết người ….Vì vậy, việc áp dụng không đúng các tình tiết này có thể dẫn đến việc xử lý oan sai, không đúng người, đúng pháp luật và không đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Mặt khác, các cơ quan tiến hành tố tụng khi xem xét các tình tiết của vụ án chưa xác định rõ hậu quả chết người đã xảy ra dẫn đến việc xét xử không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, không đúng người, đúng tội

Trang 18

1.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Có thể nói, hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người xảy ra khá phổ biến trong cơ cấu chung về tình hình tội phạm trong cả nước Trong đó, hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động chiếm tỷ lệ tương đối thấp với các tội khác trong cùng nhóm tội Theo số liệu thống kê của TAND tối cao, từ năm 2015 đến năm 2020 trong phạm vi toàn quốc, toàn ngành Tòa án đã xét xử 7.038 vụ án về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người với 11.600 bị cáo, trong đó số vụ án về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động đã xét xử là 102 vụ - 133 bị cáo7

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, các cơ quan tiến hành

tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh đối với hành vi

cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, việc xác định trường hợp nào bị coi là rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh để áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đối với hành vi của người phạm tội vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, từ đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất Trong cùng một vụ án nhưng quan điểm của các

cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau, khi VKS cho rằng hành vi của bị cáo thuộc trường hợp giết người nhưng Tòa án lại cho rằng hành vi của bị cáo thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và ngược lại Cũng có trường hợp quan điểm giữa cấp xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm lại khác nhau, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng hành vi của bị cáo thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng Tòa án cấp phúc thẩm nhận định ngược lại, có một số trường hợp mặc dù hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng các

cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng Điều 125 BLHS để xử lý chúng tôi xin lấy một vài vụ án để thấy rõ thực trạng trên:

- Vụ án thứ nhất8:

Nguyễn Văn H đến sân bóng cỏ nhân tạo Ngọc Anh thuộc thôn 9 xã Ngọc Liên, huyện Ngọc Lặc để xem trận bóng đá của các thanh niên xã Ngọc Liên; trong

đó có Bùi Văn C đang làm thủ môn trên sân Lúc này, Hưng và Cự có tranh cãi về

tỷ số của trận đấu đang diễn ra Bực tức vì cho rằng H nói tỷ số sai mà còn bảo thủ,

C nhặt quả bóng đang đá trên sân rồi ném thẳng vào mặt H Đồng thời, C xông đến

Trang 19

đạp vào ngực, lấy ghế nhựa (2 ghế chồng lên nhau) của sân bóng đập thẳng vào đầu làm cho H bị ngã xuống sân; C tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào người H Được mọi người can ngăn, C không đánh H nữa mà đi vào trong quán nước (ngay sát sân bóng) ngồi nghỉ nhưng vẫn còn lớn tiếng chửi bới, xúc phạm, đe dọa H

Đối với Nguyễn Văn H, sau khi bị C đánh đã đi đến vòi nước của nhà anh Bùi Hồng Mạnh - SN 1974, ở sát sau sân bóng để rửa tay, chân nhưng vẫn nghe thấy tiếng C chửi bới Lo sợ việc C sẽ tiếp tục đánh mình và phát hiện thấy có con dao giắt cạnh vòi nước, H cầm con dao để phòng thân H đi ra khu vực sân bóng để lấy xe về thì gặp C đang dẫn con trai đi về phía H (C dẫn con trai đi sang nhà anh Bùi Hồng Mạnh để lấy xe về nhà) Thấy H, C tiếp tục chửi bới khiến H không giữ được bình tĩnh nên H cầm dao lao về phía C Phát hiện thấy H cầm dao lao đến, C chỉ kịp chạy giật lùi được vài bước thì bị H áp sát, dùng dao đâm một nhát trúng bụng bên trái C ôm bụng quay lưng định chạy thì bị H đâm thêm một nhát vào lưng bên trái Được mọi người can ngăn, H cầm dao, lội ruộng chạy bộ về nhà, sau đó thì đến Công an huyện Ngọc Lặc để đầu thú, khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bùi Văn C được đưa đi bệnh viện cấp cứu, điều trị

Cơ quan CSĐT ra Quyết định số 1384/CSĐT-PC01 ngày 04/11/2019, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Văn C; Quyết định số 1466/CSĐT-PC01 ngày 05/11/2019, dẫn giải Bùi Văn C thực hiện việc giám định Tuy nhiên, Bùi Văn C đã có đơn từ chối giám định và đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn H

Trong vụ án này, quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng như sau:

- Cáo trạng của VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn H về Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015

- HĐXX cấp sơ thẩm đã quyết định Nguyễn Văn H phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, xử phạt 06 tháng tù

Như vậy, trong vụ án này, với hành vi nêu trên của bị cáo H, các cơ quan THTT xác định bị cáo phạm tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân do xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh cãi tỉ số trận bóng (chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt) nhưng C

đã dùng bóng ném vào mặt H; dùng chân, tay, ghế nhựa (hai ghế chồng lên nhau) để đánh gây thương tích cho Nguyễn Văn H Hành vi trên của Bùi Văn C là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, đã làm tinh thần Nguyễn Văn H bị kích động mạnh,

Trang 20

không làm chủ được bản thân dẫn đến Nguyễn Văn H dùng dao nhọn đâm vào vùng trước bụng, vùng lưng của Bùi Văn C Trong trường hợp này, C có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với H Tác giả cho rằng hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là có thật, và hành vi này có thể làm cho H bị kích động mạnh Tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định rõ trên thực tế C có bị kích động mạnh hay không

Để xác định “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, các cơ quan tiến hành

tố tụng cần áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC, cụ thể: “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình” Tuy nhiên, trong vụ án trên không có dấu hiệu nào cho thấy bị cáo “không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình”, mà ngược lại tác giả cho rằng bị cáo H không bị mất tự chủ, tự

kiềm chế được hành vi mà vẫn còn thời gian để giữ được bình tĩnh: “Được mọi người can ngăn, C không đánh H nữa mà đi vào trong quán nước (ngay sát sân bóng) ngồi nghỉ nhưng vẫn còn lớn tiếng chửi bới, xúc phạm, đe dọa H sau khi bị C đánh đã đi đến vòi nước của nhà anh Bùi Hồng Mạnh - SN 1974, ở sát sau sân bóng để rửa tay, chân nhưng vẫn nghe thấy tiếng C chửi bới, xúc phạm, đe dọa Lo

sợ việc C sẽ tiếp tục đánh mình và phát hiện thấy có con dao giắt cạnh vòi nước, H cầm con dao để phòng thân H đi ra khu vực sân bóng để lấy xe về thì gặp C đang dẫn con trai đi về phía H (C dẫn con trai đi sang nhà anh Bùi Hồng Mạnh để lấy xe

về nhà) Thấy H, C tiếp tục chửi bới, xúc phạm, đe dọa khiến H không giữ được bình tĩnh nên H cầm dao lao về phía C Phát hiện thấy H cầm dao lao đến, C chỉ kịp chạy giật lùi được vài bước thì bị H áp sát, dùng dao đâm một nhát trúng bụng bên trái C ôm bụng quay lưng định chạy thì bị H đâm thêm một nhát vào lưng bên trái” Sau khi H bị C đánh, mọi người can ngăn thì C ngồi nghỉ, H đi rửa tay, lấy xe

ra về gặp C đang dẫn con về nhà là khoảng thời gian đủ để H lấy lại được sự bình tĩnh và hoàn toàn có khả năng kiểm soát, điều khiển hành vi của mình

Mặc khác, trong nội dung buộc tội của VKSND tỉnh Thanh Hóa cũng như quyết định của HĐXX sơ thẩm đều không đề cập đến hành vi giết người của bị cáo có diễn ra

“tức thời” ngay sau hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của bị hại hay không Bởi lẽ, tuy bị hại đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với bị cáo nhưng khi được mọi người can ngăn, bị cáo đã bỏ đi rửa tay thì bị hại cũng đã chấm dứt hoàn toàn hành vi trái pháp luật của mình Việc bị cáo lấy dao phòng thân và khi thấy bị hại dẫn con trai

đi về theo hướng mình thì bị cáo đâm vào bụng và lưng bị hại trong trường hợp này

Trang 21

không thể coi là phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Và theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP, để áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi giết người phải xảy ra tức thời, ngay sau khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân “thường phát sinh tức thì ngay sau khi có sự kích động và tồn tại trong thời gian ngắn” Trong khi đó như đã phân tích, giữa hành vi phạm tội của H và hành vi trái pháp luật của bị hại đã có khoảng cách về mặt thời gian khi bị hại C đã chấm dứt hành vi tấn công và dẫn con trai đi về Khi H cầm dao lao vào

C, C chỉ kịp chạy giật lùi được vài bước thì bị H áp sát, dùng dao đâm một nhát trúng bụng bên trái C ôm bụng quay lưng định chạy thì bị H đâm thêm một nhát vào lưng bên trái Vì vậy, hành vi của H không thể coi là “xảy ra tức thời, ngay lúc có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân” theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP nên không thể áp dụng tội danh giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động đối với bị cáo Có chăng chỉ xem xét tình tiết trạng thái tinh thần bị kích động là tình tiết giảm nhẹ TNHS khi lượng hình đối với bị cáo

* Vụ án thứ hai9:

Khoảng 13 giờ ngày 02/5/2017, sau khi tổ chức ăn nhậu, Nguyễn Út T rủ Nguyễn Văn T1 và Lê Thanh T2 đi đánh nhóm thanh niên người Khơme ở phòng trọ số A135, cùng khu dân cư với T với lý do nhóm thanh niên này thường hát Karaoke làm ảnh hưởng đến gia đình T Trên đường đi, T rủ Nguyễn Thanh S cùng tham gia Khi đến phòng A135, T, T1 xông vào chém nhóm của Chau Q, nhóm của

Q chạy vào nhà vệ sinh đóng cửa lại trốn Nhóm của T tiếp tục dùng dao, cây đập cửa nhà vệ sinh, ném vỏ chai bia về hướng nhà vệ sinh, sau đó ra đứng trước phòng A135 đứng chửi nhóm của Q Lúc này, Q ra khỏi nhà vệ sinh, dùng vỏ chai bia ném vào nhóm của T nhưng không trúng ai, nhóm của T chạy dạt ra phía ngoài Chau Q tiếp tục chạy về phòng A126 lấy một con dao tự chế (mã tấu) quay lại, nhóm của T đang đứng trước phòng A135, Q hỏi “Hồi nảy, thằng nào chém tao?” thì T cầm dao

đi lại phía Q Khi T đứng cách Q 0,5m, Q cầm dao trên tay phải chém từ trên xuống, từ phải qua trái, T đưa hai tay lên đỡ nên bị một vết thương vào 02 cổ tay và rớt dao xuống đất, T bỏ chạy Nguyễn Văn T1 cũng bị Q chém 01 nhát nhưng không trúng, Q tiếp tục chém từ trái qua phải trúng vào bụng S 01 nhát Nguyễn Văn Đ đang ở phòng trọ số A124 chạy đến can ngăn cũng bị Q chém vào vai phải

01 nhát, Q tiếp tục cầm dao rượt theo T T bỏ chạy được 265m hướng ra cổng khu

Hồ Chí Minh

Trang 22

dân cư O thì bị té nằm úp xuống đất, Q chạy đến đứng bên hông trái của T, tay phải cầm dao (mã tấu) chém từ trên xuống, từ phải qua trái 01 cái trúng vào 02 chân của

T làm T bất tỉnh và tử vong trên đường đưa đi cấp cứu

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 49/PY ngày 19/6/2017 của Trung tâm giám định pháp y, Sở y tế Long An kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Út T do nhiều vết thương hở ở tứ chi, làm đứt nhiều mạch máu, trong điều kiện không được cấp cứu kịp thời, dẫn đến choáng mất máu cấp không hồi phục (chết ngoại viện) Nồng độ Ethanol trong máu: 184,39mg/100ml máu

Trong vụ án này, đối với hành vi phạm tội của Châu Q, các cơ quan THTT có các quan điểm như sau:

- Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đều có quan điểm bị cáo Chau Q phạm tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” vì cho rằng bị hại Nguyễn Út T đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng làm cho bị cáo Q rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Theo đó, TAND tỉnh Long An đã quyết định

bị cáo Chau Q phạm tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

và tội “Cố ý gây thương tích” Xử phạt bị cáo Chau Q 03 (ba) năm tù về tội “ Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng

tù về tội “Cố ý gây thương tích”

Vụ án bị kháng cáo do đại diện hợp pháp của bị hại T là bà Quách Mỹ C kháng cáo, yêu cầu xem xét lại tội danh và hình phạt của bị cáo Chau Q về tội “Giết người”, không bị kích động mạnh

- Đại diện VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Hành vi

phạm tội của bị cáo Chau Q theo bản án sơ thẩm và tài liệu có tại hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Giết người” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Chau Q phạm tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” là không phù hợp với tài liệu điều tra thu thập Người bị hại có hành vi trái pháp luật nhưng cấu thành tội như cấp sơ thẩm xử là không đúng Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại về tội “Giết người”

- TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tuyên hủy bản

án sơ thẩm của TAND tỉnh Long An đã xét xử bị cáo Chau Q về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo khoản 1 Điều 95 và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Chuyển hồ sơ vụ án nêu trên cho VKSND tỉnh Long An để điều tra lại theo thủ tục chung

Trang 23

Như vậy, với hành vi phạm tội của Q các cơ quan tiến hành tố tụng đã có các quan điểm khác nhau về việc định tội danh về hành vi giết người của Châu Q

Theo quan điểm của tác giả, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Q phạm tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là không chính xác Bởi

lẽ, bị cáo bị bị hại đánh và rượt chạy vào nhà vệ sinh nhưng sau khi bị hại đi ra khỏi phòng trọ thì hành vi của bị hại đã chấm dứt Khi nhóm T chạy ra ngoài thì bị cáo Q lại chạy về phòng lấy dao và đến tìm chém bị hại Q chém T làm T bỏ chạy, được Nguyễn Văn Đ ngăn cản, Q chém luôn Đ và tiếp tục rượt đuổi T đến cùng, khi T bị

té thì Q chém nhiều nhát vào người T dẫn đến tử vong

Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm khi định tội danh đối với bị cáo Q chỉ xem xét đến yếu tố nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội và người phạm tội giết chết nạn nhân do bị kích động mạnh bởi hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân mà chưa xem xét đến yếu tố để định tội danh này là “sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn đến hành vi giết người”

Có thể hiểu hành vi giết người được thực hiện ngay sau khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân Đối với vụ án này thì giữa hành vi phạm tội của Q và hành vi trái pháp luật của T đã có khoảng cách xa về mặt thời gian, khi nhóm T đã

bỏ đi, Q về phòng tìm dao và tìm chém T cho bằng được, khi T bỏ chạy, Q vẫn rượt theo để thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù có Đ ngăn cản Do đó, hành vi của Q không thể coi là “xảy ra tức thời, ngay lúc có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân” nên không thể định tội danh giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đối với bị cáo Q Việc Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại là chính xác

Thông qua hai vụ án trên, một vấn đề pháp lý cần phải xác định rõ khi định tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đó là hành vi giết người đòi hỏi phải diễn ra ngay sau hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân và không

có sự gián đoạn về mặt thời gian giữa hai hành vi này Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/1986 thì “sự kích động mạnh đó phải là tức thời” Sự kích động phải diễn ra ngay sau khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân và chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn Do vậy, trong trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đã chấm dứt hoàn toàn trên thực tế mà sau đó phải qua một khoảng thời gian nhất định người phạm tội mới thực hiện hành vi giết người thì không được coi là phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trang 24

đã có ý định đến hỏi bà Rám, nếu bà vẫn không chấp nhận thì Huế sẽ nhét ngón tay của bà vào ổ cắm điện để điện giật chết cả 2 người

Khoảng 22h ngày 23/02/2003, Huế thực hiện ý định của mình nhưng không thành công vì bà Rám phát hiện được và gọi hàng xóm sang cứu

Trong vụ án này, quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng đều cho rằng Nguyễn Thị Huế phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vì cho rằng việc làm của bà Rám gây nên sức ép lớn về tâm lý, tình cảm của Nguyễn Thị Huế, làm cho Huế rất căm tức, bức xúc về mặt tinh thần vì cho rằng mẹ chồng

cố chấp, cố tình chia rẽ hạnh phúc gia đình Từ sự dồn nén về tâm lý đã dẫn đến việc bị cáo sử dụng ổ điện nối với nguồn điện để giết mẹ chồng rồi cùng tự sát Tại bản án số 41/HSST, ngày 11/03/2004 của TAND tỉnh Nam Định đã xử phạt Nguyễn Thị Huế 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Theo chúng tôi, điều này là không đúng, bởi lẽ:

- Xét về hậu quả: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

là tội phạm có cấu thành vật chất và dấu hiệu chết người là dấu hiệu bắt buộc tuy nhiên trong vụ án trên thì bà Rám chưa chết, hậu quả chết người chưa xảy ra nên không thể kết án bị cáo Huế về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được

Trang 25

- Xét về trạng thái tinh thần của bị cáo: Huế đã có ý định dùng ổ cắm điện

để giết bà Rám nếu như bà Rám không đồng ý để hai vợ chồng sống chung với nhau và vào ngày 23/02/2003 Huế đã thực hiện ý định của mình, theo đó hành vi dùng ổ điện giết người của Nguyễn Thị Huế là có sự chuẩn bị từ trước chứ không phải là do bộc phát vì tinh thần bị kích động mạnh, hơn nữa hành vi của bà Rán cũng chưa tới mức trái pháp luật nghiêm trọng để Huế phải bị kích động mạnh về tinh thần

Căn cứ vào các dấu hiệu, hành vi và hậu quả thuộc mặt khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP, ngày 29/11/1986 thì việc TAND tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Thị Huế về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là không đúng Trường hợp này, Huế đã phạm tội giết người, nhưng thuộc trường hợp giết người chưa đạt theo Điều 93 BLHS 1999

Thông qua vụ án này, một vấn đề pháp lý cần phải xác định rõ khi định tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đó là các cơ quan THTT khi xem xét các tình tiết của vụ án cần phải xác định rõ hậu quả chết người đã xảy

ra chưa Nếu chưa thì không thể kết án về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được mà phải xem xét các tình tiết đó thỏa mãn cấu thành tội phạm nào, nếu hậu quả chết người đã xảy ra thì xem các tình tiết đó có phù hợp với các dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không có như thế mới đảm bảo xét xử đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xác định đúng người, đúng tội

- Vụ án thứ tư11: Khoảng 23h30’ ngày 25/5/2003, Nguyễn Đức Trường đi chơi bằng xe mô tô về khu nhà trọ số 449/58 Ngô Quyền, Thành phố Đà Nẵng, lúc này ở phòng số 1 có chị Phan Thị Phương Thanh và các anh Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Xuân Phương và vợ chồng anh Ngô Thanh Đông đang ngồi uống rượu nói chuyện, thấy Trường đi vào nhầm phòng nên chị Thanh có nói: “Khuya đóng cửa hết rồi, anh tìm ai?” thì Trường trả lời “nhà tao thuê, tao vào, bọn bay muốn gì?” Nghe vậy, anh Nguyễn Văn Phú dùng tay xô Trường ra khỏi phòng và hai bên có

xô xát với nhau, Phú cầm một cái chén ăn cơm đập vào đầu Trường làm rách da đầu và chảy máu Trường kêu la thì Nguyễn Xuân Liên, Võ Văn Thìn ở cùng phòng trọ với Trường chạy ra Sau đó, Trường, Thìn, Liên về phòng trọ của mình (số 5) thì Phú đuổi theo vào trong phòng Trường thách đố đòi đánh, Nguyễn Xuân

Trang 26

Phương chạy theo Phú và đứng ngoài ném ly thủy tinh trúng vào mặt Trường làm Trường bị mẻ 2 cái răng và rách môi (thương tích 5%) Trường quay xuống bếp lấy con dao thái để tại bàn cầm lên đâm Phú 2 nhát Nhát thứ nhất trúng vào vùng thượng vị cách dưới vú trái 9cm làm thủng da và cơ Nhát thứ 2 khi anh Phú quay người chạy ra thì Trường đâm trúng vào khoang liên sườn phải, làm thủng da và

cơ Giám định pháp y kết luận: anh Nguyễn Văn Phú chết do bị một vật sắc nhọn xuyên thấu bụng gây đứt tĩnh mạch chủ dưới, gây đứt cuống thận phải dẫn đến choáng mất máu không hồi phục và tử vong

Trong vụ án này, quan điểm các cơ quan tiến hành tố tụng như sau:

- Cáo trạng của VKSND Thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Trường về “tội giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, đ, p Khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt bị cáo Trường từ 6 đến 8 năm tù

- HĐXX sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 95, Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Đức Trường 3 năm tù về tội “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

- Theo quan điểm của tác giả, việc TAND thành phố Đà Nẵng kết án bị cáo Nguyễn Đức Trường về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

là không hợp lý Bởi lẽ:

+ Xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân và trạng thái tinh thần kích động mạnh của người phạm tội: Rõ ràng, hành vi của Phú là chỉ vào phòng thách đố Trường không mang theo hung khí gì và cũng chưa có hành vi gì, nếu không bị Phương ném ly trúng vào mặt thì Trường chưa đến mức phải lấy dao đâm Phú Như vậy, nguyên nhân làm cho tinh thần của Trường bị kích động mạnh ở đây là hành vi ném ly của Phương chứ không phải là hành vi thách đố của Phú (nạn nhân)

- Xét về mức độ nghiêm trọng của hành vi của Phú thì hành vi thách đánh Trường của Phú chưa đến mức nghiêm trọng làm tinh thần Trường bị kích động mạnh Hơn nữa, hành vi trực tiếp làm Trường bị kích động là việc ném ly vào mặt của Phương Tuy nhiên, xét hành vi của Nguyễn Xuân Phương dùng ly ném vào mặt Trường là trái pháp luật nhưng chỉ gây thương tích cho Trường 5% nên chưa đến mức truy tố Phương về tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS Quan hệ giữa Phú và Phương là bạn bè bình thường không có thân thích gì nhau, vì mặt ý thức chủ quan Phú và Phương không có sự thống nhất cùng nhau đánh Trường nên

Trang 27

không thể quy buộc hành vi của Phương gây kích động mạnh cho Trường dẫn đến Trường dùng dao đâm chết Phú để áp dụng khoản 1 Điều 95 BLHS

Do đó, hành vi của Trường đủ yếu tố cấu thành tội Giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS

Trong vụ án trên, TAND thành phố Đà Nẵng đã xác định sai nguyên nhân làm cho tinh thần bị cáo Trường bị kích động mạnh dẫn tới hành vi giết người đồng thời chưa đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng hành vi của anh Phú nên đã xác định sai tội danh, xử lý không đúng tội, không phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội Qua đó, các cơ quan tiến hành tố tụng cần nghiên cứu, xem xét kĩ lưỡng từng tình tiết của vụ án để có thể xác định đúng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân và trạng thái tinh thần bị kích động mạnh từ đó xử

lý đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

1.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Như đã phân tích ở Mục 1.2 của Luận văn, thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cho thấy vướng mắc được đặt ra là phải hiểu và áp dụng một cách thống nhất dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Theo chúng tôi, nguyên nhân của vướng mắc này là:

- Dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” trong các tội xâm phạm tính mạng con người theo quy định của BLHS năm 2015 hiện nay chưa được hướng dẫn cụ thể mà chỉ có thể tham khảo theo Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn từ cách đây rất lâu nên nội dung của hướng dẫn về dấu hiệu này đã không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay Khi xét xử hầu hết những người tiến hành tố tụng đều không dựa vào hướng dẫn tại Nghị quyết 04/1986 để lập luận luận điểm định tội Do đó, cần cụ thể hóa quy định dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” thành một điều luật cụ thể trong BLHS nhằm đảm bảo thống nhất việc áp dụng pháp luật

- Các tiêu chỉ để xác định dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” còn chung chung, chưa rõ ràng dẫn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều cách hiểu khác nhau, áp dụng không thống nhất Thực tiễn áp dụng pháp luật, các tiêu chí như: Xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không; hành vi trái pháp luật của nạn nhân có nghiêm trọng hay không hoặc có sự kích

Trang 28

động mạnh xảy ra không…vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Do đó, cần phải hướng dẫn rõ các tiêu chí này nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

Từ những nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên, để nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đúng đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị như sau:

- Kiến nghị TANDTC ra văn bản hướng dẫn dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” để hướng dẫn chính thức dấu hiệu này thay cho Nghị quyết số 04/1986 hoặc quy định dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bằng một điều luật cụ thể ở phần chung để giải thích, làm rõ và xác định giới hạn của tinh thần bị kích động mạnh, cụ thể nội dung: “Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội ở trong tình trạng không tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình một cách tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với họ hoặc người thân thích của họ”

Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi phạm tội Nhưng

cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, âm ỉ, kéo dài, đến thời điểm nào đó do hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; xét cả quá trình phát triển của sự việc thì sự kích động này có thể được coi là mạnh hoặc rất mạnh

Để áp dụng pháp luật về thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đòi hỏi phải đáp ứng đầy đủ 3 tiêu chí: Một là, nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân tích của người phạm tội; Hai là người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Ba là sự kích động mạnh phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân

- Cần giải thích rõ các tiêu chí để xác định tình tiết thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Theo đó, thứ nhất tiêu chí “hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình….có thể cấu thành tội phạm hoặc cũng có thể chưa Khi xem xét mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân đòi hỏi các cơ quan tiến hành

tố tụng cần đánh giá toàn diện cả về cường độ lẫn số lượng hành vi

Trang 29

Hai là, tiêu chí trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Việc xác định trường hợp phạm tội là trong “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” hay “trạng thái tinh thần bị kích động” Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay không cần xem xét một cách khách quan, toàn diện các mặt: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân của sự việc; mối quan hệ giữa nạn nhân với người phạm tội; mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội

Ba là tiêu chí “sự kích động mạnh là tức thời” theo đó khi xác định tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội “thường phát sinh tức thì ngay sau khi có kích động và tồn tại trong thời gian ngắn Đây là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này”12

- Tổ chức tập huấn cho các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân về việc áp dụng thống nhất pháp luật đối với tình tiết “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

Đức, tr 53

Trang 30

- Đưa ra kiến nghị Cơ quan chức năng hướng dẫn lại dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” trong luật hình sự; Giải thích rõ các tiêu chí để áp dụng tình tiết này

Các kiến nghị này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả định tội danh đúng đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG

CON NGƯỜI TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ 2.1 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

Cơ sở lý luận về định tội danh đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ cũng dựa trên lý thuyết của việc định tội danh ở mục 1.1 của Luận văn

Về cơ sở pháp lý, có thể thấy rằng trong nhóm tội cố ý xâm phạm tính mạng con người, liên quan đến việc định tội danh về mặt chủ thể Ngoài chủ thể thực hiện tội phạm là những cá nhân bình thường thì còn có những chủ thể là những người có chức vụ, quyền hạn, những người đang thi hành công vụ được giao… hay nói cách khác về mặt khoa học hình sự, họ là những chủ thể đặc biệt của cấu thành tội phạm

Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, pháp luật hình sự kể từ khi pháp điển hoá lần đầu tiên vào năm 1985 đến nay đã có một số sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định và phù hợp hơn với tình hình thực tiễn Theo BLHS hiện hành, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 127 Theo đó, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là hành vi sử dụng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép dẫn đến chết người của người đang thực hiện công vụ nhất định do được giao hoặc huy động theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức hoặc của công dân, đồng thời duy trì trật tự an toàn xã hội

Quy định về tội phạm này là căn cứ cụ thể trực tiếp để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng vào từng trường hợp cụ thể một cách chuẩn xác tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, đồng thời tránh tình trạng lạm dụng sơ hở của pháp luật để xâm phạm tới tính mạng của người khác vì các mục đích cá nhân, trốn tránh trách nhiệm hình sự của người đang thi hành công vụ được giao

Tuy nhiên, xét về mặt lý luận các dấu hiệu “công vụ” “người thi hành công vụ” còn chưa có sự hiểu thống nhất và rõ ràng, thiếu các văn bản hướng dẫn, giải thích một số điểm của nội dung điều luật Còn xét về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều sai sót dẫn đến việc định tội danh sai, gây ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, nhiều vụ án làm chết người liên quan đến thi hành công vụ gây xôn xao dư luận, điển hình thời gian qua, có nhiều vụ án lực lượng thi hành công vụ (công an) đánh chết người bị bắt nhưng mỗi nơi xử một kiểu, ngay cùng một tòa

Trang 32

án cũng xử không thống nhất Ví như vụ bảy công an huyện Thạch Thất, Hà Nội đánh chết ông Nguyễn Mạnh Sơn chỉ bị xét xử về tội cố ý gây thương tích Trong khi đó, vụ bốn công an xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội đánh chết ông Nguyễn Mậu Thuận lại bị xét xử về tội giết người với mức án cao nhất 17 năm tù

Vụ án này, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội (nay là TAND Cấp cao tại

Hà Nội) đã y án cả về tội danh và hình phạt Thế nhưng trong vụ nghi can Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên bị đánh chết, năm bị cáo công an chỉ bị xét xử về tội dùng nhục hình Và trong vụ án công an xã đánh chết ông Nguyễn Hữu Thâu ở huyện Krông Năng, Đắk Lắk, bị cáo công an lại bị xét xử về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

Như vậy, rõ ràng các cơ quan tiến hành tố tụng đang có vấn đề về nhận thức

và việc áp dụng pháp luật không thống nhất

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng dấu hiệu về chủ thể là dấu hiệu rất

cơ bản để phân biệt sự khác nhau giữa tội danh này với các tội danh liên quan đến hành vi xâm phạm tính mạng con người

Đối với những chủ thể đặc biệt, trong BLHS có rất nhiều điều luật trong phần các tội phạm cụ thể liên quan đến vấn đề thi hành công vụ do đó việc áp dụng các điều luật đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng về các dấu hiệu “công vụ” “người thi hành công vụ” nhằm có sự hiểu thống nhất và rõ ràng

Hiện nay, việc xác định thế nào là “Công vụ” và người nào được xem là

“người thi hành công vụ” vẫn chưa được thống nhất vì khái niệm người thi hành công vụ được quy định trong các văn bản pháp luật cũng khác nhau, cụ thể như sau:

Về khái niệm “Công vụ”, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau Theo Từ điển tiếng việt “Công vụ” là việc công13 Hoạt động công vụ thường mang tính chất phục vụ lợi ích mang tính chuyên nghiệp và tính được đảm bảo bằng ngân sách Nhà nước

Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa thì cách hiểu về “công vụ” như sau: công vụ

là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao gồm quản lý hành chính, tố tụng và thi

là đúng pháp luật Muốn được coi là công vụ thì hoạt động phải đúng pháp luật

Việt Nam, Tạp chí Luật học số 2

Trang 33

Còn đối với khái niệm “người thi hành công vụ” hiện cũng có nhiều cách hiểu: Thứ nhất, Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS quy định:“Người thi hành công vụ là người có chức

vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp

vụ (như: tuần tra, canh gác ) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ

lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội”

Thứ hai, khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm

2017 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển

dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật

có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án”

Như vậy, theo Luật này thì người thi hành công vụ phải là người làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án Theo đó, những người làm việc trong các tổ chức xã hội hoặc những người không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án thì sẽ không được coi

là người thi hành công vụ

Ngoài ra tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 01/02/2014 quy định các biện pháp phòng ngừa ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi

hành công vụ xác định người thi hành công vụ:“ là cán bộ, công chức, viên chức,

sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân

và xã hội” Định nghĩa này đã mở rộng phạm vi người thi hành công vụ so với hai

định nghĩa trước đó khi xác định rõ người thi hành công vụ có thể là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân

Như vậy xét về chủ thể người thi hành công vụ phải là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước tổ chức chính trị tổ chức chính trị - xã hội tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất

Trang 34

kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động yêu cầu thực hiện nhiệm vụ Đồng thời xét về phạm vi nhiệm vụ thực hiện chỉ có thể được coi là thi hành công

vụ khi công việc mà họ làm phải làm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của nhà nước của xã hội và các hoạt động ấy phải tuân theo quy định của pháp luật

Trên cơ sở đó liên quan tới khía cạnh pháp luật hình sự người thi hành công

vụ trước hết phải là người có thẩm quyền thực hiện công vụ nhất định và thứ hai họ

đã thực sự thực hiện công vụ đó - tiến hành các hoạt động quản lí nhà nước đúng pháp luật Trong các văn bản pháp luật hiện nay dấu hiệu “người thi hành công vụ” chỉ được giải thích giới hạn ở nội dung thứ nhất, nội dung thứ hai thường bị bỏ qua Với nội dung thứ nhất chúng ta mới chỉ khẳng định được một người có thể là người thi hành công vụ vì họ có vị trí công tác có thẩm quyền tiến hành công vụ nhưng họ chỉ thực sự là người thi hành công vụ khi họ đã thực hiện công vụ (hoạt động đúng pháp luật) theo đúng thẩm quyền Dấu hiệu “người thi hành công vụ” không phải là dấu hiệu về nhân thân mà luôn gắn với công vụ cụ thể và do đó khái niệm người thi hành công vụ cũng phải chứa đựng nội dung đang thi hành công vụ

Do vậy, để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật hình sự vào các trường hợp cụ thể thì việc xây dựng đưa

ra một khái niệm đủ để thấy rõ được phạm vi điều chỉnh hay giới hạn của tội phạm này nhằm phân biệt ranh giới giữa tội phạm này với những tội phạm khác có dấu hiệu tương tự là hết sức quan trọng và cần thiết Như vậy, có thể phân biệt đối với tội giết người chủ thể thực hiện tội phạm là chủ thể thường có thể là bất kỳ ai trong xã hội có năng lực TNHS đầy đủ và đạt độ tuổi chịu TNHS; Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ thì chủ thể thực hiện tội phạm phải là chủ thể đặc biệt tức là ngoài những điểm chung giống như chủ thể của mọi tội phạm khác thì ở tội phạm này chủ thể thực hiện hành vi phải là người đang thi hành công vụ Họ có thể là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ

Dấu hiệu về chủ thể là dấu hiệu rất cơ bản để phân biệt sự khác nhau giữa hai tội này Chỉ những người trong khi thi hành công vụ và vì nhiệm vụ được giao mà làm chết người thì mới thuộc trường hợp phạm tội quy định tại Điều 127 Bộ luật hình sự Nếu lợi dụng nhiệm vụ được giao mà giết người thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 123 Bộ luật hình sự

Trang 35

Ngoài yếu tố định tội nêu trên, đối với tội làm chết người trong khi thi hành

công vụ thì hành vi dùng vũ lực (để thực hiện công vụ) ngoài những trường hợp

pháp luật cho phép và động cơ phạm tội cũng là những dấu hiệu chủ yếu để phân

biệt các tội phạm có tính chất xâm phạm tính mạng con người

Hành vi dùng vũ lực xâm phạm tính mạng của người khác được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể người khác Các hình thức có thể dùng tay chân hoặc sử dụng vũ khí Hành vi dùng vũ lực xâm phạm tính mạng của người khác trước hết là hành vi sử dụng vũ khí ngoài các trường hợp pháp luật cho phép

Theo pháp luật hiện hành thì việc quy định các loại vũ khí và các trường hợp

sử dụng vũ khí trong các trường hợp pháp luật cho phép được hướng dẫn tại Pháp lệnh số: 16/2011/UBTVQ 12 ngày 30/06/2011 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ

và công cụ hỗ trợ của ủy ban thường vụ Quốc hội; Theo đó, người sử dụng các loại

vũ khí thuộc loại phải có giấy phép sử dụng và phải sử dụng đúng mục đích đúng quy định Khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự có tổ chức, việc nổ súng tuân theo mệnh lệnh của người có thẩm quyền và việc nổ súng tuân theo các nguyên tắc

Còn sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép là sử dụng

vũ khí trái với những quy định nói trên, là phạm tội, tức là: Về phía nạn nhân thì chưa có hành vi kháng cự, mới bị tình nghi chứ chưa có biểu hiện rõ ràng là phạm tội nghiêm trọng, hoặc tuy đã phạm tội nghiêm trọng, nhưng không có hành động trốn tránh pháp luật; về phía người sử dụng vũ khí, thì đã tỏ ra thiếu thận trọng, không làm đúng thủ tục quy định trước khi nổ súng vào nạn nhân thì mới bị coi là hành vi khách quan của tội làm chết người trong thi hành công vụ

Về động cơ để người thi hành công vụ thực hiện tội phạm này là xuất phát từ

việc nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức hoặc của công dân đồng thời duy trì trật tự cũng như sự ổn định của xã hội Nếu không xuất phát từ động cơ này mà khi thi hành công vụ mà sử dụng vũ khí vì động cơ tư thù, vụ lợi, ghen tức, v.v… thì không được coi là thi hành công vụ

và người thực hiện hành vi có thể phải bị xử phạt về những tội phạm có tính chất nguy hiểm hơn

Về yếu tố lỗi để phân biệt tội làm chết người trong khi thi hành công vụ với

các tội phạm cố ý xâm phạm tính mạng con người khác, đó là hành vi tước đoạt

mạng sống của người khác được thực hiện do lỗi cố ý (cố ý gián tiếp – người phạm

tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho

Trang 36

hậu quả xảy ra) hoặc vô ý (vô ý do quá tự tin – người phạm tội biết hành vi của mình là nguy hiểm nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả vẫn xảy ra)

2.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người trong khi thi hành công vụ

So với các tội khác trong nhóm tội cố ý xâm phạm tính mạng con người được đưa ra xét xử thì tội làm chết người trong khi thi hành công vụ chiếm tỷ lệ rất thấp Từ năm 2015 đến năm 2020 trong phạm vi toàn quốc, toàn ngành Tòa án chỉ xét xử 05 vụ

- 10 bị cáo15 về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ Mặc dù, chỉ chiếm tỷ lệ giải quyết hạn chế nhưng có thể thấy trong thực tiễn định tội danh, việc xác định ranh giới giữa tội làm chết người trong khi thi hành công vụ với một số tội phạm khác như giết người hay cố ý gây thương tích dẫn đến chết người… gặp nhiều khó khăn với việc xác định người phạm tội có phải người thi hành công vụ theo quy định pháp luật hay không hay việc xác định những trường hợp sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép dẫn đến tình trạng có những quan điểm khác nhau trong cùng một

vụ án giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, điển hình như một số trường hợp sau đây:

- Vụ án thứ năm16: Khoảng 19 giờ 30 ngày 16-7-2005, anh Lương Khắc Phóng (là đối tượng có nhiều tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) cùng anh Vũ Như Mười đi chơi bằng xe máy Khi đi qua cổng nhà anh Lương Văn Hưng thuộc thôn Quý Khê, xã Cẩm Hoàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thấy một chiếc xe đạp dựng ở trước cửa nhà anh Hưng, thì anh Phóng bảo anh Mười dừng xe để vào nhà anh Hưng lấy trộm chiếc xe đạp đó Khi anh Phóng dắt chiếc xe đạp đi được khoảng bốn mét thì chị Vũ Thị Ly (chủ xe) phát hiện hô hoán, và cùng anh Hưng chạy ra bắt giữ anh Phóng cùng anh Mười Ngay sau đó, chị Chu Thị Nhiều (vợ anh Hưng) gọi điện báo cho anh Lương Văn Đãng (Trưởng thôn Quý Khê) đến giải quyết Nhận được tin báo, anh Đãng đến nhà Phạm Đức Sơn (Công an viên của xã phụ trách an ninh thôn) và bảo Sơn cùng anh Đãng đến nhà anh Hưng để giải quyết theo báo cáo của gia đình anh Hưng Khi đi Sơn mặc trang phục Công an viên và mang theo gậy cao su, khóa số 8 Đến nhà anh Hưng thấy đông người, Sơn hỏi vợ chồng anh Hưng “trộm đâu”, thì anh Hưng chỉ vào anh Phóng (lúc này anh Phóng đang ngồi ở ghế và lấy hai tay che mặt) Sơn hỏi anh Phóng: “có đúng mày lấy cắp

tại Hà Nội

Trang 37

không”, thì anh Phóng không thừa nhận Sơn cầm gậy cao su vụt nhiều nhát vào đầu

và vai của anh Phóng Thấy anh Phóng đứng dậy xin, thì Sơn lấy khóa số tám khóa hai tay của anh Phóng lại Sơn bảo anh Đãng chở anh Phóng ra đình làng và Sơn yêu cầu anh Mười cùng ra đình làng Tại đình làng, khi hỏi anh Phóng về việc lấy trộm xe đạp, nhưng anh Phóng không trả lời, thì Sơn cầm gậy cao su vụt một nhát vào đầu và một nhát vào lưng của anh Phóng Sơn quay sang hỏi anh Mười, và không thấy anh Mười trả lời, thì Sơn cầm gậy cao su vụt một nhát vào mặt của anh Mười Ngay sau đó có một số người khác cùng xông vào đánh anh Mười, nhưng bị anh Đãng can ngăn Sau khi đánh anh Mười, Sơn đến nhà anh Đặng Đình Phả (Phó công an xã) báo cho anh Phả đến đình làng để giải quyết Thấy mặt của anh Phóng sưng tím và có chỗ bị chảy máu, anh Phả đã yêu cầu đưa anh Phóng và anh Mười về UBND xã, rồi gọi anh Phạm Văn Luận (cán bộ y tế của xã) đến rửa và băng vết thương cho anh Phóng Sau khi lập biên bản về hành vi trộm cắp xe đạp và lấy lời khai của anh Phóng xong, Công an xã Cẩm Hoàng đã ra quyết định xử phạt hành chính và phối hợp với Công an xã Phú Lương đưa anh Phóng về gia đình Anh Phóng đã chết tại nhà ông Nguyễn Văn Đắp (cậu của chị Tuyến) lúc 02 giờ ngày 18-7-2005 Sau khi anh Phóng bị chết, gia đình Sơn đã bồi thường cho gia đình anh Phóng 2.000.000 đồng tiền mai táng phí

Kết quả khám nghiệm tử thi xác định Lương Khắc Phóng da đầu vùng thái dương đỉnh phải có đám sưng nề bầm tím, da thành ngực phải có đám sưng nề bầm tím diện rộng 12x10cm Mặt trước vành tai phải có vết xướt da nông rộng 0,5x0,3cm xung quanh dính cục máu đã khô, toàn bộ vành tai phải bầm tím, hai hố mắt, da cằm phải bầm tím Da thành ngực trái trên núm vú 7cm có vết bầm tím Mở

da đầu vùng thái dương đỉnh phải tụ máu nặng Mở hộp sọ tụ máu dưới màng cứng, khối máu tụ khoảng 300 gam màu đen

Tại bản giám định pháp y số 165 ngày 19-7-2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Hải Dương kết luận: “nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh Lương Khắc Phóng là do chấn thương sọ não kín, thể loại chết không tự nhiên”

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 131/2005/HSST ngày 23/12/2005 của TAND tỉnh Hải Dương, đã áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm c khoản 1 Điều 48; điểm p, s khoản 1, 2 Điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Đức Sơn 05 năm tù về tội cố ý gây thương tích

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 278/2006/HSPT ngày 28-3-2006, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã nhận định: “Xét thấy trong khi thi hành công vụ

Trang 38

Phạm Đức Sơn đã sử dụng công cụ hỗ trợ của Công an xã là gậy cao su đánh nhiều cái vào đầu, mặt đương sự do quá bực tức vì thái độ không chịu khai báo của đương

sự Hậu quả làm cho Lương Khắc Phóng bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong Hành vi nêu trên của Phạm Đức Sơn là dùng vũ lực một cách trái phép ngoài những trường hợp pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ gây hậu quả chết người,

có đầy đủ dấu hiệu của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 97 BLHS Tòa án cấp sơ thẩm kết án Phạm Đức Sơn về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 BLHS (dẫn đến chết người) là không đúng về mặt tội danh Do đó, HĐXX phúc thẩm đã quyết định sửa bản án hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 1 Điều 97, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS; xử phạt Phạm Đức Sơn 42 tháng tù về tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ”

Theo tác giả, quan điểm của cấp phúc thẩm là không hợp lý vì lý do người bị hại là anh Lương Khắc Phóng có hành vi vi phạm pháp luật đã bị bắt giữ Tuy Phạm Đức Sơn là Công an viên của xã nhưng khi bắt được người có hành vi phạm tội, Phạm Đức Sơn chỉ có quyền đưa về trụ sở của xã hoặc về trụ sở công an gần nhất, chứ không có quyền xét hỏi người phạm tội, không có quyền lập biên bản và xử lý hành vi vi phạm của người phạm tội, càng không có quyền dùng vũ lực đối với người phạm tội Tuy nhiên do hống hách, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác bị cáo đã đánh và đánh nhiều lần làm người bị hại bị thương dẫn đến chết Hành vi đánh người này của bị cáo không liên quan đến công vụ Hành vi của bị cáo không được coi là phạm tội trong khi thi hành công vụ Việc Toà án cấp phúc thẩm kết án bị cáo

về tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” là xác định không đúng các dấu hiệu thuộc về cấu thành của tội phạm Cần phải hiểu rằng, không phải cứ có chức vụ, quyền hạn và gây chết người trong thời gian thực hiện nhiệm vụ là phạm tội trong khi thi hành công vụ, mà cần phải xem xét người có chức vụ, quyền hạn có thực hiện đến động cơ của người phạm tội xem có đúng là vì muốn hoàn thành nhiệm vụ nên đã làm chết người hay vì động cơ khác; nếu không vì muốn hoàn thành nhiệm vụ thì cũng không được coi là phạm tội trong khi thi hành công vụ Và theo mục 2 chương

II Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS thì hành vi của bị cáo

là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo

về tội “cố ý gây thương tích” là đúng tội danh Tòa án cấp phúc thẩm sửa tội danh của

bị cáo sang tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ” và giảm hình phạt cho bị cáo là không đúng pháp luật

Trang 39

- Vụ án thứ sáu17: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 03-7-2014, anh Trương Quốc Long đang ngủ ở tiệm cửa sắt của gia đình thì nghe có tiếng động bên ngoài, anh Long dậy kiểm tra thì phát hiện ông Nguyễn Hữu Thâu đang kéo 01 cây sắt phi 10 trong đống sắt trước cửa tiệm, thấy vậy anh Long dùng chân đạp cánh cửa tiệm bung ra trúng lưng ông Thâu, làm ông Thâu chao đảo người về phía trước, nhưng

không ngã xuống đất Ông Thâu bỏ chạy ra đường, anh Long hô “Trộm, trộm” rồi

đuổi theo và bắt được ông Thâu Sau đó, anh Long gọi điện thoại cho ông Lê Viết Sơn (là trưởng thôn Xuân Hòa) đến để giải quyết Sau khi nghe báo tin, ông Sơn liên lạc với Lê Viết Hùng (là công an viên xã Phú Xuân) Hùng điện thoại cho Hồ Minh Tuấn, Nguyễn Văn Hà và Hoàng Văn Tuấn – thuộc tổ liên gia tự quản của thôn Xuân Hòa cùng đến tiệm cửa sắt nhà anh Long để xử lý việc

Khi đến tiệm cửa sắt nhà anh Long, Lê Viết Hùng đưa ông Thâu đến hội trường thôn Xuân Hòa để làm việc Khi đến nơi, Hùng điện thoại cho ông Trần Duy Hoan - Trưởng công an xã Phú Xuân để báo cáo sự việc và được ông Hoan chỉ đạo tiến hành lập biên bản sự việc, ghi lời khai người biết việc, lời khai ông Thâu, tạm giữ phương tiện rồi cho ông Thâu về Lê Viết Hùng trực tiếp làm việc với ông Thâu

và anh Long, còn anh Hồ Minh Tuấn, Nguyễn Văn Hà và Hoàng Văn Tuấn ngồi xem ti vi, Hùng cho ông Thâu ngồi trên ghế nhựa viết bản tự khai về việc lấy trộm sắt của anh Long, tuy nhiên do ông Thâu vỉết bản tự khai với nội dung: không thừa nhận hành vi trộm cắp mà chỉ vào xem sắt để về đổ trụ tiêu và nội dung không rõ ràng nên Hùng quát và dừng tay tát vào mặt ông Thâu nhiều cái, bắt ông Thâu viết lại bản tự khai nhiều lần

Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 04-7-2014, khi đang viết lại bản tự khai lần thứ 5 thì ông Thâu kêu đau đầu rồi gục mặt xuống bàn ngủ Thấy vậy, Hùng dùng tay túm tóc ông Thâu kéo giật ngược lên rồi dùng tay tát vào mặt ông Thâu và tiếp tục yêu cầu ông Thâu viết bản tự khai, do ông Thâu không dậy mà kêu mệt, buồn ngủ nên Hùng không làm việc với ông Thâu nữa Một lúc sau, thấy ông Thâu đang ngồi trên ghế tự ngã dập đầu xụống hền nhà thì Hùng cùng với Minh Tuấn, Hà và Văn Tuấn đỡ ông Thâu dậy đặt ngồi lên ghế Ông Thâu ngồi trên ghế được một lúc thì tiếp tục ngã đập đầu xuống nền nhà, Hùng đỡ ông Thâu ngồi lại trên ghế, nhưng ông Thâu lại ngã xuống đất Đến lần thứ 3, do nghĩ ông Thâu đã say rượu nên Hùng

và mọi người để ông Thâu nằm luôn trên nền nhà

Trang 40

Đến 08 giờ ngày 04-7-2014, khi gia đình ông Thâu đến thấy ông Thâu đang nằm im trên nền hội trường thôn, đã thuê xe chở ra Bệnh viện Đa khoa huyện Krông Năng rồi chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk cấp cứu Do ông Thâu

bị chấn thương sọ não nặng nên gia đình xin chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy để cấp cứu Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, ông Thâu chết trên đường đi cấp cứu

Tại Bản Kết luận pháp y tử thi số 290/PY-T.Th ngày 05-8-2014 và Bản Kết luận pháp y bổ sung số 1190/PYBS ngày 28-11-2014, Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Hữu Thâu là do chấn thương sọ não, vật tác động thuộc loại cứng, tày, diện rộng; nồng độ rượu trong máu: 4.30 mmol/l

Có thể thấy trong vụ án trên, đã có các quan điểm khác nhau liên quan đến việc định tội danh về hành vi làm chết người của bị cáo Lê Viết Hùng:

- VKSND huyện Krông Năng đã truy tố bị cáo Lê Viết Hùng về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và HĐXX cấp sơ thẩm quyết định bị cáo Lê Viết Hùng phạm tội Làm chết người trong khi thi hành công vụ

- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2016/HSPT ngày 09-6-2016, TAND

tỉnh ĐăkLăk nhận định hành vi phạm tội của Lê Viết Hùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tuy nhiên theo quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử, nên HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, kiến nghị TAND cấp cao tại Đà Nẵng xem xét kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để hủy Bản án hình sự sơ thẩm và Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ cho cấp

sơ thẩm truy tố, xét xử lại theo đúng quy định pháp luật”

Theo quan điểm tác giả, việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định bị cáo Lê Viết Hùng phạm tội Làm chết người trong khi thi hành công vụ là không chính xác Vì lý do mặc dù mới chỉ nghi ngờ ông Nguyễn Hữu Thâu vào nhà chứ chưa phải đã bắt được quả tang ông Thâu trộm sắt, trưởng thôn lại gọi cho Lê Viết Hùng, công an viên xã Phú Xuân, huyện Krông Năng Hùng kéo thêm ba người nữa thuộc tổ liên gia tự quản của thôn Xuân Hòa dẫn ông Thâu cùng phương tiện về hội trường thôn để làm việc

Việc bắt người như thế này là không đúng vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang Vì Theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 9 Pháp lệnh Công an xã năm 2008 và Điều 9 Thông Tư số 12/2010/TT-BCA ngày 08-4-2010 của Bộ Công

an (về nhiệm vụ, quyền hạn của công an xã) thì công an xã chỉ có quyền bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn, lập biên bản theo quy định và dẫn giải ngay đối tượng lên Công an cấp trên; đối với

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm