Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khảng định: “ Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”. Để có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, Đảng ta đã tiến hành khởi xưởng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986), là cột móc đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Sau 35 năm vượt qua các thử thách và khó khăn to lớn, tiến hành công cuộc đổi mới trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội..., đến nay, Việt Nam có đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, đã đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế của thời đại và với ý nguyện của Nhân dân. Sự hưởng ứng đường lối đổi mới ngày càng sâu rộng và tự giác của Nhân dân, khả năng tiếp cận và hội nhập một cách có hiệu quả của đất nước vào đời sống của cộng đồng quốc tế cùng với những kết quả to lớn và toàn diện mà đổi mới mang lại là những bằng chứng hiển nhiên, thuyết phục về tính tất yếu lịch sử của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Vì vậy, để tiếp tục nghiên cứu, nắm vững, làm sáng tỏ hơn nội dung, ý nghĩa về tư duy lý luận, ý nghĩa thực tiễn, vận dụng trong công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay. Tôi chọn chủ đề: “Nội dung cơ bản và ý nghĩa của đường lối đối mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986) xác định, ý nghĩa lịch sử và hiện thực” làm chủ đề tiểu luận tốt nghiệp lớp hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị.
Trang 1MỞ ĐẦU
Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khảng định: “ Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”
Để có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, Đảng ta đã tiến hành khởi xưởng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986), là cột móc đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam Sau 35 năm vượt qua các thử thách và khó khăn to lớn, tiến hành công cuộc đổi mới trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội , đến nay, Việt Nam có đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, đã đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế của thời đại và với ý nguyện của Nhân dân Sự hưởng ứng đường lối đổi mới ngày càng sâu rộng và tự giác của Nhân dân, khả năng tiếp cận và hội nhập một cách có hiệu quả của đất nước vào đời sống của cộng đồng quốc tế cùng với những kết quả to lớn và toàn diện mà đổi mới mang lại là những bằng chứng hiển nhiên, thuyết phục
về tính tất yếu lịch sử của quá trình đổi mới ở Việt Nam
Vì vậy, để tiếp tục nghiên cứu, nắm vững, làm sáng tỏ hơn nội dung, ý nghĩa về tư duy lý luận, ý nghĩa thực tiễn, vận dụng trong công cuộc đổi mới trong
giai đoạn hiện nay Tôi chọn chủ đề: “Nội dung cơ bản và ý nghĩa của đường lối đối mới do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) xác định, ý nghĩa lịch sử và hiện thực” làm chủ đề tiểu luận tốt nghiệp lớp hoàn
chỉnh cao cấp lý luận chính trị
Trang 2I ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC – YÊU CẦU TẤT YẾU KHÁCH QUAN
1 Bối cảnh lịch sử đất nước đặt ra yêu cầu đổi mới
Trong nhiều thập kỷ trước đổi mới, cũng giống như ở các nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) khác, Việt Nam thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo mô hình XHCN được quan niệm lúc bấy giờ Theo đó, chế
độ sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung đóng vai trò là những yếu tố chủ đạo của mô hình phát triển
Cần nhấn mạnh rằng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, nhân dân Việt Nam phải ra sức động viên và tập trung sức mạnh toàn dân tộc để vừa xây dựng đất nước, vừa thực hiện cuộc chiến tranh không cân sức nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc Việc thực hiện mô hình phát triển này đã mang lại những kết quả to lớn không thể phủ nhận Đó là sự bảo đảm quyết định để giành thắng lợi trong cuộc chiến giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, tạo lập những cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu rất quan trọng của XHCN, mang lại cho nhân dân cuộc sống tự do, việc làm, quyền làm chủ xã hội cùng với những cải thiện đáng kể trong đời sống vật chất và tinh thần
Tuy nhiên, thực tế trước đổi mới, nhất là của hơn 10 năm tiến hành xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước (1975 - 1986), chứng tỏ rằng trong nền kinh tế mang đậm bản sắc nông dân - nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mô hình phát triển gắn với cơ chế kế hoạch hóa tập trung có những khiếm khuyết lớn trong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Sau nhiều năm vận động trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tuy đất nước có đạt được những thành tựu to lớn, song nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ; đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn
Trang 3Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế Việt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả Những mất cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lúc này là tìm kiếm cách thức phát triển mới
có khả năng đáp ứng các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọng nhất là phải tháo gỡ các ràng buộc về cơ chế và thể chế
để giải phóng các nguồn lực phát triển của đất nước Cần phải nói rằng ngay khi đất nước mới lâm vào khủng hoảng, trong nền kinh tế Việt Nam, dưới áp lực của thực tiễn, đã diễn ra hai cuộc thử nghiệm quan trọng
2 Những khảo nghiệm của Đảng trước đổi mới đất nước tháng 12 năm 1986
Ban Bí thư ra Chỉ thị 100 khoán sản phẩm tới nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, gọi tắt là Chỉ thị 100 Nội dung Chỉ thị: mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp đối với các loại cây trồng, chăn nuôi, ngành nghề khác trong các hợp tác xã Yêu cầu không được khoán trắng, do đó đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp tăng đáng kể
Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định 25 CP về sản xuất công nghiệp Chủ trương, cho phép các xí nghiệp chủ động sản xuất, kinh doanh và tự chủ về tài chính; cho phép các xí nghiệp thực hiện kế hoạch ba phần; cho mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh Về nguyên tắc, cả hai cuộc thử nghiệm này đều diễn ra theo một xu hướng chung, nới lỏng các ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mở rộng hơn phạm vi hoạt động của các quan hệ thị trường, trao nhiều quyền chủ động kinh doanh hơn cho các chủ thể kinh tế và người lao động Phong trào lan rộng ra khắp nền kinh tế và đã nhanh chóng đưa lại những thành tựu nổi bật, trước hết là trên mặt trận nông nghiệp
Trang 4Tuy nhiên, kết quả của xu hướng cải cách này còn bị hạn chế do việc thực hiện những cải cách theo hướng thị trường mới mang tính cục bộ và chỉ dừng lại ở cấp vi mô, trong khuôn khổ cố gắng bảo tồn cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở tầm vĩ mô Vì vậy, những cuộc thử nghiệm này tuy đưa đến những thành tựu nổi bật trong nông nghiệp nhưng vẫn không ngăn cản được cuộc khủng hoảng ngày càng trở nên trầm trọng Tình hình đó đã khiến cho đổi mới trở thành một nhu cầu hết sức bức bách, là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống
3 Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) đã chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới
Giữa lúc Việt Nam chính thức quyết định tiến hành công cuộc đổi mới, trên thế giới cũng diễn ra nhiều biến đổi quan trọng Những biến đổi ấy vừa
có ảnh hưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo với các mức độ khác nhau Đó là :
Thứ nhất, công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc theo hướng thị
trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 Tiếng vang của những thành tựu cải cách nổi bật mà Trung Quốc thu được đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm do có sự tương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế
-xã hội giữa hai nước, mặc dù trong thời gian này quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vẫn còn căng thẳng, chưa được bình thường hóa
Thứ hai, sự không thành công của công cuộc cải tổ đã dẫn tới sự sụp đổ
của CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu là một bài học phản diện Sự sụp đổ đó là bằng chứng về sự thất bại của con đường cải tổ theo kiểu "phủ định sạch trơn", sử dụng "liệu pháp sốc", giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ Cái giá phải trả là rất đắt
Thứ 3, thành công của các nước "công nghiệp mới" ở Đông Á đưa ra
những gợi ý về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ những nước nông nghiệp và có quan hệ xã hội theo kiểu những giá trị văn hóa phương Đông Đó là những thành công của các chiến lược phát triển :
Trang 5phát huy mạnh nội lực, thị trường - mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
Thứ tư, xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước
thay thế xu hướng đối đầu và xung đột Tình huống này buộc các quốc gia phải định hướng lại tư duy về các vấn đề phát triển Khác hẳn trước đây, trong hoàn cảnh phát triển mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhu cầu tự thân bên trong đối với nền kinh tế nông nghiệp vốn mang đậm tính chất khép kín, tự cấp tự túc của Việt Nam
Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong cũng như ngoài nước đã tác động đến Việt Nam về cả hai phương diện Một mặt, nó đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển, đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức mới Mặt khác, nó tạo ra các cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi Đó là điểm khởi đầu cả về lịch sử lẫn lý luận của quá trình đổi mới
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI DO ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG XÁC ĐỊNH
1 Cơ sở hoạch định đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng (12/1986)
Đường lối đổi mới của Đại hội VI được hoạch định trên những cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; dựa trên quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
xã hội; qua thực tiễn hơn 3 thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội và từ kinh nghiệm quá trình đổi mới từng phần của Đảng và nhân dân ta trong những năm 1979 – 1986
2 Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng (12/1986) xác định
2.1 Quan điểm chỉ đạo đường lối đổi mới
Đổi mới là tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống còn của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn mà phải biết trân trọng, kế thừa và phát huy những thành tựu đã
Trang 6đạt được trong quá khứ; Đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
2.2 Nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp đổi mới
Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế
-xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”.
Ổn định tình hình kinh tế - xã hội có nghĩa là phải ổn định cả sản xuất và phân phối, lưu thông; ổn định đời sống vật chất và đời sống văn hoá; tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước; lập lại trật tự kỷ cương và thực hiện côngbằng xã hội Xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo, bao gồm cả tiền đề chính trị, kinh tế và xã hội Ổn định và phát triển luôn gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được Trên cơ sở nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát, Đại hội xác định 5 mục tiêu kinh tế, xã hội cụ thể cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên:
Một là, sản xuất đủ tiêu dùng, có tích luỹ: Sản xuất đủ tiêu dùng trong
những năm trước mắt là đáp ứng nhu cầu cấp bách và thiết yếu của xã hội, dần dần ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Cụ thể là bảo đảm ăn no, mặc ấm, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu bảo
vệ sức khoẻ, đi lại, học hành, nhà ở của nhân dân Yêu cầu có tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế để đủ sức tiếp nhận và đưa vào tái sản xuất mở rộng vốn vay
và viện trợ của nước ngoài
Hai là,bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là vấn đề có ý nghĩa quyết định để phát
triển sản xuất, đáp ứng yêu cầu của tiêu dùng và tích luỹ theo mục tiêu đã xác định Tính hợp lý của cơ cấu kinh tế trước hết là cơ cấu của ngành kinh tế đòi hỏi phải phù hợp với quy luật về sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với khả năng của đất nước, với sự phân công lao động và hợp tác
Trang 7quốc tế Cơ cấu đó bảo đảm cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định Để có cơ cấu kinh tế hợp lý phải thông qua sắp xếp lại sản xuất đi đôi với xây dựng thêm một số cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết
Cơ cấu kinh tế ấy phải hướng vào việc thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Ba là, xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Việc cải tạo quan hệ
sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới là quá trình diễn ra trong suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Phải củng cố các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể một cách toàn diện cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân, thể hiện được tính ưu việt về năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thu nhập của người lao động và tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá Sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác, tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc bảo đảm sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập trong lao động Hình thành đồng bộ hệ thống mới về quản lý kinh tế
Bốn là, tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội Các vấn đề xã hội có tầm
quan trọng đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với kinh tế, liên quan đến cuộc sống và lợi ích của mỗi người Về mặt xã hội có nhiều vấn đề phải giải quyết mà trước hết là phải giải quyết một phần quan trọng việc làm cho người lao động và bảo đảm về cơ bản phân phối theo lao động Thực hiện côngbằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta; loại bỏ các thu nhập phi pháp, xây dựng những quan hệ xã hội và lối sống lành mạnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực; mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, củng cố kỷ cương xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, côngbằng, thực hiện nguyên tắc mọi người sống và làm việc theo pháp luật
Trang 8Năm là, bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh Quốc phòng, an
ninh được xây dựng và củng cố ngày càng vững mạnh bảo đảm điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế Trên cơ sở phát triển kinh tế, đáp ứng ngày càng đầy đủ và ổn định các nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của các lực lượng vũ trang Củng cố thế trận bảo vệ Tổ quốc cả về quốc phòng và an ninh Bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật và từng bước trang bị cho lực lượng vũ trang, bảo đảm vật tư, tài chính cho sản xuất quốc phòng
Những mục tiêu trên đây là một thể thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, bao quát mọi lĩnh vực từ sản xuất đến phân phối lưu thông, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh Đại hội lần thứ VI của Đảng không ấn định thời gian cụ thể khi nào kết thúc chặng đường đầu tiên Đại hội cho rằng: “Cái mốc đánh dấu chặng đường đầu tiên kết thúc là đạt được 5 mục tiêu nói trên Độ dài của chặng đường đầu tiên tuỳ thuộc một phần quan trọng vào việc vận dụng những bài học đã rút ra từ thực tiễn mười năm qua,
để đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới”
Nhận thức được sự thay đổi của tình hình và yêu cầu gay gắt phải tạo một bước ngoặt trong tiến trình phát triển đất nước, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI tuyên bố tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt
để Chương trình phát triển đất nước được thông qua tại Đại hội này có nội dung đặc biệt quan trọng là chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường - mở cửa theo định hướng XHCN Để thực hiện được bước chuyển ấy, khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định là phải đổi mới tư duy phát triển Chính điều đó xác định giá trị lịch sử của Đại hội VI - Đại hội của Đổi mới tư duy Quá trình đổi mới tư duy phát triển trên thực tế là quá trình đấu tranh về mặt lý luận và
tư tưởng nhằm đạt đến nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam
Trước hết, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật", Đại hội VI đã kiểm điểm và đánh giá theo tinh thần phê phán những sai lầm chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động nóng vội, chủ
Trang 9quan, không tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Đại hội đã rút
ra 4 bài học lớn, trong đó 2 bài học đầu tiên là "Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động" và "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan" Những bài học trên đây là cơ sở quyết định để từ bỏ lối tư duy sáo mòn, kinh viện; tập trung trí tuệ của toàn Đảng vào việc tìm kiếm và lựa chọn một tư duy mới, một chiến lược phát triển mới, có khả năng đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của nhân dân Đại hội Đảng VI trở thành sự kiện đánh dấu bước ngoặt phát triển là nhờ nó quán triệt sâu sắc nguyên tắc, nếu không có sự phê phán và tự phê phán nghiêm túc, sẽ không thể có bất kỳ một sự đổi mới nào, kể cả đổi mới tư duy
Thứ hai, nội dung cốt lõi của tư duy đổi mới là bước chuyển từ quan
niệm kinh tế xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, phải được xây dựng ngay trong thời kỳ quá độ sang khẳng định phải phát triển trong thời kỳ quá độ một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Về thực chất, đây là sự đổi mới tư duy phát triển
Sự đổi mới tư duy phát triển ấy hướng tới sự đổi mới triệt để và toàn diện phương thức phát triển nhưng không đổi hướng phát triển, mục tiêu của phát triển vẫn là đạt tới chủ nghĩa xã hội Nhưng phương thức phát triển thì có những đổi mới căn bản, đó là:
Bước chuyển từ quan niệm cũ về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, theo
đó, trong nền kinh tế ấy thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể) với sở hữu công cộng (gồm sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể) giữ vị trí thống trị sang quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) với nhiều hình thức sở hữu đa dạng, hỗn hợp, đan xen lẫn nhau
Trang 10Bước chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, kỳ thị thị trường sang chỗ thừa nhận thị trường, khẳng định phải kết hợp kế hoạch với thị trường, trong đó kế hoạch định hướng thị trường, còn thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch,
có vai trò điều tiết cung cầu, giá cả, điều tiết sản xuất kinh doanh của các đơn
vị kinh tế
Thứ ba, sự đổi mới tư duy phát triển còn thể hiện ở bài học thứ ba mà
Đại hội VI đã rút ra, đó là "phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới" Thực chất của sự đổi mới này là thay thế quan niệm phát triển "khép kín" trong thế đối đầu bằng quan niệm phát triển dựa vào mở cửa, mở rộng hợp tác quốc tế theo phương châm kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và cạnh tranh phát triển dựa trên cơ sở phát huy nội lực Cách tiếp cận phát triển mới này bắt nguồn từ đòi hỏi bức bách phải thoát khỏi tình trạng bị bao vây cấm vận, trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực và cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa có những thay đổi lớn Đảng Cộng sản Việt Nam coi đây là cách lựa chọn tốt nhất để Việt Nam chủ động hội nhập vào quá trình hợp tác kinh tế quốc tế, tận dụng các cơ hội phát triển to lớn mà thời đại đang dành cho các nước đi sau Việc kịp thời chuyển hướng nhận thức trong đường lối đối ngoại như vậy thể hiện rõ quan niệm mới về độc lập dân tộc, phù hợp với các điều kiện quốc tế đã thay đổi sâu sắc
Thứ tư, cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định phải ngày càng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thành cơ chế chung trong quản lý toàn xã hội Nếu cơ chế quản lý kinh tế là cơ chế bảo đảm cho sự vận động và phát triển của lĩnh vực kinh tế, thì cơ chế chung trong quản lý toàn xã hội là cơ chế bảo đảm cho hệ thống chính trị phát huy được vai trò của mình, tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả một hệ thống quản lý xã hội