1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tốt nghiệp vận dụng quan điểm triết học mác lênin về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội vào phát triển ý thức xã hội ở nước ta hiện nay ý nghĩa đối với cán bộ chính trị quân đội

28 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Tốt Nghiệp Vận Dụng Quan Điểm Triết Học Mác - Lênin Về Tính Độc Lập Tương Đối Của Ý Thức Xã Hội Vào Phát Triển Ý Thức Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay. Ý Nghĩa Đối Với Cán Bộ Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Trường học Khoa Triết học Mác - Lênin
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 66,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở mọi thời đại, triết học luôn có một vị trí, vai trò quan trọng trong cuộc sống. Nghiên cứu, vận dụng lý luận triết học vào thực tiễn, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy. Thực tiễn nhiều vấn đề của con người đã được triết học đề cập cụ thể, một trong số đó là mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, đặc biệt là tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Hiện nay, nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với xây dựng ý thức xã hội mới thì vận dụng lý luận triết học Mác Lênin về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội vào thực tiễn lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Nhất là, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi thì cũng không ít khó khăn, thách thức đặt ra. Nhận thức rõ vấn đề, trong Đại hội Đảng và Hội nghị Trung ương các khoá gần đây liên tục đề cập. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tại Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 21KLTW ngày 25102021, tiếp tục nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”. Tiếp tục nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội và vận dụng lý luận triết học vào phát triển ý thức xã hội ở nước ta hiện nay là việc làm cần thiết. Qua đó, giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về nó, đồng thời đề ra các chủ trương, giải phải hiệu quả xoá bỏ những tàn dư cũ, lạc hậu của ý thức xã hội, góp phần xây dựng đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trang 1

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP

Vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội vào phát triển ý thức xã hội ở nước ta hiện nay Ý nghĩa đối với cán bộ chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khoa: Triết học Mác - Lênin

Trang 2

2

MỞ ĐẦU

Trang

I.

LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ TÍNH ĐỘC

II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ

TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI VÀO

PHÁT TRIỂN Ý THỨC XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

9

1 Đặc điểm của ý thức xã hội ở nước ta hiện nay 9

2 Bối cảnh thời đại và một số vấn đề đặt ra đối với việc phát

triển ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay

10

3 Một số giải pháp cơ bản trong việc phát triển ý thức xã hội ở

Việt Nam hiện nay

15

III Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÁN BỘ CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 18

1 Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ, chiến sỹ 19

2 Phát huy vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong nâng cao ý thức chính trị của cán bộ, chiến sỹ 20

3 Xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh, dân chủ ở đơn vị cơ sở hiện nay 21

4 Thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện, năng lực hoạt động thực tiễn cho cán bộ, nhất là cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở 23

Trang 3

Hiện nay, nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiệncông cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn vớixây dựng ý thức xã hội mới thì vận dụng lý luận triết học Mác - Lênin về tínhđộc lập tương đối của ý thức xã hội vào thực tiễn lại càng quan trọng hơn baogiờ hết Nhất là, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càngsâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi thì cũng không ít khó khăn, tháchthức đặt ra Nhận thức rõ vấn đề, trong Đại hội Đảng và Hội nghị Trung ươngcác khoá gần đây liên tục đề cập Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra:

“Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó,ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tựchuyển hóa” Tại Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, Ban Chấp hành Trungương Đảng đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, tiếp tụcnhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo,quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xâydựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu,phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôivới làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”

Tiếp tục nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính độc lậptương đối của ý thức xã hội và vận dụng lý luận triết học vào phát triển ý thức

xã hội ở nước ta hiện nay là việc làm cần thiết Qua đó, giúp chúng ta nhậnthức đúng đắn về nó, đồng thời đề ra các chủ trương, giải phải hiệu quả xoá

bỏ những tàn dư cũ, lạc hậu của ý thức xã hội, góp phần xây dựng đất nướcphát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”

Trang 4

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI

1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội

- Khái niệm tồn tại xã hội: Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất vànhững điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Mác và Ănghen viết: “Sản xuất

ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất

ra chính đời sống vật chất của mình” Khi nghiên cứu tồn tại xã hội với tínhcách vừa là đời sống vật chất, vừa là những quan hệ vật chất giữa người vớingười, Lênin đã cho rằng: việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh con

đẻ cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao tặng sản phẩm, làm nảy sinh

ra một chuỗi tất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển,không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh và ý thức này không bao giờ baoquát được toàn vẹn cái chuỗi đó Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội làphương thức sản xuất, điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độdân số… trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất

- Khái niệm ý thức xã hội: Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng đểchỉ các hình thái khác nhau của tinh thần trong đời sống xã hội bao gồmnhững tư tưởng, quan điểm, tình cảm, tâm trạng, thói quen, phong tục, tậpquán, truyền thống của cộng đồng xã hội được sinh ra trong quá trình xãhội tồn tại và phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Ví dụ, trong điều kiện địa lý tự nhiên nhiệt đới, gió mùa, nhiều sông ngòi, tất yếu làm hình thành nên phương thức canh tác lúa nước là thích hợp nhấtđối với người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm qua Đểtiến hành được phương thức đó, người Việt buộc phải co cụm lại thành tổchức dân cư làng, xã, có tính ổn định bền vững Khi nghiên cứu về khái niệm

ý thức xã hội cũng cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ýthức cá nhân Ý thức cá nhân đều phản ánh tồn tại xã hội ở những mức độkhác nhau, do đó nó không thể không mang tính xã hội Song, ý thức cá nhânkhông phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến củamột cộng đồng, một tập thể, một xã hội, một thời đại nhất định Ý thức xã hội

Trang 5

và ý thức cá nhân cùng phản ánh tồn tại xã hội, chúng tồn tại trong mối liên

hệ hữu cơ, biện chứng, xâm nhập vào nhau và làm phong phú cho nhau

2. Kết cấu của ý thức xã hội

Tùy theo góc độ xem xét, có thể chia ý thức xã hội thành các dạng:

- Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận: Ý thức xã hội thongthường là những tri thức, những quan niệm của con người hình thành mộtcách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hoá,khái quát hóa; Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm được hệ thốnghoá, khái quát hoá thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạngnhững khái niệm, phạm trù, qui luật Ý thức xã hội thông thường tuy trình độthấp hơn so với ý thức lý luận nhưng ý thức xã hội thông thường phản ánhsinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thườngxuyên chi phối cuộc sống đó Ý thức xã hội thông thường là tiền đề quantrọng cho sự hình thành của học thuyết khoa học Ý thức lý luận (lý luận khoahọc) có khả năng phản ánh khái quát, sâu sắc, chính xác, nó có khả năng vạch

ra mối quan hệ bản chất của sự vật trong tồn tại xã hội

- Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng: Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm,ước muốn, thói quen, tập quán của con người, của một bộ phận xã hội hoặctoànbộ xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngàycủa họ vàphản ánh đời sống đó Tâm lý xã hội có đặc điểm phản ánh trực tiếptồn tại xãhội, nhưng đó là trình độ phản ánh thấp, phản ánh tự phát tồn tại xãhội Tâm lý xã hội ghi lại những mặt bề ngoài của xã hội nên nó không vạch

ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội Những quan niệmcủa con người ở trình độ tâm lý xã hội mang tính chất kinh nghiệm, yếu tố trítuệ đan xen với yếu tố tình cảm chưa thể hiện về mặt lý luận Nó có vai tròquan trọng trong việc phát triển ý thức xã hội Hệ tư tưởng là trình độ cao của

ý thức xã hội, hình thành khi con người nhận thức sâu sắc hơn về những điềukiện sinh hoạt vật chất của mình Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất

sự vật, vào các mối quan hệ xã hội Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại

Trang 6

xã hội, là hệ thống những quan điểm tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức,nghệ thuật, tôn giáo) là kết quả của sự khái quát hoá những kinh nghiệm xãhội Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác, nghĩa là nó được hìnhthành tự giác bởi các nhà khoa học và được truyền bá trong xã hội Hệ tưtưởng và tâm lý xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khácnhau của ý thức xã hội, nhưng chúng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau.

Cả hai đều có nguồn gốc tự tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Nhưngtrong đó, tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây trở ngại cho sự hìnhthành, sự truyền bá, sự tiếp thu của con người đối với một hệ tư tưởng nhấtđịnh Mối liên hệ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học, tiến bộ) vớitâm lý xã hội, với sự sinh động phong phú của đời sống thực tiễn sẽ giúp cho

hệ tư tưởng bớt xơ cứng, giảm sai lầm Ngược lại, hệ tư tưởng, lý luận xã hội

sẽ làm gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội Hệ tư tưởng khoa học sẽ thúcđẩy tâm lý xã hội phát triển theo hướng đúng đắn, lành mạnh Hệ tư tưởngphản khoa học sẽ kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội pháttriển

3. Tính giai cấp của ý thức xã hội

Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vậtchất khác nhau, có những lợi ích khác nhau, địa vị xã hội khác nhau, nên ýthức xã hội của các giai cấp có nội dung và hình thức khác nhau Tính giaicấp của ý thức xã hội được biểu hiện ở tâm lý xã hội và hệ tư tưởng về tâm lý

xã hội: mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng, có thiện cảmhay ác cảm với tập đoàn xã hội này hay tập đoàn xã hội khác Ở trình độ hệ tưtưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội được biểu hiện rất sâu sắc Trong xãhội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng xuất hiện những quan điểm, tư tưởnghoặc hệ tư tưởng đối lập nhau: đó là tư tưởng của giai cấp thống trị và giai cấp

bị trị, bao giờ bóc lột và giai cấp bị bóc lột Những tư tưởng thống trị thời đạibao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế và thống trị về chínhtrị ở thời đại đó Sự đối lập đó thể hiện: nếu hệ tư tưởng của giai cấp thống trị,

Trang 7

bóc lột ra sức bảo vệ địa vị của giai cấp đó thì hệ tư tưởng của giai cấp bị trị,

bị bóc lột thể hiện nguyện vọng, lợi ích của quần chúng lao động chống lại xãhội người bóc lột người để xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng Chủ nghĩaMác - Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân,ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh tiến trìnhkhách quan của sự phát triển Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từkhi hình thành đã đối lập với hệ tư tưởng tư sản-hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích củagiai cấp tư sản, bảo vệ chế độ người bóc lột người Cuộc đấu tranh giữa giaicấp tư sản và giai cấp vô sản diễn ra hàng thế kỷ nay và sẽ còn kéo dài trên tất

cả các lĩnh vực trong đó có hệ tư tưởng Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực

ý thức hệ vẫn đang tiếp tục diễn ra trong điều kiện xã hội hiện nay Trước sựbiến động phức tạp của tình hình thế giới, các thế lực thù địch đang ra sức tiếncông vào chủ nghĩa Mác - Lênin, muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủnhận chủ nghĩa xã hội Do vậy bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênintrong điều kiện hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng của cuộc đấu tranh vìmục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta vànhân dân tiến bộ nói chung trên thế giới

4. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

Tuy khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xãhội, nhưng triết học Mác - Lênin không xem ý thức xã hội như một yếu tốhoàn toàn thụ động mà trái lại còn nhấn mạnh sự tác động tích cực trở lại của

ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ýthức xã hội đối với tồn tại xã hội Tính độc lập tương đối của ý thức xã hộiđược thể hiện trên những điểm sau

- Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội, bởi vì về mặt bản chất,

ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nên với tư cách là cái phản ánh, nóthường xuất hiện sau tồn tại xã hội - cái bị phản ánh Ý thức xã hội thường lạchậu hơn so với tồn tại xã hội từ những nguyên nhân sau: Do tồn tại xã hộithường xuyên vận động, biến đổi nhanh chóng nên ý thức xã hội không phản

Trang 8

ánh kịp và trở nên lạc hậu; Do sức mạnh của thói quen, phong tục, tập quán,nếp nghĩ và tính bảo thủ, lạc hậu của một số hình thái ý thức xã hội (tư tưởngtrọng nam-khinh nữ; gia trưởng); Do sự tác động của quan hệ lợi ích (Giai cấpthống trị lợi dụng và tìm mọi cách để duy trì và bảo vệ những tư tưởng, quanniệm cũ, chống lại những lực lượng xã hội tiến bộ nhằm duy trì và bảo vệnhững lợi ích của họ).

- Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội: Trong những điều kiệnnhất định, một số yếu tố của ý thức xã hội có thể phản ánh vượt trước, dự báođược tương lai của tồn tại xã hội và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt độngthực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm

vụ mới do sự phát triển của xã hội đặt ra, biểu hiện: Có những tư tưởng vượttrước là khoa học khi nó xuất phát từ tồn tại xã hội tức là nó phản ánh đúngđược những mối liên hệ bản chất của tồn tại xã hội, tức là nó phản ánh đượclogic khách quan, xu thế phát triển tất yếu của tồn tại xã hội; Có những quanđiểm vượt trước không khoa học, là phản khoa học, nó sẽ rơi vào sai lầm, ảotưởng, chủ quan khi nó xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người chứkhông phải xuất phát từ hiện thực khách quan

- Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình: Kế thừa làqui luật chung của các sự vật, hiện tượng nên trong quá trình vận động của ýthức xã hội nó cũng phải có tính kế thừa Trong xã hội có giai cấp, tính kếthừa của ý thức xã hội thường gắn với tính giai cấp Các giai cấp mới thườngtìm cách giữ lại những yếu tố tư tưởng cũ phù hợp và loại bỏ những yếu tốkhông phù hợp với lợi ích của giai cấp đó Mặt khác, sự tồn tại, phát triển của

ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội cũng có tính kếthừa, nó vận động liên tục nên ý thức xã hội cũng phản ánh quá trình đó, nó

có tính kế thừa

- Theo nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội thì khi tồn tại xãhội thay đổi sẽ tất yếu dẫn tới sự biến đổi của ý thức xã hội Tuy nhiên, khôngphải trong mọi trường hợp, sự biến đổi của tồn tại xã hội đều ngay lập tức dẫn

Trang 9

đến sự biến đổi của ý thức xã hội; trái lại nhiều yếu tố của ý thức xã hội có thểcòn tồn tại rất lâu dài ngay cả khi cơ sở tồn tại sản sinh ra nó đã thay đổi cănbản.

- Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội: Đây là biểu hiện quantrọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Chủ nghĩa Mác - Lêninkhông những chống lại quan điểm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội màcòn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường phủ nhận vai trò tích cực của ýthức xã hội trong đời sống xã hội Nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình, máy móc tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.

II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI VÀO PHÁT TRIỂN Ý THỨC XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

1. Đặc điểm của ý thức xã hội ở nước ta hiện nay

Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung vànước ta nói riêng là sự đan xen các yếu tố cũ và mới trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội Nội dung đó phản ánh hiện thực xã hội với sự pha tạp,đan xen những yếu tố của xã hội chủ nghĩa và xã hội tư bản, xã hội cổ truyềnrất lớn Ý thức xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có

bộ phận tiến bộ, có bộ phận lạc hậu sản phẩm của xã hội cũ như của chủ nghĩathực dân cũ, mới và của xã hội cổ truyền phương Đông Sự đan xen giữa các

bộ phận này tạo nên diện mạo ý thức xã hội ở nước ta hiện nay phức tạp vềkết cấu, đa dạng về thành phần… Trong ý thức xã hội ở nước ta hiện nay, tưtưởng Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng đặc biệt Tư tưởng Hồ Chí Minh làmột hệ thống quan điểm, tư tưởng về những vấn đề cơ bản của cách mạngViệt Nam; là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống yêunước Việt Nam; đồng thời là sản phẩm kế thừa, phát triển tinh hoa văn hoácủa dân tộc và nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn đèn soi sáng conđường cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Hiện nay,Đảng ta xác định chủ nghĩa Mác- Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là

Trang 10

nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và của cáchmạng Việt Nam Tư tưởng yêu nước của dân tộc ta là nội dung quan trọngtrong ý thức xã hội ở nước ta hiện nay Ý thức xã hội chủ nghĩa không chỉ làsản phẩm của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn có nội dung tưtưởng sản phẩm kế thừa di sản văn hoá, truyền thống dân tộc.

Hiện thực xã hội ta hiện nay vẫn còn những khuynh hướng khác nhautrong lựa chọn giá trị, hệ giá trị xã hội và cá nhân Biểu hiện ở nhận thức chưathống nhất về giá trị xã hội; nhận thức, đánh giá khác nhau về chủ nghĩa tưbản; về nhận thức, quan điểm, ý chí, niềm tin vào sự tất thắng của sự nghiệpđổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Một bộ phận có xuhướng tư tưởng đề cao giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần; chú trọng lợiích trước mắt, hạ thấp lợi ích cơ bản, lâu dài Ý thức xã hội ở nước ta hiện nayđang trong các trạng thái biến đổi nhanh chóng Điều đó không chỉ ở từng bộphận, mà trong cả hệ thống Mỗi tư tưởng đều có những cơ sở kinh tế, xã hộitương ứng để tồn tại, có xu hướng, quy luật phát triển riêng, có tính độc lậptương đối của nó Ý thức xã hội ở nước ta hiện nay vận động theo hai xuhướng cơ bản, xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Xu hướng xã hội chủnghĩa là chủ đạo, nhưng nó luôn phải đối mặt với nhiều lực cản tiêu cực từnhiều phía bên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan

2. Bối cảnh thời đại và một số vấn đề đặt ra đối với việc phát triển ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay toàn cầu hoá là một xu thế khách quan đã và đang tác động đếnmọi mặt trong đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc Nó không chỉ tạo cơhội cho các quốc gia, dân tộc mở rộng sự giao lưu, hiểu biết và xích lại gầnnhau mà còn đặt những giá trị tinh thần truyền thống của mỗi dân tộc trướcnhiều thách thức to lớn Ý thức xã hội là một bộ phận thuộc đời sống tinh thầncủa xã hội nên đương nhiên cũng chịu sự tác động này

Từ giữa thế kỷ XIX, khi đưa ra dự báo về sự vận động và phát triển củatoàn cầu hoá kinh tế, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nói đến sự vận động,

Trang 11

biến đổi của các giá trị tinh thần dân tộc và sự hình thành các giá trị văn hoátinh thần nhân loại Toàn cầu hoá là quá trình đấu tranh để xác lập những giátrị và chuẩn mực trên phạm vi toàn cầu Đây cũng là quá trình đấu tranh đểkhẳng định các giá trị đặc thù của các nền văn hoá dân tộc Quá trình toàn cầuhoá vừa là quá trình phổ biến những giá trị chung trên phạm vi toàn cầu mangtính nhất thể hoá, vừa là quá trình đa dạng hoá, quá trình tự khẳng định bảnlĩnh và bản sắc của các nền văn hoá, trong đó bao hàm các giá trị truyền thốngdân tộc Đây là quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập, đầy mâu thuẫn, đadạng và phức tạp.

Sự tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc của xu thế toàn cầu hoá đốivới các nền văn hoá dân tộc thể hiện rõ thông qua các lĩnh vực sau đây:

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và hệ thống viễn thôngtoàn cầu Thông qua khoa học và kỹ thuật công nghệ Thông qua phát triểnthương mại và xuất nhập khẩu văn hoá phẩm Thông qua dịch vụ giải trí và dulịch Thông qua giao lưu văn hoá chính thức và phi chính thức…

Sự tác động này có thể làm biến đổi lối sống, ngôn ngữ, phong tục tậpquán, tín ngưỡng, tôn giáo… của một số cộng đồng dân tộc nhất định Nó sẽtạo ra cả những mặt tích cực cũng như những mặt tiêu cực đối với các giá trịtruyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc

Từ giữa thế kỷ XIX, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác khi đưa ra dự báo

về sự hình thành và phát triển của nền kinh tế toàn cầu đã nói đến nguy cơ ápđặt các giá trị văn hoá tinh thần của những nước tư bản phát triển đối với cácquốc gia, các dân tộc lạc hậu, chậm phát triển Trong tác phẩm Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen đã viết: “Do bóp nặn thị trườngthế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nướcmang tính chất thế giới… Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làmcho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôicuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Giá rẻ củanhững sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn

Trang 12

lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoancường nhất cũng phải hàng phục Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hànhphương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dântộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản Nói tómlại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó”.

Thực tế hiện nay, nguy cơ áp đặt các giá trị văn hoá tinh thần của cácnước tư bản phát triển đối với các quốc gia, dân tộc chậm phát triển tuy khôngdiễn ra hoàn toàn như dự báo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, songkhông phải vì thế mà nguy cơ đó không tồn tại Có thể nói một cách chính xácrằng, bên cạnh những nguy cơ tiềm ẩn còn có cả những cơ hội cho sự pháttriển những giá trị tinh thần dân tộc, trong đó bao gồm cả ý thức xã hội

Những mặt tích cực của ý thức xã hội truyền thống nói riêng cũng nhưnhững giá trị tinh thần dân tộc nói chung sẽ có điều kiện để phát triển, nângcao lên một bước mới Sự tác động của toàn cầu hoá đó dẫn đến sự hình thànhcác giá trị văn hoá tinh thần nhân loại chung đó tạo ra những điều kiện và môitrường thuận lợi cho việc hiện đại hoá, tiên tiến hoá các giá trị văn hoá tinhthần dân tộc Tuy nhiên, sự lấn lướt và áp đặt các giá trị văn hoá tinh thần docác nước tư bản phát triển thực hiện lại đang gây trở ngại không nhỏ cho cácgiá trị văn hoá tinh thần ở các nước chậm phát triển Vì vậy, việc bảo tồn,phát huy các giá trị văn hoá tinh thần ở các nước này trở thành vấn đề nan giải

và là một thách thức lớn Các giá trị văn hoá tinh thần do các nước tư bản pháttriển áp đặt vào các nền văn hoá của các quốc gia, các dân tộc chậm phát triểnrất có thể làm cho sắc thái văn hoá của các dân tộc này bị mai một, bị phainhạt khi ở các quốc gia đó thiếu chiến lược bảo tồn và phát huy các giá trịtruyền thống dân tộc

Toàn cầu hoá kinh tế và sự gia tăng kinh tế tri thức trong thời đại ngàynay, một khi vượt ra khỏi sự kiểm soát ở cả bình diện dân tộc lẫn bình diện

quốc tế còn dẫn đến nguy cơ xáo trộn một cách tự phát trong đời sống văn

hoá tinh thần dân tộc Sức ép toàn cầu hoá và kinh tế tri thức đang trở thành

Trang 13

thách thức đối với thói quen sinh hoạt, lối sống, phong cách tư duy truyềnthống không chỉ đối với mỗi người, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mà còn đốivới cả cộng đồng nhân loại Những đòi hỏi phải thích nghi với các giá trị vănhoá tinh thần nhân loại chung thậm chí còn đang tạo nên sự mất phươnghướng trong hoạt động văn hoá tinh thần dân tộc Một khi định hướng chuẩnmực trong hoạt động văn hoá tinh thần dân tộc không được giữ vững thì nguy

cơ tha hoá và tự tha hoá của nó là điều khó tránh khỏi Nguy cơ này gắn với

ảo tưởng về sức mạnh cải tạo, hiện đại hoá diệu kỳ của các giá trị văn hoá tinhthần nhân loại chung đối với các giá trị văn hoá tinh thần dân tộc do toàn cầu

hoá mang lại (nhiều người gọi đây là chủ nghĩa lạc quan không tưởng) Khát

vọng giải thoát khỏi mặc cảm của một quốc gia, một dân tộc chậm phát triểnnhờ tiếp nhận các giá trị văn hoá tinh thần nhân loại chung luôn đi kèm vớinguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc trong các giá trị văn hoá tinh thần truyềnthống Trái ngược với nguy cơ tha hoá này nhưng lại cùng song hành vói nó

là nguy cơ “biệt lập hoá” các giá trị văn hoá tinh thần dân tộc trước những giá

trị văn hoá tinh thần nhân loại chung Sự biệt lập hoá này làm mất đi cơ hộinhanh chóng hiện đại hoá, tiên tiến hoá các giá trị văn hoá tinh thần dân tộc

và khả năng hội nhập, tiếp biến các giá trị văn hoá tinh thần nhân loại chung

để làm giàu thêm bản sắc văn hoá dân tộc

Trước nguy cơ tha hoá đó, để không tự đánh mất mình, khi hội nhập, mởrộng, giao lưu văn hoá, tiếp biến các giá trị văn hoá trong khu vực và trênphạm vi quốc tế, việc tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại phải được đặttrên cơ sở của việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá tinh thần truyềnthống và bản sắc dân tộc

Toàn cầu hoá với xu hướng gia tăng kinh tể tri thức trong bối cảnh đầynhững biến động sâu sắc, khó lường, trên cả phạm vi khu vực lẫn quốc tế Nóđang có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, tới hệ thống cácgiá trị, các quy phạm đạo đức, tới đời sống tâm hồn, tình cảm và nhân cáchcon người trong mọi quốc gia, dân tộc Quá trình này không chỉ làm nảy sinh

Trang 14

sự xâm nhập, bổ sung lẫn nhau giữa các hệ thống giá trị, các chuẩn mực đạođức, các quy tắc ứng xử truyền thống mà còn xuất hiện cả sự tác động, xungđột lẫn nhau giữa các giá trị đó Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi dân tộcphải có cách thức riêng của mình để vừa có thể hội nhập, tiếp thu tinh hoa vănhoá nhân loại làm phong phú thêm đời sống tinh thần dân tộc mà vẫn bảo tồnđược bản sắc và các giá trị tinh thần truyền thống.

Đối với Việt Nam hiện nay, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường và tham gia hội nhập quốc tế nó tạo cho nền kinh tế nước ta có nhữngbước phát triển đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đượcnâng cao và điều này nó góp phần ổn định chính trị - xã hội Song, những mặttrái của toàn cầu hoá đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung,nhân cách con người nói riêng Đặc biệt, một số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêngliêng… vốn có vị trí quan trọng trong hệ giá trị văn hoá truyền thống của dântộc đang có nguy cơ bị mai một và tha hoá

Toàn cầu hoá kinh tế nó mang lại một thị trường hàng hoá vô cùng đadạng, phong phú, giá rẻ… vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người, vừakích thích tâm lý tiêu dùng trong mọi tầng lớp xã hội, tạo tâm lý hưởng thụ,

xa hoa, lãng phí, xa lạ với lối sống giản dị, tiết kiệm - những phẩm chất quýbáu của con người Việt Nam Thêm vào đó là sự xuất hiện của lối sống chạytheo vật chất, coi thường các giá trị tinh thần, tâm lý hướng ngoại, thích dùnghàng ngoại… Điều này nó tác động tiêu cực đến tư duy và lối sống của một

bộ phận lớn nhân dân, nhất là thanh niên Thực tế cho thấy trong thời gianqua, trong thanh thiếu niên đã có những biểu hiện coi nhẹ hoặc không quantâm đến các giá trị truyền thống của dân tộc, chạy theo lối sống, thị hiếukhông lành mạnh, xa lạ với con người Việt Nam Lối sống thực dụng, cá nhân

vị kỷ, coi trọng đồng tiền, sự xuống cấp về đạo đức, tệ nạn xã hội gia tăngđang đe dọa, làm xói mòn những giá trị truyền thống dân tộc

Với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều sản phẩm văn hoá từbên ngoài được du nhập vào Việt Nam trên các mạng thông tin toàn cầu,

Ngày đăng: 21/11/2023, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương"khóa XII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, t3, t13, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, t3, t13
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốcgia
Năm: 1993
5. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t18, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, t18
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
Năm: 1995
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1997), Toàn tập, t.37. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 9"97)", Toàn tập, t.37
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốcgia
Năm: 1997
7. C.Mác và Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, 39, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, 3
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốcgia
Năm: 1999
8. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7"8)", Toàn tập, 41
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, t.13, t.14, t.15, t.18 NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB. Chính trịquốc gia
10. Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Nhà XB: Nxb Sự thật
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2021 Khác
2. ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w