1. Trang chủ
  2. » Tất cả

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐƯỢC RÚT RA TỪ VẤN ĐỀ NÀY VÀ VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

36 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ vấn đề này và vận dụng vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Thị Liên
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 366,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là.

Trang 1

Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA MARKETING

-ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐƯỢC RÚT RA TỪ VẤN ĐỀ NÀY VÀ VẬN DỤNG VÀO

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở

VIỆT NAM.

Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Nhóm thực hiện: 01 Lớp học phần: 2278MLNP0221

HÀ NỘI – 2022 BÀI THẢO LUẬN

Trang 3

Tục ngữ có câu: “ Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thìmới có sức để theo đạo, hoàn cảnh sẽ quyết định lối suy nghĩ, đời sống vật chấtphải đáp ứng được thì chúng ta mới hướng tới đời sống tinh thần Điều này đãchứng minh cho sự ảnh hưởng, tác động qua lại của vật chất và ý thức ngaytrong đời sống hằng ngày.

Dựa vào hiện thực gần gũi ấy, bộ môn triết học Mác-Lênin đã mang Mối quan

hệ giữa vật chất và ý thức trở thành một đề tài được nghiên cứu bên cạnh rất

nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống con người, đến tự nhiên, xã hộinhư vật chất, ý thức, mối quan hệ biện chứng, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duytâm…

Việc nghiên cứu phương pháp luận nói trên sẽ giúp chúng ta có một cách hiểusâu sắc hơn về một trong số những nội dung phổ biến nhất trong môn học, nắmbắt được những nội dung, ý nghĩa và từ đó rút ra cho mình những kinh nghiệm,nhận thức trong đời sống thực tiễn

Ngoài ra, bài luận sẽ đem đến cho người đọc một góc nhìn sâu rộng hơn về sự

vận dụng Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong cách mạng Trả lời câu hỏi tại sao “Triết học Mác – Lênin là nền tảng và

là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam, việc nắm bắt và hiểu những quy luật này sẽ giúp các cá nhân góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.”

Hà Nội 11/2022 Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 1

K58CD – TMU

STT Họ và tên LHC Nội dung Đánh giá Chữ ký Ghi chú

Trang 4

1 Hồ Ngọc An K58CD1 đầu + WLời nói A

5  Nguyễn Đắc Nhật Anh K58CD1 II-B A

6  Nguyễn Hoàng Anh K58CD2  PP B

7  Nguyễn Thị Lan Anh K58CD2  I-A4 A

8  Trần Thị Ngọc Anh K58CD2 I-C1+2 A

9  Vương Quỳnh Anh K58CD2  I-A3 A

10  Lê Nhữ Xuân Bách K58CD1  II-B A

11  Đinh Thị Ngọc Bích K58CD1  I-B3 A

12  Nguyễn Thanh Bình K58CD2  Kết luận B

13  Nguyễn Thị Hòa Bình K58CD2  I-B1+2 A

14  Hoàng Phương Chi K58CD2 I-A1 A

15  Nguyễn Thị Chi K58CD1  I-C3 A

MỤC LỤC

Trang 5

CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC CỦA CHỦ

NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG 5

A Vật chất` 5

1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về phạm trù vật chất 5

1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại về vật chất 5

1.2 Quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV – XVIII 7

2 Các mác và Ăngghen đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trọng về vật chất. 8

2.1 Quan niệm của Ăngghen 8

2.2 Quan điểm của C.Mác 8

2.3 Quan niệm của Lenin 8

3 Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất của triết học Mac-Lênin11 4 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất 12

4.1 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất 12

4.2 Những hình thức vận động cơ bản của vật chất 12

5 Hình thức tồn tại của vật chất 13

5.1 Không gian 13

5.2 Thời gian 14

A Ý thức 14

1 Nguồn gốc 14

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm 14

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình 15

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 15

2 Bản chất của ý thức 16

3 Kết cấu của ý thức 17

B Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng 19

1 Vật chất quyết định ý thức 19

2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 20

3 Ý nghĩa của phương pháp luận 21

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN NÀY TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 23

Trang 6

A Xuất phát từ thực tế khách quan từ đó đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, phương hướng, mục tiêu…đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay 23

B Phát huy vai trò của tính năng động chủ quan và chống chủ quan duy ý chí 30 KẾT LUẬN 33

Trang 7

CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC CỦA CHỦ

NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

sự kết hợp khác nhau của 4 yếu tố bản nguyên đó Phái Nyāya và Vaisésịka coinguyên tử là thực thể của thế giới

Trung Hoa có Thuyết Âm Dương cho rằng nguyên lý vận hành đầu tiên và phổbiến của vạn vật là tương tác của những thế lực đối lập nhau đó là Âm và Dương.Trong đó âm là phạm trù rất rộng phản ánh khái quát, phổ biến của vạn vật như là nhu,tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn Dương cũng là phạm trù rất rộng đối lập với âm.Phản ánh những thuộc tính như cương, sáng, khô, phía trên, bên trái, số lẻ Hai thế lựcnày thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau tạo thành vũ trụ và vạn vật

Thuyết Ngũ hành của Trung quốc có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật

để quy nó về yếu tố khởi nguyên với tính chất khác nhau Theo thuyết này có 5 nhân tốkhởi nguyên là Kim- Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ Trong đó:

Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, ở phía Tây

Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, ở phía Đông.

Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, ở phía Bắc.

Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, ở phía Nam.

Thổ tương trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa.

Năm yếu tố này không tồn tại đọc lập, tuyệt đối mà tác động lẫn nhau theonguyên tắc tương sinh, tương khắc với nhau tạo ra vạn vật Những tư tưởng về âm,dương, ngũ, hành, tuy có những hạn chế nhất định nhưng đó là triết lý đặc sắc mangtính duy vật và biện chứng nhằm lý giải về vật chất và cấu tạo của vũ trụ

Trang 8

b Ở phương Tây

Các nhà triết học quy thế giới vào một chỉnh thể thống nhất từ đó đi tìm bảnnguyên vật chất đầu tiên cấu tạo nên thế giới, chẳng hạn người ta cho rằng vật chất lànước, không khí, lửa Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là: Taket coi vật chất lànước, Anaximen coi vật chất là không khí, Heraclitus coi vật chất là lửa, Anximangdocoi vật chất là hạt praton, đây là một thực thể không xác định về chất Đặc biệt đỉnhcao của quan niệm về vật chất của thời kỳ Hy Lạp cổ đại là thuyết nguyên tử củaLeucipe (khoảng 500 - 440 trước CN) và Democritos (khoảng 427 - 374 trước CN).Theo thuyết này thì thực thể tạo nên thế giới là nguyên tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất

và không thể phân chia được, không thể xâm nhập và quan sát được, chỉ có thể nhậnbiết được bằng tư duy Các nguyên tử không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau vềhình dạng Sự kết hợp các nguyên tử khác nhau theo một trật tự khác nhau sẽ tạo nênvật thể khác nhau Thuyết nguyên tử tồn tại từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 mới bịkhoa học đánh đổ và có hạn chế lịch sử nhất định Tuy nhiên, quan niệm này khôngnhững thể hiện một bước tiến khá xa của các nhà triết học duy vật trong quá trình tìmkiếm một định nghĩa đúng đắn về vật chất mà còn có ý nghĩa như một dự báo khoa họctài tình của con người về cấu trúc của thế giới vật chất nói chung, đặc biệt là lĩnh vựcvật lý sau này Đồng thời, nó có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩaduy tâm, thần học, tôn giáo

Ưu điểm: Với quan niệm về vật chất như đã nói ở trên, các nhà duy vật trước

Mác đã xác lập phương pháp luận tích cực cho sự phát triển nhận thức một cách khoahọc về thế giới, đặc biệt là trong việc giải thích về cấu tạo vật chất khách quan của cáchiện tượng tự nhiên, làm tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề trong việcứng xử tích cực giữa con người và giới tự nhiên, vì sự sinh tồn và phát triển của conngười

Hạn chế: Quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước Mác chưa bao quát

được mọi tồn tại vật chất trong thế giới, mặt khác quan niệm này chủ yếu mới chỉ đượctiếp cận từ giác độ cấu tạo bản thể vật chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới,giác độ nhận thức luận chưa được nghiên cứu đầy đủ; tức là chưa giải quyết được triệt

để phạm trù vật chất từ góc độ giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học Những

Trang 9

hạn chế này được khắc phục trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật biệnchứng.

1.2 Quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV – XVIII

Bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV), phương Tây đã có sự bứt phá so vớiphương Đông ở chỗ khoa học thực nghiệm ra đời, đặc biệt là sự phát triển mạnh của

cơ học; công nghiệp Đến thế kỷ XVII – XVIII, nền khoa học tự nhiên phát triển mạnh

mẽ và đạt được nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu thế giới; ví dụ như: cơ học,sinhhọc, vật lí học, Với sự phát triển của khoa học tự nhiên giúp con người đi sâu nghiêncứu thế giới và nhận thức của con người phát triển lên một tầm cao mới Chủ nghĩaduy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc Thuyết nguyên tử vẫnđược các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kỳ Phục Hưng và Cận đại (thế kỷ XV

- XVIII) như Galilê, Bêcơn, Hốpxơ, Xpinôda, Hônbách, Điđơrô, Niutơn tiếp tụcnghiên cứu, khẳng định trên lập trường duy vật

Về cơ bản họ vẫn tiếp tục khẳng định quan điểm của Đêmocrip thời kì cổ đại vềnguyên tử là đúng => nên đã không có sự phát triển thêm

Người ta quy mọi hình thức vận động về vận động cơ học, mà nguồn gốc của

sự vận động nằm bên ngoài sự vật

Đặc biệt, những thành công kỳ diệu của Newton trong vật lý học cổ điển (nghiêncứu cấu tạo và thuộc tính của các vật thể vật chất vĩ mô - bắt đầu tính từ nguyên tử trởlên) và việc khoa học vật lý thực nghiệm chứng minh được sự tồn tại thực sự củanguyên tử càng làm cho quan niệm trên đây được củng cố thêm

Tích cực: Góp phần không nhỏ vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn

giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang thời Phục Hưng ở cácnước Tây Âu

Hạn chế: Do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung các

nhà triết học duy vật thời kỳ cận đại đã không đưa ra được những khái quát triết họcđúng đắn Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ họcnhư những chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theonhững chuẩn mực thuần tuý cơ học; xem vật chất, vận động, không gian, thời gian nhưnhững thực thể khác nhau, không có mối liên hệ nội tại với nhau Cũng có một số nhàtriết học thời kỳ này cố gắng vạch ra những sai lầm của thuyết nguyên tử (chẳng hạn

Trang 10

như Đềcáctơ, Cantơ ) nhưng không nhiều và không thể làm thay đổi căn bản cái nhìn

cơ học về thế giới, không đủ đưa đến một định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù vậtchất

2 Các mác và Ăngghen đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trọng

về vật chất.

2.1 Quan niệm của Ăngghen

Phân biệt rõ ràng vật chất với tính cách là một phạm trù triết học Tính vật chấtchính là đặc tính chung của các sự vật, hiện tượng của thế giới: tính tồn tại, độc lập,không lệ thuộc vào ý thức (đi ngược lại với quan niệm của chủ nghĩa duy tâm về vậtchất: cho rằng đặc trưng cơ bản nhất của mọi sự vật, hiện tượng là sự tồn tại lệ thuộcvào ý thức)

Chính những quan điểm đó đã đặt cơ sở làm nền móng để sau này V.I.Lênin kếthừa và phát triển nâng nội dung phạm trù vật chất thành một định nghĩa hoàn chỉnh.Ông tiến hành tổng kết mọi thành tựu mới nhất của khoa học, đấu tranh chống chủnghĩa duy tâm, hoài nghi Lênin đã tìm kiếm phương pháp định nghĩa mới cho phạmtrù vật chất thông qua đối lập với phạm trù ý thức

2.2 Quan điểm của C.Mác

C.Mác không đưa ra một định nghĩa về vật chất nhưng đã vận dụng đúng đắnquan điểm DVBC về vật chất trong phân tích những vấn đề chính trị - xã hội, đặc biệt

là trong phân tích quá trình SXVC của xã hội

2.3 Quan niệm của Lenin

a Quan niệm

Lênin cho rằng:” Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khácquan được đem lại cho con người trong cảm giác,được cảm giác chép lại, chụp lại,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Phương pháp định nghĩa: Thông thường khi định nghĩa 1 khái niệm nào đó,người

ta sẽ quy nó vào 1 khái niệm rộng hơn, đồng thời chỉ ra những đặc điểm riêng của nó

Lê nin chỉ ra rằng, phạm trù vật chất với tư cách là phạm trù triết học- một phạm trùkhái quát nhất, không có một phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất Cách duy nhất

về mặt phương pháp luận,chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách đặt phạm trù ấy đối

Trang 11

lập với ý thức, phải “định nghĩa vật chất thông qua ý thức” => TheoLênin, phải “chỉ rõ

ra trong hai khái niệm đó, cái nào có trước”

Phạm trù vật chất dưới góc độ triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn,

vô tận, không sinh ra, không mất đi, còn các khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giớihạn, có sinh ra, có mất đi, chuyển hóa thành cái khác Chính vì vậy, “vật chất” ở đâykhông thể hiểu theo nghĩa hẹp là vậtchất trong các ngành khoa học thông thường(nhôm, sắt,…), cũngkhông thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiềnbạc,cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…)

“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, (tức là phạm trùrộng nhất, kháiquát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn) Đếnnay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung đượccái gì rộng hơn phạm trù vật chất Ta khôngthể “nhét” vật chất này trong một khoảngkhông gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó

Thứ nhất vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của con người và

không phụ thuộc vào ý thức: Đây chính là nội dung quan trọng nhất của quan điểm vềvật chất

Không phải là khi con người ý thức được một cái gì đó thì nó là vật chất mà vậtchất là cái đã tồn tại một cách khách quan, như là trước khi các nhà vật lý tìm ra các tiaphóng xạ thì chúng đã tồn tại rồi,…Thông thường nhắc đến vật chất là nhắc đến tàisản, của cải, đồ vật của con người , …nhưng theo định nghĩa của Lênin vật chất là 1phạm trù triết học vì nó là sản phẩm của sự trừu tượng hóa, không tồn tại cảm tính Vật chất là thực tại khách quan: đây là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là

cơ bản nhất để phân biệt, xác định cái gì là vật chất cái gì không phải là vật chất Thựctại khách quan là vật chất tồn tại bên ngoài ý thức, độc lập và không lệ thuộc vào ýthức: cho dù con người có nhận thức được hay không thì vật chất vẫn tồn tại.-Theo Lênin, sự đối lập giữa vật chất và ý thức là tuyệt đối Tuyệt đối hóa tình trừu tượng củaphạm trù này sẽ không thấy vật chất đâu cả, sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Ngược lạinếu tuyệt đối hóa tính hiện thực cụ thể sẽ hợp nhất vật chất và vật thể (đây là quanđiểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác) Như vậy, mọi sự vật hiện tượng từ vi mô đến

vĩ mô, từ đơn giản đến kì lạ, đã biết hay chưa biết đều là những đối tượng tồn tại kháchquan nghĩa là đều thuộc phạm trù vật chất

Trang 12

Thứ hai là con người có thể cảm giác được sự tồn tại khách quan của vật chất.

Nếu cái gì đó mà con người không thể cảm giác được thì nó không phải là vật chất, vậtchất nó luôn tồn tại trước ý thức của con người nhưng con người luôn có thể cảm giácđược nó Chủ nghĩa duy vật biện chứng không bàn đến vật chất một cách chung chung,

mà bàn đến nó trong một mối quan hệ với ý thức của con người Xét trên phương diệnnhận thức luận thì: Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nóirộng ra là ý thức) Ý thức là sự phản ánh đối với vật chất Như thế, vật chất “sinh ratrước”, là tính thứ nhất.Cảm giác (ý thức) “sinh ra sau”, là tính thứ hai Do tính trước –sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc vào vật chất.Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức Vật chất là cái có trước, nóquyết định sinh ra và quyết định ý thức vì:

Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất: bộ não, cơ quan phản ánh thế giới xungquanh, sự tác động của thế giới xung quanh vào bộ não người tao thành nguồn gốc tựnhiên

Lao động và ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) trong hoạt động thực tiễn cùng vớinguồn gốc tự nhiên, quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức

Mặt khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Vật chất là đốitượng, khách thể của ý thức, nó quy định nội dung, hình thức, khả năng và quá trìnhvận động của ý thức

Ví dụ: Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa

có ý thức vì chưa có con người -> cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộcvào ý thức Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặcgián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người -> cho thấy ý thức lệthuộc vào vật chất => Như vậy, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong

bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo

Thứ ba là ý thức của con người chỉ là sự phản ánh của vật chất Những điều kiện

vật chất cụ thể, hoàn cảnh cụ thể mà nó quyết định tới việc hình thành lên ý thức củacon người Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Và trong thế giới ấy, theoquy luật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng 1 lúc tồn tại 2 hiệntượng – hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần:

Trang 13

Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại một cách khách quan, không lệ thuộc vàocác hiện tượng tinh thần.

Các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức…), lại luôn luôn có nguồn gốc

từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ấychẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồntại với tính cách là hiện thực khách quan

Như vây, cảm giác là cơ sở duy nhất của mọi sự hiểu biết, song bản thân nó lại

là sự phản ánh hiện thực khách quan.Nên có thể nói về nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất và không có gì trong thế giới vật chất là con người không thể nhận thức được ( khẳng định trên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bác bỏ thuyết bất khả tri)

3 Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất của triết học Lênin

Mac-Định nghĩa vật chất của V.I Lê-nin đã giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triếthọc trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng; cung cấp nguyên tắc thế giớiquan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết

“Bất khả tri”, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúng trong triết học tưsản hiện đại về phạm trù này Trong nhận thức và thực tiễn, đòi hỏi con người phảiquán triệt nguyên tắc khách quan, xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng kháchquan, nhận thức và vận dụng đúng quy luật khách quan… Định nghĩa vật chất của V.I.Lê-nin là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội, đó là cácđiều kiện sinh hoạt vật chất, hoạt động vật chất và các quan hệ vật chất xã hội giữangười với người Nó còn tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo nên nềntảng lý luận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề củachủ nghĩa duy vật lịch sử, trước hết là các vấn đề về sự vận động và phát triển củaphương thức sản xuất vật chất, về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vềmối quan hệ giữa quy luật khách quan của lịch sử và hoạt động có ý thức của conngười…

Trang 14

4 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

4.1 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Trước hết, vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất Không ở đâu và ở nơi nàolại có thể có vật chất không vận động Sự tồn tại của vật chất là tồn tại bằng cách vậnđộng, tức là vật chất dưới các dạng thức của nó luôn luôn trong quá trình biến đổikhông ngừng Các dạng tồn tại cụ thể của vật chất không thể không có thuộc tính vậnđộng Thế giới vật chất, từ những thiên thể khổng lồ đến những hạt cơ bản vô cùngnhỏ, từ giới vô cơ đến giới hữu cơ, từ hiện tượng tự nhiên đến hiện tượng xã hội, tất cảđều ở trạng thái không ngừng vận động, biến đổi Sở dĩ như vậy là vì, bất cứ sự vật,hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu nhất định giữa các nhân tố, cáckhuynh hướng, các bộ phận khác nhau, đối lập nhau Trong hệ thống ấy, chúng luôntác động, ảnh hưởng lẫn nhau và chính sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau ấy gây

ra sự biến đổi nói chung, tức vận động Như thế, vận động của vật chất là tự thân vậnđộng và mang tính phổ biến

Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểuhiện sự tồn tại của nó với các hình dạng phong phú, muôn vẻ, vô tận Do đó, con ngườichỉ nhận thức được sâu sắc sự vật, hiện tượng bằng cách xem xét chúng trong quá trìnhvận động Nhận thức sự vận động của một sự vật, hiện tượng chính là nhận thức bảnthân sự vật, hiện tượng đó Nhiệm vụ của mọi khoa học, suy đến cùng và xét về thựcchất là nghiên cứu sự vận động của vật chất trong các phạm vi, lĩnh vực, trình độ, kếtcấu khác nhau

Vận động là một thuộc tính cố hữu và là phương thức tồn tại của vật chất; do đó,

nó tồn tại vĩnh viễn không thể tạo ra và không bị tiêu diệt

4.2 Những hình thức vận động cơ bản của vật chất

Dựa vào những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph Ăngghen đã chia vậnđộng của vật chất thành năm hình thức cơ bản:

Vận động cơ học: là sự di chuyển của các vật thể trong không gian

Vận động vật lý: vận động của phân tử, các hạt cơ bản, vận động của điện tử Vận động hoá học: là quá trình hoá hợp và phân giải các chất

Vận động sinh học: sự trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường

Trang 15

Cơ sở của sự phân chia đó dựa trên các nguyên tắc: các hình thức vận động phảitương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật chất; các hình thức vận động có mốiliên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ sở của những hìnhthức vận động thấp và bao hàm hình thức vận động thấp; hình thức vận động cao khác

về chất so với hình thức vận động thấp và không thể quy về hình thức vận động thấp.Việc phân chia các hình thức vận động cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc phânchia đối tượng và xác định mối quan hệ giữa các ngành khoa học, đồng thời cũng chophép vạch ra các nguyên lý đặc trưng cho sự tương quan giữa các hình thức vận độngcủa vật chất

Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau Giữahai hình thức vận động cao và thấp có thể có hình thức vận động trung gian, đó lànhững mắt khâu chuyển tiếp trong quá trình chuyển hoá lẫn nhau của các hình thứcvận động Tuy nhiên, những kết cấu vật chất đặc thù bao giờ cũng được đặc trưng bởimột hình thức vận động cơ bản nhất định và khi đó các hình thức vận động khác chỉtồn tại như những nhân tố, những vệ tinh của hình thức vận động cơ bản Vì vậy, vừaphải thấy mối liên hệ giữa các hình thức vận động, vừa phải phân biệt sự khác nhau vềchất của chúng

5 Hình thức tồn tại của vật chất

Ăngghen viết: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian;tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian” Như vậy,vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật chất tồn tại ngoàikhông gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại ngoài vật chấtvận động Vật chất luôn vận động và phát triển, sự vận động ấy không ở đâukhác “Ngoài không gian và thời gian” Không gian, thời gian là những hình thức tồntại của vật chất:

5.1 Không gian

Là phạm trù triết học dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất,xét về mặt quảngtính,sự cùng tồn tại ,trật tự,kết cất và sự tác động lẫn nhau

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng :mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại

ở một vị trí nhất định,có một quảng tính ( chiều cao , chiều rộng,chiều dài ) nhất định

Trang 16

và tồn tại trong mối tương quan nhất định (trước hay sau ,trên hay dưới ,bên phải haybên trái …)với những dạng vật chất khác

5.2 Thời gian

Là phạm trù triết học dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất vận động.Mọi sựvật đều ở trong trạng thái không ngừng biến đổi, mà mọi sự biến đổi diễn ra đều cóquá trình, có độ dài của sự diễn biến, nhanh, chậm kế tiếp nhau

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: không gian, thời gian mang tính chủ quan,là sảnphẩm chủ quan

Chủ nghĩa duy vật duy hình cho rằng: không gian,thời gian là những cái bấtbiến, không phụ thuộc vào vật chất vận động

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: không gian và thời gian là khách quan,

là hình thức tồn tại của vật chất vận động,do vật chất vận động quyết định

Như vậy, không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, khôngtách khỏi vật chất nên không gian, thời gian có những tính chất chung như những tínhchất của vật chất, đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn

Tính khách quan: không gian và thời gian là một thuộc tính của vật chất, tồn tại

gắn liền với vật chất vận động Vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thờigian cùng tồn tại khách quan

Tính vĩnh cữu của thời gian và tính vô tận của không gian: những thành

tựu của vật lý học hiện đại về lĩnh vực vi mô cũng như vũ trụ học ngày càngxác nhậnnhững tính chất này

Ngoài ra, không gian còn có thuộc tính ba chiều là chiều dài, chiều rộng và chiềucao Tính một chiều của thời gian là chiều từ quá khứ đến tương lai Tính ba chiều củakhông gian và một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quátrình diễn biến của vật chất vận động

A.Ý thức

1 Nguồn gốc

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm

Ý thức là bản thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối

sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất

Trang 17

Ý thức của con người là do cảm giác sinh ra, nhưng cảm giác theo quan niệm củacác nhà triết học duy tâm không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà chỉ là cáivốn có của mỗi cá nhân tồn tại tách rời, biệt lập với thế giới bên ngoài.

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình

Các nhà duy vât siêu hình phụ nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần,xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức Họ coi ý thức cũng chỉ

là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra

Những quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về nguồn gốc của ý thức đều sai lầm, phiến diện và được giai cấp thống trị triệt để lợi dụng, lấy đó làm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần quần chúng lao động.

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Các nhà duy vât siêu hình phụ nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần,xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức Họ coi ý thức cũng chỉ

là một dạng vật chất đặc biệt , do vật chất sản sinh ra

Những quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về nguồn gốc của ý thức đều sai lầm, phiến diện và được giai cấp thống trị triệt để lợi dụng, lấy đó làm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần quần chúng lao động.

a Nguồn gốc tự nhiên:

Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được thể hiện qua sự hình thành của bộ óc conngười và hoạt động của bộ óc đó cùng với mối quan hệ giữa con người với thế giớikhách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quátrình phản ánh sáng tạo, năng động

Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ khicon người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan, thông qua hoạtđộng của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên quá trình phảnánh

Phản ánh là sự tái tạo về đặc điểm dạng vật chất này bởi dạng vật chất khác khitác động qua lại lẫn nhau giữa chúng

Phản ánh về hóa học vật lý là một hình thức thấp nhất và đặc trưng cho vật chất

vô sinh Phản ánh đó được thể hiện qua biến đổi về lý, hóa, cơ khi có sự tác động lẫn

Ngày đăng: 07/03/2023, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w