1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. THI ĐUA KHEN THƯỞNG (11)
    • 1.1.1. Thi đua (11)
    • 1.1.2. Khen thưởng (15)
    • 1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng (18)
  • 1.2. PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG (19)
    • 1.2.1. Khái niệm (19)
    • 1.2.2. Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng (19)
    • 1.2.3. Nội dung của pháp luật về thi đua, khen thưởng (21)
  • 1.3. THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG (22)
    • 1.3.1. Khái niệm (22)
    • 1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng (23)
  • 1.4. KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA (24)
    • 1.4.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng năm (24)
    • 1.4.2. Giai đoạn từ khi Luật Thi đua, Khen thưởng ban hành năm 2003 (28)
    • 2.1.1. Đặc điểm tình hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội (32)
    • 2.1.2. Về tổ chức bộ máy thi hành pháp luật thi đua, khen thưởng (34)
  • 2.2. KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 (36)
    • 2.2.1. Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành chính sách pháp luật về (36)
    • 2.2.2. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (38)
    • 2.2.3. Kết quả thực hiện phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” (39)
    • 2.2.4. Kết quả thực hiện một số phong trào thi đua khác của thành phố Hà Nội có liên quan đến doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp . 38 2.2.5. Kết quả thực hiện khen thưởng đối với doanh nghiệp (42)
  • 2.3. NHỮNG HẠN CHẾ TRONG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA (63)
    • 2.3.1. Những hạn chế về chính sách pháp luật thi đua, khen thưởng (63)
    • 2.3.2. Những hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách pháp luật (67)
    • 3.1.1. Tiếp tục quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác thi đua, khen thưởng (71)
    • 3.1.2. Tăng cường quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng (71)
  • 3.2. GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (73)
    • 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội (73)
    • 3.2.2. Tăng cường phổ biến, tuyên truyền công tác thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp (76)
    • 3.2.3. Tiếp tục thực hiện tốt công tác khen thưởng (77)
    • 3.2.4. Nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy thi đua, (78)
    • 3.2.5. Kiện toàn cụm, khối thi đua các doanh nghiệp (79)
    • 3.2.6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về công tác thi đua, (81)
  • KẾT LUẬN (83)

Nội dung

Tiếp tục vận dụng những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, phát huy những thành tựu mà các phong trào thi đua đem vào thực tiễn để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ

Trang 1

Trang

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THI HÀNH PHÁP LUẬT

VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG

1.1 THI ĐUA KHEN THƯỞNG 7

1.1.1 Thi đua 7

1.1.2 Khen thưởng 11

1.1.3 Mối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng 14

1.2 PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng 15

1.2.3 Nội dung của pháp luật về thi đua, khen thưởng 17

1.3 THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG 18

1.3.1 Khái niệm 18

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng 19

1.4 KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG Ở NƯỚC TA 20

1.4.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 20

1.4.2 Giai đoạn từ khi Luật Thi đua, Khen thưởng ban hành năm 2003 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

Trang 2

THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 2.1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 28

2.1.1 Đặc điểm tình hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 28

2.1.2 Về tổ chức bộ máy thi hành pháp luật thi đua, khen thưởng 30

2.2 KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 32

2.2.1 Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành chính sách pháp luật về thi đua, khen thưởng 32

2.2.2 Kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 34

2.2.3 Kết quả thực hiện phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” 35

2.2.4 Kết quả thực hiện một số phong trào thi đua khác của thành phố Hà Nội có liên quan đến doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp 38 2.2.5 Kết quả thực hiện khen thưởng đối với doanh nghiệp 50

2.3 NHỮNG HẠN CHẾ TRONG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 59

2.3.1 Những hạn chế về chính sách pháp luật thi đua, khen thưởng 59

2.3.2 Những hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách pháp luật 63

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66

Trang 3

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 3.1 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67

3.1.1 Tiếp tục quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác thi đua, khen thưởng 67

3.1.2 Tăng cường quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng 67

3.2 GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 69

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 69

3.2.2 Tăng cường phổ biến, tuyên truyền công tác thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp 72

3.2.3 Tiếp tục thực hiện tốt công tác khen thưởng 73

3.2.4 Nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy thi đua, khen thưởng 74

3.2.5 Kiện toàn cụm, khối thi đua các doanh nghiệp 75

3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về công tác thi đua, khen thưởng 77

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 4

Bảng 2 1: Tổng hợp khen thưởng cấp thành phố cho doanh nghiệp năm

2015 - 2016 51 Bảng 2.2: Biểu tổng hợp khen thưởng tổng kết doanh nghiệp trong 3 năm

2017 - 2019 54 Bảng 2.3: Biểu tổng hợp số liệu khen thưởng thành phố Hà Nội trong 3 năm

2017 - 2019 57

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý giá

về tư tưởng xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; trong đó, tư tưởng

về thi đua yêu nước của Người đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, Người đã dạy:

“Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những

người yêu nước nhất” Lời dạy đó đã khắc sâu vào tâm trí của mỗi người dân

Việt Nam yêu nước, ở trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào cũng cần phải đẩy mạnh thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tiếp tục vận dụng những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, phát huy những thành tựu mà các phong trào thi đua đem vào thực tiễn để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng

và an ninh, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng như: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và năm 2013; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2017/NĐ-

CP ngày 31/07/2017 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; và nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức thực hiện pháp luật của cấp bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về công tác thi đua, khen thưởng

Đối với thủ đô Hà Nội - trái tim của cả nước - là nơi tỏa sáng hình ảnh đất nước một cách tập trung nhất, tiêu biểu nhất và cũng tự hào là nơi khởi phát nhiều phong trào thi đua có sức lan tỏa trên cả nước.Thành phố Hà Nội hiện nay

với mục tiêu “đoàn kết, sáng tạo và đổi mới”, không ngừng xây dựng, phát triển

thủ đô văn minh, hiện đại, Hà Nội hiện có hơn 260.000 doanh nghiệp đăng ký và hoạt động, phấn đấu trong 5 năm sẽ thành lập thêm mới 200.000 doanh nghiệp,

là một trong 2 đầu tầu kinh tế của cả nước và dẫn đầu về thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, kiến tạo và phục vụ doanh nghiệp

Trang 6

Các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội nhìn chung đã có bước phát triển tích cực, góp phần phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề an sinh xã hội của Thành phố như: Tạo việc làm, tham gia phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường, ủng hộ

từ thiện xã hội Trong phong trào thi đua, các doanh nghiệp thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng đổi mới, sáng tạo, đóng góp sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và thực hành tiết kiệm; nhiều doanh nghiệp quan tâm và tạo điều kiện để tổ chức Đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp hoạt động hiệu quả

Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong việc tổ chức phong trào thi đua ở các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay: hoạt động thi đua ở nhiều cụm khối doanh nghiệp chưa tạo ra những tác động rõ nét tới kết quả kinh doanh; công tác khen thưởng trong doanh nghiệp cũng chưa được quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với những đóng góp to lớn của các doanh nghiệp và người lao động trong nền kinh tế; việc khen thưởng cho công nhân, người lao động và các tập thể nhỏ trong doanh nghiệp còn hạn chế và chưa kịp thời…

Những tồn tại, khó khăn trên, với nhiều nguyên nhân cả về thể chế pháp luật và thi hành pháp luật thi đua, khen thưởng, đã có tác động không nhỏ cho việc tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện công tác khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố; ảnh hưởng tới động lực thi đua của các tập thể và cá nhân trong quản lý, điều hành và sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, tác phẩm báo chí về thi đua, khen thưởng, có thể nêu một số công trình, đề tài tiêu biểu như:

2.1 Một số sách chuyên khảo, tham khảo

- Lê Quang Thiệu, Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu

nước NXB Thanh Niên (2008)

- Phạm Hùng, Những mốc son vàng trong phong trào thi đua yêu nước

NXB Lao động Hà Nội (2011)

2.2 Đề tài nghiên cứu khoa học

- Trần Thị Hà, Công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện

nay Đề tài cấp nhà nước (2015)

- Phùng Ngọc Tấn, Pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện

nay Luận án Tiến sỹ luật học (2016)

- Phạm Duy Hanh, Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới

công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào

Cai Đề tài cấp tỉnh (2010)

2.3 Một số luận văn thạc sỹ

- “Hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam” Luận văn

Thạc sỹ chuyên ngành Luật, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn của Đỗ Thúy Phượng (2010)

- “Tăng cường quản lý nhà nước với hoạt động thi đua, khen thưởng ở

nước ta hiện nay” Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Hành chính công,

Học viện Hành chính Quốc gia của Bùi Hồng Thiết (2011)

- “Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng đối với các trường cao đẳng

trên địa bàn thành phố Hà Nội” Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công

Học viện Hành chính Quốc gia của Nguyễn Thu Hiền (2016)

Trang 8

- “Pháp luật về thi đua, khen thưởng - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội”

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia của Lương Trường Giang (2018)

2.4 Các tài liệu khác

- Kỷ yếu Đại hội thi đua yêu nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 –

2020, Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2015)

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học 70 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu

gọi thi đua ái quốc” Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2018)

Nhìn chung các công trình nêu trên đã tập trung làm rõ nhiều khía cạnh khác nhau về thi đua, khen thưởng như: Cơ sở lý luận và thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng; pháp luật về thi đua, khen thưởng, thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng, vị trí vai trò của doanh nghiệp trong phong trào thi đua… Có thể khẳng định rằng, các công trình trên là những tài liệu quý để hiểu sâu và có hệ thống hơn về thi đua, khen thưởng, góp phần đổi mới nhận thức, khẳng định quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với thi đua, khen thưởng

Tuy nhiên các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu phạm vi chung của

cả nước, hoặc nghiên cứu một mảng lĩnh vực công tác thi đua khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội, mà chưa có những nghiên cứu từ khía cạnh thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và

đối với doanh nghiệp nói riêng Nghiên cứu đề tài “Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” là

một cố gắng theo hướng như vậy

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Thông qua nghiên cứu về lý luận và thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố, xác định và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thi đua, khen thưởng

- Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015 – 2020

5 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua, khen thưởng và các chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện hành về thi đua khen thưởng

5.2 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chướng và duy vật lịch sử theo khoa học triết học Mác-Lênin

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản và hiện đại của khoa học xã hội như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống hóa, lịch sử

Trang 10

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Đánh giá được những kết quả đồng thời chỉ ra được những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh

nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về

thi đua khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo đối với các cơ quan liên quan về nghiên cứu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận của thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng

- Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối

với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành

pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành

phố Hà Nội

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THI HÀNH PHÁP LUẬT

VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1.1 Thi đua, khen thưởng

1.1.1 Thi đua

- Khái niệm:

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lê Nin, thi đua nói chung xuất hiện một cách tự nhiên, là tất yếu khách quan trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bởi khi xã hội có sự phân công lao động và hợp tác lao động thì con người có xu hướng thể hiện khả năng, năng lực của mình so với người khác hoặc so sánh những gì mình đã làm cho tập thể với những gì người khác làm Nghiên cứu mối quan hệ giữa động lực sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng như các yếu tố tác động tới mối quan hệ này, Các Mác đánh giá cao vai trò của hợp tác lao động, sự hiệp cộng lao động tạo ra sức mạnh tập thể lớn hơn sức mạnh

của từng lao động cá nhân cộng lại, Các Mác đã viết: “Thi đua nảy nở trong quá

trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người với sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt, nghị lực sinh động làm tăng thêm nghị lực riêng cho từng người” [10, tr247].

Trên nền tảng quan điểm của Các Mác, Lê Nin đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, tư tưởng về thi đua xã hội chủ nghĩa, đó là phong trào

tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột Lê Nin coi đây là một sáng kiến

vĩ đại, chính quyền cách mạng cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm

Cách mạng tháng 10 Nga thành công, mặc dù chính quyền Xô viết non trẻ phải đối mặt với muôn vàn gian nan, thử thách nhưng Lê Nin chủ trương: Vai trò của chính trị trong việc lãnh đạo tổ chức thi đua là một nhiệm vụ thiết yếu, là vấn đề quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế đất nước và là một nguồn

tiềm năng to lớn của chủ nghĩa xã hội Lênin khẳng định: "Chủ nghĩa xã hội

không những không dập tắt thi đua, mà trái lại, lần đầu tiên, đã tạo ra khả năng

Trang 12

áp dụng thi đua một cách thật sự rộng rãi, với một quy mô thật sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thật sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ

có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận, những tài năng mà chủ nghĩa tư bản đã giày xéo, đè nén, bóp nghẹt mất hàng nghìn, hàng triệu Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi chính phủ xã hội chủ nghĩa đang cầm quyền, là phải tổ chức thi đua" [36, tr325].

Như vậy, Các Mác và Lê Nin đều khẳng định, thi đua là một tất yếu khách quan, được nảy sinh từ chính cuộc sống của con người Con người sống trong xã hội luôn có quan hệ tiếp xúc với nhau, do đó tất yếu nảy sinh thi đua Điều đó cũng có nghĩa là, thi đua chỉ xuất hiện trong chế độ xã hội chủ nghĩa Đó là phong trào thi đua của những người lao động tự mình đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, ở đó không có mâu thuẫn về lợi ích giữa cá nhân với tập thể và

xã hội cho nên mọi người đều muốn đem hết khả năng, trí tuệ của mình để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa Điều đó cũng có nghĩa là, nhân dân làm việc cho chính mình và cũng chính mình là người thụ hưởng thành quả lao động đó Trong phong trào thi đua, mọi người đều có nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau; có điều kiện học tập, phấn đấu, rèn luyện, đoàn kết và giúp đỡ

nhau cùng tiến bộ theo tinh thần “mình vì mọi người và mọi người vì mình”

Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin

về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn kết chặt chẽ tư tưởng đó với lòng yêu nước của dân tộc Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua phải xuất phát từ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân với ý chí phấn đấu; phát huy sức mạnh cả vật chất và tinh thần Thi đua không chỉ là hoạt động tích cực và sáng tạo trong công việc hằng ngày, trong lao động sản xuất, mà còn là hoạt động tư tưởng và tinh thần, là biểu hiện của lòng yêu nước, của tình cảm đối với Tổ quốc, đối với quê hương Thi đua phải trở thành phong trào rộng lớn, có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Vì thế, khi phát biểu tại Đại hội chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu

toàn quốc ngày 01-5-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thi đua là yêu nước,

Trang 13

yêu nước thì phải thi đua Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” [7, tr406] Người nhận xét, đánh giá: “Trong phong trào thi đua, chúng ta

thấy đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường v v…, đủ các tín ngưỡng, lương

có, giáo có, đủ các tầng lớp binh, công, nông, sỹ, đủ các hạng người già, trẻ, gái, trai, tất cả đều nhằm vào một mục đích chung: tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công” [4, tr472].

Trong thư chúc Tết gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước năm 1949, Bác viết:

“Người thi đua

từ cơ sở

Thi đua là một hiện tượng khách quan, là qui luật phát triển tất yếu trong quá trình hợp tác lao động của con người Ở đâu có hợp tác lao động thì ở đó nảy sinh thi đua Trong quá trình cách mạng của dân tộc và vận dụng để cụ thể hóa vào chính sách và pháp luật thì đã phát động phong trào thi đua và thi đua

xã hội chủ nghĩa là đoàn kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến, kinh

Trang 14

nghiệm, người tiền tiến thân ái giúp đỡ người chậm tiến để đạt tới sự tiến bộ chung Hoàn toàn không giống với bí mật thương nghiệp trong cạnh tranh Thi đua xã hội chủ nghĩa chẳng những nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm xây dựng con người mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động Thông qua thi đua để giáo dục động viên mọi người, nâng cao lòng yêu nước, ý thức giác ngộ giai cấp, trách nhiệm công dân và tính cộng đồng xã hội

Theo Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng: “Thi đua là hoạt động có tổ chức

với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Như vậy, khái niệm thi đua bao

gồm 3 thành tố:

- Thi đua là hoạt động có tổ chức vì các phong trào thi đua là do người

đứng đầu tổ chức, đơn vị, địa phương phát động để thực hiện nhiệm vụ chính trị

- kinh tế - xã hội được giao Hoạt động có tổ chức của thi đua được thể hiện từ khi lập kế hoạch, xác định mục tiêu, hình thức, đối tượng, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua, kiểm tra, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến

- Thi đua là hoạt động tự nguyện: Có tự nguyện thì mới khơi dậy được sự

sáng tạo của con người Đồng thời yếu tố tự nguyện còn cho thấy tính dân chủ,

tự giác của mỗi cá nhân trong tổ chức

- Thi đua là hoạt động có mục tiêu và hướng đích rõ rệt: Mục đích để xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc; thi đua sẽ giúp cho hiệu quả, chất lượng và năng suất lao động, học tập và công tác không ngừng được nâng lên, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt

Trong thi đua, còn có khái niệm“thi đua thường xuyên” và “thi đua theo

đợt, theo chuyên đề”

Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm

vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, đơn vị Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính

Trang 15

chất công việc tương đồng nhau Việc tổ chức phong trào thi đua thường xuyên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể và được tổ chức tại cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc theo khối, cụm thi đua để phát động phong trào thi đua, ký kết giao ước thi đua Thực hiện việc đăng ký giao ước thi đua giữa các tập thể Kết thúc năm công tác thủ trưởng cơ quan, đơn vị, trưởng các khối, cụm thi đua tiến hành tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua

Thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) là hình thức thi đua nhằm thực

hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của cơ quan, đơn vị Cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ phát động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) khi đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian Thi đua theo chuyên đề thường được tổ chức với quy mô trong phạm vi hẹp và thời gian ngắn Trường hợp được tổ chức với quy mô rộng lớn trong phạm vi toàn ngành, toàn tỉnh, thành phố và có thời gian tương đối dài (3 năm, 5 năm) thì có sơ kết từng đợt, từng giai đoạn trước khi tổng kết

- Nguyên tắc của thi đua:

Nguyên tắc quan trọng của thi đua là tự nguyện và đoàn kết, để cùng nhau phát triển; giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không có đối kháng về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội

Điều 6 Luật Thi đua, Khen thưởng đã quy định nguyên tắc của thi đua là:

Tự nguyện, tự giác, công khai; Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển

1.1.2 Khen thưởng

- Khái niệm:

Khen thưởng là một trong những công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước; là một lĩnh vực quan trọng trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan tổ chức và đơn vị; là biện pháp cơ bản để đánh giá kết quả công việc, đánh giá những cố gắng, những thành tích quá trình hoạt động đóng góp của tập thể và cá nhân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 16

Khen là sự nhận xét đánh giá tốt về một con người nào đó; tổ chức nào

đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa hài lòng Còn thưởng là tặng cho bằng hiện vật hoặc tiền Khen thưởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của Nhà nước bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền do luật định

Khen thưởng và trừng phạt được hình thành phát sinh và tồn tại trong quá trình phát triển của con người, là vấn đề thuộc tâm lý xã hội, sinh hoạt tinh thần của con người, do đó khen thưởng phải thể hiện quan điểm quần chúng, phải có trách nhiệm cao trong quá trình phát hiện, xét khen thưởng Khen thưởng tồn tại cùng với sự tồn tại của Nhà nước Còn Nhà nước là còn khen thưởng, khen thưởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần và khích lệ bằng vật chất

Khen thưởng là một việc đã tồn tại khá lâu trong lịch sử xã hội, gắn liền với mỗi nhà nước thuộc các chế độ xã hội khác nhau là các hình thức thưởng phạt khác nhau Ở nước ta việc khen thưởng qua các triều đại cũng được sử sách ghi lại Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã ghi rõ những

hình thức khen thưởng như sau:

- Khen thưởng người có công trong chiến trận;

- Khen thưởng người có công trong việc đi sứ;

- Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức;

- Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài;

- Khen thưởng người có lời tâu đúng;

- Khen thưởng người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên;

- Khen thưởng người có công làm thủy lợi;

- Khen thưởng người có tài văn chương;

- Khen thưởng người cao tuổi

Từ các loại hình khen thưởng kể trên đã chứng tỏ thời kỳ phong kiến đã biết khích lệ động viên mọi người hăng hái lập công, để được khen thưởng

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc biểu dương khích

lệ động viên người tốt, việc tốt Mỗi khi đọc báo, nghe đài, thấy có nghĩa cử đẹp

là Bác cho đi kiểm tra ngay để Bác khen thưởng Bác thường nhắc nhở khen

Trang 17

thưởng phải chính xác và kịp thời để động viên phát huy mặt ưu điểm, tích cực, khắc phục và đẩy lùi mặt khuyết điểm, tiêu cực Chính vì vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã ký Quốc lệnh ngày 26/01/1946 ban hành 10 điều thưởng, 10 điều phạt của Chính phủ Đây được xem như văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng xây dựng ngành thi đua, khen thưởng của nước ta, có tác động viên, khuyến khích mọi người làm việc tốt, ích nước, lợi nhà đồng thời cảnh báo, răn đe những ai định

làm việc xấu hại dân, hại nước Người nêu trong Quốc lệnh: “Trong một nước,

thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [4, tr163].

Theo Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng: “Khen thưởng là việc ghi nhận,

biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Như vậy, mục đích của khen thưởng là ghi nhận, tôn vinh, biểu dương thành tích và nhân điển hình tiên tiến những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, chiến đấu học tập và công tác; nhằm giáo dục, động viên và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; tạo động lực cách mạng lôi cuốn, động viên khuyến khích mọi người phát huy truyền thống yêu nước, tính năng động sáng tạo, vươn lên lập thành tích xuất sắc trên tất cả mọi lĩnh vực; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Qua khen thưởng để khơi dậy tính sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực, nhân lên cái chân, thiện, mỹ; đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, đẩy lùi cái ác và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

- Nguyên tắc khen thưởng:

Nguyên tắc quan trọng của khen thưởng là phải chính xác, công bằng và kịp thời Khen thưởng phải đúng người đúng việc; khen thưởng phải kịp thời mới có ý nghĩa khuyến khích, động viên

Luật Thi đua, Khen thưởng quy định nguyên tắc khen thưởng đó là:

- Chính xác, công bằng, kịp thời;

Trang 18

- Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được;

- Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng;

- Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất;

- Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng

1.1.3 Mối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng

Thi đua và khen thưởng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng lẫn nhau, mối quan hệ đó biểu hiện ở chỗ:

Thi đua là động lực thúc đẩy các cá nhân, tập thể hoàn thành nhiệm vụ, Thi đua là cơ sở, căn cứ để xét khen thưởng Trên thực tế, ở đâu làm tốt phong trào thi đua, thì ở đó xã hội phát triển, quần chúng phấn khởi và khen thưởng cũng chính xác, kịp thời, và ngược lại, ở đâu phong trào thi đua yếu thì xã hội trì trệ, công tác khen thưởng khó chuẩn xác, thậm chí còn tiêu cực, phản tác dụng

Khen thưởng là ghi nhận, đánh giá kết quả thi đua, là nhân tố thúc đẩy phong trào thi đua phát triển Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời có tác dụng giáo dục, động viên những cá nhân, tập thể trở thành điển hình, nêu gương tốt cho xã hội Trên thực tế, ở đâu khen thưởng đúng nguyên tắc, chính xác gắn với thi đua, thì ở đó quần chúng phấn khởi, phong trào thi đua sẽ ngày càng phát triển hơn và ngược lại

Mối quan hệ biện chứng giữa thi đua với khen thưởng luôn là mối quan hệ hai chiều, biện chứng Thi đua là động lực thúc đẩy mọi tầng lớp phát huy tinh thần sáng tạo, nỗ lực vượt mọi khó khăn vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được giao Từ kết quả thi đua mà lựa chọn tập thể, cá nhân xứng đáng để khen thưởng Khen thưởng chính là việc đánh giá kết quả phong trào thi đua Khen thưởng chính xác, kịp thời có tác dụng động viên, giáo dục và nêu gương tốt trong xã hội, đồng thời cổ vũ phong trào thi đua phát triển sâu, rộng hơn Nếu khen thưởng không đúng sẽ làm giảm hiệu quả phong trào thi đua, thậm chí còn phản tác dụng, dẫn đến tiêu cực trong phong trào thi đua Vì vậy, hình ảnh

“gieo trồng” và “thu hoạch” trong thi đua, khen thưởng chính là để nói lên

Trang 19

mối quan hệ biện chứng của hai nội dung này

1.2 Pháp luật về thi đua, khen thưởng

1.2.1 Khái niệm

Thi đua, khen thưởng là một lĩnh vực hoạt động rộng lớn, tác động đến số lượng lớn quần chúng nhân dân, huy động nhiều tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị xã hội tham gia các phong trào thi đua từ đó phát huy nội lực của mỗi

cá nhân, mỗi tập thể để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý khác nhau, trong đó công cụ pháp luật là quan trọng nhất và được đặt lên hàng đầu Pháp luật về thi đua, khen thưởng nhằm tạo hành lang pháp lý để các chủ thể làm tốt, làm hiệu quả khi xây dựng, ban hành pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật và

xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác này Có thể khái

niệm pháp luật về thi đua, khen thưởng như sau: Pháp luật về thi đua, khen

thưởng là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng

1.2.2 Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng

Một là, pháp luật về thi đua, khen thưởng tác động, điều chỉnh thường

xuyên đối với hoạt động thi đua, khen thưởng để thi đua, khen thưởng trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chính của cơ quan, tổ chức

Cơ quan nhà nước đã thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý để thực hiện thẩm quyền quản lý của mình tác động, điều chỉnh thường xuyên đối với hoạt động thi đua, khen thưởng để thi đua, khen thưởng trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chính của cơ quan, tổ chức là nâng cao chất lượng công việc, hiệu lực, hiệu quả, năng suất lao động không ngừng tăng cao, là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng cơ quan đơn vị ngày càng phát triển theo hướng trong sạch, vững mạnh, hiệu quả cao Do đó, trong những năm qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã thông qua nhiều công cụ để quản lý nhà nước, trong đó,

Trang 20

công cụ quan trọng nhất là pháp luật

Hai là, pháp luật về thi đua, khen thưởng phải bám sát việc thực hiện chức

năng, nhiệm vụ đơn vị

Thi đua, khen thưởng của cơ quan, đơn vị phải thực hiện phong trào thi đua các cấp bám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành như: Gắn với thực hiện chất lượng hiệu quả công việc, tiến độ hoàn thành công việc được giao, công việc phải vượt định mức Cao hơn nữa đó là khởi dậy tinh thần tự hào công việc trong mỗi cán bộ, công chức và viên chức, người lao động và cơ quan

tổ chức đó

Ba là, thi đua, khen thưởng là động lực của sự vận động tích cực, là công

cụ quản lý quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ

Thi đua, khen thưởng là động lực để cán bộ, công chức và viên chức, người lao động và cơ quan tổ chức đó không vi phạm phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, không vi phạm kỷ luật và pháp luật Xây dựng con người mới là trách nhiệm của toàn xã hội, có tác động mạnh mẽ đến tình cảm, trách nhiệm, ý thức, ý chí tự lực tự cường, lòng tự hào đối với cộng đồng, xã hội, thi đua, khen thưởng làm cho sức sáng tạo của tập thể, cá nhân ngày càng được nâng cao, thi đua, khen thưởng khai thác được tiềm lực của mỗi người và toàn xã hội phục vụ cho mục tiêu xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Đồng thời, thi đua, khen thưởng để nêu gương, giáo dục xã hội, bớt đi những tiêu cực làm cho xã hội tốt đẹp và nhân văn hơn

Trong giai đoạn hiện nay công tác thi đua, khen thưởng luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, công tác thi đua, khen thưởng thực sự đã trở thành động lực quan trọng trong việc thúc đẩy mọi người, mọi thành phần trong xã hội thi đua lao động sản xuất, học tập, sáng tạo tạo nên sức mạnh của một dân tộc, một địa phương và sức mạnh của cả một ngành, đơn vị Công tác thi đua, khen thưởng là một trong những biện pháp quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị có hiệu quả, thực sự có tác dụng động viên cán bộ, công nhân viên chức

và người lao động hoàn thành những nhiệm vụ được giao

Trang 21

1.2.3 Nội dung của pháp luật về thi đua, khen thưởng

Nội dung pháp luật về thi đua, khen thưởng ở nước ta thể hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật như: luật, nghị định, thông tư Nội dung cơ bản bao gồm:

- Những quy định chung: phạm vi, đối tượng thi đua, khen thưởng; mục tiêu của thi đua; nguyên tắc thi đua, khen thưởng; danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng;

- Các quy định về thi đua: hình thức tổ chức phong trào thi đua, nội dung các phong trào thi đua, chủ thể phát động thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn đối với các danh hiệu thi đua;

- Các quy định về khen thưởng: hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng bao gồm: Huân chương, Huy chương, Danh hiệu vinh dự nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, Kỷ niệm chương, Huy hiệu, Bằng khen, Giấy khen;

- Thẩm quyền quyết định trao tặng, thủ tục, hồ sơ khen thưởng; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tập thể được khen thưởng; quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; xử lý vi phạm trong thi đua, khen thưởng

Ngoài các nội dung nêu trên, còn có các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng bao gồm:

- Ban hành các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng

- Xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng

- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng

- Sơ kết, tổng kết, tặng thưởng các hình thức khen thưởng; đánh giá hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng

- Hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng

- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng

Trang 22

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng

1.3 Thi hành pháp luật về thi đua khen thưởng

1.3.1 Khái niệm

Hiện nay ở Việt Nam, có hai quan điểm về “thi hành pháp luật”:

Quan điểm thứ nhất, thi hành pháp luật (hay chấp hành pháp luật) là một

trong 4 hình thức thực hiện pháp luật, gồm: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật; áp dụng pháp luật Theo đó, thi hành pháp luật được hiểu

là hành vi của chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều pháp luật yêu cầu

Tử điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2006 định

nghĩa: “thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động

Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được”

Việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật chỉ có tính chất tương đối, chủ yếu phục vụ cho việc nghiên cứu, nên chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, còn trong thực tế, các thuật ngữ tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật nhiều khi được dùng đồng nghĩa với nhau, đều biểu thị một nội dung là pháp luật phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh bởi tất cả các chủ thể trong

xã hội

Quan điểm thứ hai, thi hành pháp luật là mọi hoạt động nhằm đưa pháp luật

vào cuộc sống, biến quy định pháp luật trở thành hành vi của các chủ thể, và được xem là công đoạn tiếp nối quá trình xây dựng pháp luật của Nhà nước Như vậy,

khái niệm thi hành pháp luật ở trường này được hiểu theo nghĩa rộng là “đưa

pháp luật vào cuộc sống” và đảm bảo thực thi bằng cơ chế hiệu quả nhất

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm của các nhà nghiên cứu,

các học giả về khái niệm thi hành pháp luật, có thể hiểu: Thi hành pháp luật là

hành vi hợp pháp của chủ thể pháp luật trong quá trình hiện thực hóa hoặc đảm bảo hiệu lực các quy định pháp luật trong đời sống xã hội

Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng là hành vi của các chủ thể (cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân) chủ động thực hiện các quy định của pháp luật

Trang 23

về thi đua, khen thưởng do Nhà nước ban hành nhằm đáp ứng các nhu cầu, lợi ích hợp pháp trong đời sống xã hội

- Yếu tố chính trị: Đây là yếu tố quan trọng nhất trong thi hành pháp luật

về thi đua, khen thưởng Yếu tố này thể hiện dưới hình thức thực tiễn chính trị, các nguyên tắc, định hướng, đường lối, quan điểm trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng Ví dụ: Bộ Chính trị khóa IX ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, trên cơ sở đó, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005

- Mức độ hoàn thiện của pháp luật: Mức độ hoàn thiện của pháp luật nói

chung là yếu tố đảm bảo cho pháp luật đó đi vào cuộc sống xã hội Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng sẽ đạt hiệu quả nếu các quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng được xây dựng khoa học, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao

- Năng lực tổ chức và nguồn nhân lực thi hành pháp luật:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng đó là bộ máy

tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, gắn với những yêu cầu về kiến thức, năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, phẩm chất đạo đức…

Về phía xã hội, các tổ chức, đơn vị, cá nhân thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng cũng phải dựa trên một nền tảng năng lực nhận thức pháp luật, hiểu biết xã hội để thực thi các chính sách pháp luật của Nhà nước

- Các yếu tố đảm bảo về điều kiện vật chất: Các yếu tố này là điều kiện

cần thiết về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ… đây là những điều kiện hiện thực làm cho hoạt động Nhà nước minh bạch, gần dân, đảm bảo cho tổ chức, cá nhân thi hành pháp luật một cách tích cực, hiệu quả

- Yếu tố văn hóa, xã hội, ý thức pháp luật: Văn hóa là tất cả các sản phẩm

hoạt động của con người bao gồm vật chất và tinh thần, các giá trị được tạo dựng trong quá trình hoạt động gồm các khuôn mẫu và quy phạm hành vi đã

Trang 24

được thừa nhận, được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong đó văn hóa pháp lý là trật tự tư tưởng, được Nhà nước, xã hội định hướng đến sự hình thành

và phát triển ý thức chính trị và ý thức pháp luật của mọi người Yếu tố văn hóa, nhất là văn hóa pháp lý có ảnh hưởng lớn đối với cơ chế điều chỉnh pháp luật

của thi hành pháp luật

1.4 Khái quát sự phát triển của pháp luật về thi đua, khen thưởng ở nước ta

1.4.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003

- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ và thực hiện kháng chiến chống thực dân Pháp, cùng với việc ban hành những chính sách về chính trị - kinh tế - xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng

Ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh ban hành 10

điều thưởng 10 điều phạt: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì

nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công Vậy Chính phủ ra Quốc lệnh rõ ràng gồm có 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm” [4, tr163] Trong giai

đoạn này, cùng với việc ban hành Sắc lệnh số 83/SL ngày 17/9/1947 thành lập Viện Huân chương, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản quy định các hình thức khen thưởng như: Sắc lệnh số 50/SL ngày 15/5/1947 đặt Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sỹ; Sắc lệnh số 58/SL ngày 06/6/1947 đặt Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập; Sắc lệnh

số 216/SL ngày 20/8/1948 đặt Huân chương Kháng chiến; Sắc lệnh số 65b/SL ngày 01/5/1950 đặt Huân chương Lao động

Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái

quốc”, kêu gọi mỗi người dân Việt Nam “Ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc” Người đặt niềm tin sâu sắc đối với toàn Đảng, toàn

Trang 25

dân, toàn quân “thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng

lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch

để đi đến thắng lợi cuối cùng Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi” [5, tr557]

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều phong trào thi đua đã được phát động mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu

nước nồng nàn, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia như “Hũ gạo

cứu đói”, “Quỹ Độc lập”, “Tuần lễ vàng” nhằm thu nhận hiện vật mà nhân dân

quyên góp cho Chính phủ, góp phần giải quyết những khó khăn của cách mạng

trong những ngày tháng vận nước “ngàn cân treo sợi tóc”

Trong thư gửi cho giới công thương Việt Nam (doanh nhân, doanh nghiệp hiện nay), Người đã nhấn mạnh vai trò to lớn của giới công thương trong công

cuộc kiến thiết đất nước Người viết: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân

ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng

Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng Vậy tôi mong giới Công – Thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập “Công – Thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm công cuộc ích nước lợi dân” [4, tr287]

Với tinh thần thi đua yêu nước, thi đua là sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ mà hào hùng, chúng ta đã làm nên một

chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, chiến

thắng sự xâm lược của thực dân Pháp, hoàn toàn giải phóng miền Bắc

- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

Trong 30 năm kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, các phong trào thi đua tiếp tục đóng vai trò quan trọng, củng cố thêm khối đoàn kết toàn dân tộc, biến thành sức mạnh vô song chiến thắng kẻ thù xâm lược Trong công cuộc

Trang 26

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các phong trào thi đua như “Sóng Duyên Hải”, “Gió Đại Phong”, “Cờ Ba Nhất”… của các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác

xã, thi đua “Ba điểm cao” (năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều), thực hiện “Giờ làm chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc đổ mồ hôi để miền Nam đỡ tốn

xương máu” phục vụ sản xuất, đời sống và cung cấp cho tiền tuyến

Trong giai đoạn này, Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng, quy định các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, chính sách khen thưởng, thành tích kháng chiến, cụ thể:

Về hình thức khen thưởng, có các văn bản như: Sắc lệnh số 54/SL ngày 02/02/1958 của Chủ tịch Nước đặt Huân chương và Huy chương Chiến thắng; Pháp lệnh ngày 12/9/1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt Huân chương Chiến sĩ vẻ vang

Về thi đua và các danh hiệu thi đua, có các văn bản như: Nghị định số 104/CP ngày 18/7/1963 của Chính phủ ban hành Điều lệ quy định các danh hiệu

và tiêu chuẩn thi đua, Thông tư 106/TTg của Phủ Thủ tướng hướng dẫn áp dụng Nghi định số 104/CP; Nghị định số 80/CP ngày 03/02/1968 của Phủ Thủ tướng ban hành chính sách đối với danh hiệu Anh hùng, Chiến sỹ thi đua

Về danh hiệu vinh dự nhà nước, có các văn bản như: Pháp lệnh ngày 15/01/1970 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt cá danh hiệu vinh dự Nhà nước như: Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang; Thông tư số 34/TTg ngày 11/3/1970 của Thủ tướng Chính phủ thi hành Pháp lệnh các danh hiệu vinh

dự nhà nước

Kết quả từ các phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam, với tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh và ý chí “quyết chiến – quyết thắng” của toàn dân tộc, chúng

ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, nước nhà thống nhất một mối, cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội

- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2003

Thời gian đầu khi đất nước mới thống nhất và thời kỳ trước đổi mới (năm 1986), công tác thi đua, khen thưởng không được quan tâm nhiều, các văn bản

Trang 27

chủ yếu quy định và hướng dẫn việc khen thưởng thành tích kháng chiến như: Thông tư số 184/TTg ngày 21/5/1975 hướng dẫn hoàn thành khen thưởng thành tích giúp đỡ cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa và thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp; Quyết định số 227/CP ngày 27/8/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc xét khen thưởng thành tích kháng chiến chống Mỹ cứu nước

ở các tỉnh, thành phố phía Nam; Thông tư số 177/BT ngày 10/10/1978 của Phủ Thủ tướng khen thưởng những gia đình có người thân thoát ly tham gia vào hàng ngũ cách mạng…

Sau năm 1986 cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, công tác thi đua, khen thưởng và pháp luật về thi đua, khen thưởng cũng có nhiều đổi mới theo hướng tiến bộ Ngoài một số văn bản tiếp tục hướng dẫn khen thưởng thành tích kháng chiến, ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Thông tri số 38-TT/TW ngày 25/10/1984 và Thông tri số 19-TT/TW ngày 27/02/1998 về khen thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương

Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập

Về tổ chức bộ máy, trong hai năm 1987-1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ký Nghị định số 223-HĐBT về việc sửa đổi tổ công tác thi đua và khen thưởng, theo đó, giải thể Ban Thi đua Trung ương, Ban Thi đua các ngành, các cấp, từ đây phong trào thi đua sẽ do Hội đồng Thi đua các ngành, các cấp được thành lập theo Nghị định số 61-HĐBT ngày 16/6/1983 tổ chức và chỉ đạo thực hiện; đồng thời đổi tên Hội đồng Thi đua các cấp thành Hội đồng Thi đua khen thưởng; đổi tên Viện Huân chương thành Viện Thi đua và khen thưởng Nhà nước Đến năm 1988 lập lại Hội đồng Thi đua khen thưởng Trung ương do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Hội đồng

Trong giai đoạn này, văn bản có ý nghĩa quan trọng trong chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng là Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị

về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới, theo đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/1998/NĐ-CP ngày 30/7/1998 nhằm thể chế hóa Chỉ thị số 35-CT/TW quy định các hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen

Trang 28

thưởng của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp

Và sau 5 năm kể từ khi Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị được ban hành, Luật Thi đua, Khen thưởng đã được Quốc hội thông qua năm 2003, đánh dấu một bước phát triển mới của công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta trong giai đoạn mới

1.4.2 Giai đoạn từ khi Luật Thi đua, Khen thưởng ban hành năm 2003

Luật Thi đua, Khen thưởng chính thức được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003, đã đánh dấu một bước quan trọng quá trình phát triển của lĩnh vực công tác thi đua, khen thưởng đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng của nước ta

Luật Thi đua, Khen thưởng gồm 103 Điều, được chia thành 8 chương, 9 mục, quy định về một số vấn đề chính gồm:

- Tổ chức thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua;

- Hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng;

- Thẩm quyền quyết định, trao tặng, hồ sơ đề nghị khen thưởng;

- Quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng;

- Xử lý vi phạm về thi đua, khen thưởng

Sau 10 năm thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng, xuất phát từ thực tiễn

và để tiếp tục hoàn thiện bổ sung chính sách pháp luật, khắc phục những tồn tại,

hạn chế, Luật Thi đua, Khen thưởng đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần:

- Luật 47/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một

số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng (Bổ sung một điều về Tỉnh anh hùng,

Thành phố anh hùng)

- Luật 39/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một

số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng Riêng đối với danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú được thực hiện theo Luật số 32/2009/QH12 ngày

18/6/2009 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa

Cùng với việc ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng, Chính phủ cũng đã ban hành các

Trang 29

Nghị định, Bộ Nội vụ ban hành các Thông tư nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng, gồm:

- Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005;

- Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP;

- Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2013;

- Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng;

- Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29/8/2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP và Nghị định số 65/2014/NĐ-CP của Chính phủ;

- Thông tư số 12/2019/TT-BNV ngày 04/11/2019 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP của Chính phủ

Nội dung các quy định chi tiết thi hành, hướng dẫn thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng gồm một số vấn đề cơ bản sau:

- Quy định cụ thể hơn về nguyên tắc thi đua, khen thưởng; tiêu chuẩn đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng;

- Quy định riêng về đối tượng, tiêu chuẩn danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp;

- Quy định về phân cấp thẩm quyền quyết định khen thưởng; thủ tục, hồ

sơ xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng

- Quy định về Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp; Qũy thi đua khen thưởng, mức tiền thưởng và chế độ ưu đãi;

- Và một số nội dung sửa đổi, bổ sung khác để phù hợp với thực tiễn như:

bổ sung khái niệm “tập thể nhỏ”, “hộ gia đình”, “khen thưởng theo thành tích và công trạng đạt được”, “thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất”, khen thưởng quá

Trang 30

trình cống hiến, khen thưởng đối với doanh nghiệp, việc đánh giá, công nhận phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng của sáng kiến…

Bên cạnh những văn bản của Nhà nước, Bộ Chính trị cũng đã ban hành các chỉ thị về đổi mới công tác thi đua khen thưởng như: Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại của các phong trào thi đua trong thời gian qua như sự thiếu đồng đều, liên tục của các phong trào thi đua, nhiều nơi còn mang nặng tính hình thức, chưa gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị Nhiều nơi việc khen thưởng còn thiếu chính xác, chưa kịp thời; khen thưởng cho người lao dộng trực tiếp sản xuất, nông dân, công nhân còn ít Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến hiệu quả chưa cao, biện pháp tuyên truyền thiếu đồng bộ…

Từ năm 2018, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ tổng kết, đánh giá 13 năm thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng, nhằm tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như các hạn chế, tồn tại để từ đó đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, nâng cao tác dụng và hiệu quả của Luật; góp phần động viên cán bộ, nhân dân khắc phục khó khăn, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đề

ra Hiện nay, Bộ Nội vụ đang nghiên cứu dự thảo sửa đổi Luật Thi đua, Khen thưởng và thực hiện các bước quy trình xây dựng dự án luật báo cáo trình Chính phủ, Quốc hội

Trang 31

tế - xã hội của các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Đặc điểm tình hình và tổ chức bộ máy thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1.1 Đặc điểm tình hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thủ đô Hà Nội có vị trí đặc biệt quan trọng, là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm văn hóa, giáo dục, khoa học, kinh tế và giao dịch quốc tế

Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, Nghị quyết 132/NQ-CP của Chính phủ năm 2013 chia huyện Từ Liêm thành 02 quận là Bắc

Từ Liêm và Nam Từ Liêm, hiện tại Hà Nội có 30 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 12 quận, 17 huyện, 01 thị xã với 579 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 383

xã, 175 phường và 21 thị trấn Với quy mô diện tích tự nhiên 3.344,7 km2, dân

số sau tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là trên 08 triệu người

Về doanh nghiệp trên địa bàn, theo thống kê thành phố Hà Nội hiện có khoảng 267.290 doanh nghiệp đã được đăng ký thành lập và hoạt động, trong đó doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa chiếm gần 90%

Trong những năm qua, Thành phố và các cấp, các ngành phát động nhiều phong trào thi đua thực hiện các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tái cơ cấu kinh tế; nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển kinh tế Thủ đô tăng trưởng nhanh và bền vững Các phong trào thi đua

do Thành phố phát động đã xác định rõ chủ đề, gắn với nhiệm vụ trọng tâm của từng năm, tập trung vào những khâu yếu, việc khó trong phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, trong đó chú trọng đẩy mạnh phong trào thi đua đối với doanh nghiệp, doanh nhân trên địa bàn Thành phố Thường xuyên tổ chức, triển khai và phát động các phong trào thi đua gắn với việc thực

Trang 33

hiện nhiệm vụ trọng tâm của từng ngành, từng lĩnh vực trong khối doanh nghiệp Cùng với đó, công tác khen thưởng ngày càng tập trung theo hướng phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, nhân điển hình tiên tiến; đối tượng khen thưởng tập trung vào các tập thể nhỏ, người lao động trực tiếp trong doanh nghiệp

Trong công tác hoạch định chính sách, hàng năm Thành phố tổ chức nhiều hội nghị gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại với doanh nghiệp, nhằm lắng nghe, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi để tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan, tài nguyên môi trường, kế hoạch và đầu tư, tài chính ngân hàng tổ chức hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo Thành phố với đại diện doanh nghiệp; hướng dẫn và tổ chức các hiệp hội doanh nghiệp Thành phố vững mạnh làm điểm bứt phá, là cầu nối giữa doanh nghiệp với chính quyền Thành phố, để chính sách hỗ trợ của Thành phố đến được với nhiều doanh nghiệp nhất

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trung bình 7,41%/năm, Hà Nội là một trong 2 đầu tầu kinh tế của cả nước, đóng góp 20% tổng số thu ngân sách quốc gia Hà Nội đang phấn đấu tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng minh bạch, thông thoáng, hiện đại, chuyên nghiệp và thân thiện, là địa điểm đầu tư an toàn và hiệu quả của các nhà kinh doanh Hà Nội

quyết tâm đổi mới để cả bộ máy hành chính sẽ cải cách theo hướng: “Xác định

lấy người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là đối tượng để phục vụ” Xây

dựng và tổ chức thành công Đề án khởi nghiệp giai đoạn 2016- 2020; Đề án thí điểm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo Nghiên cứu mô hình Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp Xây dựng vườn ươm doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ thông tin Thành phố đặt mục tiêu trong giai đoạn 2015 - 2020 sẽ có thêm 200 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới

và hoạt động có hiệu quả Tăng cường tuyên truyền, khuyến khích, động viên,

cổ vũ tinh thần khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp sáng tạo trong xã hội Thành phố Hà Nội luôn cầu thị, sẵn sàng đổi mới, có nhiều sáng kiến khuyến khích, hỗ trợ để những mô hình doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo mới nhanh chóng phát triển ở Hà Nội Thực hiện các kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp

Trang 34

sau khởi nghiệp; hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: tiếp cận đất đai; tiếp cận nguồn vốn; nguồn nhân lực; tiếp cận kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp hiện đại; tiếp cận các tiến bộ khoa học, các công nghệ mới nhất để nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của hàng hóa Đồng thời, nâng cao năng lực dự báo các vấn đề của hội nhập kinh tế quốc tế để từ đó chủ động hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các cơ hội và vượt qua được các thách thức từ quá trình hội nhập

2.1.2 Về tổ chức bộ máy thi hành pháp luật thi đua, khen thưởng

- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên phạm vi toàn quốc với cơ quan tham mưu là Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương

Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương là cơ quan thuộc Bộ Nội vụ, tương đương cấp cục, với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn là tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng trên phạm vi cả nước Trưởng Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Nội vụ và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Ban Trưởng Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương

Về nghiệp vụ, hiện nay Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương thực hiện trực tiếp trình Thủ tướng Chính phủ các văn bản thẩm định hồ sơ về thi đua khen thưởng mà không qua Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Ở cấp địa phương, Ban Thi đua – Khen thưởng thành phố Hà Nội là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng Ban Thi đua – Khen thưởng thành phố Hà Nội là đơn vị trực thuộc Sở Nội vụ Hà Nội, tương đương cấp Chi cục

Lãnh đạo Ban Thi đua – Khen thưởng thành phố Hà Nội gồm: 01 Trưởng Ban, 03 Phó trưởng Ban, trong đó có 01 Phó trưởng Ban phụ trách theo dõi công tác thi đua, khen thưởng khối doanh nghiệp Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm trước Giám đốc Nội vụ và trước pháp luật về

Trang 35

toàn bộ hoạt động của Ban Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội là Ủy viên Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội

Về nghiệp vụ, không giống như Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương, hiện nay Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội thực hiện trình Chủ tịch

Ủy ban nhân dân Thành phố hồ sơ thi đua, khen thưởng sau khi báo cáo xin ý kiến Giám đốc Sở Nội vụ

- Về tổ chức cụm thi đua thuộc thành phố Hà Nội:

Hội đồng Thi đua – Khen thưởng thành phố Hà Nội đã thành lập 22 cụm thi đua, trong đó có 3 cụm thi đua doanh nghiệp: Cụm thi đua số 20 gồm 5 doanh nghiệp là các Tổng công ty thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố; Cụm thi đua số 21 gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công ích (thoát nước, cây xanh, chiếu sáng, môi trường đô thị…); Cụm thi đua số 22 gồm 12 doanh nghiệp đã cổ phần hóa (trước đây là doanh nghiệp nhà nước)

Tại một số Hội đồng Thi đua khen thưởng cấp sở, ngành, quận, huyện, thị

xã cũng có tổ chức thành lập các cụm thi đua, trong đó có cụm, khối thi đua doanh nghiệp như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có cụm thi đua các doanh nghiệp trong lĩnh vực thủy lợi; Sở Công thương có cụm thi đua các doanh nghiệp công nghiệp chủ lực, Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức có cụm thi đua các doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm…

- Về tổ chức bộ máy thi đua, khen thưởng ở các doanh nghiệp:

Ở các doanh nghiệp, công tác tham mưu thi đua, khen thưởng đa số do Phòng Tổ chức cán bộ hoặc Văn phòng thực hiện, một số doanh nghiệp giao phòng truyền thông (marketing) thực hiện, cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng của doanh nghiệp chủ yếu là kiêm nhiệm Do đặc thù doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh nên công tác nhân sự và vị trí việc làm thường xuyên biến động, vì vậy cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm, không thường xuyên cập nhật các văn bản, quy định chế độ chính sách về thi đua, khen thưởng

Trang 36

2.2 Kết quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 - 2020

2.2.1 Kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành chính sách pháp luật về thi đua, khen thưởng

Phát huy truyền thống là một trong những địa phương luôn đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng và Chỉ thị 34-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Thành ủy Hà Nội đã chủ động ban hành Kế hoạch số 124-KH/TU ngày 26/6/2014 thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Chương trình hành động số 228/CTr-UBND ngày 31/12/2014 về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng giai đoạn 2015 –

2020, Kế hoạch số 115/KH-UBND ngày 01/6/2017 về khắc phục tồn tại, hạn chế, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng, Kế hoạch số 05/KH-HĐTĐKT ngày 23/6/2016 về công tác thi đua, khen thưởng giai đoạn

2016 – 2020, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Thành phố tham mưu xây dựng nhiều văn bản chỉ đạo trong đó tập trung vào việc nâng cao trách nhiệm của cấp

ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội các cấp về công tác thi đua, khen thưởng, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu Chỉ đạo đổi mới công tác thi đua, khen thưởng theo hướng thiết thực, hiệu quả hơn Phát động các phong trào thi đua gắn với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, khâu yếu, việc khó trong phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội, thi đua thực hiện tốt 5 nhiệm vụ trọng tâm và 3 khâu đột phá theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVI

Để đáp ứng yêu cầu công tác thi đua khen thưởng trong tình hình mới, việc nghiên cứu ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn về thi đua khen thưởng

đã được các cấp ủy Đảng và chính quyền quan tâm thực hiện thường xuyên Từ năm 2015 đến nay, hàng trăm văn bản các loại gồm: Chỉ thị, Nghị quyết, quyết định, kế hoạch, công văn, hướng dẫn, thông báo… để chỉ đạo hướng dẫn đã được ban hành Ủy ban nhân dân Thành phố xây dựng và ban hành 04 văn bản khung quy định quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn Thành

Trang 37

phố, 09 văn bản quy phạm pháp luật, 06 văn bản chỉ đạo, văn bản hướng dẫn nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng Trong đó nổi bật là việc ban hành các quy chế, quy định mới theo đặc thù của Thành phố phù hợp với điều kiện thực tiễn như: “Quy chế khen thưởng doanh nghiệp, doanh nhân trên địa bàn Thành phố”, “Quy chế hoạt động của Hội đồng xét tặng các danh hiệu vinh

dự nhà nước thuộc thành phố”; Sửa đổi, bổ sung các quyết định về việc ban hành “Quy định xét, công nhận sáng kiến cơ sở” và xét, tặng Bằng “Sáng kiến Thủ đô”; Quy chế xét tặng danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú”; Quy chế xét tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt”; Quy chế xét tặng danh hiệu “Vì sự nghiệp xây dựng Thủ đô”, Quy chế “Khen thưởng thành tích đột xuất”, “Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn Thành phố Hà Nội”; Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Thành phố đã ban hành các văn bản hướng dẫn công tác khen thưởng Hội đồng nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố; Hướng dẫn thực hiện nghi thức Nhà nước và quy định của Thành phố về Lễ kỷ niệm, sơ, tổng kết trao thưởng; khánh thành và gắn biển công trình; Hướng dẫn phát động và tổ chức phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới; thực hiện năm kỷ cương hành chính, năm trật tự văn minh đô thị và nhiều văn bản khác.Các văn bản đã cụ thể hóa Chỉ thị 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị, Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014, Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp với tình hình thực tế ở từng địa phương, đơn vị trong Thành phố

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong công tác thi đua, khen thưởng của Thành phố và các cấp đã tạo hành lang pháp lý, là cơ sở giúp các địa phương, đơn vị thực hiện công tác thi đua, khen thưởng một cách thống nhất; góp phần thúc đẩy các cấp, các ngành, các tổ chức, tầng lớp nhân dân phát huy

sự sáng tạo thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kế hoạch Quy trình, thủ tục hành chính về công tác thi đua khen thưởng của các cấp đều được công khai, rõ ràng, minh bạch, đơn giản hóa, tạo sự đồng thuận phát huy dân chủ, đoàn kết trong công tác khen thưởng

Trang 38

2.2.2 Kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

Kết quả trong 05 năm qua, kinh tế tiếp tục tăng trưởng; các chỉ tiêu kinh

tế - xã hội đều đạt và vượt kế hoạch, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành dịch vụ, công nghiệp xây dựng, nông - lâm - thủy sản phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng khá

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng bình quân 8,62%/năm và duy trì năm sau tăng hơn năm trước GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 4.080 USD/người, gấp 1,12 lần năm 2015 Vốn đầu tư xã hội tăng bình quân 11,24%/năm Tổng thu ngân sách nhà nước tăng 1,83 lần so với năm 2014 (năm 2018: 238.793 tỷ đồng, năm 2014: 130.100 tỷ đồng) Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ nét, tỷ lệ đăng ký kinh doanh qua mạng hiện nay duy trì 100%; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI xếp ở vị trí 13/63 Chỉ số cải cách hành chính PAR Index xếp thứ 2/63 Hà Nội xếp thứ 3 về chỉ số mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT và xếp thứ nhất về chỉ số công nghiệp CNTT

Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao tiếp tục phát triển: Tỷ

lệ “Gia đình văn hóa” đạt 86,5%; tỷ lệ “Thôn văn hóa” đạt 60%, “Tổ dân phố văn hóa” đạt 70,5% Hà Nội vinh dự sở hữu 01 Di sản thế giới là “Khu di tích trung tâm hoàng thành Thăng Long”, 13 di tích cấp Quốc gia đặc biệt, 1.185 di tích cấp Quốc gia và 1.264 di tích cấp tỉnh, thành phố, thu hút lượng lớn khách tham quan hàng năm; Chất lượng giáo dục đào tạo của Thủ đô tiếp tục phát triển toàn diện cả về quy mô và chất lượng, luôn dẫn đầu cả nước về các tiêu chí: quy

mô giáo dục, mạng lưới trường lớp và chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn, xây dựng mô hình trường chất lượng cao theo Luật Thủ đô; Chất lượng khám, chữa bệnh tiếp tục nâng cao, tập trung triển khai thành công một số

kỹ thuật mới như triển khai ứng dụng kỹ thuật cao trong mổ nội soi tiêu hoá, nối mạch máu, can thiệp tim mạch, ghép thận, xạ trị điều trị ung thư Thể thao thành tích cao Hà Nội tiếp tục dẫn đầu cả nước

Công tác lao động và việc làm, an sinh xã hội được đảm bảo, chính sách đối với người có công được quan tâm thực hiện chu đáo, kịp thời Tỷ lệ hộ nghèo

Trang 39

mỗi năm giảm bình quân 1,38% Các chương trình, đề án, kế hoạch về giải quyết việc làm, phát triển thị trường lao động của Thành phố được triển khai thực hiện có hiệu quả Bình quân mỗi năm đào tạo nghề, truyền nghề cho trên 15 vạn lao động và giải quyết việc làm cho gần 14 vạn lượt lao động; tỷ lệ thất nghiệp duy trì dưới 4,8% bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện trong nhân dân tiếp tục mở rộng và phát triển

Quốc phòng an ninh được củng cố, an ninh chính trị, trật tự xã hội được đảm bảo, đối ngoại được mở rộng Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, hàng năm tổ chức giao nhận công dân đủ chỉ tiêu với chất lượng cao Tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng 2, 3, 4 đảm bảo 100% theo kế hoạch;

Tổ chức an toàn, hiệu quả các hoạt động, sự kiện văn hóa, thể thao nhất là các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và Thủ đô, sự kiện văn hóa, thể thao mang tầm quốc tế và sự kiện lớn thường niên, tiêu biểu như: Kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Thi đua ái quốc”; Kỷ niệm 10 năm điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội (2008 – 2018); Liên hoan Phim quốc

tế Hà Nội năm 2018 Đặc biệt tháng 02 năm 2019, Hà Nội đã tích cực phối hợp, tham gia tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần thứ 02 diễn ra trên địa bàn Thủ đô

2.2.3 Kết quả thực hiện phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”

Hưởng ứng phong trào “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”

do Thủ tướng Chính phủ phát động, Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường triển khai có hiệu quả phong trào của Chính phủ và phát

động phong trào“Doanh nghiệp Thủ đô hội nhập và phát triển” Cụ thể hóa chỉ đạo của Chính phủ về “3 đồng hành, 5 hỗ trợ” đối với doanh nghiệp tại các

chương trình, kế hoạch hành động của Thành phố Với mục tiêu đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển có sức cạnh tranh cao, đổi mới, sáng tạo để phát triển Thành phố quyết tâm đổi mới để cả

bộ máy hành chính cải cách theo hướng: “Xác định lấy người dân và doanh

nghiệp là trung tâm, là đối tượng để phục vụ”, “coi sự thành công của các nhà

Trang 40

đầu tư, của các doanh nghiệp chính là sự thành công của Thành phố” Thành

phố đã ban hành các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp; hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo với mục tiêu xây dựng Hà Nội thành Trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của cả nước, nơi kết nối các nguồn lực của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp sáng tạo trong cộng đồng

Thành phố đã chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, đơn vị, địa phương thi đua đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, thực hiện nghiêm quy định về thời gian giải quyết thủ tục hành chính đã được công bố Tiếp tục khuyến khích khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo, cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng an toàn, thân thiện, hiệu quả Đảm bảo cho doanh nghiệp bình đẳng trong kinh doanh, tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh; thực hiện nghiêm các quy định về đất đai, xây dựng, môi trường, đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư; giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp

Tích cực chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ công tác thoái vốn, sắp xếp, cổ phần hóa tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Đối với cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020, Thành phố thực hiện cổ phần hóa 15 doanh nghiệp; Thành phố thực hiện cổ phần hóa 15 doanh nghiệp và thoái vốn tại 101 doanh nghiệp Đến nay, đã thành lập Ban Chỉ đạo cổ phần hóa của 15/15 doanh nghiệp; hoàn thành phương án cổ phần hóa Tổng công ty Thương mại Hà Nội Hoàn thành thoái vốn nhà nước tại 04/34 doanh nghiệp; hoàn thành thoái vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước tại 24/67 doanh nghiệp, Cơ cấu lại 05 doanh nghiệp khối thủy lợi (Công ty TNHH một thành viên: Đầu tư phát triển Thủy lợi Mê Linh; Đầu

tư phát triển Thủy lợi Sông Nhuệ; Thủy lợi Sông Tích; Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Đáy; Đầu tư phát triển Thủy lợi Hà Nội)

Triển khai hiệu quả mô hình “Cơ quan Đăng ký kinh doanh thân thiện”,

hướng đến nền hành chính phục vụ, đem lại sự hài lòng, thuận tiện cho tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong thực hiện các thủ tục đăng ký doanh nghiệp Tích cực triển khai các giải pháp nhằm tiết kiệm thời gian đi lại, chờ

Ngày đăng: 09/06/2023, 13:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2015), Kỷ yếu Đại hội thi đua yêu nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Đại hội thi đua yêu nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 – 2020
Tác giả: Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
2. Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2018), Kỷ yếu Hội thảo khoa học 70 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học 70 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”
Tác giả: Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
3. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
4. Bộ Chính trị (2004), Chỉ thị số 39 ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 39 ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
5. Bộ Chính trị (2014), Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
8. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4,5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4,5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2015), Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2015
Tác giả: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
10. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2016), Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2016
Tác giả: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
11. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2017
Tác giả: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
12. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2018), Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2018
Tác giả: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
13. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội (2019), Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2019
Tác giả: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2019
14. Lương Trường Giang (2018), “Pháp luật về thi đua, khen thưởng - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thi đua, khen thưởng - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Tác giả: Lương Trường Giang
Nhà XB: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2018
15. Phạm Hùng (2011), Những mốc son vàng trong phong trào thi đua yêu nước, NXB Lao động Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mốc son vàng trong phong trào thi đua yêu nước
Tác giả: Phạm Hùng
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
Năm: 2011
16. TS. Trần Thị Hà (2015), Công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay, Đề tài cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay
Tác giả: TS. Trần Thị Hà
Nhà XB: Đề tài cấp nhà nước
Năm: 2015
17. Phạm Duy Hanh (2010), Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai, Đề tài cấp tỉnh,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Tác giả: Phạm Duy Hanh
Nhà XB: Đề tài cấp tỉnh
Năm: 2010
18. Nguyễn Thu Hiền (2016),“Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng đối với các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng đối với các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền
Nhà XB: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2016
19. Đỗ Thúy Phượng (2010),“Hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Phượng
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 2010
20. Phùng Ngọc Tấn (2016), Pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ luật học (2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phùng Ngọc Tấn
Nhà XB: Luận án Tiến sỹ luật học
Năm: 2016
21. Bùi Hồng Thiết (2011),“Tăng cường quản lý nhà nước với hoạt động thi đua, khen thưởng ở nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý nhà nước với hoạt động thi đua, khen thưởng ở nước ta hiện nay
Tác giả: Bùi Hồng Thiết
Nhà XB: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2011
22. Lê Quang Thiệu (2008), Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước
Tác giả: Lê Quang Thiệu
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Biểu tổng hợp khen thưởng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội - Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2.1 Biểu tổng hợp khen thưởng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (Trang 55)
Bảng 2.2: Biểu tổng hợp khen thưởng tổng kết doanh nghiệp, doanh nhân trong 3 năm 2017 - 2019 - Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2.2 Biểu tổng hợp khen thưởng tổng kết doanh nghiệp, doanh nhân trong 3 năm 2017 - 2019 (Trang 58)
Bảng 2.3: Biểu tổng hợp số liệu khen thưởng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội - Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2.3 Biểu tổng hợp số liệu khen thưởng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w