1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh sơn la (luận văn thạc sỹ luật học)

102 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Sơn La
Tác giả Cầm Thị Thanh Hồng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại luận văn thạc sỹ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 26,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cách hiếu trên, tác giả khái quát lại khái niệm “ thi hành pháp luật về giải quyết việc làm ” như sau: Thi hành pháp luật giải quyết việc làm là việc các chủ thềpháp luật tích cực, ch

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận vãn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận vãn đảm báo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tỏi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tôi

có thể bảo vệ Luận vãn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cầm Thị Thanh Hồng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chừ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VÈ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYÉT VIỆC LÀM 7

1.1 Khái quát chung về giải quyết việc làm và thi hành pháp luật về giải quyết việc làm 7

1.1.1 Việc làm và giải quyết việc làm 7

1.1.2 Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm 13

1.2 Giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật hiện hành 16

1.2.1 Trách nhiệm của các bên trong giải quyết việc làm 16

1.2.2 Các biện pháp pháp lý nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm 20

1.3 Yếu tố ảnh hưỏTig đến việc thi hành pháp luật về giải quyết việc làm 34

Tiểu kết Chưoìig 1 39

Chương 2: THỤC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI TỈNH SƠN LA 40

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và việc làm tại tỉnh Son La 40

2.1.1 Tình hình kinh tế - xà hội ở Sơn La 40

2.1.2 Tình hình dân số và nguồn lao động tỉnh Sơn La 43

2.2 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm tại tính Son La 45

2.2.1 về xây dựng và tồ chức thực hiện các chương trình việc làm 45

2.2.2 về hoạt động cho vay vốn giải quyết việc làm 49

2.2.3 về hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Sơn La 52

2.2.4 về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài 54

Trang 3

2.2.5 về hoạt động đào tạo nghề gẳn với việc làm 55

2.2.6 về giải quyết việc làm cho lao động đặc thù 58

2.2.7 về thực hiện chính sách việc làm công 61

2.2.8 về một số hoạt động khác 62

2.3 Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm tại tỉnh Sơn La và nguyên nhân của sự hạn chế 64

2.3.1 Những hạn chế, tồn tại 64

2.3.2 Nguyên nhân hạn chế 69

Kết luận Chương 2 71

Chương 3: MỘT SỐ KIÉN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI TỈNH SƠN LA 72

3.1 Yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm 72

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm 74

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết việc làm tại tỉnh Sơn La 77

Kết luận Chương 3 89

KÉT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 96

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHŨ CHŨ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Cụm tù’ đầy đủ

LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xà hội

UBND ủy ban nhân dân

Trang 5

44

Trang 6

MÒ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con nguời đế đảm bảo cuộc sống và phát triền toàn diện Tạo việc làm, bảo đảm quyền bình đẳng về việc làmcho nguời lao động (NLĐ) là một trong nhũng vấn đề có tính chất toàn cầu, là mốiquan tâm của hầu hết các quốc gia, có tác động không chỉ đối với sự phát triến của nền kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội, nó phản ánh thực trạng phát triển kinh

tế - xã hội của quốc gia đó

Việt Nam là nuớc có quy mô dân số lớn, tháp dân số tuơng đối trẻ và bắt đàu bước vào thời kỳ “cơ cấu vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đến tháng 4 năm 2019, dân số nước ta đạt trên 96 triệu người, trong đó nam trên 47 triệu, nữ 48 triệu Mỗi năm Việt Nam sẽ có khoảng hơn một triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh khá quan trọng của Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.Hiện nay, lực lượng lao động tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Hồng(chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên21%) và Đồng bằng sông Cửu Long Đây là những khu vực có diện tích đất rộng,tập trung nhiều thành phố lớn, khu đô thị và nhiều khu công nghiệp, rất thuận lợicho việc sản xuất kinh doanh nên thu hút được đông đảo lao động tập trung ở nhữngkhu vực này Những khu vực chiếm tỷ lệ thấp, là những khu vực có diện tích đất hẹp, nhiều đồi núi, ít khu đô thị và khu công nghiệp nên không thu hút nhiều laođộng đến đây, nhất là lao động có trinh độ cao

Sơn La là một tỉnh miền núi, biên giới, còn gặp nhiều khó khăn trong pháttriển kinh tế Tinh xác định nông nghiệp sẽ tiếp tục là ngành quan trọng trong đảmbảo an ninh lương thực, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và là bệ đờ quan trọng cho cácngành kinh tế khác trong tỉnh phát triến Với định hướng như vậy, “trong thời gian tớitỉnh cố gắng phát triển trở thành là trung tâm công nghiệp chế biến nông sản hiện đại

và sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo hướng nông nghiệp hull cơ, ứng dụng

Trang 7

công nghệ cao, phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn đồng bộ, hiện đại”[28] Thực tế cho thấy, lao động ở tỉnh Sơn La hiện nay chủ yếu tập trung trong nôngnghiệp chiếm 87,98%, lao động chủ yếu tham gia vào nghề nông và các nghề đơngiản Trình độ, kỹ năng nghề của NLĐ trên địa bàn tỉnh vẫn còn hạn chế, một bộphận lao động nông thôn trình độ tay nghề còn thấp, nhận thức, tác phong làm việc chưa hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất ứng dụng công nghệ cao

Đe giải quyết được vấn đề trên, tỉnh Sơn La cần phải có những chính sách, giải pháp để thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách hỗ trợ việc làm, duy trì, mở rộng việc làm và chuyến đối ngành nghề cho NLĐ, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một trong những biện pháp tốt nhất để từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Do đó giải quyết việc làm là một yêu cầu cấp thiết không thể thiếu đượctrong chiến lược phát triển kinh tế - xà hội của tỉnh Chính vì lý do đó tác giả xinchọn đề tài: “ Thì hành pháp luật về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Sơn La

làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Lao động và việc làm có vai trò rất quan trọng, cho nên đề tài về lĩnh vực giải quyết việc làm luôn tạo sức hút mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu, những chuyên giakinh tế pháp lý tiến hành nghiên cứu, tim hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giátrị Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu dưới đây:

* Các đề tài nghiên cứu dưới góc độ kinh tế - xã hội có thể kể tới một sốcác đề tài nghiên cứu khoa học như: “Đảnh giá việc thực hiện chiến lược việc làm giai đoạn 2001-2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ đại hội X ” của Viện Khoa học Lao động xã hội, năm 2004; Nghiên cứu khoa học của Cục Việc làm thựchiện năm 2008 với đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tác động về lao động, việc làm và

xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO và đề xuất những giải pháp ”.

Ngoài ra, phải kể đến một số bài viết trên các tạp chí như: Bài viết cũa tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân với đề tài "Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập ”

đăng trên Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007; Bài viết "Giải quyết việc làm cho lao

2

Trang 8

động Việt Nam: Nghịch lý thiêu, thừa ” của tác giả Lan Ngọc đăng trên Báo Lao động số 291 ngày 16/12/2008; Bài viết cùa tác giả Phạm Trọng Nghĩa: “Pháp luật lao động trong quả trình toàn cầu hóa" đăng trên Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số

11 năm 2008; Bài viết làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ờ nước ta ” của tác giả Nguyễn Tiệp trên Tạp chí Lao động - Xã hội số 394 năm 2010; Bài viết “Cho thuê lại lao động và những yêu cầu đặt ra đổi với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam ” của tác giả Lê Thị Hoài Thu trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 28 năm 2012

* Dưới góc độ pháp lý, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về pháp luật việc làm và giải quyết việc làm như:

- Công trình nghiên cứu với đề tài “Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam

- Thực trạng và phương pháp hoàn thiện" của Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ tri năm 2012

- Luận văn thạc sĩ luật kinh tế: “Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập", của tác giả Đinh Thị Nga Phượng thực hiện tại Đại học Luật Hà Nội, bảo vệ năm 2011

- Luận văn thạc sĩ luật học: “Giảỉ quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nang" của tác giả Phùng Thị HoàiThương thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 [23]

- Luận vãn thạc sĩ luật học: “Pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn thực hiện tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chỉ Minh" của tác giả Lâm ThanhNhựt, Trường Đại học Luật Hà Nội, bảo vệ năm 2016 [15]

- Luận văn thạc sĩ luật học: “Giải quyết việc làm cho người lao động sau khi nhà nước thu hồi đất tại Nghệ An" cùa tác giả Lại Thị Thúy Liên thực hiện tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế năm 2017 [12]

- Luận văn thạc sĩ luật học: “Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm qua thực tiễn Quảng Trị" của tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang thực hiện tại Trường Đạihọc Luật Huế năm 2018 [25]

Ngoài ra, có rất nhiều các công trình nghiên cứu là các luận án tiến sĩ, luận

3

Trang 9

văn thạc sĩ, các bài viêt đăng trên các tạp chí nghiên cứu vê vân đê việc làm và giải quyết việc làm cho các đối tượng đặc biệt như lao động nông thôn, lao động nữ, hayngười khuyết tật (NKT),

Các công trình này đã quan tâm đến vấn đề việc làm cho lao động nói chung

và các nhóm lao động đặc biệt nói riêng, coi đó là một vấn đề có tính toàn cầu; đã đưa ra cách tiếp cận về chính sách việc làm, hệ thống hoá những khái niệm lao động, việc làm, thu nhập; đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam nóichung; đề xuất quan điểm và phương hướng giải quyết vấn đề việc làm và khuyến nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, đề có cái nhìn đa chiều và góp thêm tiếngnói nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay là việclàm hết sức cần thiết, đặc biệt thực tiễn giải quyết việc làm tại tỉnh Sơn La để góp phần làm sáng tỏ thêm kho tàng lý luận về giải quyết việc làm ở nước ta trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới, đồng thời rút ra được những kinh nghiệm thihành pháp luật về giải quyết việc làm trên một địa bàn cụ thề

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn làm sâu sắc thêm một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm và phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết việc làm

- Luận văn làm rõ thực trạng thi hành pháp luật về giải quyết việc làm trến địa bàn tỉnh Sơn La

- Luận vàn đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Sơn La

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi về nội dung: nghiên cứu thực trạng pháp luật về giải quyết việclàm và thực tiễn thi hành

- Phạm vi về không gian: tỉnh Sơn La

- Phạm vi về thời gian: giai đoạn 2016-2020

4

Trang 10

4 Mục đích và • ♦nhiệmvụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn làm rõ thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm để từ đó đề xuấtnhững giải pháp và kiến nghị có thề áp dụng để khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết việc làm, góp phần nâng cao đời sống cho người dân tại tỉnh Sơn La

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đe đạt• được• mục• tiêu trên, X luận văn thực • • hiện• các nhiệm • vụ sau:•

Một là, luận văn làm sáng tỏ một số lý luận về giải quyết việc làm; nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về giải quyết việc làm cũng như các yếu

tố tác động đến việc thi hành pháp luật về giải quyết việc làm

Hai là, luận vàn làm rõ thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết việc làm vànhững khó khăn, bất cập tại tỉnh Sơn La

Ba là, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực giải quyết việc làm và nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại tỉnh Sơn La

5 Phuong pháp nghiên cứu

Đẻ thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận các vấn

đề theo quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và các quan điếm của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong phát triển kinh tế - xà hội về Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm Áp dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp tổng kết lịch sử; phương pháp so sánh, thống kê; phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn; phương pháp nghiên cứu chọn lọc kết quả công trình đã công bố và khảo sát thực tế

6 Ý nghĩa của luận văn

6.1 Ỷ nghĩa khoa học

Kết quả luận văn góp phần hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận,pháp luật điều chỉnh các nội dung liên quan đến giải quyết việc làm; thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết việc làm; từ đó rút ra được những điểm tiến bộ và hạn

5

Trang 11

chế của pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam, đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và hướng khắc phục.

7 Kêt câu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn gôm có 3 chương sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp lý về giải quyết việc làm và thi hành pháp luật về giải quyết việc làm

Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật vê giải quyêt việc làm tại tỉnh Sơn La

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthi hành pháp luật về giải quyết việc làm tại tỉnh Sơn La

6

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VÈ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.1 Khái quát chung về giải quyết việc làm và thi hành pháp luật về giải quyết việc làm

1.1.1 Việc làm và giải quyết việc làm

1.1.1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm

Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không Cấm Nhànước, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và xã hội cùng có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm Việc làm là mối quan tâm của toàn nhân loại Đảm bảo việc làm, chốngthất nghiệp là những vấn đề có tính chất toàn càu, là vấn đề quan trọng của các quốc gia trên thế giới Đối với mỗi quốc gia, thất nghiệp, thiếu việc làm là lãng phí nguồn nhân lực Đối với xã hội và gia đình, không có việc làm là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội, làm mất nhân cách con người Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, phạm vi rộng hẹp khác nhau

Dưới góc độ kinh tế - xã hội, khái niệm việc làm luôn gắn liền với lao động

và thu nhập Theo cố vấn Văn phòng lao động quốc tế Giàng Mu Tê: “Việc làm cỏ thê được định nghĩa như một tình trạng, trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực có tỉnh chất cả nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [1, tr.9J Theo Guy Hanto (Viện Phát triển hải ngoại Luân Đôn): “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của xã hội, nghĩa là tất cả những

gì liên quan đến cách thức kiếm Sống của con người, kê cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo khuôn khổ của quả trình kỉnh tế ” [1, tr.9] Giáo sư N.Y.Asuda (Nhật Bản) cho rằng: “Việc làm là những tác động của NLĐ vào vật chất sinh ra lợi nhuận ” [1, tr.9] Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, cũng có quan niệm về việc làm dưới góc độ kinh tế - xã hội như sau: xét về phương diện kinh tế - xã hội, cỏ thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo

7

Trang 13

ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận” [27, tr 1681 Như vậy,

có thể thấy việc làm chính là hoạt động kiếm sống của con người Dù ở quan điểm nào, việc làm là những dạng hoạt động lao động thông qua việc chi phí sức lao động nhằm tạo ra thu nhập để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của bản thân, gia đình và hoạtđộng này luôn gắn liền với sự phát triến của xã hội Việc làm luôn gắn với con người, bởi để tiến hành được việc làm thì cần được thực hiện bởi ý chí, lý trí và tìnhcảm, mà ý chí, lỷ trí, tinh cảm lại chỉ có ở con người, một đối tượng có nguồn gốc

xã hội, mang dấu ấn xã hội sâu sắc

Dưới góc độ pháp lý, việc làm là vấn đề được các Nhà nước quan tâm vàđược quy định trong các vãn bản quy phạm pháp luật Tại Hội nghị thống kê laođộng quốc tể lần thứ VIII, năm 1954 tại Giơnevơ và trong Khuyến nghị về thống kê lao động quốc tế năm 1975, vấn đề việc làm của NLĐ đã được đề cập Hội nghị đã đưa ra định nghĩa về người có việc làm, đó là “những người thuộc một trong nhữngtrường hợp sau đây: (i) Người đang làm một việc được trả công trong một thời gian ngắn, có thế là một tuần lễ, một ngày; (ii) Người đã có chỗ làm việc ổn định nhưng cóthời gian không đi làm, tạm vắng mặt trong một thời gian nhất định do ốm đau, tainạn lao động, tạm nghỉ việc do tranh chấp lao động hoặc các lý do khác [25, tr.l6J

Như vậy, mọi người ở độ tuối lao động, có khả năng lao động theo quy địnhcủa từng nước đang làm một công việc nhất định, có thu nhập từ công việc đó thì được coi là có việc làm, không kề người đó làm việc trong khu vực nhà nước hay khu vực khác

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ được đề cậpđến trong mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: có trả công (những người làm thuê, học việc ) và không được trả côngnhưng vẫn có thu nhập (giới chủ làm kinh tế gia đinh ) [23, tr.9J Những người đang làm việc trong lực lượng vũ trang cũng được coi là có việc làm Vì vậy, việclàm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật cấm, có thu nhập bằng tiềnhoặc bằng hiện vật Những người có việc làm là những người làm một việc gì đóđược trả công, lợi nhuận, được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia

8

Trang 14

vào các hoạt động mang tính chât tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình,không được nhận tiền công (hiện vật) [14, tr.68].

Có thể thấy, theo quan điểm của ILO, người có việc làm là người làm việctrong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp mộtphần cho xã hội Nói một cách chung nhất, bất kỳ việc gì cần thiết cho xã hội, manglại thu nhập cho con người và không bị pháp luật cấm thì đó là việc làm

ớ Việt Nam, trước khi có Bộ Luật Lao động năm 1994, khái niệm việc làmđược hiểu thông qua khái niệm "người có việc làm" Theo đó, mọi hoạt động của con người không trái pháp luật nhưng pháp luật không cho phép đều không được thừa nhận là có việc làm Theo tài liệu của Tồng cục Thống kê (năm 1989) thì

"Những người được coi là có việc làm là những người làm việc có thu nhập, không

bị pháp luật cẩm" Khái niệm này là hoàn toàn phù họp với Điều 58 Hiến pháp

1980 "công dân có quyền có việc làm" (Điều 58).

Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời đà đưa ra khái niệm việc làm hoàn toànmới, theo đó “mọỉ hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật Cấm đều được thừa nhận là việc làm ” (Điều 13) Xét về mặt lịch sử pháp lý, đây là lần đầutiên quan niệm về việc làm được ghi nhận trong một văn bản pháp luật quan trọngcủa Nhà nước Đến Bộ Luật Lao động năm 2012, Khoản 1 Điều 9 có định nghía

“việc làm” như sau: làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm" Có thế nói rằng, đây là quan niệm tương đối đầy đủ và chính xác vềviệc làm Nếu như trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa trước đây, những NLĐ đượccoi là có việc làm chỉ bao gồm nhừng người được tuyển dụng vào biên chế nhànước hoặc là xã viên các hợp tác xã thì hiện nay, tất cả những người có hoạt độngtạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là người có việclàm Việc xác định phạm vi người có việc làm xuất phát từ quan điếm thông thoáng của Nhà nước về khái niệm việc làm Theo đó, NLĐ có thể tự tạo việc làm, tự tạothu nhập cho bản thân mình hoặc đi làm thuê cho các cơ quan, tố chức, doanhnghiệp, cá nhân bằng những hình thức khác nhau tùy vào nguyện vọng, khả năng

và điều kiện thực tế của mồi người

9

Trang 15

Khoản 1 Điêu 9 Bộ Luật Lao động năm 2019 cũng định nghĩa vê “việc làm”như sau: “K/ẹc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”

mặc dù được diễn đạt một cách ngắn gọn hơn nhưng về cơ bản vẫn giống như quanniệm tại khoản 1, Điều 9 Bộ Luật Lao động năm 2012 Như vậy, trên cơ sở các quy định của Bộ luật lao động, ta có thế hiểu một cách khái quát nhất: “Việc làm là hoạt động lao động, mang lại thu nhập cho NLĐ mà pháp luật không cấm ”

về khái niệm giải quyết việc làm: Theo một số tài liệu thì giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm và sắp xếp NLĐ và các chỗ làm việc phù hợp, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, giải quyết nhu cầu củaNLĐ và NSDLĐ đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước [13, tr.8] Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệmchung của toàn xã hội, là trách nhiệm của các doanh nghiệp và bản thân của mỗi NLĐ Ớ Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm có những thay đổi qua từng giaiđoạn phát triển của đất nước, mặc dù vậy ở giai đoạn nào thì vấn đề giải quyết việc làm cũng được Nhà nước coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàngđầu Do đó, đế các chính sách giải quyết việc làm được thực hiện hiệu quả thi Nhà nước đã nâng nó lên thành các quy định pháp luật trong Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật Việc làm, Như vậy, giải quyết việc làm bao gồm tổng họp các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, biện pháp và trách nhiệm của các chủ thếtrong giải quyết việc làm cho NLĐ

Theo Bộ luật Lao động năm 1994 thì “ giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều cỏ cơ hội việc làm là trách nhiệm cùa Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” (Điều 13) Bộ luật Lao động năm 2012

và năm 2019 đều có quy định: “Nhà nước, NSDLĐ và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội việc làm ” (Điều 9) Đặc biệt Luật Việc làm năm 2013 là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về việc làm được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hộitrong cuộc sống phát sinh trong lĩnh vực lao động và việc làm Nhà nước xác định giải quyết việc làm cho NLĐ trước hết thuộc trách nhiệm của Nhà nước, tiếp đến là

10

Trang 16

trách nhiệm của các đơn vị sử dụng lao động và toàn xã hội Theo đó, giải quyêtviệc làm bao gồm phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo ra việc làm, khuyến khích các

tồ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế nhằm tạo ra nhiều việc làm cho bản thân và xã hội Điều này có nghĩa là, vấn đề tự tạo việc làm cho bản thân phải chịu sự tác động của việc thực hiện hàng loạt cơ chế pháp lý khác như quyền

tự do kinh doanh, tự do cư trú, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Việc làm cho NLĐ trong quan hệ với NSDLĐ chịu sự tác động của các chế độ pháp lý như quyền được tự do tìm việc làm, quyền lao động, quyền đượcbảo vệ trong quá trình lao động (đóng bảo hiếm xã hội, bảo hiềm thất nghiệp, bảohiểm tai nạn nghề nghiệp )

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: “Giải quyết việc làm là một chính sách của Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách, hiện pháp nhằm tạo ra việc làm, hạn chế thất nghiệp nhằm mục tiêu hướng tới phát triển kinh tế và đảm bảo các vấn đề xã hội ”.

1.1.1.2 Vai trò của giải quyết việc làm

* Dưới góc độ kinh tế - xã hội

Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xà hội, nó không thể thiếu đốivới từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong cáchoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối mọi hoạt động của cá nhân và xã hội

Đối với cá nhân, việc làm sẽ tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối đời sống của cá nhân Việc làm ngày nay gắn với trinh độ học vấn, trình độ tay nghề của cá nhân Tỉnh trạng không

có việc làm trong thời gian dài sẽ dẫn tới việc mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kỹ năng nghề nghiệp của NLĐ, làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình

độ vốn có Giải quyết X J được vấn đề việc làm sẽ là điều kiện và cơ sở đề thực hiệncác chính sách xã hội khác như phát triển văn hóa, y tế, giáo dục góp phần bảođảm an toàn, ổn định và phát triển xà hội [23, tr.12]

Mỗi cá nhân, gia đình là một thành tố cấu thành nên xã hội, do đó việc làm

11

Trang 17

cũng sẽ tác động trực tiêp đên xã hội Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì

xã hội được duy trì và phát triển vì không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn xã hội, con người dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ Ngược lại, khi nền kinh tế không bảo đảm đáp ứng về việc làm cho NLĐ có thể sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển nhân cách con người Con người có nhu cầu lao động, ngoài việc đảm bảo nhu cầu cuộc sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, do vậy trongnhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của conngười, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của tệ nạn xã hội Mặt khác, các chỉ

số về việc làm, thất nghiệp còn gián tiếp phản ánh mức độ lành mạnh, sự ổn địnhcủa xã hội và là những yếu tố không thể thiếu để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội

Dưới góc độ kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Nó là nhân

tố tạo ra tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân Nen kinh tế luôn phải bảo đảmnhu cầu việc làm cho các cá nhân trong xã hội Chỉ có như thể, nền kinh tế mới thực

sự phát triển một cách bền vững Đồng thời, nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềmnăng của NLĐ [15, tr.llj Đó là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội, là yếu tố quyết định đế phát huy nhân tố con người, ổn định và pháttriển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của nhân dân Nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp sẽ kìm hãm

sự phát triển cùa nền kinh tế

* Dưới góc độ chỉnh trị - pháp lý

Dưới góc độ pháp lý, quyền có việc làm là quyền cơ bản của con người Mỗi

cá nhân có khả nãng lao động, có nhu cầu lao động đều có quyền được làm việc để tạo ra thu nhập cho bản thân, gia đình nếu hoạt động đó không phải trái pháp luật Điều này đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tể và pháp luật của nhiều nước Điều 2 Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 cùa Liên hợp quốc ghi nhận: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi và chỉnh đảng và được bảo vệ chổng lại thất nghiệp ” , Điều

12

Trang 18

1 Công ước sô 122 cùa TLO vê chính sách việc làm năm 1964 cũng nêu rõ: “Các nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng một chỉnh sách tích cực nhằm xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn ” cho NLĐ Ngay tại Điều

9 Bộ luật Lao động năm 2019 của Việt Nam cũng khẳng định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm Nhà nước, NSDLĐ và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đám cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm ”.

về mặt pháp lý, những quy định trên cùa quốc tế cũng như của Việt Nam là

cơ sở pháp lý đế đảm bảo cho mỗi cá nhân đều có việc làm và thu nhập, có đượccuộc sống ổn định và bền vững, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người Chínhsách giải quyết việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách việc làm với các chính sách như: chính sách dân số, chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách cơ cấu kinh

tế, chính sách công nghệ Bên cạnh đó, chính sách giải quyết việc làm kéo theo cácchính sách phát triển giáo dục để nhằm đào tạo nguồn lực phù hợp cung cấp cho thị trường lao động Trên cơ sở về cơ cấu dân số, chính sách giải quyết việc làm cũngđược xây dựng phù hợp [16, tr.l 1J

Tóm lại, giải quyết việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội Các chính sách về giải quyết việc làm phù hợp sẽ giâm tỷ lệ thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội Ngược lại, thực hiện không tốt công tác giải quyết việc làm, nhất là trong giai đoạn kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ tăng vàkéo theo tình trạng đói nghèo, các tệ nạn phát sinh sẽ gánh nặng đè lên các chínhsách về bảo trợ• xã hội, an• X ninh xã hội.♦

1.1.2 Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm

Theo các giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật được giảng dạy tại nhiều cơ sở đào tạo pháp luật ở Việt Nam, thi hành pháp luật được xác định là mộttrong bốn hình thức thực hiện pháp luật Cụ thế, theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội (ấn hành năm 2013) thì thực hiện pháp luật

là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực

13

Trang 19

hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào đời sông, trở thành nhữnghành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật Thực hiện pháp luật được biểuhiện dưới bốn hình thức là: (1) tuân thủ pháp luật, (2) thi hành pháp luật, (3) sử dụng pháp luật và (4) áp dụng pháp luật Theo đó, thi hành pháp luật được hiểu

là nghĩa vụ pháp lý của chú thế pháp luật được hiện thực hóa thông qua hành động tích cực của chủ thể này

Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu thi hành theo hướng là hành

vi thực tế, hợp pháp, được hình thành trong quá trình các tổ chức và cá nhân khi gặpphải tình huống thực tế mà pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình,chuyền hoá một cách sáng tạo các quy tắc xử sự chung mà nhà nước đã ban hành vào tình huống cụ thế đó thông qua hành vi thực tế họp pháp của mình, nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán, hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cánhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế họp pháp cùa họ Thi hành pháp luật được xem là hình thức để nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cùa mình, quản lý, bảo vệ, thúc đẩy phát triển xã hội, còn đối với các tồ chức khác hoặc các cá nhân thì đó là việc thực hiện các quyền, tự do, hoặc các nghĩa vụ pháp lý của

họ mà pháp luật đã quy định, vì lợi ích của mồi tồ chức, cá nhân, cũng như của cảcộng đồng xã hội

Từ cách hiếu trên, tác giả khái quát lại khái niệm “ thi hành pháp luật về giải quyết việc làm ” như sau: Thi hành pháp luật giải quyết việc làm là việc các chủ thềpháp luật tích cực, chủ động thực hiện các quy định, chính sách của Nhà nước nhằmmục đích tạo ra việc làm, hạn chế thất nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế

và đảm bảo các vấn đề xã hội

Nội dung cơ bản cùa thi hành pháp luật về giải quyết việc làm:

Thứ nhất, về bản chất, việc thi hành pháp luật giải quyết việc làm phải lànhững hành vi được thực hiện dưới dạng hành động có tính chủ động, tích cựcnhằm mục đích tạo ra việc làm, giải quyết các đề về thất nghiệp

Thứ hai, về đối tượng thực hiện, mọi chủ thể đều có trách nhiệm thi hànhpháp luật về giải quyết việc làm Trong quan hệ lao động và việc làm, những chủ

14

Trang 20

thê có trách nhiệm có thê kê đên bao gôm: Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ Theo quy định của pháp luật, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của minh có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về việc làm; tạo việc làm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về hình thức thể hiện: Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm thường được thể hiện dưới dạng quy phạm bắt buộc và thường gắn với trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chínhsách về giải quyết việc làm Cụ thể, để giải quyết vấn đề việc làm cho NLĐ, Nhànước có thể áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm cả những biệnpháp trực tiếp giải quyết việc làm (như chính sách việc làm công, đưa NLĐ Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài ) và những biện pháp mang tính chất hỗ trợ (như xây dựngchương trinh về việc làm, quỹ về việc làm, hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với lao động, hồ trợ chuyển dịch việc làm đối với NLĐ ở khu vực nôngthôn, hỗ trợ phát triển thị trường lao động )

Đe tạo việc làm cần có cơ chế ba bên, bao gồm: (1) về phía NLĐ: NLĐmuốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu

tư phát triển sức lao động, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình,

từ các tổ chức xã hội để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định (2) về phía NSDLĐ: NSDLĐ bao gồm các doanh nghiệp trong nướcthuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tể xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra, cần có vốn để muanhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩmhoặc dịch vụ Ngoài ra NSDLĐ cần có kinh nghiệp, sự quản lý khoa học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt, mở rộng sản xuất, nâng cao sự thỏa mãn của NLĐ, khơi dậy động lực làm việc, khôngchỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc (3) về phía Nhànước: Ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến NLĐ vàNSDLĐ, tạo ra môi trưòng pháp lý kết họp lao động với tư liệu sản xuất

15

Trang 21

1.2 Giải quyêt việc làm theo quy định cùa pháp luật hiện hành

1.2.1 Trách nhiệm của các bên trong giải quyết việc làm

Việc làm có ỷ nghĩa quan trọng đối với NLĐ, gia đình và xã hội Vì vậy, không chỉ bản thân NLĐ mà NSDLĐ, Nhà nước và xã hội cùng có trách nhiệm trong lĩnh vực việc làm Khoản 2, Điều 9 Bộ Luật lao động năm 2019 của Việt Namcũng khẳng định: “ Nhà nước, NSDLĐ và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm ” ,

Như vậy trách nhiệm giải quyết việc làm cho NLĐ được xác định thuộc về các chủ thể: Nhà nước, NSDLĐ, các cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, bản thân NLĐ cũng phải

có trách nhiệm trong việc tìm kiểm và tạo việc làm Pháp luật Việt Nam quy định trách nhiệm cụ thể của các bên trong lĩnh vực giải quyết việc làm như sau:

1.2 ỉ ỉ Trách nhiệm của Nhà nước

Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, đồng thời là NSDLĐ lớn nhất trong xã hội, do vậy Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong công tác giải quyết việc làm Mọi thu nhập chủ yểu của Nhà nước đều từ hoạt động lao động, việc tạo ra việc làm,nâng cao giá trị của việc làm là vô cùng quan trọng Sinh hoạt quan trọng nhất của Nhà nước và của các doanh nghiệp chính là sự vận động tạo việc làm và thực hiện việc làm Vì vậy, chính sách tạo và giải quyết việc làm là chính sách có ý nghĩa sống còn của Nhà nước và xã hội Tuy nhiên, Nhà nước không phải là chủ thế duy nhất tạo việc làm Điều quan trọng nhất là Nhà nước có chính sách hợp lỷ, trongtừng giai đoạn phát triển kinh tế - xà hội, căn cứ vào bối cảnh thực tiễn và dự báo

xu hướng phát triển, nhu cầu phát triển, Nhà nước quy định, hướng dẫn, khuyếnkhích, hỗ trợ các chủ thể trong xã hội tham gia giải quyết việc làm, tạo thêm cơ hộiviệc làm cho NLĐ (đầu tư thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp, mở rộng sản xuất, kinh doanh, mở thêm ngành nghề mới, miễn giảm thuế, cho vay ưuđãi ) Khoản 1, Điều 57 Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm cơ bản của Nhà nước là “khuyến khích, tạo điều kiện đê tô chức, cá nhãn tạo việc làm cho NLĐ ” Trách nhiệm này được cụ thể hóa trong Bộ Luật Lao động nãm 2019 và chủ yếu trong Luật Việc làm năm 2013

16

Trang 22

Theo quy định tại Điêu 5 Luật Việc làm năm 2013 vê chính sách của Nhà nước về việc làm thì: Nhà nước có chính sách phát triển kinh tế - xà hội nhàm tạoviệc làm cho NLĐ, xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bố trí nguồn lực để thực hiện chính sách về việclàm Nhà nước khuyến khích tố chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việclàm có thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phát triền thị trường lao động Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, pháttriển thị trường lao động vả bảo hiểm thất nghiệp Nhà nước đưa ra các chính sách đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹnăng nghề để đảm bảo có được nguồn nhân lực có chất lượng; đồng thời ưu đài đốivới các ngành, nghề sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Hồ trợ NSDLĐ sử dụng nhiều lao động là NKT, lao động nữ, lao động là người dân tộcthiểu số Như vậy có thể thấy, các chính sách của nhà nước trong giải quyết việc làm đều là những chính sách lớn, ở tầm vĩ mô, mang ý nghĩa định hướng cho các vấn đề về giải quyết việc làm trong xã hội.

Cũng trong Luật Việc làm năm 2013 quy định thi Nhà nước căn cứ chiến lược,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, để có chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho NLĐ ở khu vực nông thôn (Khoản 1 Điều 15); Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho NLĐ có nhu cầu và khả năng đi làm việc ở nước ngoài theo hợpđồng (Khoản 1 Điều 20); khuyến khích tổ chức, cá nhân giải quyết việc làm cho thanh niên; tạo điều kiện cho thanh niên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong tạoviệc làm (Khoản 1 Điều 21) Từ những năm 1980 Nhà nước đã có chính sách đưaNLĐ đi làm việc ở nước ngoài; những năm 1990 Nhà nước thông qua các đạo luật về doanh nghiệp đó chính là triển khai nhũng chính sách 1ÓTL nhằm tạo và giải quyếtviệc làm, tạo thêm cơ hội việc làm cho NLĐ Với vai trò, chức năng của mình, Nhà nước không thể tạo và giải quyết việc làm cho NLĐ mà điều quan trọng là tạo “cơ hội” việc làm bình đẳng cho NLĐ Từ đó, NLĐ được quyền tự do lựa chọn việc làm,nghề nghiệp phù họp với khả năng và nguyện vọng của mình [10]

17

Trang 23

Đặc biệt tại Luật Việc làm năm 2013 đã có quy định vê nội dung và thâm quyền quản lý Nhà nước về việc làm, để phân rõ trách nhiệm cùa chủ thể Nhà nướcđối với vấn đề giải quyết việc làm Theo đó nội dung quản lý nhà nước về việc làm bao gồm: (i) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về việc làm Tuyên truyền, phố biến và giáo dục pháp luật về việc làm (ii) Quản lý laođộng, thông tin thị trường lao động, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

và bảo hiểm thất nghiệp, (iii) Quản lý tổ chức và hoạt động của TTDVVL, doanhnghiệp hoạt động dịch vụ việc làm (iv) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm (v) Hợp tác quốc tế về việc làm

Đẻ thực hiện trách nhiệm này, Chính phủ sẽ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả nước; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủthực hiện quản lỷ nhà nước về việc làm; Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của minh có trách nhiệm phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH thựchiện quản lý nhà nước về việc làm và ƯBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về việc làm tại địa phương

Cùng với Nhà nước, các cơ quan, tổ chức cũng phải có trách nhiệm trong lĩnh vực giải quyết và đảm bảo việc làm Cụ thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các

tổ chức thành viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức và cá nhân tạo việclàm cho NLĐ; tham gia với cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về việc làm theo quy định cùa pháp luật Đặc biệt, theo Luật Công đoàn năm 2012 thì Công đoàn với tư cách là thành viên cùa Mặt trận Tố quốc, đồng thời là tố chức đại diện cho NLĐ, còn có thêm trách nhiệm tưvấn pháp luật về lao động - việc làm cho NLĐ, hướng dẫn giúp đỡ tìm việc làm,học nghề đối với đoàn viên công đoàn và thực hiện nhiều hoạt động khác nhằm bảo

vệ quyền lợi cho NLĐ “Các cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về việc làm; tạo việc làm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ theo quy định của pháp luật (Điều 8 Luật Việc làm 2013) [19]

18

Trang 24

1.2.1.2 Trách nhiệm của người sử dụng lao động

Với NSDLĐ, vấn đề đảm bảo việc làm cho NLĐ vừa là quyền, vừa là nghĩa

vụ Bên cạnh quyền tuyển chọn, tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuấtkinh doanh, NSDLĐ cũng có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho NLĐ theo thời hạn

đã thoả thuận trong hợp đồng lao động; tham gia bảo hiềm thất nghiệp khi sử dụngNLĐ theo họp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đũ

3 tháng trở lên (Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm năm 2013); Bảo đảm thực hiện bỉnh đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếpviệc làm (Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Lao động năm 2019); không được từ chốituyển dụng NKT có đú tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩntuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của NKT(Khoản 2 Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010); phải ưu tiên đào tạo lại choNLĐ để tiếp tục sử dụng nếu như có chỗ làm việc mới trong trường hợp doanhnghiệp thay đổi về cơ cấu công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều NLĐ; khi chấm dứt hợp đồng lao động với NLĐ đã làm việc thường xuyên từ 12 tháng trởlên thì phải trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm (Điều 46, 47 Bộ Luật Lao động năm 2019)

Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện đúng điều khoản việc làmnhư đã cam kết đối với NLĐ trong hợp đồng lao động NSDLĐ không được đơnphương chấm dứt họp đồng lao động hoặc sa thải NLĐ trái pháp luật dẫn đến NLĐ

bị mất việc làm

1.2.1.3 Trách nhiệm của người lao động

Đối với NLĐ, bên cạnh quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, pháp luật việc làm tại Khoản 3 Điều 8 cũng nhấn mạnh trách nhiệm của NLĐ là phải “ chủ động tìm kiếm việc làm và tham gia tạo việc làm ” [19] dưới sựkhuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước Khi đã có việc làm, NLĐ có trách nhiệmphải thực hiện đầy đủ các cam kết về công việc phải làm trong hợp đồng lao động

và thoa ước lao động tập thể; chấp hành các yêu càu của NSDLĐ trong quá trình thực hiện việc làm Có như vậy mới giữ được việc làm lâu dài, đảm bảo được việc

19

Trang 25

làm ôn định trong hoàn cảnh thị trường lao động biên động không ngừng Ngoài ra,NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên cũng là chủ thể có nghĩa vụ bắt buộc phải tham gia bảohiểm thất nghiệp để đảm bảo việc làm cho bản thân Khi bị chấm dứt họp đồng laođộng dẫn đến bị thất nghiệp, NLĐ có nghĩa vụ phải tích cực tham gia vào thị trườnglao động, thể hiện bằng việc phải thông báo tìm kiếm việc làm hàng tháng và phảinhận việc làm phù hợp do TTDVVL giới thiệu, nếu vi phạm trách nhiệm này nhiềulần thì sẽ bị cơ quan bảo hiểm xã hội cắt chế độ trợ cấp thất nghiệp (Khoản 3 Điều

53 Luật Việc làm năm 2013)

Như vậy, NLĐ có quyền làm việc cho bất kỳ NSDLĐ nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm NLĐ cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng kỷ tại các tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc tùy theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp, sức khỏe của mình Có thế thấy, pháp luật lao động và việc làm đã quy định trách nhiệm của mọi chủ thể trong xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho NLĐ, từ chủ thể quản lý đến các chủ thể trongquan hệ lao động và cộng đồng xã hội nói chung Điều này giúp giải quyết triệt đế nhu cầu việc làm của NLĐ trong xã hội, đảm bảo cho mọi cá nhân có khả năng laođộng đều có cơ hội có việc làm, từ đó thúc đẩy quan hệ lao động và giải quyết các vấn đề xã hội nói chung

1.2.2 Các hiện pháp pháp lý nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm

Để giải quyết vấn đề việc làm cho NLĐ, Nhà nước có thể áp dụng tổng họp nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm cả những biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm (như chính sách việc làm công, đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ) và những biện pháp mang tính chất hỗ trợ (như xây dựng chương trình về việc làm, quỹ

về việc làm, hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với lao động, hỗ trợ chuyến dịch việc làm đối với NLĐ ở khu vực nông thôn, hỗ trợ phát triến thị trường lao động ) Các biện pháp pháp lý nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm bao gồm:

1.2.2.1 Xây dựng và thực hiện các chương trình việc làm

Chương trình việc làm có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết việc làm

20

Trang 26

cho NLĐ bởi trên cơ sở chương trình việc làm các cơ quan, tô chức sẽ tiên hànhtriền khai thực hiện nhằm giải quyết việc làm cho NLĐ Vì vậy, trách nhiệm xâydựng và thực hiện các chương trình việc làm trước hết thuộc về nhà nước Nhà nước phải có trách nhiệm xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việclàm cho NLĐ đồng thời bố trí nguồn lực để thực hiện chính sách về việc làm Đe làm được điều này, trước hết phải xây dựng các chương trình về việc làm Ó cấpquốc gia, căn cứ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ

có trách nhiệm trình Quốc hội quyết định chương trinh mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề Ớ địa phương, ƯBND cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng chươngtrinh việc làm của địa phương trình HĐND tỉnh quyết định Nội dung chương trinh

về việc làm bao gồm: Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu, đối tượng, phạm vi thực hiện, thời gian, tố chức thực hiện và cơ chế, chính sách đế thực hiện Các cơ quan nhànước, doanh nghiệp, tố chức chính trị - xã hội, tố chức xã hội và NSDLĐ khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chươngtrình việc làm Việc xây dựng và thực hiện các chương trình về việc làm nhằm đảmbảo cho mọi NLĐ có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm đầy

đủ và hiệu quả, thông qua đó giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới ổn định xã hội Trên thực tế, tùy thuộc điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ mà chương trình việc làm sẽ được xây dựng độc lập

Có thể thấy, pháp luật hiện hành đà quy định tương đối đầy đủ các vấn đề về chương trình giải quyết việc làm tạo hành lang pháp lý vững chắc để bảo đảm việclàm cho NLĐ Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp luật về việc làm còn chồng chéo,nhiều tầng nấc cùng với việc phố biến trên các phương tiện thông tin đại chúngtrong quá trình xây dựng và sau khi ban hành chưa thực sự rộng rãi làm cho cảNSDLĐ và NLĐ, các cơ quan, tổ chức không tiếp cận được đầy đủ, kịp thời để tham gia tích cực vào quá trình xây dựng, áp dụng và thực hiện pháp luật, giám sát quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm cho NLĐ

1.2.2.2 Quỹ giải quyết việc làm

Quỹ giải quyết việc làm là biện pháp pháp lý quan trọng của Nhà nước nhằm

21

Trang 27

triên khai thực hiện chương trình mục tiêu quôc gia vê việc làm Theo quy định cùa

Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thì Quỹ giải quyết việc làm được hình thành chủ yếu từ nguồn Ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương, ngoài ra còn có nguồn hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác

Theo quy định của pháp luật, hiện nay ở nước ta có ba loại quỹ giải quyết việc làm, đó là:

Thứ nhất, quỹ quắc gia về việc làm

Quỹ quốc gia về việc làm là khoản tài chính dự trữ của quốc gia được lập đế giải quyết việc làm và hỗ trợ dịch vụ việc làm Quỹ quốc gia việc làm được tạo lập

từ các nguồn sau: ngân sách nhà nước; khoản trợ giúp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hồ trợ việc làm

Điều 20 Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, Quỹ quốc gia về việc làm được sửdụng cho các hoạt động sau đây: (1) Cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhở vàvừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh và NLĐ để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; (2) Cho vay ưu đãi đối với NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theohợp đồng [2]

Bộ LĐ-TB&XH thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với Quỹ; phốihợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ nguồn vốn và giao chỉ tiêu thực hiện cho tổ chức thực hiện chương trinh là: ƯBND cấp tỉnh và cơ quan trungương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cụư Chiến binh Việt Nam, Liên minh Họp tác xã Việt Nam, Hội Người mù Việt Nam UBND cấp tỉnh và cơ quan trung ương cùa tồ chức thực hiện chương trình được giao nhiệm vụquản lý và sử dụng nguồn vốn từ Quỹ Quỹ được giao cho Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) quản lý và cho vay theo quy định tại Nghị định này NHCSXH báo cáo kết quả thực hiện theo hướng dẫn cũa Bộ LĐ-TB&XH [2]

Với ý nghĩa là nguồn tín dụng ưu đãi tạo việc làm nên Quỹ quốc gia về việclàm được sử dụng cho các hoạt động cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhỏ

22

Trang 28

và vừa, hợp tác xã, tổ họp tác, hộ kinh doanh và NLĐ để hỗ trợ tạo việc làm, duy trì

và mở rộng việc làm; cho vay ưu đãi đối với những NLĐ đi làm việc ở nước ngoàitheo họp đồng [2]

Theo quy định hiện hành, hoạt động cho vay vốn từ Quỹ quốc gia có nhữngđiểm chính đồi mới so với giai đoạn trước Theo đó, đối tượng vay vốn bao gồmdoanh nghiệp nhở và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh (cơ sở sản xuất,kinh doanh) và NLĐ Đe đảm bảo phù hợp với thực tiễn, nhằm mục đích tạo nhiều việc làm cho NLĐ, Luật Việc làm đã bỏ đối tượng vay vốn là chủ trang trại, Trungtâm Giáo dục Lao động - Xã hội và thay đối tượng vay vốn hộ gia đình thành NLĐ.Đặc biệt Luật Việc làm năm 2013 còn quy định một số đối tượng được vay vốn từQuỹ quốc gia về việc làm với lãi suất ưu đãi thấp hơn, đó chính là: Các doanh nghiệp nhở và vừa, hợp tác xã, tố hợp tác, hộ kinh doanh sử dụng nhiều lao động làNKT, người dân tộc thiểu số; Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tể - xà hội đặc biệt khó khăn, NKT [19, Điều 12, Khoản 2]

Điều kiện đối với các đối tượng vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm là: Cácdoanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tảc, hộ kinh doanh phải có dự án vay vốn khả thi tạiđịa phương, phù họp với ngành nghề sản xuất kinh doanh, thu hút thêm lao động vàolàm việc ổn định; các dự án vay vốn phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩmquyền nơi thực hiện dự án và có bảo đảm tiền vay [19, Điều 13, Khoản 11 Còn đốivới những chú thể vay vốn mà bản thân họ đang ở nhừng khu vực, hoàn cảnh khó khăn thì pháp luật cũng quy định những điều kiện thuận lợi khi vay vốn: trước hết

họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có nhu cầu vay vốn để tự tạo việc làmhoặc thu hút thêm lao động có xác nhận của cơ quan, tố chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án; và đặc biệt là người vay vốn phải cư trú hợp pháp tại địa phương nơi thực hiện dự án [19, Điều 13, Khoản 2]

Quỹ quốc gia về việc làm góp phần quan trọng hỗ trợ giải quyết việc làm choNLĐ, đặc biệt, thông qua Quỹ quốc gia về việc làm, nhiều đối tượng lao động yếu thế như lao động là NKT, lao động người dân tộc thiểu số, lao động ở khu vực nôngthôn có cơ hội tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi để mở rộng, phát triển sản xuất,

23

Trang 29

kinh doanh, góp phân tạo và tự tạo việc làm cho bản thân, gia đình và cộng đông.Cũng theo quy định tại Luật Việc làm năm 2013, nơi thực hiện dự án và nơi cư trú cùa NLĐ phải cùng thuộc địa bàn một xã Nhưng thực tế, có nhiều lao động ở xã này, lại có dự án đầu tư ờ xã khác thi không vay được vốn theo chương trình này Đây là một nội dung cần thay đổi trong Luật Việc làm 2013.

Thứ hai, quỹ giải quyết việc làm địa phương

Quỹ giải quyết việc làm địa phương được chính thức thành lập từ năm 1999 Ban đầu, Quỹ được hình thành từ nguồn ngân sách địa phương và sự hồ trợ của các

tố chức, cá nhân ở trong và ngoài nước Quỹ do NHCSXH quản lý và cho vay theo

cơ chế ủy thác do Chủ tịch UBND tỉnh quy định Quỹ đóng vai trò quan trọng trongcác chương trình mục tiêu giảm nghèo, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, ôn địnhchính trị và an sinh xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, theo rà soát của Bộ Tài chính, các vãn bản pháp luật chưa có quy định về việc thành lập quỹ Do đó, Bộ Tài chính

đã đề nghị với Chính phủ giải thể quỹ giải quyết việc làm địa phương Sau khi giải thể quỹ, các địa phương vẫn tiếp tục quản lý nguồn vốn ngân sách địa phương theo hình thức ủy thác thông qua hệ thống NHCSXH Đẻ triển khai hiệu quả, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 11/2017/TT-BTC ngày 08/02/2017 quy định về quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH để chovay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác

Thông tư số 11/2017/TT-BTC cho phép chuyển nguồn vốn còn lại tại thờiđiểm giải thề của quỹ giải quyết việc làm địa phương cùng với nguồn vốn ngân sáchđịa phương trích hàng năm để cho người nghèo vay, nguồn tiền lài thu được từ chovay được trích hàng năm để bổ sung vào nguồn vốn ủy thác

Để nâng cao tính chú động của địa phương, Thông tư số 11/2017/TT-BTC quy định rõ đối tượng cho vay đối với các đối tượng chính sách khác theo quy địnhtại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP và một số đối tượng chính sách khác tại địaphương do HĐND cấp tỉnh quyết định Đồng thời, việc quản lý và sử dụng tiền lãi cho vay cũng được quy định chặt chẽ hơn bởi NHCSXH: Đầu tiên là trích lập dựphòng rủi ro tín dụng chung; tiếp đến trích phí quản lỷ nguồn vốn ủy thác choNHCSXH, phí chi cho công tác chỉ đạo, quản lý, tổng hợp, kiềm tra, giám sát, khen

24

Trang 30

thưởng cùa các cơ quan, đơn vị liên quan Phân còn lại (nêu có) được bô sung vào nguồn vốn cho vay Bên cạnh đó, Thông tư cũng bổ sung quy định đối với trườnghợp lãi thu được sau khi trích quỹ dự phòng rủi ro tín dụng chung mà không đủ trích phí quản lý cho NHCSXH theo quy định, ngân sách địa phương cấp bù phầncòn thiếu cho NHCSXH nơi nhận ủy thác.

Thứ ba, quỹ gỉải quyết việc làm cho người khuyết tật

Với mục đích giúp đỡ NKT học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ cơ sở dạy nghề, cơ

sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT; hồ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế nhận NKT vào học nghề và làm việc đạt tỷ lệ cao thì quyđịnh về thành lập và sử dụng quỹ việc làm cho NKT là một vấn đề quan trọng và cần thiết Luật Người khuyết tật năm 2010, tại Điều 10 quy định về Quỹ trợ giúp NKT Theo đó, quỹ này là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp NKT và quỹ này được hình thành tù’ các nguồn như: đóng góp tự nguyện, tài trợ của

tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; hồ trợ từ ngân sách nhà nước; các khoản thu hợp pháp khác [20] Quy định này chưa có những điểm mới khắc phục những hạn chế của các quy định trước đây về quỹ việc làm cho NKT, vẫn chỉ là những quy định chung chung đây là nguồn quỹ xã hội từ thiện thì các khoản thu choquỹ cũng chỉ mang tính chất từ thiện Do đó, trên thực tế áp dụng, các nguồn thucho quỹ này cũng chỉ trông chờ vào từ thiện; các doanh nghiệp sè dựa vào lý do từthiện để đóng quỹ chứ không dựa vào trách nhiệm của NSDLĐ đối với vấn đề hỗ trợ, giải quyết việc làm cho NLĐ khuyết tật

ỉ 2.2.3 Phát triển hệ thống các tô chức dịch vụ việc làm

Đe hỗ trợ cho NLĐ có việc làm cũng như thiết lập quan hệ lao động cần phảixây dựng hệ thống dịch vụ việc làm Việc phát triển hệ thống các tổ chức giới thiệu việc làm được coi là một trong những biện pháp quan trọng nhằm hỗ trợ giải quyếtviệc làm cho NLĐ Thông qua hoạt động của các tồ chức này mà các quan hệ laođộng có điều kiện và khả năng được hình thành

Theo quy định của Luật Việc làm năm 2013, tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm các TTDVVL và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm Trong đó, TTDVVL là đơn

25

Trang 31

vị sự nghiệp công lập có thu tự đảm bảo một phân chi phí hoạt động thường xuyên, do

cơ quan quản lý nhà nước, tố chức chính trị - xã hội quyết định thành lập (Khoản 1 Điều 37) Còn doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạtđộng theo quy định của Luật doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụviệc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh [19, Điều 39, Khoản 1]

Các nội dung liên quan đến việc thành lập, tố chức và hoạt động của TTDVVL và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được quy định cụ thể tại Nghị định số 23/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 quy định chi tiết Khoản 3 Điều 37

và Điều 39 của Luật Việc làm về TTDVVL, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2021

Như vậy, việc Luật Việc làm năm 2013 và các băn bản hướng dẫn thi hành

sử dụng thống nhất thuật ngữ “dịch vụ việc làm ” thay cho “giới thiệu việc làm ” đã phản ánh đúng bản chất và cũng như “tính thị trường” cùa hoạt động dịch vụ việclàm nói chung Mặc dù cách thức thành lập và hoạt động khác nhau song với cả hailoại hình tồ chức dịch vụ việc làm đều có chức năng chung như:

- Hoạt động tư vân bao gôm: Tư vân, định hướng vê nghê nghiệp, khung

trình độ kỹ năng nghê quôc gia cho NLĐ lựa chọn ngành nghê, phương án đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện phù họp với khả năng và nguyện vọng; Tư vấn việc làm cho

NLĐ đê lựa chọn vị trí việc làm phù hợp với khả năng và nguyện vọng; tư vân vê

kỹ năng tham gia dự tuyên; vê tự tạo việc làm, tim việc làm trong nước và ngoàinước; Tư vấn cho NSDLĐ về tuyển, sử dụng và quản lý lao động; về quản trị và phát triển việc làm, phát triển nguồn nhân lực; Tư vấn về chính sách lao động, việc làm cho NLĐ, NSDLĐ

- Giới thiệu việc làm cho NLĐ

- Cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của NSDLĐ: Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn những người đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ; Cung ứng lao động theo yêu cầu của NSDLĐ; Giới thiệu lao động chodoanh nghiệp được cấp phép đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợpđồng, tổ chức cá nhân đầu tư ra nước ngoài hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thuộc

26

Trang 32

bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phù được giao nhiệm vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo quy định của Luật NLĐ ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Thu thập và cung cấp thông tin thị trường lao động; Phân tích và dự báo thị trường lao động

- Đào tạo kỹ năng tham gia phỏng vấn, tìm kiếm việc làm và các kỹ năng làm việc khác; giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật

- Thực hiện các chương trình, dự án về việc làm [4]

Từ những phân tích trên có thể thấy, hoạt động của các tồ chức dịch vụ việc làm còn chú trọng quá nhiều vào việc thực hiện liên kết đào tạo nghề; trong khi hoạtđộng tư vấn, giới thiệu, chắp nối việc làm, thông tin thị trường lao động chưa thực

sự hiệu quả Quy định về thu phí giới thiệu việc làm của TTDVVL công và doanhnghiệp hoạt động dịch vụ việc làm còn ở mức thấp, chưa khả thi, chưa tạo động lựccho các tổ chức dịch vụ việc làm đầu tư vào hoạt động này, chưa cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài hoạt động dịch vụ việclàm tại Sơn La

ỉ 2.2.4 Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài được xem là một biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm cho NLĐ Đây cũng là một chù trương quan trọng được Đảng vàNhà nước hết sức quan tâm Đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồngkhông chỉ tạo việc làm trực tiếp, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho NLĐ mà còn đem lại nguồn ngoại tệ cho đất nước, đồng thời tăng cường mối quan hệ họp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Hiện nay, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện choNLĐ có nhu cầu và khả năng đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồng Theo đó, NLĐ là người dân tộc thiểu số; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ bị thuhồi đất nông nghiệp; thân nhân của người có công với cách mạng có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồng được Nhà nước hỗ trợ: (i) Học nghề, ngoại ngữ; hiểu biết phong tục tập quán, pháp luật của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động;(ii) Đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; (iii) Vay vốn với lãi suất ưu đãi [19, Điều 201

27

Trang 33

Theo quy định tại Điêu 6 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theohợp đồng năm 2006, NLĐ đi làm việc ở nước ngoài có thể theo một trong các hìnhthức sau đây: (i) Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ờ nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; (ii) Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; (iii) Họp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưaNLĐ đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; (iv) Họp đồng cá nhân.

So với các quy định trước đây, thì trong quy định mới tại Khoản 1 Điều 5 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 (có hiệu lực

từ 01/01/2022) có bổ sung thêm hai hình thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài,

đó là: thông qua tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ởnước ngoài và các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hìnhthức thực tập nâng cao tay nghề Hình thức thông qua tổ chức sự nghiệp chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của đối tác nước ngoài để thực hiện Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc các thoả thuận quốc tế do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký với bên nước ngoài nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên Hơn nữa, hoạt động của tố chức sự nghiệp dựa trên nguồn kinh phí từ ngân sáchNhà nước là chủ yếu Vì vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu hàng đầu và duynhất mà các tổ chức này hướng tới khi tham gia vào hoạt động đưa NLĐ đi làm việc

ở nước ngoài Do đó, đây là một phương thức giải quyết việc làm rất ý nghĩa với mức chi phí thấp cho NLĐ

Hình thức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới dạng thực tập nâng cao tay nghề cũng tạo cơ hội cho NLĐ nâng cao trình độ chuyên môn, góp phầnthực hiện chủ trương và mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Mặt khác, đề đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ và doanh nghiệp tham gia dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, pháp luật cũng

28

Trang 34

quy định vê mức trân chi phí môi giới, các hành vi bị nghiêm câm và các hình thức

xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ đưa NLĐ

đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Quy trình, thủ tục hỗ trợ, mức hỗ trợ NLĐ

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và nội dung, mức hỗ trợ phát triển thịtrường lao động ngoài nước được quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thực hiện về hồtrợ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồng quy định, về việc hoàn trảchi phí môi giới khi đưa NLĐ ra nước ngoài làm việc, Luật mới đã bỏ quyđịnh “NLĐ có trách nhiệm hoàn trả cho doanh nghiệp dịch vụ một phần hoặc toàn

bộ tiền môi giới theo quy định của Bộ LĐ-TB&XH” nêu tại khoản 1 Điều 20 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 Như vậy, từnăm 2022, NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sẽ không cần hoàn trả tiền môi giới cho doanh nghiệp dịch vụ Từ đó giúp NLĐ giảm thiểu chiphí tiền dịch vụ khi đi làm việc ở nước ngoài

Mặt khác, để hỗ trợ và tạo điều kiện cho NLĐ đi làm việc ờ nước ngoài, chúng ta đã có chính sách cho NLĐ vay tín dụng NLĐ đi làm việc ở nước ngoàiđược vay tín dụng để trang trải các chi phí trước khi đi tại các ngân hàng thương mại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai cho NLĐ được vay tín dụng với các điều kiện cho vay thuận lợi NLĐ thuộc hộ nghèo và thuộc các đối tượng chính sách xã hội được vay tín dụng với lãi suất ưu đãi tại NHCSXH

Bên cạnh đó, hoạt động phát triển thị trường lao động ngoài nước thông quanghiên cứu, khảo sát thị trường lao động ngoài nước, quảng bá thông tin về nguồn lao động Việt Nam và các hoạt động xúc tiến khác cũng nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước Bên cạnh những lợi ích thì hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoàicũng tiềm ẩn những rủi ro Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 và các văn bản hướng dẫn

đã quy định cụ thể các điều kiện của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cũng như các hành vi bị nghiêm cấm và các hình thức xử phạt đối với các hành vi viphạm hành chính trong hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước

29

Trang 35

ngoài [3] làm căn cứ đê áp dụng Bên cạnh các công việc bị câm khi đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo Luật năm 2006, khoản 13 Điều 7 Luật mới đã quy định thêm danh mục các khu vực bị cấm khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: Khu vực đang có chiến sự hoặc đang có nguy cơ xảy

ra chiến sự; Khu vực đang bị nhiễm xạ; Khu vực bị nhiễm độc; Khu vực đang có dịchbệnh nguy hiểm

Ngoài ra, Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồng năm

2021 cũng có những điểm mới về phí dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Theo đó, trường hợp đơn vị tiếp nhận lao động bên nước ngoài tiếp nhận lao động

đã trả tiền dịch vụ thì doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu từ NLĐ số tiền còn thiếu sovới mức tiền dịch vụ đã thỏa thuận [22, Điều 23, Khoản 2] Khi hoàn trả tiền dịch vụ

do NLĐ phải về nước trước thời hạn mà không phải lỗi của họ, doanh nghiệp dịch vụ còn phải trả lãi suất tính theo tỷ lệ tương ứng với thời gian còn lại của Họp đồng đưaNLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài [22, Điều 23, Khoản 3]

Tuy nhiên, cũng cần siết chặt hơn nữa các quy định về xừ phạt vi phạm đốivới những hành vi vi phạm quy định về tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài

và quản lý NLĐ ở ngoài nước Bởi thực tế cho thấy, một số lượng lớn các doanhnghiệp tuy chưa đủ điều kiện để thực hiện dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài những vẫn thực hiện dịch vụ này Đơn cử tại tỉnh Hà Tĩnh, trong tháng 9/2019, Sở LĐ-TB&XH tỉnh phối hợp với Công an tỉnh kiểm tra, rà soát hoạt động

tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng xuất khẩu lao động trên địa bàn và phát hiệnnhiều doanh nghiệp vi phạm Kết quả kiếm tra cho thấy, các doanh nghiệp này không có Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài nhưngvẫn tố chức triển khai các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, tiếp nhận hồ sơđăng ký xuất khẩu lao động, tổ chức cung ứng lao động cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Cụ thể, có 6 công ty vi phạm gồm: Công ty TNHH nhân lực Toàn Cầu HT; Công ty TNHH Hợp tác Quốc tế Victory; Công ty phát triển nhân lực quốc

tế ASK; Công ty TNHH Hùng Hường; Công ty TNHH Nhân lực Việt Anh Kenzy

và Công ty cổ phần Họp tác Quốc tế Hoàng Gia [41]

30

Trang 36

1.2.2.5 Đào tạo nghê găn với việc làm

Dạy nghề là một nội dung quan trọng cúa quá trình bồi dưỡng và nâng caochất lượng nguồn nhân lực xã hội nói chung, đồng thời cũng bảo đảm yêu cầu giải quyết việc làm cho lao động nói riêng Có tay nghề là điều kiện tiên quyết giúp NLĐ dễ dàng tìm được việc làm cũng như có được việc làm ốn định, bền vững và

có thu nhập tốt hơn

Bộ luật Lao động năm 2019 cũng đã quy định về giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề tại Chương IV của bộ luật Bên cạnh đó, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 cũng có những quy định quan trọng trong lĩnh vực giáo dụcnghề nghiệp Theo đó, giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dụcquốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đắng và cácchương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho NLĐ, đáp ứng nhu cầu nhân lực trựctiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hóagiáo dục nghề nghiệp nhằm mục đích đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục nghềnghiệp và các hình thức đào tạo nghề nghiệp

Đe thúc đẩy giải quyết và đảm bảo việc làm cho NLĐ, Nhà nước cũng thựchiện biện pháp hỗ trợ đối với các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi, người có công với cách mạng, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiếu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, NKT, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, ngư dân đánh bắt

xa bờ, lao động nông thôn là người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học tậpt 1 để tỉm việc làm,7 tự tạo việc làm.

1.2.2.6 Giải quyết việc làm cho người lao động đặc thù

Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật, chính sách từng bước được hoàn thiệntheo hướng bảo đảm quyền cho các đối tượng lao động đặc thù, nâng cao vai trò, vị thế của các đối tượng lao động này trong xã hội, tạo điều kiện để lao động nữ, laođộng khuyết tật, lao động chưa thành niên tham gia và thụ hưởng bình đẳng vào lĩnh vực lao động Nhiều chính sách được ban hành mang tính đột phá như quy định

31

Trang 37

của Bộ luật Lao động năm 2019 Nội dung bảo đảm quyên cho lao động đặc thù đãđược lồng ghép trong rất nhiều chiến lược, chương trình, chính sách đà được ban hành Phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế ngày càng nhiều hơn và có nhiều cơ hội để nhận việc làm tốt, mang lại thu nhập cao hơn, góp phần quan trọng trong bảo đảm quyền cho lao động đặc thù ở Việt Nam.

- £>ỚZ với lao động nữ" Chương X (từ Điều 135 đến Điều 142) Bộ luật Lao động năm 2019 quy định cụ thể các nội dung liên quan bao gồm cả các quy địnhbảo đảm bình đẳng giới

- Đối với lao động là NKT\ Bộ luật Lao động năm 2019 quy định Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của NLĐ là NKT; có chính sách khuyếnkhích, ưu đài phù hợp đối với NSDLĐ trong tạo việc làm và nhận NLĐ là NKT vàolàm việc theo quy định của pháp luật về NKT (Điều 158) Ngoài ra, còn có các quy định về Sử dụng lao động là NKT (Điều 159) và Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là NKT (Điều 160)

- Đối với lao động chưa thành niên, Mục 1 Chương XI Bộ luật Lao độngnăm 2019 có quy định cụ thể các quy định về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên (Điều 144), các quy định về sử dụng người chưa đủ 15 tuồi làm việc (Điều 145); thời giờ làm việc của NLĐ chưa thành niên (Điều 146); các Công việc

và nơi làm việc cấm sử dụng NLĐ từ đù 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (Điều 147)

ỉ 2.2.7 Thực hiện chính sách việc làm công

Chính sách việc làm công là chính sách trong lĩnh vực việc làm được quyđịnh trong Luật Việc làm 2013 Việc làm công là việc làm tạm thời có trả côngđược tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trinh phát triền kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn như: xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp và diêm nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng; bảo vệ môi trường; ứngphó với biến đồi khí hậu và các dự án, hoạt động khác phục vụ cộng đồng tại địaphương (Khoản 1 Điều 18 Luật Việc làm năm 2013)

Theo đó, các dự án, hoạt động nói trên phải lựa chọn đối tượng lao độngtham gia là những NLĐ đang cư trú hợp pháp tại địa phương tự nguyện tham gia

32

Trang 38

chính sách việc làm công NLĐ là người dân tộc thiêu sô; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; người chưa có việc làm hoặc thiếuviệc làm sẽ được ưu tiên tham gia chính sách việc làm công; NLĐ thuộc các hộ gia đình hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu được ưu tiên khi tham gia chính sách việc làm công Khi sử dụng NLĐ tham gia chính sách việc làm công, NSDLĐ phải giao kết họp đồng lao động với NLĐ và bảo đảm các chế độ đối với NLĐ theoquy định của pháp luật lao động.

Với những quy định như trên của Luật Việc làm năm 2013, Chương trìnhviệc làm công chủ yếu được thực hiện ở những vùng nông thôn nghèo đế thu hútngười dân địa phương tham gia, tạo việc làm và thu nhập đảm bảo cuộc sống Đây

là một nội dung mới, chương trình mới phù họp với những khuyển nghị và xuhướng cùa quốc tế Thực tế, trong những năm qua khi triển khai thực hiện chươngtrình giảm nghèo bền vững hay chương trình xây dựng nông thôn mới, một số địa phương cũng đà thực hiện theo hướng chủ yếu huy động lao động tại chồ nhằm tạoviệc làm tạm thời cho NLĐ nông nhàn ở nông thôn thông qua việc xây dựng cáccông trinh công cộng, hạ tầng cơ sở ở nông thôn Tuy nhiên, các chương trinh này mới được triển khai một cách nhỏ lẻ, chưa thể hiện thành nguyên tắc chung, chưađược thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật như một chương trình về việc làm Vì vậy việc luật hóa các chương trình này sẽ tạo ra một cơ sở pháp lýquan trọng cho việc triển khai chương trình việc làm Ở một nước có đến trên 70% dân số sống ở nông thôn và làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp như ViệtNam, thỉ việc thực hiện chính sách việc làm công có ý nghĩa tạo việc làm trực tiếp cho những NLĐ khó tiếp cận được với thị trường lao động, vừa khắc phục tình trạng thiếu việc làm, vừa góp phần xây dựng cơ sở xã hội, những công trình phùhọp, cần thiết với chính người dân tại địa phương

Pháp luật về giải quyết việc làm giai đoạn hiện nay mới chỉ chú trọng đến tạoviệc làm (càng nhiều việc làm càng tốt), chưa chú trọng đến chất lượng việc làmcho nên tính ổn định, bền vững trong việc làm và hiệu quả tạo việc làm cho NLĐ còn thấp, hiệu quả bảo vệ NLĐ trong lĩnh vực việc làm chưa cao Pháp luật hiện hành

33

Trang 39

mới chỉ quy định vê chính sách tạo việc làm chung và cho một sô đôi tượng đặc thù

mà chưa quy định về chính sách việc làm theo ngành, vùng kinh tế nên sự chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động chủ yếu làm trong lĩnh vực nông nghiệphoặc khu vực phi chính thức có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp

1.2.2.8 Các biện pháp khác

Ngoài các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm nói trên, trên cơ sở quyđịnh tại Bộ luật Lao động năm 2019 và Luật Việc làm năm 2013, Nhà nước còn áp dụng nhiều biện pháp, cách thức trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực giải quyết việc làm như: hỗ trợ chuyển dịch việc làm đối với NLĐ ở khu vực nông thôn; hỗ trợtạo việc làm cho thanh niên (đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân

sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tinh nguyện, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp); hỗ trợ phát triển thị trường lao động; hoàn thiện và triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cánhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việclàm cho NLĐ; ưu đãi đối với ngành, nghề sử dụng lao động có trình độ chuyên môn

kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều kiện phát triền kinh tế -

xã hội; ưu tiên đối với một số đối tượng lao động đặc thù

Tóm lại, để giải quyết việc làm, pháp luật đã xác định nhiều biện pháp pháp

lý khác nhau, nhiều giải pháp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm tạo nên sứcmạnh tống hợp trong lĩnh vực giải quyết việc làm, chống thất nghiệp Nội dungpháp luật về việc làm hiện hành tuy được xây dựng, hình thành xuất phát từ nhữngyêu cầu nội tại của bản thân nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng cũng có sự đúc rút, học tập những kinh nghiệm, tiêu chuẩn, thông lệ từ luật pháp các nước và luật pháp quốc tế Trên cơ sở đó, pháp luật đẫ có ý nghía quan trọng trong việc giải quyết và việc làm trong nước, đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý thực hiện quá trình hội nhập sâu rộng trong lĩnh vực việc làm trên phạm vi toàn cầu

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật về giải quyết việc làm

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về giải quyết việc làm

Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của nước ta cùng với việchoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính

34

Trang 40

sách, pháp luật vê lao động cũng được đôi mới, sửa đôi, bô sung cho phù hợp Việc tạo ra hành lang pháp lý đà tạo điều kiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển thị trường lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, nhất là chuyển đổilao động trong khu vực nông, lâm nghiệp - nơi có năng suất lao động thấp sang khuvực công nghiệp, dịch vụ có nãng suất lao động cao hơn Chất lượng nguồn nhânlực từng bước được nâng lên đáp ứng nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp; tiêuchuẩn lao động cơ bản được bảo đảm, quan hệ lao động hình thành và hướng đến sự hài hòa ổn định; vấn đề an sinh xã hội, nhất là việc bảo đảm ổn định cuộc sống chocác đối tượng yếu thế, bị tác động trong quá trình công nghiệp hóa của nền kinh tếthị trường được đặt ra và có sự quan tâm nhất định [15, tr 15] Hệ thống pháp luật lao động đã góp phần quan trọng trong việc sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả đểphát triển và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tận dụng tốt hơn cơ hội của thời kỳ dân số vàng cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Năm 1994, Quốc hội đà ban hành Bộ luật Lao động và đã qua 4 lần sửa đổi,

bổ sung Năm 2012, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động năm 2012 và đến năm

2019, Bộ luật Lao động năm 2019 tiếp tục được ban hành, sửa đổi trên cơ sở kế thừa những nhân tố phù hợp của Bộ luật Lao động năm 2012 và sửa đồi những điềmbất hợp lý, bổ sung nhiều điểm mới cho phù hợp với quá trình phát triển đất nước

và hội nhập quốc tế Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Antoàn, vệ sinh lao động năm 2015, Theo đó, Chính phủ và các bộ, ngành cũng banhành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật nêu trên Neu cácquy định về giải quyết việc làm được quy định một cách chặt chẽ, có sự phối hợp đồng bộ trên các lĩnh vực khác nhau sẽ tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cánhân tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ, từ đó nâng cao hiệu quả thi hành trênthực tế và ngược lại

Thứ hai, sự quản lý nhà nước trong lĩnh vực việc làm

Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể có quyền lực nhà nước bằng pháp luật đến các đối tượng được quản lý nhàm thực hiện các chức năng và chức

35

Ngày đăng: 12/07/2022, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
35. Minh Hùng (2021), “ Sơn La nâng cao chât lượng nguôn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội ” , http://consosukien.vn/son-la-nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-phuc-vu-cho-phat-trien-kinh-te-xa-hoi.htm,truy cập ngày 10/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơn La nâng cao chât lượng nguôn nhân lực phục vụcho phát triển kinh tế xã hội
Tác giả: Minh Hùng
Năm: 2021
36. Diệp Hương (2021), “Phát huy vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế địa phương ” , https://sonoivu. sonla.gov.vn/4/469/63802/620036/nong-san-an-toan-va-xuat-khau/phat-huy-vai-tro-phu-nu-trong-phat-trien-kinh-te-dia-phuong,truycậpngày 24/9/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế địa phương
Tác giả: Diệp Hương
Năm: 2021
37. Hồng Luận (2020), “Hỗ trợ các hợp tác xã phát triển”, tại website: http://baosonla.org.vn/vi/bai-viet/ho-tro-cac-hop-tac-xa-phat-trien-28647,truycậpngày 12/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ các hợp tác xã phát triển
Tác giả: Hồng Luận
Năm: 2020
38. N. Quang, p. Linh (2020), “Hàng nghìn lao động tại Sơn La: Được hưởng lợi từ Quỹ quốc gia về giải quyết việc làm”, https://baodantoc.vn/hang-nghin-lao-dong-tai-son-la-duoc-huong-loi-tu-quy-quoc-gia-ve-giai-quyet-viec-lam- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng nghìn lao động tại Sơn La: Được hưởng lợi từ Quỹ quốc gia về giải quyết việc làm
Tác giả: N. Quang, p. Linh
Năm: 2020
40. Nguyễn Thư (2020), “ Quản lý, khai thác tốt các công trình thủy lợi” , tại website:http://www.baosonla.org.vn/vi/bai-viet/quan-ly-khai-thac-tot-cac-cong-trinh- thuy-loi-35781 , truy cập ngày 20/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý, khai thác tốt các công trình thủy lợi
Tác giả: Nguyễn Thư
Năm: 2020
41. Trang tin điện tử của Tạp chí Lao động và công đoàn, “ Phát hiện nhiều doanh nghiệp vi phạm trong hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động”, tại website: https://cuocsongantoan.vn/phat-hien-nhieu-doanh-nghiep-vi-pham-trong-hoat-dong-dich-vu-xuat-khau-lao-dong-19348.html,truycậpngày20/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện nhiềudoanh nghiệp vi phạm trong hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động
39. Quang Quyết (2021), Hiệu quả vay vốn giải quyết việc làm tỉnh Sơn La, tại website: https://vbsp.org.vn/hieu-qua-nguon-von-vay-giai-quyet-viec-lam-o-son-la.html, truy cập ngày 20/01/2022 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Lực  lưọng lao  động từ  15 tuổi  trõ ’  lên  õ’ Sơn La  phân theo giới  tính  và - Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh sơn la (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 2.1. Lực lưọng lao động từ 15 tuổi trõ ’ lên õ’ Sơn La phân theo giới tính và (Trang 49)
Bảng 3. Lao  động  từ  15  tuôi  trở lên đang làm  việc hàng  năm phân theo - Thi hành pháp luật về giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh sơn la (luận văn thạc sỹ luật học)
Bảng 3. Lao động từ 15 tuôi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w