1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bc_Dinh Mai Van.doc

79 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Hoạt Động Tư Vấn Xét Nghiệm HIV Tại Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh Năm 2019
Tác giả Phạm Thị Hạnh, Trần Văn Vinh, Bùi Thị Ngoan
Trường học Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Bắc Ninh
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dinh Mai Van SỞ Y TẾ BẮC NINH TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT BẮC NINH THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN XÉT NGHIỆM HIV TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH BẮC NINH NĂ[.]

Trang 1

TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT BẮC NINH

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN XÉT NGHIỆM HIV TẠI TRUNG TÂM KIỂM

SOÁT BỆNH TẬT TỈNH BẮC NINH NĂM 2019

Cộng sự:

PHẠM THỊ HẠNH, TRẦN VĂN VINH, BÙI THỊ NGOAN

Bắc Ninh – 2019

Trang 2

3.1.1 Hạ tầng cơ sở và cách sắp xếp bố trí các phòng tại cơ sở HTC 22

3.1.6 Chất lượng, điều kiện bảo quản sinh phẩm tại cơ sở HTC 26

Trang 3

3.2.1 Đặc điểm chung của khách hàng đến HTC 27

3.2.3 Nhận xét của KH về chất lượng cung cấp dịch vụ HTC 30

3.3 Những thuận lợi, khó khăn, các yếu tố liên quan đến hoạt động HTC 39

4.2.1 Đặc điểm KH đến phòng HTC tại CDC tỉnh Bắc Ninh 44

Trang 4

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắcphải

BLTQĐTD: Bệnh lây truyền qua đường tìnhdục

HTC Tư vấn xét nghiệm HIV (HIV Testing and Counseling)HIV Virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

KHHGĐ Kế hoạch hóa giađình

MSM Nam quan hệ tình dục đồnggiới

NCMT: Nghiện chích ma tuý

OPC Phòng khám ngoại trú (Out Patient Clinics)

CDC Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật

UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên Hiệp Quốc về

HIV/AIDS WHO,TCYTTG Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch HIV/AIDS vẫn đang gia tăng trên thế giới, HIV/AIDS không chỉđơn thuần ảnh hưởng đối với sức khỏe con người mà nó còn là vấn đề về kinh tế,chính trị và sự phát triển của một quốc gia Trung bình mỗi ngày trên thế giới cókhoảng 7.000 người nhiễm HIV , ước tính trong năm 2015 có 36,7 triệu ngườisống chung với HIV/AIDS có thêm 2,1 triệu người nhiễm HIV mới, 1,1 triệungười chết do AIDS[24]

Tại Việt Nam, dịch HIV/AIDS đang có xu hướng chững lại và không tăngnhanh so với những năm trước, dịch có giảm nhưng chưa sâu, chưa bền vững và vềcăn bản vẫn chưa khống chế được Theo báo cáo ước tính tình hình dịch củaUNAIDS năm 2018 số các trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống trên toànquốc là 250.000 trường hợp, số phụ nữ sống với HIV 79.000 só người nhiễm mới

là 11.000, số người tham gia điều trị ARV 124.800, số người tử vong là 8600 [25 ],trước tình hình số lượng người nhiễm gia tăng thì đòi hỏi nhu cầu tư vấn, chămsóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS càng cao tại cộng đồng, giải quyết vấn đềnày cũng là nội dung trọng tâm trong chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDSđến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030

Nhằm góp phần ngăn chặn dịch HIV/AIDS, một trong những nội dungtrọng tâm của chiến lược là chăm sóc toàn diện người nhiễm bao gồm điều trị đicùng với các hoạt động can thiệp Bên cạnh đó, Việt Nam đã thực hiện ký kết mụctiêu toàn cầu vào tháng 6/2015 với nội dung 90-90-90 (90% người nhiễm HIV biếtđược tình trạng nhiễm HIV của mình; 90% số người đã chẩn đoán được điều trịARV liên tục và 90% số người được điều trị ARV kiểm soát được tải lượng vi-rút

ở mức thấp) vào năm 2020 và loại trừ HIV vào năm 2030 Qua đó, cho thấy vấn

đề ưu tiên vẫn là củng cố hoạt động dự phòng và chăm sóc hỗ trợ người nhiễmHIV

Năm 2002, HTC được triển khai tại Việt Nam với mô hình tư vấn giảm

Trang 6

thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV và tập trung vào nhóm đối tượng nguy cơ cao nhằmmục đích giảm số lượng nhiễm HIV mới thông qua việc tư vấn thay đổi hành vilây nhiễm, xét nghiệm HIV và liên kết với các dịch vụ chăm sóc điều trị khác Năm

2007, Bộ Y tế ban hành quyết định 647/2007/QĐ-BYT về việc hướng dẫn HTC vàthống nhất trên toàn quốc Theo số liệu báo cáo của Cục phòng, chống HIV/AIDS,năm 2014 toàn quốc có 1.345 phòng HTC đang hoạt động và bao phủ trên 63 tỉnhthành, số người tiếp cận dịch vụ HTC là 260.000 người trong đó gần 5.000người có kết quả HIV dương tính [2]

Bắc Ninh bắt đầu triển khai chương trình HTC từ năm 2004 do Dự ánLIFE-GAP (Dự án VAAC-US.CDC) hỗ trợ và duy trì hoạt động đến 2015, từ

2016 hoạt động này đã được chuyển giao cho tỉnh quản lý và duy trì hoạt động.HTC được xem là chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, một phần củachương trình dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS toàn diện với mô hình lồng ghépvới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác

Tại Bắc Ninh, sau thời gian triển khai thực hiện HTC đến nay chưa có mộtnghiên cứu nào toàn diện về hoạt động này Có nhiều câu hỏi được đặt ra như sau:kết quả đạt được của phòng HTC ra sao? Phòng HTC có mang lại lợi ích chongười nhiễm HIV, cho nhóm nguy cơ cao và cộng đồng người dân hay không?Nhận xét của KH như thế nào sau khi sử dụng dịch vụ? Những thuận lợi và khókhăn nào khi triển khai dịch vụ HTC? Từ khi chuyển giao hoạt động này cho tỉnhquản lý và duy trì có thuận lợi và khó khăn gì không? Bên cạnh đó, một số nghiêncứu đã thực hiện về HTC tại Việt Nam đưa khuyến nghị cần cải thiện hơn nữa vềchất lượng dịch vụ, xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu: “ Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hoạt động tư vấn xét nghiệm

HIV tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh năm 2019” với các mục

tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng hoạt động phòng tư vấn xét nghiệm HIV tại Trung tâm

Trang 7

Kiểm soát Bệnh tật năm 2019

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến hoạt động của Phòng tư vấn xét nghiệm HIV tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Bắc Ninh năm 2019.

Nhằm giúp Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh định hướng choviệc lập kế hoạch, duy trì và nhân rộng mô hình dịch vụ HTC trong tương lai, từ đó

có thể đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp cho chương trình phòng chốngHIV/AIDS ngày càng hiệu quả hơn

Trang 8

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình dịch HIV/AIDS

1.1.1.Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981 cho đến nay

đã trải qua 30 năm đối phó với đại dịch quy mô lớn và phức tạp Năm 2013,UNAIDS và WHO công bố khoảng 35 triệu người nhiễm HIV trong đó có có2,1triệu người nhiễm mới nâng tổng số khoảng 1,5 triệu người chết do AIDS Tỷ lệnhiễm HIV của người dân trong độ tuổi 15-49 ước tính có khoảng 0.8%, trong đóthanh thiếu niên tuổi từ 15-24 chiếm khoảng 33% số ca nhiễm HIV mới Hiện nay,gánh nặng của dịch bệnh vẫn tiếp tục có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng miền

và giữa các quốc gia[24]

Khu vực Châu Phi cận Sahara là khu vực ảnh hưởng nặng nề nhất gần 70%

tổng số người nhiễm trên thế giới Tại một số khu vực thuộc tiểu vùng Sahara,Châu Phi tỷ lệ nhiễm HIV ở nữ giới cao gấp 2 lần so với nam giới Nam phi làquốc gia có số người nhiễm cao nhất thế giới (6,2triệu) [24]

Khu vực Mỹ Latinh và Caribean: đứng thứ 2 sau khu vực Châu Phi, phát

hiện nhiễm mới 106.000 người năm 2013 trong tổng số 1,9 triệu người nhiễmtoàn khu vực Brazil là quốc gia có số người nhiễm cao nhất với 730.000 người

Tại khu vực Đông Âu và Trung Á: ước tính có khoảng 1.1 triệu người đang

sống chung với HIV, trong đó có 110.000 người nhiễm mới (2013), chiếm tỷ lệ85% số người nhiễm HIV trong khu vực này là Liên Bang Nga và Ukraine

Dịch HIV/AIDS lây lan sang châu Á – Thái Bình Dương khá muộn, trường

hợp nhiễm HIV đầu tiên tại khu này được phát hiện tại Thái Lan vào năm 1985,đến cuối những năm 1990, Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bố bệnh dịchđáng lo ngại trên toàn quốc gia Ước tính có 4,8 triệu ngườinhiễm HIV trong

Trang 9

khu vự này, 2 quốc gia có số người nhiễm HIV cao nhất cũng là 2 quốc gia có sốdân đông nhất là Trung Quốc và Ấn Độ[24]

1.1.2.Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam

Sau 26 năm dịch bùng phát tại Việt Nam (1990-2014), đến ngày 30/10/2016

cả nước có 63/63 (100%) tỉnh thành, 98,9% quận huyện và 80,3% xã phường pháthiện người nhiễm HIV là 227.225 người , số bệnh nhân AIDS là 85.753 người và

đã có 89.210 trường hợp tử vong do AIDS Trong 6 tháng đầu năm 2016 cả nướcxét nghiệm phát hiện mới 3.684 trường hợp nhiễm HIV, trong đó 2.366 bệnh nhânAIDS và 862 người tử vong do AIDS[4] Tỷ suất hiện nhiễm HIV ở Việt Nam đếnnăm 2015 là 250 người/100.000 dân, tỷ suất này có sự chênh lệch giữa các địaphương; cao nhất là Điện Biên (821/100.000), thứ hai là Sơn La (668/100.000), TP

Hồ Chí Minh (621/100.000) Phân bố người nhiễm HIV theo giới: nam giớichiếm 65,1%, nữ giới chiếm 34,9%, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước Tỷ

lệ người nhiễm HIV được phát hiện lây truyền qua đường tình dục ngày càng giatăng trong khi lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm Trong năm 2015 sốngười lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất 50,8% tiếp đến số lâytruyền qua đường máu chiếm 36,1%, tỷ lệ nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con2,8% và vẫn có 10,4% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền [4]

Hiện tại, dịch HIV ở Việt Nam có xu hướng chững lại và không tăng nhanhnhư những năm trước nhưng về cơ bản dịch vẫn chưa khống chế được Hình tháilây nhiễm HIV ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dịch tập trung: tỷ lệ caotrong các nhóm nguy cơ cao: nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm(PNBD) và nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) Có sự khác biệt về hình tháilây nhiễm HIV giữa các khu vực địa lý dân cư: tại khu vực Tây Bắc dịch tậptrung chủ yếu trong nhóm NCMT, tại khu vực miền Tây Nam Bộ lây nhiễm HIVchủ yếu qua đường tình dục Trong thời gian gần đây, bạn tình của người NCMTđược coi là quần thể có nguy cơ cao mới, được bổ sung vào các can thiệp dự

Trang 10

phòng Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo,chiếm đến 34,9% các ca nhiễm mới trong năm 2015, phản ánh sự lây truyền HIV

từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình [3]

Nhìn chung, dịch HIV tại Việt Nam vẫn trong giai đoạn dịch tập trung, nghĩa

là tỷ lệ nhiễm HIV vẫn còn trong nhóm nguy cơ cao Về cơ bản, đã kiềm chếđược tốc độ gia tăng của đại dịch, tỷ lệ hiện nhiễm dưới 0,3% đạt được mục tiêuchiến lược quốc gia.[4]

1.1.3.Tình hình dịch HIV/AIDS tại Bắc Ninh

Sau 22 năm phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên vào1996, đến tháng10/2018 toàn tỉnh Bắc Ninh có 2.466, trong đó ũy tích người nhiễm HIV còn sống1.433, 1033 bệnh nhân tử vong và số bệnh nhân còn sống đang quản lý là 790 Sốphát hiện nhiễm HIV mới là 40 trường hợp, chuyển giai đoạn AIDS 1 và tử vong

do AIDS 1 Cả tỉnh có 8/8 huyện, Thị xã và thành phố với 122/126 xã, phường pháthiện bệnh nhân nhiễm HIV chiếm tỷ lệ 97% Địa phương có số nhiễm HIV cao tậptrung ở TP Bắc Ninh (637), Quế Võ (238), Từ Sơn (136) và Tiên Du (125) Quakết quả xét nghiệm giám sát phát hiện, dịch HIV/AIDS tăng cao trong giai đoạn(2006-2007) trung bình 150 – 200 ca nhiễm mỗi năm, giai đoạn (2009-2014) tìnhhình dịch ổn định trung bình 80-120 ca mỗi năm, từ năm 2015 dịch lại có xuhướng giảm.Về hành vi lây nhiễm, chủ yếu lây truyền qua đường máu và do tiêmchích ma túy, sau đó là lây do QHTD Về giới tính: tỷ lệ nam là 78% và nữ là22%[15]

1.2. Thực trạng về hoạt động HTC trên thếgiới

Cùng với sự bùng nổ của dịch HIV trên thế giới thì nhu cầu về HTC ngàycàng tăng, các quốc gia nhận thấy sự cần thiết của HTC cho các quần thể cần biếtkết quả xét nghiệm cũng là một công cụ dự phòng và can thiệp quan trọng.Những người có hành vi nguy cơ cao đều muốn biết tình trạng nhiễm HIV củabản thân và người có kết quả xét nghiệm HIV âm tính sẽ có hành vi phòng lây

Trang 11

nhiễm HIV an toàn hơn Bên cạnh đó, rất nhiều người có chiều hướng tuyệt vọng

và bất cần khi biết mình nhiễm HIV và cho rằng việc thay đổi hành vi lây nhiễmđối với họ là quá muộn, có những người còn suy nghĩ tiêu cực tìm đến cái chếthoặc cố tình lây nhiễm HIV cho người khác Với những trường hợp này, nhữngthông điệp về thay đổi hành vi có thể được củng cố bằng dịch vụ HTC, ngườinhiễm HIV sẽ giảm chi phí cho việc can thiệp dự phòng lây truyền từ mẹ sangcon, điều trị Lao/HIV, điều trị bệnh nhiễm trùng cơ hội khác… Hơn nữa, nhữngdịch vụ về chăm sóc y tế sẽ giúp cho người nhiễm HIV sống lâu, sống tích cực

và ngăn chặn sự lây nhiễm cho cộng đồng Trong mọi trường hợp, việc biết kếtquả xét nghiệm HIV và tư vấn dự phòng, hiểu biết về hành vi nguy cơ là rất quantrọng và có tính chiến lược

HTC có nhiều lợi ích ở mức độ cá nhân, gia đình và cộng đồng, TCYTTG,UNAIDS và CDC là những tổ chức đầu tiên trên thế giới đưa ra những hướngdẫn, tổ chức và thực hiện hoạt động HTC trên thế giới HTC được áp dụng ởnhiều lĩnh vực khác nhau như chương trình dự phòng lây nhiễm HIV, các bệnhnhiễm trùng qua đường tình dục, KHHGĐ, lao….CDC thông qua UNAIDS, đã cóchương trình phòng chống HIV/AIDS toàn cầu (GAP) và các tổ chức, chương trìnhhợp tác quốc tế đã tiến hành huấn luyện cho nhiều quốc gia, các tổ chức phi chínhphủ ở Uganda, Malawi, Zimbabuwe, Thái Lan, Zambi….cho thấy kết quả hoạtđộng HTC có hiệu quả rất rõ rệt về nhận thức, hiểu biết và thay đổi hành vi nguy

cơ, đặc biệt trên những đối tượng nguy cơ cao.HTC là sản phẩm của nhiều nămnghiên cứu và thực hành tại nhiều nơi trên thế giới, một số chuyên gia đếnUganda để hợp tác trong việc xây dựng Trung tâm Thông tin AIDS (AIC) và tiếnhành thực hiện nghiên cứu về HTC trên 2.505 người được theo dõi việc sử dụngBCS sau 6 tháng xét nghiệm HIV cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS tăng từ 10% lên89% với bạn tình thường xuyên và 100% với bạn tình không thường xuyên Ở namnhiễm HIV, tỷ lệ sử dụng BCS tăng từ 34% lên 93% và ở nữ nhiễm HIV tăng từ15% lên 34% [26]

Trang 12

Tuy nhiên, sự kỳ thị là rào cản ngăn người nhiễm HIV tiếp cận với các dịch

vụ mà họ đang có nhu cầu, tại một số nơi người nhiễm bị đuổi ra khỏi trườnghọc, nơi làm việc và bị phân biệt đối xử trong việc chăm sóc sức khỏe Cácnghiên cứu chỉ ra rằng, tại Nam Phi, nỗi sợ hãi bị phân biệt đối xử là rào cản củaviệc tiếp cận dịch vụ HTC Nghiên cứu định tính trên 72 sinh viên cho thấy quanniệm HIV/AIDS gắn liền với cái chết, liên quan đến kỳ thị vẫn đang là vấn đềnghiêm trọng tại Nam Phi [23] Tại tỉnh Guizhou, Trung Quốc nhằm đánh giá lợiích và những rào cản của tư vấn xét nghiệm HIV trên 1.012 đối tượng ngườitrưởng thành chia làm 2 cụm dân cư bằng cách phỏng vấn, sau đó gửi tặng phiếu

sử dụng dịch vụ HTC miễn phí, sau 2 tháng kết quả chỉ đạt 43,5% được phỏng vấn

dự định đến với dịch vụ HTC, chỉ có 16,5% thực sự đến, và 3,7% làm xét nghiệmHIV Rào cản chính của việc xét nghiệm HIV cho rằng nguy cơ cá nhân thấp, lo sợviệc không giữ bí mật, và sợ bị kỳ thị, phân biệt đối xử sau khi nhận kết quả xétnghiệm[22]

1.3. Thực trạng về hoạt động HTC tại Việt Nam

Dịch vụ HTC lần đầu tiên được thực hiện thí điểm tại Việt Nam vào tháng11/2002, dựa trên mô hình tư vấn về phòng chống giảm thiểu nguy cơ, tập trungvào nhóm đối tượng nguy cơ cao Mục đích của hoạt động này là giảm nguy cơlây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ cao, giảm lây nhiễm HIV từ nhóm ngườinhiễm ra cộng đồng và giới thiệu người nhiễm được tiếp cận và sử dụng dịch vụchăm sóc điều trị HIV Tổ chức CDC thông qua chương trình AIDS toàn cầu(GAP) triển khai đầu tiên tại 40 tỉnh/ thành phố của Việt Nam với tổng số 53phòng HTC Hiện nay, đến năm 2014 có 1.345 phòng HTC đang hoạt động trên 63tỉnh thành phố, qua số liệu báo cáo có 260.000 người tiếp cận dịch vụ HTC trong

đó độ bao phủ dịch vụ đến nhóm đối tượng nguy cơ cao là 35%.[2]

Theo kết quả điều tra sơ bộ tỷ lệ hiện nhiễm và hành vi nguy cơ năm 2012 củaViện vệ sinh dịch tể Trung ương thực hiện tại 10 tỉnh cho thấy tỷ lệ tiếp cận dịch

Trang 13

vụ HTC nhóm NCMT là 27,3%, nhóm PNBD là 40% và nhóm nam quan hệ tìnhdục đồng giới (MSM) là 4,53% chỉ số này khá tương đồng với chỉ số chung củatoàn quốc (28,1% nhóm NCMT, 38,4% nhóm PNBD và 3,9% nhóm MSM) nênviệc tăng cường đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng về HTC là cần thiết [18].Tại Việt Nam, hoạt động HTC được nhiều dự án khác nhau hỗ trợ như FHI, LIFE-GAP, Quỹ toàn cầu, Ngân hàng thế giới, CDC…và mô hình chung về HTC củacác tổ chức này đều lồng ghép với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác Trên thực

tế cho thấy, hoạt động HTC có một số ưu điểm và tồn tại như sau:

- Ưu điểm: các địa phương đều rất quan tâm đến hoạt động HTC (64tỉnh thành đều triển khai), bố trí địa điểm và nhân sự tham gia, nhân sự đều đượctập huấn về HTC, nhiều cán bộ tham gia là nhân viên y tế nên có hiểu biết về HIV/AIDS Các trang thiết bị, sổ sách, biểu mẫu, sinh phẩm phục vụ cho hoạt độngHTC đều được trang bi đầy đủ theo yêu cầu của từng Dự án

- Những tồn tại, khó khăn: bên cạnh những ưu điểm trên thì tùy vào tìnhhình thực tế ở các địa phương gặp những khó khăn riêng như chưa có cơ sở riêngbiệt, phải lồng ghép với các đơn vị khác nên còn chật hẹp, chưa đảm bảo tính bímật, tuy nhân sự được bố trí tham gia đầy đủ nhưng hầu hết đều là cán bộ kiêmnhiệm, thường xuyên luân chuyển hay thay đổi tư vấn viên, các TVV chưa đượctập huấn chuyên sâu về lao, BLTQĐTD, Methadone…công tác quảng cáo tiếpthị chưa thực hiện nhiều do thiếu kinh phí, do chưa có cơ sở riêng nên trang thiết

bị cũng chưa được cấp đầy đủ Công tác giám sát phòng HTC chưa được thựchiện thường xuyên do mang tính chủ quan Hệ thống sổ sách biểu mẫu báo cáochưa thống nhất…

Chính những khó khăn bất cập trên nên Bộ Y tế ban hành Quyết định647/2007/QĐ-BYT nhằm chuẩn hóa toàn bộ hệ thống HTC trên toàn quốc Saunhiều năm áp dụng thực hiện theo Quyết định 647 thì đến tháng 3/2015 Quyếtđịnh này đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Thông tư 01/2015 Nội dung

Trang 14

Thông tư mới không đòi hỏi yêu cầu đầy đủ như Quyết định 647 cho một cơ sở

tư vấn, mà chủ yếu đáp ứng các yêu cầu tối thiểu cần có để đảm bảo tính bềnvững trong giai đoạn cắt giảm kinh phí

1.4. Hoạt động HTC tại Bắc Ninh

Chương trình HTC: cung cấp dịch vụ HTC chất lượng cao cho những người

có hành vi nguy cơ cao nhiễm HIV như NCMT, PNBD, MSM và bạn tình của họ.Mỗi tháng, chương trình HTC tiếp nhận khoảng 60% khách hàng nguy cơ cao donhân viên TCCĐ tiếp cận và giới thiệu Mục đích của hoạt động này là cung cấpdịch vụ HTC cho tất cả đối tượng nguy cơ cao tại tỉnh nhằm cải thiện nhận thức,thay đổi hành vi đồng thời phát hiện ra những trường hợp nhiễm HIV mới, giúp họbiết tình trạng nhiễm HIV của bản thân để phòng lây nhiễm cho gia đình và xãhội Qua dịch vụ HTC phát hiện người nhiễm và tiếp tục hỗ trợ các dịch vụ chămsóc điều trị toàn diện khác

Giai đoạn đầu, phòng tiếp nhận hàng tháng trung bình 50 khách hàng/ tháng

và đến năm 2014 số khách hàng mỗi tháng đã tăng gấp 3 lần (trung bình 140 kháchhàng/ tháng ) trong đó 70% khách hàng thuộc nhóm đối tượng nguy cơ cao, tỷ lệkhách hàng dương tính 5,4% [15]

Hình 1 1 Quy trình HTC theo CDC/VAAC – US.CDC

Hoạt động HTC cũng được triển khai lồng ghép với các hoạt động chăm sóc khác như phòng khám ngoại trú (OPC), phòng lây truyền mẹ con (PLTMC), tiếp cận

Xét nghiệm HIV

Qui trình tư vấn Trước xét nghiệm

Thực hiện kế hoạch giảm

nguy cơ

Qui trình tư vấn sau xét nghiệm

Trang 15

Tư vấnsức khỏe sinh sản

Điều trị cai nghiện Methadone

cộng đồng (TCCĐ), điều trị Lao/ HIV nhằm đẩy mạnh hoạt động chăm sóc và

hỗ trợ cho người nhiễm tốt hơn Thiết lập hệ thống phòng chống HIV/AIDS toàn diện từ can thiệp dự phòng lây nhiễm đến chăm sóc, tư vấn hỗ trợ người nhiễm HIV

Tác động của hoạt động này nhằm góp phần chống phân biệt kỳ thị, tăngcường tiếp cận dịch vụ chăm sóc hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV Bêncạnh đó góp phần giảm tác động của dịch HIV/AIDS đến sự phát triển của xãhội và ngăn chặn lây nhiễm ra cộng đồng

Hình 1 2 Mô hình HTC lồng ghép các hoạt động

Rào cản lớn nhất của hoạt động này vẫn là sự kỳ thị của xã hội với ngườinhiễm, sự sợ hãi khi đi xét nghiệm của chính những người có nguy cơ nhiễmHIV[1] Như vậy chính sự kì thị đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân khiến chonhững người đến HTC rất e ngại và sợ lộ danh tính, vô tình trở thành rào cản chocông tác phòng chống HIV/AIDS nói chung và hoạt động HTC nói riêng

HTC là mô hình cần được khuyến khích nhân rộng khi giúp hàng triệu ngườihiểu biết HIV của mình và cho những người có kết quả dương tính biết về các lựa

Trang 16

chọn và điều trị lâu dài Tuy nhiên mô hình này vẫn chưa được hưởng ứng do thái

độ kì thị với người HIV của xã hội và sự e ngại căn bệnh không thuốc chữa trịcủa chính những người có nhu cầu xét nghiệm Điều này đặt ra thách thức lớn chocông tác phòng, chống HIV/ALIDS là không có người nhiễm HIV mới

1.5. Các nghiên cứu, đánh giá về hoạt động HTC

1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới

Người nhiễm HIV chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận quyền cơ bản vềhọc tập, làm việc, sinh hoạt; ngoài ra người nhiễm còn phải đối mặt với nguy tìnhtrạng phân biệt đối xử, kỳ thị của người xung quanh Điều này là một rào cản lớn

để người nhiễm mạnh dạn tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, họ thường cóthái độ e dè ngại tiếp cận các dịch vụ

Nghiên cứu tại Haiti trên 43.000 phụ nữ sử dụng dịch vụ HTC năm

2004-2008 cho thấy: phụ nữ có HIV dương tính có hành vi nguy cơ cao khác biệt sovới phụ nữ âm tính với HIV tuy nhiên, phụ nữ mang thai có HIV lại thực hành antoàn hơn so với phụ nữ mang thai không nhiễm Hầu hết các nhóm phụ nữ đều cókiến thức chung về nguy cơ lây nhiễm HIV qua dụng cụ tiêm chích không an toàn

và từ mẹ truyền sang con [26]

Một nghiên cứu về kiến thức HIV/AIDS và thái độ đối với việc sử dụng dịch

vụ HTC trong nhóm người trưởng thành tại 1 vùng nông thôn miền bắc Nigeria.Kết quả cho thấy 59% số người được phỏng vấn không biết tác nhân gây raAIDS, những người tham gia trả lời tránh quan hệ tình dục trước hôn nhân,không quan hệ với GMD, sử dụng bao cao su và sàng lọc trước khi truyền máu làbiện pháp bảo vệ Những lý do từ chối sử dụng dịch vụ HTC là: sợ bị kỳ thị, sợ bấthòa vợ chồng, sợ mắc bệnh nan y và chi phí cho điều trị Như vậy, hơn một nửađối tượng có kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và đa số sẵn sàng sử dụng dịch vụHTC Tuy nhiên, quan niệm sai lầm, sợ hãi, thiếu hụt về kiến thức và hạn chế trongviệc tiếp cận HTC vẫn đang tồn tại [21]

Trang 17

1.5.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

Chương trình HTC đã được mở rộng trong những năm qua, theo nghiên cứuđiều tra mẫu và các chỉ số AIDS mặc dù Việt Nam đã xây dựng hàng loạt các cơ

sở HTC trên khắp toàn quốc và khuyến khích người dân tăng cường sử dụng dịch

vụ, tuy nhiên phần lớn dân số chưa từng xét nghiệm, chỉ có 10% dân số có xétnghiệm HIV, trong số 803 phụ nữ mang thai được điều tra chỉ có 10% phụ nữđược xét nghiệm HIV và nhận kết quả xét nghiệm HIV nhưng chỉ có 6% trong số

họ là nhận được tư vấn trước xét nghiệm hoặc sau xét nghiệm [14]

Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh họcHIV/STI (IBBS) năm 2009 cho thấy: tỷ lệ nam NCMT đã xét nghiệm và biết kếtquả xét nghiệm đạt 34-50%, cao hơn so với năm 2006 (11,4 - 17,9%); mặc dù tỷ lệtrong nhóm PNBD tại các tỉnh hầu hết đều tăng so với năm 2006 nhưng vẫn đang ởmức thấp 23,8%; tỷ lệ trong nhóm MSM tăng nhẹ từ năm 2006 (16,3%) - 2009(19,1%) tại 4 tỉnh khảo sát Với sự mở rộng của mạng lưới HTC trong những nămgần đây, trung bình có khoảng 1/5 số người thuộc tất cả các nhóm quần thể cónguy cơ cao cho biết họ đã từng xét nghiệm và biết kết quả Tuy nhiên, có đến 3/4những người nhiễm HIV trong nghiên cứu không biết đến tình trạng nhiễm HIVcủa mình [16, 17]

Một nghiên cứu “Đánh giá kết quả hoạt động phòng HTC tự nguyện tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội giai đoạn 2005-2008” của Nguyễn Việt Nga năm 2008 cho

thấy tỷ lệ khách hàng tự nguyện được xét nghiệm/tổng số khách hàng tư vấn cũngđược cải thiện qua các năm và đạt chung là 74% Tỷ lệ khách hàng đến nhận kếtquả và tư vấn sau xét nghiệm tương đối cao từ 93 - 100% Kỹ năng tư vấn của tưvấn viên đã và đang được cải thiện Việc giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hoạt độngkiểm tra giám sát tại phòng còn hạn chế [11]

Theo nghiên cứu “Đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV ở KH đến HTC tự nguyện tại phòng tư vấn sức khỏe cộng đồng thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương năm

Trang 18

2009” của tác giả Nguyễn Kiều Uyên và cộng sự cho thấy 99,8% KH xét nghiệm

HIV sau khi tư vấn trong đó tỷ lệ KH có kết quả dương tính đạt 10,5%, lý do KHđến HTC do NCMT và MD chiếm tỷ lệ tương ứng 34,3% và 31,4%.[10]

Nghiên cứu về hoạt động HTC tự nguyện HIV/AIDS tại huyện Tiên Du, BắcNinh năm 2009 của Ngô Quang Huy cho thấy KH hài lòng về dịch vụ HTC tựnguyện, tuy nhiên 30,2% KH không hài lòng về tính dễ tìm; 57% KH không hàilòng về sự kín đáo; 33,7% KH chưa hài lòng về sự liên hoàn giữa phòng tư vấn vàphòng xét nghiệm[9]

Tác giả Đoàn Chí Hiền và cộng sự năm 2009 đã thực hiện nghiên cứu về kiếnthức và một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV ở KH đến phòng HTC tự nguyện tạiCDC Thừa Thiên Huế năm 2009 cho thấy tỷ lệ KH nam giới chiếm 54%, tỷ lệ KHdương tính 4,8%, lý do KH đến HTC do hành vi NCMT 34,4% và QHTD không

an toàn 46%, nguồn giới thiệu KH chủ yếu là truyền thông đại chúng 53%, bạn bèchiếm 34%.[5]

Nghiên cứu “Đánh giá kết quả hoạt động HTC tự nguyện tại CDC tỉnh Hà Tỉnh năm 2008- 2010” của Võ Ánh Quốc cho thấy tỷ lệ KH xét nghiệm và quay

lại nhận kết quả đạt tuyệt đối 100% Tỷ lệ KH có kết quả dương tính được giớithiệu đến dịch vụ điều trị trên 90% Kỹ năng TVV được cải thiện rất nhiều tuynhiên vẫn chưa đồng đều giữa các TVV, cơ sở vật chất còn thiếu.[19]

Nghiên cứu của Đoàn Duy Dậm về “Thực trạng và kết quả hoạt động của phòng HTC tự nguyện tại Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2010” cho

thấy nhân sự; cở sở hạ tầng, trang thiết bị; biểu mẫu sổ sách của phòng đạt yêu cầutheo quy định Kết quả nghiên cứu cho thấy trên 90% KH quay trở lại nhận kết quả

và 100% người có kết quả dương tính được giới thiệu đến các dịch vụ chuyển tiếpkhác Đa phần KH đánh giá cao thái độ nhiệt tình, niềm nở của cán bộ nhưng hàilòng về tính kín đáo, sự dễ tìm, thời gian làm việc.[6]

Cùng năm 2010, Hoàng Trọng Minh đã tiến hành nghiên cứu về hoạt động

Trang 19

HTC tự nguyện của Trung tâm chăm sóc ban ngày tại Quận Tây Hồ Hà Nội chothấy tỷ lệ KH xét nghiệm là 98% Tỷ lệ KH nhận KQ xét nghiệm đạt 97% Kỹnăng tư vấn của TVV hầu hết đều tốt, việc giới thiệu sang các dịch vụ chuyểntiếp đạt 80% trong đó tỷ lệ nhiễm HIV mới đạt 31% [7]

Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Hồng Thắm tại Quận Đống Đa Hà Nội năm

2010 ghi nhận một số kết quả: tỷ lệ KH nam chiếm 55,9%, tỷ lệ KH nhận kết quả68%, thực trạng hoạt động tại Quận Đống Đa nhìn chung còn một số hạn chế về cơ

sở hạ tầng, nhân sự, trang thiết bị Qua quan sát 30 cuộc tư vấn do TVV thựchiện thì chỉ đạt 4/30 cuộc (13%) nội dung qui định [13]

Tác giả Trương Tấn Nam và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu đánh giá cácyếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV của KH đến HTC tự nguyện tại CDC thành phố

Đà Nẵng năm 2008-2011 cho thấy KH đa số trong độ tuổi 20-39 chiếm 70%, namgiới chiếm 56%, nguồn giới thiệu KH chủ yếu là truyền thông đại chúng 69,3%,TCCĐ 28% Tỷ lệ KH dương tính là 3,4% trong đó nguy cơ do QHTD chiếm 23%,NCMT là 13,2%

Nghiên cứu của tác giả Lê Hữu Sơn và cộng sự về “Đặc điểm và hoạt động HTC tự nguyện tại 2 cơ sở tư vấn thành phố Huế năm 2011” cho thấy KH nữ

chiếm 58%, độ tuổi 20-39 chiếm 68%, có học vấn cấp 1 và cấp 2 là 63% KH đánhgiá lý do không đến HTC vì sợ kỳ thị 56,2%, nghĩ không nhiễm 11,4%[8]

Năm 2012, kết quả điều tra sơ bộ tỷ lệ hiện nhiễm HIV, hành vi nguy cơ tại

10 tỉnh, trong đó Bắc Ninh là 1 trong số các địa bàn triển khai thực hiện, cho thấy

độ bao phủ HTC đang được mở rộng nhưng vẫn tập trung các nhóm nguy cơ cao

Tỷ lệ người NCMT được xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 12 tháng làchiếm tỷ lệ 46,7%, ở nhóm PNBD là 51% [36] Tác giả Vũ Toàn Thịnh thực hiệnnghiên cứu hoạt động của dịch vụ HTC tự nguyện tỉnh Sơn La năm 2012 đã ghinhận một số kết quả: 34% KH đánh giá bản thân không có nguy cơ, lý do đến HTC

do NCMT chiếm 28% và QHTD chỉ 2,5%, tỷ lệ KH dương tính đạt 20,1% trong

Trang 20

đó tiếp cận với cơ sở điều trị 92% [20].

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hoa về kinh nghiệm thực hiện chương trìnhHTC tại tỉnh Quảng Ninh năm 2013 cho thấy 95% KH nhận kết quả trong đó tỷ lệ

KH dương tính 59%, nguy cơ lây nhiễm qua QHTD chiếm 41%, NCMT 34%[12]

Chương 2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang, sử dụng kếthợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian: Từ 02/2019 đến 9/2019

 Địa điểm nghiên cứu: Phòng HTC của CDC tỉnh Bắc Ninh

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu định lượng

 Khách hàng của phòng HTC: chọn toàn bộ khách hàng đến phòng HTCkhi đã sử dụng dịch vụ (TV trước XN – xét nghiệm – TV sau XN) tại CDC tỉnhBắc Ninh trong thời gian 01/4/2019- 30/6/2019

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phòng HTC

- Quan sát đánh giá trực tiếp kỹ năng, nội dung và quy trình các buổi TV

2.3.2. Nghiên cứu định tính

- Cán bộ phụ trách cơ sở HTC

- Tư vấn viên, xét nghiệm viên của phòng HTC

Trang 21

Quan sát thực hành

- Quan sát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự, hệ thống báo cáo, biểumẫu, sổ sách ghi chép ….đang triển khai tại phòng HTC

- Quan sát quy trình thực hiện các cuộc HTC: quan sát trực tiếp 40 cuộc

tư vấn được thực hiện tại phòng HTC

Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện, có chủ

- 2 cuộc thảo luận nhóm 6-8 KH nhận dịch vụ tại phòng HTC (1 nhóm

là KH nghiện chích ma túy, gái mại dâm; 1 nhóm là KH tự nguyện) Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp bán cấu trúc, người phỏng vấn sẽ tiến hành phỏng

vấn các đối tượng dựa trên bộ công cụ có sẵn theo các chủ đề Trong quá trình thuthập thông tin, một số câu hỏi có thể được bổ sung Thời gian thực hiện các cuộc

Trang 22

phỏng vấn sâu trung bình 30-60 phút để đáp ứng mục tiêu củacác cuộc phỏng vấn.

Nghiên cứu định lượng

- Dựa vào số KH đến phòng HTC trong thời gian tiến hành nghiên cứu

từ 01 tháng 4 đến 30 tháng 6 năm 2019, là những KH ngẫu nhiên đến phòng HTC

và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu, không bị ảnh hưởng về mặt ngôn ngữ, tinhthần

Nghiên cứu định tính

- Cán bộ giám sát đang phụ trách phòng HTC

- TVV, XNV đang công tác tại phòng HTC

- Nhân viên nhóm tiếp cận cộng đồng

- Khách hàng đến phòng HTC

Tiêu chí lựa chọn khách hàng phỏng vấn sâu: khách hàng ngẫu nhiên đếnphòng HTC, bao gồm cả khách hàng cũ hoặc khách hàng mới, đồng ý tham gia

phỏng vấn, 5/10 khách hàng thuộc nhóm nguy cơ cao.

Nghiên cứu quan sát đánh giá

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, bảng hiệu đang sử dụng choPhòng HTC đến thời điểm quan sát

- Quan sát quy trình thực hiện các cuộc HTC: quan sát trực tiếp mỗingày 1-2 cuộc tư vấn, cuộc tư vấn được lựa chọn ngẫu nhiên , không tập trung vàokhoảng thời gian nào nhất định

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

- Bảng kiểm quan sát trực tiếp phòng HTC (Phụ lục 2)

Trang 23

- Bảng kiểm quan sát trực tiếp buổi tư vấn (Phụ lục 3)

- Bộ câu hỏi phỏng vấn khách hàng (Phụ lục 4)

Số liệu được thu thập tại phòng HTC của CDC tỉnh Bắc Ninh thông qua:quan sát và hoàn thiện bảng kiểm, phỏng vấn trực tiếp bộ câu hỏi có cấu trúc,phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, hoàn thiện bảng trống hồi cứu số liệu thứ cấp, quytrình thu thập số liệu nghiên cứu đánh giá được thực hiện theo các bước sau:

Chuẩn bị thu thập số liệu

- Hoàn chỉnh các bộ công cụ giúp thu thập số liệu

- Lựa chọn địa điểm thực hiện phỏng vấn khách hàng hay thảo luận nhóm

- Chọn điều tra viên, có kinh nghiệm và kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu sau đó tiến hành tập huấn ĐTV

Tiến hành thu thập số liệu

Thu thập số liệu định lượng

- Đối với số liệu sơ cấp:Tiến hành quan sát trực tiếp các cuộc tư vấnbằng bảng kiểm quan sát

Tiến hành điều tra:

- ĐTV tiếp cận KH đến phòng HTC sau khi đã hoàn thành buổi tư vấnsau xét nghiệm, giới thiệu mục đích cuộc điều tra và xin sự đồng ý của khách hàngtham gia vào nghiên cứu Chỉ tiến hành phỏng vấn khi có sự đồng ý của kháchhàng

- Nơi phỏng vấn đảm bảo tính riêng tư, không bị quấy rầy trong suốtthời gian phỏng vấn, người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái, dễ chịu

Trang 24

- Đảm bảo không có sự can thiệp của cơ quan chức năng trong thờigian phỏng vấn.

Thu thập số liệu định tính

- Một số kỹ thuật nghiên cứu định tính đã được sử dụng để thu thập sốliệu bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

- Tiếp cận khách hàng và giới thiệu mục đích nghiên cứu: nếu KH đồng

ý, ĐTV tiến hành phỏng vấn sâu hoặc tổ chức thảo luận nhóm (tùy theo điều kiện)

để tìm hiểu thêm một số yếu tố liên quan đến khách hàng như: lý do đến cơ sởHTC, chất lượng dịch vụ, yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ

- Tiến hành thực hiện thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn sâu cán bộ phụtrách HTC, nhân viên phòng HTC, nhân viên nhóm TCCĐ

2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Làm sạch số liệu: Kiểm tra hàng ngày các số liệu được thu về

- Số liệu được nhập vào phần mềm Epi Data 3.1

- Phân tích bằng phần mềm SPSS

- Thống kê mô tả: Tính tần số và tỷ lệ phần trăm các biến số

- Tiến hành gỡ băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu

- Các thông tin sẽ được mã hoá và tổng hợp theo chủ đề nghiên cứu

- Trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu đánh giá

Trang 26

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Mô tả thực trạng hoạt động HTC tại CDC Bắc Ninh

3.1.1 Hạ tầng cơ sở và cách sắp xếp bố trí các phòng tại cơ sở HTC

2 Biển hiệu của

Lồng ghép với khu vực đón tiếp của cơ sởMethadone

5 Phòng tư vấn Không đạt

tiêu chuẩn

Diện tích < 7m2, không được thôngthoáng, thiếu sáng, 1 bộ bàn ghế, 1 tủ tàiliệu cho TVV, đủ các vật dụng liên quan

nghiệm

Có và đạttiêu chuẩn

Diện tích 7m2, bàn lấy máu bằng Inox,bồn rửa được lát bằng gạch men trắng,thông thoáng, có đủ bàn, ghế, tủ lạnh bảoquản mẫu, phích, bình lạnh vận chuyểnmẫu máu, không có nội quy về an toànxét nghiệm và các vật dụng liên quankhác

7 Cách bố trí các

phòng

Hợp lý,theo quiđịnh

Cách bố trí khoa học, bảo đảm tính liênhoàn giữa các phòng và theo nguyên tắc dichuyển một chiều

Nhận xét: Theo kết quả quan sát: cơ sở vật chất Phòng HTC đã đáp ứng theo

tiêu chuẩn của TT 06/2011/TT – BYT, có 2/3 phòng, thiếu phòng đón tiếp, cách bốtrí các phòng theo nguyên tắc di chuyển 1 chiều, các phòng đặt liền kề nhau

- Phòng tư vấn: chưa đạt tiêu chuẩn, ngay cửa ra vào, chưa đảm bảo kín

Trang 27

đáo, không thông thoáng Phòng có diện tích 7 m2 có đủ trang thiết bị cần thiếtphục vụ hoạt động tư vấn.

- Phòng lấy máy xét nghiệm: diện tích 12 m2 bảo đảm được các tiêu chuẩncần thiết theo quy định về xét nghiệm

Xét về vị trí cơ sở HTC khá hợp lý, nằm trong khu đông dân cư nên dễ tìm vàthuận tiện cho việc đi lại của bệnh nhân Tuy nhiên, do nằm ngay gần đường qualại nên làm cho KH ngại gặp người quen

3.1.2 Thực trạng về trang thiết bị tại Phòng HTC

Bảng 3 2 Đánh giá trang thiết bị tại Phòng HTC

STT Nội dung

đánh giá

Kết quả

Nhận xét

1 Trang thiết bị tại

phòng đón tiếp

KhôngĐạt

Không có đầy đủ theo danh mục trangthiết bị cần thiết

2 Trang thiết bị tại

phòng tư vấn

Đạt tiêuchuẩn

Có đầy đủ theo danh mục trang thiết bịcần thiết

3 Trang thiết bị tại

phòng xét nghiệm

Đạt tiêuchuẩn

Có đầy đủ theo danh mục trang thiết bịcần thiết

Nhận xét:

Qua kết quả quan sát: không có phòng đón tiếp nên không có các TTB cầnthiết cho phòng đón tiếp Các trang thiết bị khác, cơ sở HTC đáp ứng đầy đủ theodanh mục cần thiết của đã đáp ứng theo tiêu chuẩn của TT 06/2011/TT – BYTNhận xét về trang thiết bị tại cơ sở HTC, đa số KH đều chú ý trang thiết bịtruyền thông tại phòng đón tiếp, tuy nhiên các thiết bị này không được phục vụ

KH trong thời gian chờ tư vấn

“Em thấy một số phòng tư vấn có tivi xem mấy phóng sự rất hay, xem có ích nữa sao ở phòng này không làm vậy cho KH xem đỡ buồn khi chờ” (Nam KH, 34 tuổi)

3.1.3 Tài liệu truyền thông tại phòng HTC

Bảng 3 3 Đánh giá tài liệu truyền thông

Tài liệu về dự phòng lây nhiễm HIV x

Trang 28

Hướng dẫn dự phòng lây truyền mẹ

Cách phòng tránh HIV qua đường máu x

Tài liệu hướng dẫn sử dụng BCS x

Kiến thức về 3 đường lây truyên HIV x

Nhận xét:Qua quan sát tài liệu truyền thông đặt tại phòng HTC rất ít, nộidung nghèo nàn và cũ, cách sắp xếp tài liệu không ngăn nắp gọn gàng Những tàiliệu về dịch vụ HTC, chăm sóc điều trị ARV cho người nhiễm đều không có,các hộp đựng BCS và BKT có trang bị tại phòng đón tiếp

“Tôi đến đây mấy lần, lần nào cũng thấy kệ để tài liệu y nguyên không đổi mới gì cả, tài liệu ít quá, giá để tài liệu nhìn bề bộn quá, có nhiều bụi, cách sắp xếp rất lộn xộn nên không muốn đến xem…” (KH nam, 19 tuổi)

“Hiện nay, kinh phí để sản xuất tài liệu truyền thông đã cắt giảm, các tài liệu hiện có là do chương trình quốc gia phân phối để sử dụng nên số lượng rất ít”

Nhận xét: Cơ cấu tổ chức: Phòng HTC chỉ có 2 cán bộ, trong đó 01 Y sĩ kiêm

nhiệm từ hành chính, đón tiếp, đến tư vấn và kiêm nhiệm cả tư vấn methadone, 1

Trang 29

XNV cũng là kiêm nhiệm xét nghiệm cả cơ sở Methadon Về mặt số lượng cán bộkhông đủ theo tiêu chuẩn của TT 01/2015/TT – BYT và TT 06/2011/TT – BYTnên có ảnh hưởng đến việc phục vụ KH.

“Nhiều KH của em muốn đến tư vấn vào ngày chủ nhật hoặc sau giờ hành chính nhưng ở đây nhân viên không có làm việc” (TCCĐ, nam).

“Do cán bộ làm việc kiêm nhiệm, nhiều khi bận việc này việc kia khi đang

tư vấn KH Methadon, lại có KH muốn TVXN HIV nên nhiều khi không đảm bảo, chất lượng tư vấn và thời gian tại phòng HTC” (Phụ trách phòng HTC)

Năng lực cán bộ cơ sở HTC: cán bộ phụ trách cơ sở HTC đã có 5 năm kinhnghiệm trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, Cán bộ xét nghiệm cũng có 10năm kinh nghiệm làm xét nghiệm HIV Tuy nhiên, những lớp tập huấn chuyên sâu

về các bệnh liên quan đến HIV/AIDS như da liễu, lao, BLTQĐTD vẫn rất ít tổchức để TVV hiểu biết và tư vấn sâu hơn cho KH khi có yêu cầu

“Em chưa tham dự lớp đào tạo chuyên về tư vấn các BLTQĐTD, hiểu biết chỉ giới hạn qua tài liệu học điều dưỡng trước đó” (Cán bộ- Phòng HTC)

3.1.5 Sổ sách, biểu mẫu, báo cáo của cơ sở HTC

Bảng 3 5 Đánh giá về sổ sách, biểu mẫu, báo cáo tại phòng HTC

7 Phiếu giới thiệu chuyển tiếp Có Đúng mẫu

8 Phiếu đồng ý xét nghiệm ghi tên Có Đúng mẫu

10 Phiếu thu thập thông tin đối tượng tư

Trang 30

12 Báo cáo hoạt động định kỳ bằng

phần

Có Nhập liệu và lưu trữ đầy

đủ

15 Lịch phân công trực của phòng

HTC

Không Không có

Nhận xét:

Về sổ sách: Các loại sổ sách sử dụng tại phòng HTC đều đúng mẫu, ghi chép

sạch sẽ và lưu trữ đầy đủ qua các năm Sử dụng bộ mã số KH dán vào sổ tư vấn, sổxét nghiệm và phiếu thông tin KH Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sót một vài chỗ như

sổ tư vấn ghi không đúng qui định ở cột kết quả: kết quả âm tính hay dương tínhnhưng có chỗ chỉ ghi ÂM hoặc DƯƠNG, cột số thứ tự để trống không ghi, cột giớitính KH đánh nhầm giữa nam và nữ… Sổ xét nghiệm thì tên sinh phẩm còn ghi tắt,

sổ theo dõi KH do TCCĐ giới thiệu không ghi ngày tháng và mã số KH giới thiệu

Sổ quản lý sinh phẩm chưa cộng dồn tổng cộng sinh phẩm sử dụng mỗi ngày, hạn

sử dụng không ghi ra mà chỉ ghi ký hiệu “nt”

Biểu mẫu: Thực hiện ghi chép biểu mẫu theo qui định, tuy nhiên chất lượng

ghi chép vẫn còn vài điểm thiếu sót cần khắc phục Qua quan sát 5 bộ phiếu thuthập thông tin KH ngẫu nhiên thì có 1 bộ phiếu ghi chưa đầy đủ thông tin ngày trảkết quả, thời gian tư vấn sau xét nghiệm, phiếu xét nghiệm thiếu chữ ký của phụtrách phòng HTC

Báo cáo: các báo cáo hoạt động định kỳ vào mùng 5 hàng tháng gởi về cán bộ

phụ trách phòng HTC Ngoài lưu trữ thông tin KH bằng phiếu thông tin hàngtháng, hàng quý, hàng năm thì tại phòng còn sử dụng phần mềm HIV Prevent đểcập nhật thông tin KH Đây là phần mềm quản lý số liệu cả chương trình HTC vàchương trình TCCĐ Qua quan sát và đề nghị cán bộ hành chánh xuất dữ liệu bằngphần mềm để đối chiếu số liệu với sổ tư vấn thì thấy thông tin rất chính xác, cậpnhật rất nhanh và ít tốn thời gian để tìm nếu lưu trữ bằng văn bản

Bảng biểu khác: gồm bảng nội quy, lịch phân công trực, sơ đồ qui trình tư vấnđều không có

3.1.6 Chất lượng, điều kiện bảo quản sinh phẩm tại cơ sở HTC

Bảng 3 6 Đánh giá về sinh phẩm sử dụng tại cơ sở HTC

Trang 31

Kinh phí hỗ trợ từ Trung ương.

Nhận xét: Tính sẵn có của sinh phẩm: sinh phẩm luôn sẵn có để phục vụ

cho phòng HTC, sinh phẩm được cấp tư Ban quản lý dự án Tỉnh sau hàng thángcán bộ xét nghiệm tổng hợp báo cáo số lượng sử dụng và tồn

Chất lượng sinh phẩm: Sinh phẩm sử dụng theo danh mục Bộ Y Tế cho phéplưu hành và được bảo quản theo qui định

Quản lý sinh phẩm: phòng xét nghiệm của cơ sở HTC có sổ theo dõi quản lýsinh phẩm, ghi chép rõ ràng, cụ thể theo dõi nhập hàng, sử dụng hàng ngày, hàngtháng, hàng quí, sinh phẩm ghi rõ hạn dùng, số lô sử dụng

3.2.Thực trạng kết quả hoạt động HTC tại CDC tỉnh Bắc Ninh năm 2019

3.2.1 Đặc điểm chung của khách hàng đến HTC

Bảng 3 7 Đặc điểm chung của ĐTNC (N= 240 )

Trang 32

Nhận xét: Qua kết quả điều tra cho thấy KH là nam giới chiếm 87,5%, chủ

yếu là độ tuổi từ 30 – 39 chiếm 38%, trình độ học vấn đa số THCS 44,2%; nghềnghiệp chủ yếu là Tự do, chiếm 56,7%; là nông dân chiếm 30,4% Đã kết hônchiếm 72,9%; ly thân, ly hôn chiếm 12,5%

Bảng 3 8 Đặc điểm về nơi sống và lý do đến HTC chung (N= 240)

Nhận xét: điều tra cho thấy KH đang sống cùng vợ chồng chiếm 69,2%,

Khách hang mới chiếm 87,9%; KH cũ quay lại chiếm 12,1%; Lý do đến với HTC

Trang 33

chủ yếu là do có NCMT, chiếm 48,7%; Lý do dung chung BKT chiếm 1,7%; Quan

hệ tình dục không an toàn chiếm 26,3%

KH được giới thiệu thành công dịch vụ chăm sóc

điều trị HIV

Tỷ lệ KH dương tính chuyển thành công sang cơ

sở điều trị HIV

Nhận xét: Theo số liệu báo cáo từ tháng 4/2019 đến tháng 6/2019 cho thấy đa

số khách hàng đến với cơ sở đều sử dụng dịch vụ HTC, những kết quả đạt được là100% số khách hàng đến đăng ký tư vấn đều xét nghiệm HIV trong đó trên 100%khách hàng đồng ý xét nghiệm ghi tên, 100% khách hàng xét nghiệm đều quaynhận kết quả KH dương tính chiếm 1,7%

Tuy nhiên, giới thiệu khách hàng đến HTC của nhóm TCCĐ không có trườnghợp nào Về nguyên nhân KH do nhóm TCCĐ giới thiệu đến HTC chưa đạt chỉtiêu, qua kết quả thảo luận nhóm, đa số đều đưa ra những nhận xét khá thốngnhất, đó là dự án cắt giảm

“Hồi đó còn có dự án hỗ trợ nên còn có phụ cấp cho việc giới thiệu khách hàng đến với phòng tư vấn, còn bây giờ không có phụ cấp thì nhóm tiếp cận cộng đồng cũng chẳng còn hoạt động gì nữa” (Nam nhân viên tiếp cận cộng đồng cũ.)

3.2.3. Nhận xét của KH về chất lượng cung cấp dịch vụ HTC

3.2.3.1.Đánh giá về sự tiếp cận dịch vụ

Trang 34

Bảng 3 12 Nhận xét về sự tiếp cận dịch vụ (N=240) Nội dung

Nhận xét: theo số liệu khảo sát, chỉ có 0,8% khách hàng đánh giá vị trí của

Phòng HTC dễ tìm, 100% cho rằng phòng vệ sinh sạch sẽ và 99,6% cho rằngphòng tư vấn kín đáo Điều này cũng được nhiều khách hàng thống nhất qua kếtquả phỏng vấn sâu

“…Chỗ này nằm ngay mặt đường, nhưng không biết là có TVXN HIV, em tưởng chỉ là nơi điều trị methadone thôi đường, tuy nhiên rất sạch sẽ, và kín đáo”

Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu, khách hàng đánh giá được nhận dịch vụ

HTC ngay sau khi đến đăng ký chiếm 99,6%

3.2.3.3.Thái độ phục vụ của nhânviên

Bảng 3.14 Nhận xét của KH về thái độ phục vụ của nhân viên

Nhiệt tình Không nhiệt tình

Trang 35

“Tôi thấy thái độ các nhân viên ở đây rất nhiệt tình, trò chuyện vui vẻ khiến tôi đỡ thấy áp lực khi đến dịch vụ Mấy chị ở đây nhiệt tình hơn mấy y tá bên bệnh viện cọc cằn khó chịu làm bệnh nhân cũng hồi hộp khi nói chuyện” (Nữ KH,

23 tuổi)

Tuy nhiên, còn một vài ý kiến nhận xét về thái độ phục vụ không nhiệt tìnhcủa nhân viên như ít cởi mở, nhìn không vui vẻ, khi tư vấn không quan tâm đến

KH, nói nhanh cho xong buổi tư vấn…

“Chị tư vấn không cởi mở gì hết làm em thấy rất căng thẳng, chỉ cứ nói một lèo rồi hỏi em có đồng ý xét nghiệm không, làm em cũng không dám hỏi gì nhiều Chắc hôm nay chị không vui chuyện gì, nhìn mặt hình sự lắm” (Nữ KH, 20 tuổi)

3.2.3.4 Đánh giá của KH sau khi nhận dịch vụ HTC

Bảng 3.15 Tỷ lệ muốn thực hiện biện pháp phòng lây nhiễm HIV (N=240 )

Trang 36

Nhận xét: Theo số liệu khảo sát, đa số KH sau khi nhận dịch vụ HTC đều

muốn thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV chiếm 99,2%

Bảng 3.16 Tỷ lệ KH đồng ý quay lại dịch vụ lần sau (N= 240)

(n)

Tỷ lệ (%)

Nhận xét trong 99,6% tỷ lệ KH muốn quay lại dịch vụ HTC lần sau có

Bảng 3, 17, Lý do KH đồng ý quay lại cơ sở HTC lần sau (N=240)

Nhận xét: trong 99,6% tỷ lệ KH muốn quay lại dịch vụ HTC lần sau có

53,7% KH nhận xét HTC giúp KH chia sẻ động viên về tình trạng HIV bản thân

và 46,3% là do thái độ nhiệt tình của nhân viên

Qua kết quả thảo luận các nhóm KH, hầu hết các ý kiến cho rằng tâm lý khiđến HTC rất hồi hộp, thái độ phục vụ của nhân viên ảnh hưởng không ít đến kếtquả buổi tư vấn

“Cô tư vấn đã động viên chia sẻ rất nhiều vấn đề giúp giải tỏa tâm lý, tư vấn không còn thấy lo sợ,” (Nam KH, 21 tuổi)

3.2.4.Đánh giá nội dung hoạt động HTC

3.2.4.1 Kỹ năng tư vấn cơ bản của TVV

Kỹ năng tư vấn của TVV được đánh giá thông qua bảng kiểm quan

Trang 37

sát trực tiếp cuộc HTC,

Biểu đồ Kết quả quan sát các kỹ năng cơ bản của TVV (n=)

Nhận xét: Tổng hợp phân tích kỹ năng của TVV theo các nhóm chức năng,kết quả cho thấy có 3 nhóm kỹ năng thực hiện đạt và tốt như tiếp xúc ban đầu(87,5%), thu thập thông tin (80%) và cung cấp thông tin (88,5%) Riêng nhóm kỹnăng xử lý tình huống chưa đạt chiếm tỷ lệ 31,5%

3.2.4.2 Quy trình và nội dung HTC

Bảng 3 19 Đánh giá quy trình, nội dung tư vấn (N=40)

Kết quả

Ghi chú

1 Tỷ lệ cuộc tư vấn thựchiện đầy đủ cả 3 quy trình 40/40 100

Tất cả các cuộc tư vấn đều thựchiện đầy đủ quy trình TV trước

XN – Xét nghiệm HIV – TV sauXN

Tiếp xúc ban Thu thập thông Cung cấp thông Xử lý tình huống

Trang 38

Tỷ lệ cuộc HTC có kết

quả HIV âm tính thực

hiện (25/32) nội dung

theo quy định

27/34 79

4 cuộc tư vấn thực hiện đầy đủ32/32 nội dung và số nội dungđược thực hiện thấp nhất 20/32(02 cuộc)

Nhận xét: Quy trình và nội dung cuộc HTC được đánh giá bằng cách quan

sát trực tiếp 40 cuộc tư vấn trong thời gian nghiên cứu theo hình thức mỗi ngàyquan sát tử 1-2 cuộc bất kỳ theo bảng kiểm sẵn có, những nội dung trong quy trình

tư vấn được đối chiếu với các tiêu chuẩn được quy định tại Thông tư BYT

01/2015/TT-Kết quả quan sát cho thấy, tất cả các cuộc tư vấn đều đã được thực hiệntheo quy trình 3 bước, cuộc xét nghiệm thực hiện đúng quy trình Tỷ lệ cuộc tưvấn đầy đủ cho KH có kết quả HIV dương tính đạt 100%, tuy nhiên các cuộc TVthực hiện trước và sau xét nghiệm chưa thực hiện đầy đủ như: tỷ lệ cuộc TV trướcxét nghiệm đạt 67%, tỷ lệ các cuộc TV sau xét nghiệm có kết quả HIV âm tính đạt73%, tỷ lệ cuộc HTC cho KH có kết quả HIV âm tính đạt 79% và tỷ lệ cuộc HTCthực hiện đầy đủ nội dung quy định chỉ đạt 25%

Bảng 3 20 Đánh giá gián tiếp nội dung TVV trao đổi với KH (N=240)

Kết quả

Ghi chú

Trang 39

Đánh giá nội dung TV

mà TVV trao đổi trong

4 Đánh giá nội dung TV

trao đổi trước XN

Trao đổi về nguy cơ

Đánh giá nội dung TV

trao đổi sau XN

Ngày đăng: 23/05/2023, 11:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1. Quy trình HTC theo CDC/VAAC – US.CDC - Bc_Dinh Mai Van.doc
Hình 1. 1. Quy trình HTC theo CDC/VAAC – US.CDC (Trang 14)
Hình 1. 2. Mô hình HTC lồng ghép các hoạt động - Bc_Dinh Mai Van.doc
Hình 1. 2. Mô hình HTC lồng ghép các hoạt động (Trang 15)
Bảng 3. 1. Đánh giá cơ sở vật chất, cách bố trí các phòng - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 1. Đánh giá cơ sở vật chất, cách bố trí các phòng (Trang 26)
Bảng 3. 3. Đánh giá tài liệu truyền thông - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 3. Đánh giá tài liệu truyền thông (Trang 27)
Bảng 3. 4. Đánh giá nhân sự và năng lực cán bộ tại phòng HTC - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 4. Đánh giá nhân sự và năng lực cán bộ tại phòng HTC (Trang 28)
Hình thức tham gia Kiêm nhiệm Kiêm nhiệm 0 - Bc_Dinh Mai Van.doc
Hình th ức tham gia Kiêm nhiệm Kiêm nhiệm 0 (Trang 28)
Bảng biểu khác: gồm bảng nội quy, lịch phân công trực, sơ đồ qui trình tư vấn đều không có - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng bi ểu khác: gồm bảng nội quy, lịch phân công trực, sơ đồ qui trình tư vấn đều không có (Trang 30)
Bảng 3. 7. Đặc điểm chung của ĐTNC (N= 240 ) - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 7. Đặc điểm chung của ĐTNC (N= 240 ) (Trang 31)
Bảng 3. 8. Đặc điểm về nơi sống và lý do đến HTC chung (N= 240) - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 8. Đặc điểm về nơi sống và lý do đến HTC chung (N= 240) (Trang 32)
Bảng 3. 9. Kết quả hoạt động HTC - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 9. Kết quả hoạt động HTC (Trang 33)
Bảng 3. 12. Nhận xét về sự tiếp cận dịch vụ (N=240) Nội dung - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 12. Nhận xét về sự tiếp cận dịch vụ (N=240) Nội dung (Trang 34)
Bảng 3.13. Tỷ lệ khách hàng chờ để tư vấn (N=240  ) - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3.13. Tỷ lệ khách hàng chờ để tư vấn (N=240 ) (Trang 34)
Bảng 3.15. Tỷ lệ muốn thực hiện biện pháp phòng lây nhiễm HIV (N=240 ) - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3.15. Tỷ lệ muốn thực hiện biện pháp phòng lây nhiễm HIV (N=240 ) (Trang 35)
Bảng 3.16. Tỷ lệ KH đồng ý quay lại dịch vụ lần sau (N= 240) - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3.16. Tỷ lệ KH đồng ý quay lại dịch vụ lần sau (N= 240) (Trang 36)
Bảng 3. 19. Đánh giá quy trình, nội dung tư vấn (N=40) - Bc_Dinh Mai Van.doc
Bảng 3. 19. Đánh giá quy trình, nội dung tư vấn (N=40) (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w