1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng các mô hình thương mại bán lẻ trường hợp nghiên cứu ngành hàng tiêu dùng tại thị trường TP HCM

81 29 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích thực trạng của các mô hình thương mại bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: chợ, siêu thị, trung tâm thương mại TTTM, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng trực tuyến.. Đối tượng

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ HỌC – KINH TẾ PHÁT TRIỂN – KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Mã số công trình: ………

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI BÁN LẺ VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 9

1.1 Thương mại bán lẻ 9

1.1.1 Thương mại 9

1.1.2 Bán lẻ 10

1.1.3 Đặc trưng và vai trò của thương mại bán lẻ 11

1.1.4 Các hình thức mô hình thương mại bán lẻ 13

1.2 Các khái niệm về mô hình bán lẻ 14

1.2.1 Chợ truyền thống 14

1.2.2 Siêu thị 16

1.2.3 Cửa hàng tiện lợi 19

1.2.4 Cửa hàng trực tuyến (Mua sắm trực tuyến) 21

1.3 Kinh nghiệm phát triển các mô hình thương mại bán lẻ trên Thế giới 23

1.3.1 Thương mại bán lẻ tại Mỹ 24

1.3.2 Thương mại bán lẻ tại Nhật 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI BÁN LẺ CỦA NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28 2.1 Thực trạng chung ngành bán lẻ tại Việt Nam 28

2.1.1 Thị trường bán lẻ tại Hà Nội 28

2.1.2 Thị trường bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh 29

2.2 Thực trạng một số mô hình thương mại bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh 30

2.2.1 Chợ truyền thống 30

2.2.2 Mô hình Siêu thị 35

Trang 3

2.2.3 Cửa hàng tiện lợi 40

2.2.4 Cửa hàng trực tuyến 44

2.3 Đánh giá chung thực trạng phát triển của các mô hình thương mại bán lẻ 48

2.3.1 Những thành tựu đạt được 48

2.3.2 Những mặt hạn chế còn tồn tại 50

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHANH VỀ XU HƯỚNG LỰA CHỌN CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI BÁN LẺ 53

3.1 Mô tả khảo sát 53

3.1.1 Chọn mẫu khảo sát 53

3.1.2 Mô tả mẫu khảo sát 53

3.1.3 Mục tiêu của khảo sát: 55

3.2 Kết quả khảo sát 55

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪNG MÔ HÌNH 60

4.1 Kết luận 60

4.2 Giải pháp đề xuất cho sự phát triển của các mô hình thương mại bán lẻ 60

4.2.1 Giải pháp phát triển chợ truyền thống 60

4.2.2 Giải pháp phát triển siêu thị 62

4.2.3 Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi 65

4.2.4 Giải pháp phát triển cửa hàng trực tuyến 68

4.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 74

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

APEC Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái

Bình Dương

NACS Hiệp hội các Quốc gia về cửa hàng tiện

lợi và bán lẻ nhiên liệu của Mỹ

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG

Bảng 1.1: Phân loại siêu thị theo quy mô 18

Biểu đồ 2.1: Mức độ mua sắm tại cửa hàng tiện lợi theo độ tuổi và từng khu vực tại Thành phố Hồ Chí Minh 42

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đối tượng tham gia khảo sát theo giới tính 54

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ đối tượng tham gia khảo sát theo nghề nghiệp 54

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ đối tượng tham gia khảo sát theo thu nhập 55

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ đối tượng tham gia khảo sát theo độ tuổi 55

Biểu đồ 3.5: Thống kê kênh mua sắm phổ biến 56

Biểu đồ 3.6: Lý do cho sự lựa chọn mô hình hiện nay 57

Biểu đồ 3.7: Mô hình được lựa chọn dựa theo mặt hàng chủ yếu 58

Biểu đồ 3.8: Mức độ lựa chọn sử dụng mô hình trong tương lai 58

Trang 6

Kết quả khảo sát đối với người tiêu dùng về thói quen mua sắm tại các mô hìnhbán lẻ khác nhau trong phạm vi Quận 1, Quận 3 và quận Bình Thạnh thu được những con số thống kê về sự lựa chọn mô hình bán lẻ trong hiện tại và tương lai và những lý do để họ đưa ra những lựa chọn này Các sản phẩm được người tiêu dùng nhắc đến khi họ lựa chọn nơi mua sắm cũng là một yếu tố quan trong trong việc đưa ra quyết định có nên lựa chọn mô hình đó hay không

Từ kết quả phân tích số liệu khảo sát nhóm tác giả đề ra một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển các mô hình bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2018 – 2020

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay khi toàn cầu hóa đang là biểu tượng của kinh tế thế giới, khi mức độ gắn kết giữa các nước trở nên chặt chẽ hơn, đã dẫn đến sự ra đời của các chuỗi cung ứng toàn cầu và nhiều mô hình kinh doanh hiện đại Vì vậy, ngay tại thời điểm này thị trường bán lẻ Việt Nam cũng trở nên nhộn nhịp, đầy tiềm năng và có sức hấp dẫn rất lớn Các đại gia bán lẻ thâm nhập vào nước ta từ rất sớm, ngoại trừ tập đoàn Walmart (Mỹ) đang trong giai đoạn thăm dò, thì hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới như: Lotte, BigC, Metro, Parkson, Aeon…đều đã có mặt Theo các chuyên gia của Diễn đàn “Thị trường bán lẻ Việt Nam: Cơ hội và Thách thức” do Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức ngày 18/5/2016, bắt đầu từ năm 2015, lĩnh vực bán lẻ

đã trở thành tâm điểm khi hàng loạt thương vụ mua bán sáp nhập (M&A) lớn, với sự tham gia của nhiều tập đoàn bán lẻ đến từ Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc…Như vậy, đây có thể là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp (DN) bán lẻ nội địa khi phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gia tăng bởi năng lực sản xuất, trình độ công nghệ và chất lượng sản phẩm cung ứng của ta đều còn hạn chế Trong khi đó, người tiêu dùng lại đứng trước nhiều cơ hội lựa chọn mua sắm từ các kênh phân phối khác nhau Dự báo năm 2017 và những năm tiếp theo thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ tiếp tục sôi động với những cuộc cạnh tranh “giành người tiêu dùng” khốc liệt giữa các

DN trong và ngoài nước Nhưng dù thế nào, các mô hình thương mại bán lẻ hiện đại

tại Việt Nam cũng mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế Mỗi mô hình có sức hút và sự

quan tâm của người tiêu dùng khác nhau Do đó để nắm bắt được thực trạng phát triển của các mô hình thương mại bán lẻ hiện nay cũng như mức độ quan tâm của người tiêu dùng đối với từng hình thức bán lẻ sẽ trở nên rất hữu ích cho các DN cũng như các nhà hoạch định chính sách Chính vì lẽ đó, nhóm tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài

“Phân tích thực trạng các mô hình thương mại bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh” để có cái nhìn toàn diện về thị trường bán lẻ hiện đại tại Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần cho DN bán lẻ hiểu được xu hướng mua sắm hiện nay, cũng như chủ động triển khai chiến lược phát triển trong tương lai

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Trang 8

- Phân tích thực trạng của các mô hình thương mại bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: chợ, siêu thị, trung tâm thương mại (TTTM), cửa hàng tiện lợi, cửa hàng trực tuyến

- So sánh đánh giá việc lựa chọn các nơi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển các hình thức bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2017 – 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: có rất nhiều mô hình thương mại bán lẻ tại Thành phố

Hồ Chí Minh, tuy nhiên trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chỉ tập trung vào các hình thức bán lẻ: chợ, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng trực tuyến trong lĩnh vực tiêu dùng nhanh Bên cạnh đó nghiên cứu còn khảo sát nhanh 250 người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: 2017 – 2018

- Phạm vi nghiên cứu: thực trạng của các hình thức bán lẻ từ 2012 – 2017 và giải pháp cho giai đoạn 2018 - 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp: phương pháp định lượng kết hợp phương pháp định tính, trong đó:

- Phương pháp định tính: thông qua quá trình lược khảo tài liệu từ các nghiên cứu trong và ngoài nước để tìm hiểu về lý thuyết các mô hình bán lẻ

- Phương pháp định lượng: nhóm tác giả thực hiện cuộc khảo sát với quy mô mẫu là 250 người tiêu dùng tại những khu trung tâm của Tp Hồ Chí Minh (Quận 1, quận Bình Thạnh, Quận 3) Dữ liệu được xử lý trên phần mềm excel để rút trích các kết quả chủ yếu dựa trên phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích, dự báo số liệu

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu

5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Thương mại bán lẻ là một trong những đề tài được nghiên cứu thế giới quan tâm, trong đó nổi bật là một số bài viết và công trình nghiên cứu đã đóng góp rất lớn cho cả khoa học và thực tiễn như “Tổng quan bán lẻ” của Roger Cox và Paul Brittain (2004);

“Sự chuyển đổi bán lẻ” của Neil M Coe và Neil Wrigley (2007); "Chính sách pháp lý

Trang 9

đối với bán lẻ quy mô lớn tại các thành phố Đông Nam Á" của Alex M Mutebi (2007) Ngoài ra còn có:

- Fels, Allan (2009) nghiên cứu về “Quản lý bán lẻ - bài học từ các quốc gia đang phát triển” Bái viết đề cập đến lịch sử của ngành bán lẻ ở các nước phát triển và rút ra bài học cho các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương Các quốc gia phát triển đã tập trung nguồn lực kích thích ngành bán lẻ phát triển trong 40 năm gần đây, đặc biệt là bán lẻ thực phẩm Từ bán lẻ truyền thống cho đến bán lẻ hiện đại thông qua công nghệ số Các nhà bán lẻ hàng đầu thế giới đã tiếp cận những ngách thị trường và không bỏ qua bất kỳ một cơ hội kinh doanh nào, với phương châm: “nơi nào

có khách hàng, nơi đó sẽ hình thành thị trường” Để thực hiện được điều này Chính phủ các nước phát triển phải tạo mọi điều kiện cho DN bán lẻ bằng các chính sách khuyến khích và ưu đãi Tuy nhiên Fels, Allan (2009) khẳng định rằng, cách thức để thành công trong một thị trường cạnh tranh gay gắt đó chính là không ngừng đổi mới Ông đưa bằng chứng về sự thất thủ của Walmart trước Amazon như một lời cảnh báo cho các DN khác Cuối cùng cần rút ra được bài học đắt giá cho các nước đang phát triển về việc quản lý bán lẻ như cần nắm bắt xu hướng thị trường, giá trị cốt lõi, thâm nhập thị trường đúng thời điểm và điều quan trọng cần bám sát đối thủ

- AT Kearney (2011) với chủ đề “Những cánh cửa hy vọng cho bán lẻ toàn cầu – chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu” Hãng tư vấn A.T.Kearney của Mỹ đã thực hiện khảo sát tại 30 quốc gia có nền kinh tế mới nổi để xếp loại mức độ phát triển kinh doanh bán lẻ Nghiên cứu phân tích cơ hội phát triển kinh doanh bán lẻ ở từng yếu tố: quốc gia, sự rủi ro, sự hấp dẫn của thị trường, tính bão hòa, áp lực của thời gian Như vậy báo cáo khẳng định sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu thị trường, chiến lược quốc gia, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ Các bài nghiên cứu chỉ

số phát triển ngành bán lẻ của hãng A.T.Kearney luôn là nội dung mà các nhà đầu tư lớn quan tâm khi thâm nhập vào một thị trường bán lẻ quốc gia nào đó

- Grewal và cộng sự (2017), nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự phát triển của lĩnh vực bán lẻ trong tương lai khi cạnh tranh ngày càng gay gắt, công nghệ 4.0 lên ngôi, môi trường vạn biến, vậy bằng cách nào để gia tăng thị phần và mang lại những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng Tương lai của bán lẻ bị chi phối bởi 5 nhân tố sau: (1) công nghệ; (2) hiển thị trực quan; (3) sự cam kết cho người tiêu dùng; (4) thu thập và

sử dụng dữ liệu lớn; (5) khả năng dự báo và sinh lợi Nghiên cứu cũng nhấn mạnh

Trang 10

công nghệ đang làm thay đổi hành vi tiêu dùng so với trước đây, vì vậy DN bán lẻ cũng cần thay đổi tư duy kinh doanh, đó là ngoại tuyến và trực tuyến cần hội tụ, cần biết được những khác biệt và những tương đồng ở cả hai thế giới, cũng như cách các công nghệ mới sẽ tác động như thế nào đến chúng, đó là chìa khóa thành công cho tương lai của bán lẻ Lúc bấy giờ, DN sẽ không quan tâm nhiều đến hành vi tiêu dùng, chính chúng ta sẽ là người dẫn dắt người tiêu dùng

5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, thương mại bán lẻ đang ngày càng sôi nổi hơn bao giờ hết và thu hút nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức Đặc biệt là khi nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đề tài này cũng được tìm hiểu và nghiên cứu khá nhiều trong các bài luận văn, khóa luận và đồ án như “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Lê Trịnh Minh Châu và cộng sự (2004); “Siêu thị - phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Nhiễu (2006); “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam” của Phạm Hữu Thìn (2008); “Nghiên cứu tác động của hành vi mua sắm đến phát triển các hình thức bán lẻ theo chuỗi siêu thị” của Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2012); “Hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” - Nguyễn Thanh Bình (2013) Các số liệu thống kê chi tiết về thị trường bán lẻ cũng được đề cập trong các bài báo cáo thường niên của Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Tổng cục thống kê…

Tuy nhiên, vấn đề về thương mại bán lẻ là khá rộng nên phần lớn các bài nghiên cứu chỉ tập trung vào một vài khía cạnh, nghiên cứu về các góc độ khác nhau như bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bán lẻ, hệ thống phân phối hàng hóa bán lẻ hay từng loại hình dịch vụ phân phối hàng hóa bán lẻ (chợ, siêu thị, cửa hàng tiện lợi,…) Một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học này, như sau:

- Đề tài Khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” (2009) do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì Đề án nghiên cứu tổng quan về dịch vụ bán buôn, bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế khởi sắc và nhu cầu tiêu dùng gia tăng, trong đó đặc biệt đánh giá thực trạng hoạt động bán lẻ và phân phối tại Việt Nam còn nhiều manh mún, rời rạc, gặp nhiều khó khăn khi đối mặt với DN bán kẻ nước ngoài Vì vậy thay đổi chiến lược và

Trang 11

hoàn thiện môi trường kinh doanh cho lĩnh vực bán lẻ là một vấn đề cấp thiết, trong đó các chính sách về tiếp cận vốn, ưu đãi thuế, xúc tiến thương mại là những giải pháp chủ lực để thúc đẩy ngành bán lẻ Việt Nam tăng trưởng

- Bùi Thanh Tráng (2014), nghiên cứu thực trạng bán lẻ giai đoạn 2000-2013, mặc dù đối mặt nhiều khó khăn nhưng ngành bán lẻ Việt Nam đã có những bước phát triển ngoạn mục, quy mô thị trường được mở rộng Đặc trưng của nước ta là tồn tại cả bán lẻ truyền thống và bán lẻ hiện đại, trong đó kênh bán lẻ truyền thống vẫn giữ vai trò chính trong việc thực hiện phân phối hàng hóa bán lẻ như các hình thức chợ loại 1,

2, 3 Tuy nhiên tác giả nhấn mạnh chất lượng của các chợ thấp, nhiều chợ xuống cấp không có kinh phí sửa chữa, vệ sinh môi trường không đảm bảo Chất lượng vệ sinh an toàn hàng hóa và thực phẩm không được kiểm tra thường xuyên, chưa hình thành hệ thống chuỗi kinh doanh từ nguồn cung ứng đến chợ và đến người tiêu dùng, nên hàng hóa khó truy xét nguồn gốc Do vậy, vấn đề quản lý hoạt động kinh doanh tại các chợ cần được xem xét kỹ trong tổng thể phát triển thương mại bán lẻ nhằm góp phần nâng cao văn minh thương mại trong quá trình hội nhập Vì vậy bán lẻ hiện đại dần thay thế qua các hình thức kinh doanh đa dạng như siêu thị, TTTM, cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi Ngoài ra xu hướng thương mại bán lẻ trực tuyến cũng đã và đang phát triển nhanh Nhưng hiện tại cơ sở hạ tầng thương mại của chúng ta thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là tại các thành phố lớn Điều này, làm hạn chế khả năng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ có thương hiệu nổi tiếng tham gia vào thị trường Kết luận, tác giả gợi ý một số kiến nghị để gia tăng năng lực ngành bán lẻ Việt Nam như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại và dịch vụ, có những chính sách

ưu tiên cho các nhà đầu tư như ưu tiên về vị trí, hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn Bên cạnh

đó, phát triển thương mại điện tử (TMĐT), chú trọng hoàn thiện khung pháp lý liên quan tới việc thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử, các quy định kinh doanh dịch vụ TMĐT tạo môi trường thuận lợi cho các DN và khuyến khích người tiêu dùng mua bán trực tuyến

6 Tính mới

6.1 Tính mới

Trang 12

Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về lý thuyết các mô hình thương mại bán lẻ, bên cạnh đó còn phân tích kinh nghiệm phát triển hệ thống bán lẻ của một

số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

tế, đặc biệt thời kỳ công nghệ 4.0

Mặt khác phân tích và đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân cần khắc phục trong phát triển hệ thống bán lẻ Việt Nam

Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hệ thống bán lẻ của Việt Nam theo hướng ngày càng văn minh hiện đại, tăng cường khả năng liên kết và nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN bán lẻ cũng như đưa ra những nhận định về bối cảnh phát triển của hệ thống bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

6.2 Đóng góp về mặt lý thuyết

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hình thức thương mại bán lẻ hiện đại Do đó kết quả của nghiên cứu sẽ đóng góp vào quá trình hoàn thiện khung lý thuyết về thương mại bán lẻ theo thời gian

- Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu thương mại bán

7 Kết cấu của nghiên cứu

Kết cấu của bài nghiên cứu gồm 4 chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI BÁN LẺ VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH BÁN LẺ CỦA NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ XU HƯỚNG LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 13

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪNG MÔ HÌNH

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI BÁN LẺ VÀ CÁC KHÁI

NIỆM LIÊN QUAN 1.1 Thương mại bán lẻ

Thương mại bán lẻ là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh, là hình thức nhằm tiêu thụ hàng hóa dịch vụ tới tay người tiêu dùng Ở mỗi quốc gia khác nhau, sẽ có những mô hình bán lẻ khác nhau tùy thuộc đặc trưng của mỗi nền kinh tế

1.1.1 Thương mại

Hiểu theo nghĩa rộng: Thương mại thực chất là kinh doanh, là mọi hoạt động

nhằm mục đích sinh lợi cho cá nhân, tổ chức Theo Khoản 1 - Điều 4 của bộ Luật DN

2014 (Số 68/2014/QH13) giải thích: “ Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một

số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng có nghĩa: Kinh doanh là quá trình bao gồm các khâu từ đầu tư cho tới lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ đến khách hàng dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp Quá trình kinh doanh này được điều chỉnh bởi các bộ luật chuyên ngành khác như: Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bất động sản hay Luật Chứng khoáng,…

Hiểu theo nghĩa hẹp: Theo Khoản 1 - Điều 3 của bộ Luật Thương mại (Số

36/2005/QH11) giải thích: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Hoạt động thương mại định nghĩa theo bộ Luật Thương mại chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh trong 2 khâu lưu thông

và dịch vụ, không bao hàm hoạt động sản xuất

Tuy nhiên, trong đề tài này, khái niệm thương mại được đề cập theo nghĩa hẹp, tức định nghĩa của bộ Luật Thương mại Vì các mô hình thương mại bán lẻ chỉ bao gồm các khâu lưu thông và xúc tiến thương mại, các hoạt động sản xuất không nằm trong phạm vi nghiên cứu…

Như vậy hiểu một cách rõ hơn: Thương mại chính là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận từ việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ bằng các hoạt động thúc đẩy, phân phối hàng hoá trên thị trường Thương mại bao gồm 4 lĩnh vực chính: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến lĩnh vực đầu tư và

Trang 15

thương mại sở hữu trí tuệ Quá trình lưu chuyển hàng hoá được thực hiện theo hai phương thức bán buôn và bán lẻ, trong đó bán buôn là bán hàng hoá cho các tổ chức bán lẻ tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các đơn vị xuất khẩu để tiếp tục quá trình lưu chuyển của hàng; bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng Các hoạt động của thương mại bao gồm marketing, hỗ trợ khách hàng, cung cấp thông tin, mua – bán, thanh toán, chuyển khoản,… tuy nhiên thương mại trong thực tế không yêu cầu phải thực hiện đầy đủ các khâu đó, chỉ cần thực hiện các khâu mà DN, tổ chức cần để thỏa mãn nhu cầu khách hàng

1.1.2 Bán lẻ

Khái niệm bán lẻ và kênh phân phối cần được phân biệt rõ ràng Kênh phân phối

là một kênh trung gian gồm một nhóm các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Có thể có các loại trung gian sau: Nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý, môi giới và nhà phân phối Tuy nhiên trong đề tài này, chúng ta tập trung vào khái niệm bán lẻ để làm rõ vấn đề thương mại bán lẻ Bán lẻ là một hình thức của kênh phân phối, là một hoạt động trao đổi ra đời từ rất lâu của con người nên đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau liên quan về khái niệm này, chẳng hạn như:

Trong cuốn “Quản trị Marketing”(2013), Philipe Kotler đưa ra định nghĩa về bán

lẻ như sau: “Bán lẻ bao gồm các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch

vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ được sử dụng vào mục đích cá nhân, không mang tính thương mại.”

OECD (2005) định nghĩa theo 2 góc độ: Tiếp cận góc độ kinh tế: Bán lẻ là bán

hàng hoá dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng làm thay đổi giá trị hàng hoá

từ hàng hóa sang tiền nhằm mục đích thoả mãn tối đa nhu ccầu khách hàng và nâng

tầm thương hiệu của nhà cung cấp, nhà sản xuất hoặc nhà bán lẻ Tiếp cận góc độ khoa học kỹ thuật – công nghệ: Bán lẻ hàng hoá là một tổ hợp các hoạt động công nghệ,

dịch vụ phức tạp được tính từ khi hàng hoá được nhập vào DN bán lẻ, hàng hoá được chuyển giao danh nghĩa cho người tiêu dùng cuối cùng, biến giá trị cá biệt của hàng hoá thành giá trị xã hội, biến giá trị sử dụng tiềm năng thành giá trị thực hiện của hàng hoá

Trang 16

Theo Phạm Hồng Tú (2013), bán lẻ là bán với số lượng nhỏ; bán trực tiếp cho người tiêu dùng, bán lẻ hàng hóa và dịch vụ có liên quan; người tiêu dùng mua để phục vụ cho nhu cầu cá nhân hoặc hộ gia đình, không dùng để kinh doanh (bán lại); không bao gồm tiều dùng cho sản xuất; là khâu cuổi cùng của quá trình lưu thông để sản phẩm đến tay người tiêu dùng; bán lẻ tại một địa điểm nhất định, không nhất định hoặc thông qua các dịch vụ khác

Nguyễn Xuân Quang (2014), bán lẻ là hoạt động phân phối hàng đến tay người tiêu dùng cuối cùng, người tiêu thụ cuối cùng bao gồm tất cả những người đang sống trong một không gian địa lý nhất định mà khi xuất hiện, họ mua hàng nhằm thỏa mãn

nhu cầu cá nhân của họ

Do đó, hoạt động bán lẻ có thể hiểu là hoạt động kinh doanh mua một số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm phục vụ nhu cầu của cá nhân

Một số DN, tổ chức hiện nay nhận thấy việc bán buôn vẫn chưa đủ để mở rộng phạm vi kinh doanh hoặc họ không đủ niềm tin vào các nhà bán lẻ hiện tại nên song song đó họ thực hiện luôn chức năng bán lẻ cho người tiêu dùng Hoặc các DN, nhà bán lẻ mặc dù chỉ có chức năng duy nhất là bán lẻ, là trung gian đưa sản phẩm đến người tiêu dùng nhưng họ vẫn sản xuất các mặt hàng mang thương hiệu riêng Điển hình như Coopmart, Aeon, Lottemart, khi dạo quanh các siêu thị, trung tâm mua sắm này ta vẫn dễ dàng bắt gặp các mặt hàng do chính các DN này sản xuất, đưa vào lưu thông Như vậy ta có thể nói: Nhà bán lẻ cũng có thể là nhà sản xuất, nhà bán sỉ hay là nhà cung cấp và ngược lại trong một số trường hợp cụ thể

Tóm lại, từ những tìm hiểu về bán lẻ và thương mại, ta có thể hiểu thương mại bán lẻ là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bằng việc mua – bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đến cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ hoặc gia đình

1.1.3 Đặc trưng và vai trò của thương mại bán lẻ

1.1.3.1 Đặc trưng của thương mại bán lẻ

Trang 17

Tối thiểu phải có 2 bên tham gia: người bán và người mua Tuy nhiên đối với hình thức thương mại bán lẻ trực tuyến yêu cầu ít nhất phải có 3 bên tham gia: người bán, người mua và nhà cung cấp dịch vụ mạng

Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng như: chức năng mua và bán, chức năng thông tin, chức năng vận tải, chức năng phân loại và tiêu chuẩn hoá các loại hàng hoá, chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm, chức năng chia sẻ rủi ro, chức năng cung cấp tài chính…

Hàng hóa được mua với mục đích tiêu dùng, không mang tính thương mại nên khi hàng hóa được trao đổi với người mua sẽ không có cơ hội quay lại thị trường Người mua hàng cũng chính là người tiêu dùng cuối cùng

Hàng hóa đa dạng, phong phú Đa số các nơi bán lẻ đều cung cấp nhiều mặt hàng khác nhau, đáp ứng được nhu cầu khác nhau của khách hàng, đồng thời tăng hiệu quả kinh doanh cho nhà bán lẻ Không chỉ đa dạng về hàng hóa mà các nhãn hiệu, thương hiệu khác nhau cũng phong phú không kém, giúp người mua có nhiều sự lựa chọn hơn trong quá trình mua sắm

Hoạt động bán lẻ bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố: (1) quy mô và tốc độ tăng trưởng của thị trường tiêu dùng; (2) quá trình chuyển biến và phát triển của các mô hình bán lẻ; (3) mạng lưới hệ thống bán lẻ; (3) nguồn cung cấp, sức mua và giá cả; (4) năng lực thích ứng và dự báo thị trường; (5) chính sách phát triển thương mại và quản

lý lưu thông hàng hóa của Nhà nước; (6) ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, truyền thống, lịch sử xã hội và các điều kiện tự nhiên

1.1.3.2 Vai trò của thương mại bán lẻ

Thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển là một trong những chức năng quan trọng của hoạt động bán lẻ, bởi vì hoạt động bán lẻ góp phần tạo động lực thúc đẩy các nhà sản xuất hàng hóa phát triển đồng thời nâng cao mức sống của người tiêu dùng Khi xã hội phát triển thì nhu cầu ngày càng tăng, DN tăng quy mô sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng Thông qua hoạt động bán lẻ, người tiêu dùng được cung ứng đầy đủ, kịp thời và đúng chủng loại hàng hóa mà họ cần Có thể nói thương mại bán lẻ đã hiện thực hóa nhu cầu của người tiêu dùng

Trang 18

Vai trò thứ hai đó là nâng cao sức cạnh tranh của DN bán lẻ nói riêng và của nền kinh tế nói chung Sự tăng trưởng của DN bán lẻ sẽ giúp họ hình thành một hệ thống phân phối rộng khắp và có được cơ hội sỡ hữu chuỗi cung ứng nội địa trong lĩnh vực,

và hướng đến chuỗi cung ứng toàn cầu Do đó, DN cần nâng cao vị thế và thương hiệu của mình trên thị trường Việc các DN nâng cao được năng lực cạnh tranh của chính mình cũng đồng nghĩa với việc sẽ góp một phần nâng cao được năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia

1.1.4 Các hình thức mô hình thương mại bán lẻ

Các mô hình thương mại bán lẻ đa dạng bao gồm bán lẻ truyền thống và hiện đại Mỗi hình thức khác nhau sẽ có đặc điểm khác nhau và tồn tại sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa chúng

Hình thức bán lẻ truyền thống là phương thức bán lẻ trong đó chủ yếu sử dụng

phương thức bán hàng thủ công, trực tiếp Việc thực hiện mua bán đòi hỏi người bán

và người mua phải trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và thỏa thuận về tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả và các điều kiện mua hàng khác Hình thức này đòi hỏi người bán hàng phải thực hiện toàn bộ các công việc liên quan đến việc bán hàng, từ khâu chào khách hàng, giới thiệu sản phẩm, đóng gói, nhận tiền và tiễn khách…Các mô hình tiêu biểu của bán lẻ truyền thống bao gồm: chợ, các cửa hàng bán lẻ truyền thống và buôn bán hàng rong

Hình thức bán lẻ hiện đại là hình thức bán hàng theo phương thức tự phục vụ

hoặc kết hợp chọn lấy hàng trên giá cho khách hàng và để khách hàng tự lựa chọn hàng trên giá trưng bày để ngỏ với sự hỗ trợ của nhân viên bán hàng Phương thức bán

lẻ hiện đại này đòi hỏi có sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại vào việc quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh Như vậy, theo hình thức bán hàng này, người mua hàng thường tự mình thực hiện toàn bộ công đoạn lựa chọn và mua hàng

mà không cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía người bán hàng Hình thức bán lẻ hiện đại bao gồm: TTTM, siêu thị, cửa hàng tiện ích, cửa hàng mua sắm trực tuyến…

Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích một số mô hình bán lẻ nổi bật nhất tại Việt Nam: chợ (bán lẻ truyền thống) và siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng trực tuyến (bán lẻ hiện đại)

Trang 19

1.2 Các khái niệm về mô hình bán lẻ

1.2.1 Chợ truyền thống

1.2.1.1 Khái niệm

Có rất nhiều khái niệm về chợ truyền thống, tuy nhiên nó đều mang hàm nghĩa

để chỉ một loại hình kinh doanh được phát triển dựa trên những hoạt động thương mại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa - dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư

Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định Chợ có nhiều hình thức khác nhau: chợ truyền thống, chợ tự phát… (Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin (2004), trang 155)

Hoặc theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại:

“Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”

Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ: “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư” Nghị định cũng làm rõ các khái niệm liên quan như phạm vi chợ, chợ đầu mối, điểm kinh doanh tại chợ

Phạm vi chợ là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện

tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ

Chợ đầu mối là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hoá lớn từ

các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác

Điểm kinh doanh tại chợ bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được bố

trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3m2 /điểm

Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống Hoạt động hằng ngày, hằng tuần hoặc theo từng thời điểm nhất định (lễ hội, phiên mùa, ) tại một địa điểm công

Trang 20

cộng, tập trung đông người mua người bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau và chợ được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống tiêu dùng xã hội

1.2.1.2 Phân loại

Phân loại chợ truyền thống, gồm:

Chợ hạng 1: Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố,

hiện đại theo quy hoạch; được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được

tổ chức họp thường xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ như trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác

Chợ hạng 2: Là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được

đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên;

có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ như trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ

đo lường, vệ sinh công cộng

Chợ hạng 3: Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được

đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận

Chợ cuối tuần ở Chatuchak - Bangkok , Thái Lan là một loại chợ truyền thống lớn nhất trên thế giới với hơn 5.000 gian hàng trải dài trên diện tích 35 mẫu Anh Là một điểm thu hút lớn ở Bangkok, Chatuchak có các sản phẩm đa dạng, từ quần áo đến thủ công mỹ nghệ Thái Lan, biểu tượng Phật giáo đến thực phẩm, điện, đĩa DVD, nhạc, sách và thậm chí cả động vật sống Chợ này cực kỳ phổ biến này nhận được hơn 200.000 du khách mỗi ngày cuối tuần Ngoài ra còn có Grand Bazaar - Istanbul ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một trong những chợ truyền thống, thị trường mua bán sôi nổi nhất trên Thế Giới

1.2.1.3 Đặc điểm

Trang 21

Chợ truyền thống ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người Từ khi con người sản xuất hàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ nên phải mang hàng hóa đi trao đổi với người khác để lấy một loại hàng hóa khác

Hàng hóa ở chợ thường đa dạng, nhiều chủng loại khác nhau từ nhu yếu phẩm đến thiết yếu phẩm Mỗi chợ thường nhiều gian hàng khác nhau bày bán các mặt hàng giống nhau hoặc khác nhau Trên thế giới có rất nhiều chợ truyền thống nổi tiếng, các chợ này hình thành từ rất lâu đời và trở thành nét đặc trưng không thể thiếu của từng quốc gia Thị trường truyền thống này cung cấp những trải nghiệm mua sắm cảm giác không khí, cảm giác mà các cửa hàng và trung tâm mua sắm thường không có

Được điều hành bởi người dân địa phương chủ yếu dành cho người dân địa phương, họ cũng cung cấp cho du khách một cái nhìn sâu sắc vào nền văn hoá đích thực của thành phố nơi chính họ sinh sống Đó là một cuộc tấn công vào tất cả giác quan của người tiêu dùng trong khu vực và cả khách du lịch trên thế giới Từ các chợ thực phẩm đầy màu sắc, bùng nổ đến các hội chợ trời cổ điển, chợ giới thiệu sinh hoạt địa phương, buôn bán đủ các loại mặt hàng từ thực phẩm, may mặc, hàng thủ công, đồ

cổ, điện tử, có cả thú vật, và cho phép du khách có cơ hội lặn sâu khám phá

1.2.2 Siêu thị

1.2.2.1 Khái niệm

"Siêu thị" là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài - "supermarket" (tiếng Anh) trong đó "super" nghĩa là "siêu" và "market" là "chợ" Khi về đến Việt Nam, để phù hợp với ngôn ngữ tiếng Việt, từ "siêu thị" đã được hình thành ("Thị" trong tiếng Hán Việt có nghĩa là "chợ")

Theo định nghĩa của Từ điển Kinh doanh, siêu thị là cửa hàng bán lẻ kiêm cửa hàng tự phục vụ rộng lớn kết hợp các tính năng của siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng giảm giá và cửa hàng chuyên dụng tại một địa điểm

Theo Quy chế Siêu thị, TTTM của Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004, siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại, kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh Có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng Đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh Có các phương thức

Trang 22

phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng

Như vậy hiểu một cách đơn giản, siêu thị là một trong những loại hình bán lẻ hiện đại nhất hiện nay Với diện tích rộng và hàng hóa đa dạng được trưng bày trên giá, kệ theo chủng loại và niêm yết giá rõ ràng, thuận tiện cho người mua lựa chọn hàng hóa Trên lý thuyết, siêu thị cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm thông thường của họ trong một chuyến đi Phục vụ hầu hết nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng từ tiêu dùng hàng ngày đến tiêu dùng ngắn ngày Hoạt động theo phương thức tự phục vụ, thanh toán tập trung

1.2.2.2 Phân loại

Siêu thị được phân loại dựa theo các tiêu chí sau:

- Theo chủng loại hàng hóa kinh doanh:

Siêu thị tổng hợp: là siêu thị kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau, phục vụ

cho nhiều tầng lớp khách hàng Các siêu thị tổng hợp đang ngày càng hoàn thiện hơn khi tổng hợp đến hàng nghìn loại hàng hóa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về mọi mặt cuộc sống cảu người tiêu dùng (Nguyễn Minh Tâm, 2015)

Siêu thị chuyên doanh: là siêu thị cung cấp một hay một số loại hàng hóa của

ngành hàng, lĩnh vực nào đó Ví dụ như siêu thị thực phẩm, siêu thị điện máy, siêu thị vật liệu xây dựng,… Các mặt hàng ở siêu thị chuyên doanh thường mang tính chuyên sâu (Nguyễn Minh Tâm, 2015)

- Theo quy mô: về cơ bản phân loại siêu thị theo quy mô là phân loại về diện tích

kinh doanh và danh mục hàng hóa Theo quyết định 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Thương mại về việc ban hành quy hành Quy chế siêu thị, TTTM đã phân loại siêu thị thành ba hạng áp dụng cho siêu thị tổng hợp và siêu thị chuyên doanh như sau:

Trang 23

Bảng 1 1: Phân loại siêu thị theo quy mô

Phân loại Đối với siêu thị tổng hợp Đối với siêu thị chuyên

doanh

Siêu thị hạng I

- Diện tích: từ 5.000 m2 trở lên

- Danh mục hàng hóa: từ 20.000 tên hàng trở lên

- Diện tích: từ 1.000 m2 trở lên

- Danh mục hàng hóa: từ 2.000 tên hàng trở lên

Siêu thị hạng II

- Diện tích: từ 2.000 m2 trở lên

- Danh mục hàng hóa: từ 10.000 tên hàng trở lên

- Diện tích: từ 500 m2 trở lên

- Danh mục hàng hóa: từ 1.000 tên hàng trở lên

- Hình thức thanh toán tập trung

- Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại

Trang 24

- Hàng hóa đa dạng, phong phú từ mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm đến văn phòng phẩm, y tế,…và có xuất xứ rõ ràng

- Khi so sánh với cửa hàng tạp hoá thông thường, các siêu thị nói chung cung cấp nhiều sự đa dạng và tiện lợi hơn và giá cả cũng tốt hơn

1.2.3 Cửa hàng tiện lợi

1.2.3.1 Khái niệm

“Cửa hàng tiện lợi” được dịch ra từ các thuật ngữ tiếng anh “convenience store” Trong đó “comvenience” nghĩa là tiện lợi và “store” là cửa hàng Tại Việt Nam, mô hình cửa hàng tiện lợi còn được gọi với nhiều tên khác như: cửa hàng tiện nghi, cửa hàng tiện ích hay cửa hàng 24h Cửa hàng tiện lợi là một cửa hàng nhỏ, diện tích nhỏ, chuyên bày bán các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày, chủ yếu là các sản phẩm đóng gói, hỗ trợ cho người tiêu dùng một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất, mở cửa suốt 24h trong ngày và 7 ngày trong tuần Phương thức tự phục vụ là chủ yếu, nhóm khách hàng chọn mua sắm tại hình thức này đa số là nhân viên văn phòng, sinh viên, hoặc những người không có nhiều thời gian cho việc mua sắm (Nguyễn Minh Tâm, 2015)

Còn theo nghiên cứu của Hiệp hội các Quốc gia về cửa hàng tiện lợi và bán lẻ nhiên liệu của Mỹ (National Association For Convenience & Fuel Retailing - NACS) cửa hàng tiện lợi là “Một DN bán lẻ tập trung chủ yếu vào việc cung cấp cho người dân một vị trí thuận tiện để nhanh chóng mua các sản phẩm tiêu dùng (chủ yếu là thực phẩm hoặc thực phẩm và xăng dầu) và dịch vụ”

1.2.3.2 Phân loại

Theo nghiên cứu của NACS (2017), cửa hàng tiện lợi được chia thành 6 dạng đại diện cho xu hướng phát triển của ngành công nghiệp này:

- Kiosk: trong tiếng anh, “kiosk” được hiểu là lều, quán nhỏ Cửa hàng tiện lợi

dạng này là một cửa hàng nhỏ với diện tích khoảng 250 m2 Nằm trong hoặc kế bên các trạm xăng dầu, cung cấp các sản phẩm nhanh, tiện lợi như: bánh kẹo, thuốc lá, nước uống, đồ ăn nhẹ, các mặt hàng đóng gói sẵn,… Sự hiện diện của dịch vụ ăn uống

và mặt hàng tạp hóa là không có Thuộc quyền sở hữu của các chủ trạm xăng, dầu,

Trang 25

được mở ra nhằm tìm kiếm thêm doanh thu, cụ thể đóng góp khoảng 10% doanh thu tại địa điểm đó Khách hàng của dạng cửa hàng này là dân địa phương và những người ghé trạm bơm xăng, dầu

- Cửa hàng tiện lợi mini: là một dạng cải tiến của Kiosk, diện tích khoảng 250 m2

đến hơn 350 m2 Trang bị thêm vài mặt hàng tạp hóa và dịch vụ ăn uống, chủ yếu phục

vụ bánh mì thịt, sandwich Tùy vào mục đích chủ sở hữu, cửa hàng tiện lợi mini có thể được đặt ở các vị trí khác nhau như gần trạm xăng (là chủ yếu) hoặc ở khu đô thị

- Cửa hàng tiện lợi hạn chế: diện tích dạng này từ 500 m2 đến hơn 650 m2 Cửa hàng tiện lợi hạn chế là dạng cửa hàng liên kết chặc chẽ với các trạm xăng, dầu Cửa hàng tiện lợi hạn chế khác cửa hàng tiện lợi mini ở chỗ các sản phẩm đa dạng hơn và dịch vụ ăn uống cung cấp món ăn đơn giản nhưng có thêm vài sự lựa chọn cho người tiêu dùng Khách hàng mục tiêu của dạng cửa hàng này là khách hàng của cửa hàng tiện lợi truyền thống, mặc dù thực tế khách hàng chính của họ là người dừng trạm bơm xăng

- Cửa hàng tiện lợi truyền thống: Đây là dạng cửa hàng tiền đề của mọi cửa hàng

Diện tích cửa hàng này dao động từ 730 m2 đến 770 m2 Cung cấp hầu hết các loại sản phẩm từ bánh kẹo, sữa, thức uống, thức ăn nhẹ đến các mặt hàng y tế, làm đẹp Ngoài

ra còn có các loại thực phẩm chế biến sẵn như thịt, cá, rau,… và các mặt hàng sản xuất hạn chế

- Cửa hàng tiện lợi mở rộng: Diện tích lớn với khoảng từ 850 m2 đến hơn 1.000

m2 Trưng bày đa dạng sản phẩm tạp hóa hơn trên nhiều kệ khác nhau, được bố trí thêm không gian dành cho khách ăn uống và nghỉ chân Các chuỗi cửa hàng tiện lợi

mở rộng đang tập trung cao độ vào việc phục vụ thức ăn nhanh, họ thu được lợi nhuận cao trong khoản này Phân khúc khách hàng khá rộng, ngoài những khách hàng thông thường, cửa hàng tiện lợi mở rộng còn tập trung đến người già, phụ nữ và nhiều gia đình khác

- Siêu thị tiện lợi: đây là cửa hàng khá lớn với diện tích kinh doanh lên đến hơn

1.500 m2 Thường cung cấp hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ khác nhau ở những không gian chuyên biệt Chẳng hạn như tiệm bánh, nhà hàng, nhà thuốc… Số lượng nhân viên khá đông, cơ sở vật chất khang trang hơn các dạng cửa hàng khác

Trang 26

Nhìn chung, các dạng cửa hàng tiện lợi thường có diện tích nhỏ hơn 1.500 m2, cung cấp đầy đủ các mặt hàng tạp hóa, thức ăn nhẹ, sách, báo thông dụng,… vài nơi còn kết hợp và cung cấp xăng, dầu cho người tiêu dùng Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc kết hợp cửa hàng tiện lợi và trạm xăng, dầu chưa phát triển như các nước khác Cửa hàng tiện lợi phát triển mạnh ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là dạng cửa hàng tiện lợi mở rộng, tập trung ở các khu đô thị, trường học, nơi đông dân cư và mặt bằng thuận lợi

1.2.3.3 Đặc điểm

Một cửa hàng tiện lợi thường hội tụ những đặc điểm chủ yếu sau:

- Diện tích từ 50 m2 trở lên, có không gian giành cho khách hàng ăn uống

- Cung cấp các mặt hàng tạp hóa cần thiết và thông dụng, cùng với dịch vụ phục

vụ các món ăn nhẹ và nhanh chóng, tiện lợi

- Mở cửa hoạt động suốt 24/7

- Nằm ở vị trí đắc địa, đông dân và nhiều người qua lại

- Có bãi đậu xe hoặc không (tùy vào vị trí đại lý của cửa hàng)

Khách hàng sử dụng cửa hàng tiện lợi với nhiều mục đích khác nhau: Khách vãng lai thường dừng chân ở cửa hàng tiện lợi ngay trạm xăng để bơm xăng, mua một lon sữa, một ổ bánh mì hoặc vài lon bia trên đường về nhà mà không phải lái xe đến các trung tâm mua sắm Khách hàng địa phương cũng thường xuyên mua sắm các cửa hàng tiện lợi để mua vé số, kẹo, báo và tạp chí Học sinh thì thường mua đồ uống lạnh

và các đồ ăn nhẹ khác Những bà nội chợ luôn nhanh chóng tìm được mặt hàng cần thiết cấp bách tại đây như: chén, muỗng, bàn chải các loại, khăn, bông y tế,…

1.2.4 Cửa hàng trực tuyến (Mua sắm trực tuyến)

1.2.4.1 Khái niệm

Trước tiên ta cần hiểu TMĐT là gì, nó còn được gọi là e-commerce, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như internet và các mạng máy tính Một số khái niệm TMĐT được định nghĩa bởi các tổ chức uy tín trên thế giới như sau:

Trang 27

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”

Theo Ủy ban TMĐT của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: “TMĐT liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa

và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống

có nền tảng dựa trên Internet.” Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ TMĐT

Theo Ủy ban châu Âu: “TMĐT có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các DN, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến) Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện

trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công”

Tóm lại, TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử

Mua sắm trực tuyến là một phần của TMĐT, cho phép khách hàng trực tiếp mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ người bán (cửa hàng trực tuyến) qua Internet sử dụng trình duyệt web thông qua các thiết bị thông minh khác nhau như máy tính, điện thoại,… Người tiêu dùng sẽ tìm thấy sản phẩm mà họ quan tâm hoặc mong muốn có bằng cách trực tiếp truy cập trang web, ứng dụng của nhà bán lẻ, nhà cung cấp Thường các sản phẩm được đăng bán sẽ hiển thị số lượng sẵn có và giá của tương tự tại các nhà bán lẻ điện tử khác nhau Phương thức thanh toán cũng rất đa dạng, người mua hàng trực tuyến có thể thanh toán theo cách truyền thống (COD: nhận hàng rồi thanh toán), thanh toán trực tuyến (qua thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, tiền ảo, )

Cửa hàng trực tuyến là loại hình rất đặc biệt, phát triển và tiên tiến hơn các loại hình truyền thống Mặt bằng kinh doanh của cửa hàng này không phải một vị trí địa lý

mà là trang web được xây dựng để cho phép khách hàng sử dụng các thiết bị điện tử

Trang 28

truy cập, tìm kiếm và thanh toán các sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn Để cửa hàng trực tuyến hoạt động được, người mua phải đủ điều kiện để truy cập được vào trang web để tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ Về phía người bán phải tạo được niềm tin với khách hàng, hình thức mua hàng nhanh chóng sẽ dễ dàng sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho cửa hàng trực tuyến

Có nhiều loại cửa hàng trực tuyến khác nhau như trung tâm mua sắm trực tuyến, máy chủ TMĐT, các ứng dụng TMĐT,…

1.2.4.2 Đặc điểm

Vào năm 1979, Michael Aldrich là người tiên phong hoat động mua sắm trực

tuyến, đến năm 1984, Gateshead SIS/Tesco, CompuServe là những trang mua bán trực tuyến dạng B2C đầu tiên của thế giới Kể từ thời điểm đó, cửa hàng trực tuyến đã chứng tỏ vai trò của nó trong việc mở rộng kênh bán hàng Hàng loạt các thương hiệu nổi tiếng ra đời như Ebay, Amazon, Alibaba, Groupon cùng với các biến thể của cửa hàng trực tuyến Như vậy đây là một hình thức thương mại xuất hiện khá lâu trên thế giới nhưng tại Việt Nam, thương mại trực tuyến chỉ mới xuất hiện và phát triển từ năm

1997 Tuy nhiên trong những năm gần đây, TMĐT trở thành lĩnh vực tiềm năng, hứa hẹn sẽ phát triển trong tương lai

Các mặt hàng của cửa hàng trực tuyến không đơn giản chỉ là hàng hóa, dịch vụ

mà còn bao gồm giỏ hàng, hệ thống hỗ trợ tiến hành đặt hàng và thanh toán: Giỏ hàng

là nơi cho phép khách hàng lưạ chọn và tạm lưu các sản phẩm mà họ muốn mua trước khi thanh toán Hệ thống thanh toán trực tuyến là hệ thống cho phép người dùng lựa chọn phương thức thanh toán mà họ muốn sử dụng, thu thập thông tin thanh toán (ví

dụ như số thẻ tín dụng), các quy trình thanh toán,… Xuất hàng và chuyển các sản phẩm, dịch vụ và theo dõi đơn hàng mà khách hàng đã đặt mua

Ngoài hiển thị các mặt hàng, sản phẩm trên mặt tiền của cửa hàng trực tuyến, mặt tiền cửa hàng còn thông tin đến người mua về cửa hàng, công ty, mô tả sản phẩm, thông tin liên lạc,… đây cũng là một điểm làm nên sự khác biệt cho cửa hàng trực tuyến

1.3 Kinh nghiệm phát triển các mô hình thương mại bán lẻ trên Thế giới

Trang 29

Ngành bán lẻ liên tục thay đổi đòi hỏi các DN luôn phải tự làm mới mình, bắt kịp với những biến động mới của thị trường Cùng với công nghệ internet, các trang web đánh giá và các mạng xã hội, người tiêu dùng ngày càng nắm bắt được nhiều thông tin

và trở nên khó tính hơn bao giờ hết Vấn đề đặt ra cho các DN là cần phải chú trọng tới yếu tố khách hàng, nhạy bén với các thay đổi của thị trường và các xu hướng mới Chính vì vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển các hình thức thương mại bán lẻ tại một số nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản trở nên cần thiết, vì từ đó, ta có thể rút

ra bài học kinh nghiệm cho DN bán lẻ tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí

Minh nói riêng

1.3.1 Thương mại bán lẻ tại Mỹ

Ngành bán lẻ của Mỹ luôn là một trong những niềm tự hào của thế giới, không phải chỉ ở quy mô mà còn sự phát triển đa dạng Hầu hết các xu hướng bán lẻ nổi tiếng như mua sắm trực tuyến, siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng tiện lợi, TTTM đều khởi nguồn từ Mỹ Mới đây, báo cáo của “Global Powers Retailing” (2016), trong số 10 công ty bán lẻ lớn nhất toàn cầu, có 5 hãng đến từ Mỹ, trong vòng 14 năm từ 1993-

2017, doanh số ngành bán lẻ Mỹ đã tăng trưởng bình quân 4,9% và đạt 29 nghìn tỷ năm 2016 Tính đến tháng 12/2016, ngành kinh doanh này đã tạo ra 18,7 triệu việc làm

và liên tục tuyển thêm người bất chấp tình hình khó khăn của thị trường Walmart là tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Mỹ nhưng lại được cả thế giới biết đến, quy mô có 11.527 cửa hàng ở 28 quốc gia trên thế giới, với hơn 2,3 triệu nhân viên, 260 triệu khách hàng mỗi tuần Thật khó tưởng tượng nếu nước Mỹ không có Walmart Đối thủ của Walmart là Costco hiện kinh doanh trên 737 cửa hàng, bao gồm 512 ở Mỹ và Puerto Rico, 97 ở Canada, 37 ở Mexico, 28 ở Anh, 25 ở Nhật, 13 ở Đài Loan, 8 ở Úc,

1 ở Iceland và 1 ở Pháp Trong những năm gần đây, mạng lưới TMĐT của Costco cũng được triển khai, nhưng chỉ giới hạn ở Mỹ, Canada, Anh, Mexico, Hàn Quốc và Đài Loan Whole Foods cũng là một chuỗi siêu thị lớn của Mỹ, tính đến thời điểm tháng 9/2015, Whole Foods có 431 siêu thị ở Mỹ, Canada, và Anh Quốc với hơn 91.000 nhân viên Bên cạnh đó, Mỹ còn nổi tiếng bởi các thương hiệu bán lẻ về chuỗi cửa hàng tiện lợi như 7-Eleven, Circle K, Thorntons, Racetrac, Cumberland farm Như vậy ngành bán lẻ của mỹ luôn tạo thế thượng phong trong việc đón đầu các

cơ hội và xu hướng của thế giới, từ chiếm lĩnh thị trường bán lẻ truyền thống cho đến

Trang 30

TMĐT Thật vậy, cái tên Amazon là một biểu tưởng của lịch sử mua sắm trực tuyến, mặc dù khởi đầu chỉ là một hiệu sách trực tuyến nhỏ vào năm 1997, nhưng sau chặng đường 10 năm phát triển, Amazon đã trở thành nền tảng thương mại bán lẻ trực tuyến

“vươn vòi khắp mọi nơi”, hay nói cách khác, Amazon đã tạo một cú sốc cho ngành bán lẻ của Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, thậm chí nó khiến các đối thủ trong cùng lĩnh như Kroger, Costco hay Wal-Mart “nhấp nhổm” không yên Ngay cả các công ty châu Âu chẳng liên quan gì tới Mỹ, như Tesco của Anh và Carrefour, BigC của Pháp, thương hiệu của Châu Á như Aeon mall, Lotte mark, Ozeki cũng bị ảnh hưởng Có được sự phát triển nổi bật như vậy, các DN Mỹ luôn thúc đẩy các chiến lược thích ứng nhanh với xu hướng toàn cầu, để đối phó với áp lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững Khi đứng trước nguy cơ bị loại bỏ khỏi thị trường, các DN bán lẻ luôn thay đổi tư duy kinh doanh để kịp thời thích ứng và tồn tại Một số bài học dành cho DN trong ngành bán lẻ Việt Nam từ Mỹ như sau:

- Khả năng nắm bắt biến động thị trường: đừng quá chủ quan vào kết quả kinh doanh hiện tại mà bỏ quên thị trường bán lẻ luôn biến động từng ngày Walmart và Costco đã từng thiệt hại hàng tỷ đô trước sự ra đời của Amazon, 9000 cửa hàng tiện ích bị phá sán vì thói quen tiên dùng thay đổi, sự bùng nổ của TMĐT đang khiến ngành bán lẻ truyền thống của Mỹ chao đảo Vì vậy chỉ có những DN có khả năng dự báo và nắm bắt xu hướng thị trường mới có thể trụ vững Walmark, Costco lần lượt khắc phục sai lầm của mình khi từng bước hoàn thiện hệ thống bán lẻ truyền thống tích hợp với cả mua sắm trực tuyến

- Đầu tư công nghệ là chiến lược quan trọng nhất để khẳng định sức mạnh cạnh tranh của các DN bán lẻ Mỹ nổi tiếng với nhiều cửa hàng trực tuyến với chế độ bảo mật hoàn hảo, thủ tục mua sắm đơn giản, rút ngắn thời gian cho người tiêu dùng Ngay

cả tại cửa hàng truyền thống, DN Mỹ cũng đầu tư các hệ thống quan sát hàng hóa và

xử lý sự cố bất thường cho khác hàng, máy tính tiền tự động vào giờ cao điểm

- Tăng cường các hoạt động khuyến khích thương mại để lôi cuốn người tiêu dùng bằng các chính sách: sản phẩm cốt lõi, chính sách giá khác biệt, sản phẩm chất lượng, ứng dụng tiện ích, làm mới không gian mua sắm

1.3.2 Thương mại bán lẻ tại Nhật

Trang 31

Các nhà bán lẻ đến từ Nhật Bản luôn là mối “đe dọa” lớn đối với các nhà bán lẻ hàng đầu Các mô hình bán lẻ ở Nhật cũng phong phú và đuổi kịp xu hướng thế giới từ chợ truyền thống, chợ phiên, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tiện ích, siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng giảm giá Nhật Bản là một trong 6 quốc gia có mật độ phân bố dày các cửa hàng bán lẻ lớn nhất thế giới Năm 2017, Nhật Bản sẽ đạt doanh thu bán lẻ tương ứng là 1.283 nghìn tỷ USD TMĐT là một yếu tố ngày càng lớn trong tổng thể doanh

số bán lẻ cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương Nhật Bản cũng không ngoại lệ khi nắm bắt được xu hướng này Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đã khuyến khích các DN đầu tư TMĐT cùng với hậu thuẫn của Chính phủ Bằng chứng là vào năm 2016 thị trường TMĐT của Nhật Bản đã tăng cao đến mức 133 tỷ đô la Mỹ

và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại, không chỉ thế, tốc độ tăng trưởng vẫn đang tăng nhanh theo từng năm

Tập đoàn AEON, hiện là tập đoàn bán lẻ hàng đầu Nhật Bản và Châu Á Tính đến tháng 11/2016 AEON MALL có khoảng 160 cửa hàng trên thế giới, tập trung chủ yếu ở Nhật Bản (144 trung tâm) và ở Trung Quốc (17 trung tâm) Ngoài ra, AEON còn các chuỗi cửa hàng tiện lợi MINISTOP phục vụ 24/7, tại Hàn Quốc có 2317 cửa hàng, tại Nhật là 2244 cửa hàng, 64 cửa hàng tại Trung Quốc và 75 cửa hàng tại Việt Nam AEON đang rất tích cực trên con đường phát triển các trung tâm mua sắm dựa trên tiêu chí hài hòa với cộng đồng xung quanh, không chỉ tại Nhật Bản mà còn ở các nước khác

Mặc dù các nhà bán lẻ đến từ Nhật Bản không phải là các nhà bán lẻ hàng đầu thế giới, nhưng sự phát triển mô hình bán lẻ tại Nhật Bản luôn có sự quy hoạch đồng

bộ Không giống với các nước phát triển khác, Nhật quan tâm đến việc phát triển hệ thống bán lẻ truyền thống, tăng cường nội lực và sức cạnh tranh của các cửa hàng bán

lẻ vừa và nhỏ kinh doanh truyền thống, đặc biệt là chú trọng phát triển các chợ ngoài trời bởi loại hình này có ưu thế trong việc cung cấp các thực phẩm tươi sống và đáp ứng được nhu cầu mua sắm của một số bộ phận dân cư Bên cạnh chính sách hỗ trợ các loại hình truyền thống, Chính phủ Nhật Bản cũng có nhiều chính sách hỗ trợ các loại hình kinh doanh bán lẻ văn minh hiện đại nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa hệ thống bán lẻ theo xu hướng hội nhập; có chính sách hợp lý đối với việc khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán lẻ; quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm, vai trò

Trang 32

của các cơ quan ban ngành trong việc quản lý và điều hành hoạt động bán lẻ Đặc biệt chính sách bảo vệ người tiêu dùng có những quy định khắt khe đối với nhà bán lẻ, đây cũng là động lực để các DN không ngừng đổi mới về mô hình và chất lượng sản phẩm Như vậy, từ những phân tích kinh nghiệm từ Nhật, chúng ta có thể rút ra được các bài học kinh nghiệm hữu ích cho DN Việt Nam:

- Nhà nước cần phải bảo đảm điều kiện về môi trường kinh doanh để hoạt động bán lẻ phát triển một cách công bằng, hiệu quả Cân đối giữa sự phát triển bán lẻ truyền thống và hiện đại Chợ truyền thống là một trong những loại hình kinh doanh mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cần gìn giữ và phát huy Ngay cả nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng luôn có chính sách lưu giữ loại hình này

- Xây dựng lộ trình tự do hóa ngành thương mại bán lẻ phù hợp với sự phát triển khu vực nội địa vừa bảo đảm phù hợp với các thông lệ quốc tế

- Có chính sách hợp lý trong việc thu hút và khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường bán lẻ Việt Nam, đồng thời có chính sách hỗ trợ các nhà bán lẻ trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập; và đặc biệt Nhà nước cần

có chính sách bảo vệ người tiêu dùng

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Nội dung chương 1 đã trình bày đến lý thuyết về thương mại và lý thuyết về bán

lẻ, bên cạnh đó nêu lên đặc trưng, vai trò của các lý thuyết này Ngoài ra, cũng đưa đến các khái niệm về mô hình bán lẻ như: chợ, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng trực tuyến Trong mỗi khái niệm về mỗi mô hình đều có đề cập đề việc phân loại và đặc điểm đặc trưng Bên cạnh đó, trong chương này có dẫn chứng về kinh nghiệm phát triển các mô hình thương mại bán lẻ trên Thế Giới, cụ thể là tại Mỹ và tại Nhật để có

cơ sở vững chắc để phân tích thực trạng ở chương II và giải pháp ở chương 4

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI BÁN LẺ CỦA NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thực trạng chung ngành bán lẻ tại Việt Nam

Mặc dù là nước đang phát triển cũng như là một trong những nước tiếp nhận những phát triển từ mô hình bán lẻ muộn nhất trên thế giới, thế nhưng với những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, nếu biết cách phát triển và khai thác triệt để những thế mạnh đó thì Việt Nam hoàn toàn có cơ hội cạnh tranh với các nước bạn về lĩnh vực này

Theo số liệu thống kê từ Bộ Công Thương cho thấy có hơn 700 siêu thị, 125 TTTM và 8,600 cửa hàng truyền thống hiện đang hoạt động khắp Việt Nam Trong đó,

có 4% siêu thị và 25% TTTM thuộc quyền sở hữu của DN nước ngoài Dự báo đến năm 2020, kênh bán lẻ hiện đại sẽ nâng tỷ lệ lên 45%, cả nước sẽ có khoảng 1.200-

1.300 siêu thị

Theo điều khoản khi gia nhập làm thành viên của WTO, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ phải mở cửa chào đón nguồn đầu tư từ bên ngoài, đây sẽ là tiền đề cho sự cạnh tranh ác liệt giữa các DN bán lẻ Một mặt, đây sẽ là thuận lợi cho người tiêu dùng cho việc lựa chọn sản phẩm chất lượng cao, mặt khác, nếu các DN nội địa không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thì sẽ có nguy cơ bị đào thải khỏi thị trường

Năm 2017 là một năm đánh dấu những hoạt động sôi nổi trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam, cụ tính đến quý IV/2017, doanh số bán lẻ trên cả nước đạt gần

130 tỷ USD tăng 10,9% so với cùng kỳ năm ngoái Đây có thể coi là mức tăng trưởng khá cao so với những năm trước đó Năm 2017 tiếp tục ghi nhận sự tham gia thị trường của các nhà bán lẻ nước ngoài như BigC, Aeon, Auchan, Lotte… đang tiếp tục đẩy mạnh mở rộng hệ thống nhằm gia tăng thị phần mặc dù theo thống kê hiện nay kênh phân phối bán lẻ hiện đại mới chiếm khoảng 25% tổng mức bán lẻ và phần lớn

các siêu thị, TTTM chỉ tập trung tại các thành phố lớn

2.1.1 Thị trường bán lẻ tại Hà Nội

Vào năm 2015, Hà Nội được xếp là vào top 3 thành phố trong toàn khu vực Châu

Á Thái Bình Dương có sức dẫn đầu tư từ nước ngoài, xếp sau Bắc Kinh và Thượng Hải Nơi đây cùng Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam đã lọt vào top 10 khu vực bán lẻ mới nổi trên toàn thế giới vào năm 2012 và 2013

Trang 34

Với dân số hơn 7 triệu người, cùng với mức đô thị hóa đạt 43% và thu nhập bình quân đầu người (GDP) đạt 2,500 USD/ năm Những con số trên đủ cho thấy Hà Nội là một trung tâm mua sắm sôi nổi với sức mua cao tại Việt Nam, bằng chứng là doanh số bán lẻ của các mặt hàng trên thành phố Hà Nội liên tục tăng qua các năm từ mức 8,3 tỷ USD trong năm 2009 tăng lên 19,3 tỷ USD năm 2017

Trước những thuận lợi vốn có, thị trường bán lẻ tại Hà Nội là một miếng bánh béo bở để các DN nước ngoài dòm ngó và lấn sân vào, điển hình như: LotteMart đến

từ Hàn Quốc với dự án Trung tâm Lotte Hà Nội - là tòa nhà cao chọc trời thứ 2 tại Việt Nam, cao 65 tầng và có phong cách kiến trúc hiện đại, giá trị tổng vốn lên đến 400 triệu USD Một tên tuổi khác đến từ Nhật Bản là AEON Mall cũng đầu tư mạnh tay sau khi đầu tư TTTM AEON Mall Long Biên vào năm 2015, thì tiếp thực hiện dự án trị giá 200 triệu USD tại Hà Đông và sẽ đi hoạt động vào năm 2019

2.1.2 Thị trường bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh vốn được xem là thành phố đi đầu trong kinh tế ở Việt Nam, chiếm 20% sản phẩm GDP, 37.9% dự án đầu tư nước ngoài, dân số khoảng 8 triệu người, tỉ lệ đô thị hoá của 82.5% Không thể phủ nhận sức hấp dẫn của nơi đây, bất kể một thương hiệu quốc tế nào khi đặt chân đến đầu tư tại Việt Nam đều lựa chọn Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đặt trụ sở đầu tiên Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh đang chứng kiến những bước chuyển mình từ hình thức thương mại truyền thống sang hình thức thương mại hiện đại nên không khó hiểu khi hiện nay nơi đây có một

hệ thống trung tâm mua sắm, chợ, siêu thị đa dạng Thậm chí hệ thống các siêu thị và TTTM hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều khi chiếm đến 75-80% trên tất cả các kênh mua sắm, riêng TTTM tăng 5% từ năm 2010- 2017 Theo thống kê của Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại, thành phố có 240 chợ, 201 siêu thị, 42 TTTM và hơn 900 cửa hàng tiện lợi của hơn 20 chuỗi như: cửa hàng Co.opFood (không gồm cửa hàng Co.op), cửa hàng SatraFoods, cửa hàng Vissan, cửa hàng Shop&Go, cửa hàng Circle K, cửa hàng Family Mart,…Và cũng như ở thị trường bán

lẻ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến sự gia tăng doanh số bán lẻ mạnh mẽ trong suốt giai đoạn 2000-2017, đặc biệt năm 2017 đạt 291.390 tỷ đồng, tăng 11,28% so cùng kỳ

Như vậy kết quả của mức sống tăng cùng với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu, đời sống thành thị cũng như nền kinh tế đứng trước bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới

Trang 35

được cho là động lực chính khiến bán lẻ tại Việt Nam trở thành một lĩnh vực giàu tiềm năng Bên cạnh các loại hình truyền thống, sự lớn mạnh của các mô hình bán lẻ thương mại đã góp phần đa dạng hóa thị trường tiêu dùng trong nước Tuy nhiên làm thế nào để thúc đẩy mô hình bán lẻ luôn phát triển trước xu hướng kinh doanh và thị hiếu người tiêu dùng biến động không ngừng là một vấn đề cần phân tích và đề xuất giải pháp

2.2 Thực trạng một số mô hình thương mại bán lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh 2.2.1 Chợ truyền thống

2.2.1.1 Đặc điểm và phân loại

Chợ là một thực thể rất đặc biệt trong đô thị Việt Nam Nhắc đến chợ là nói đến một nét văn hóa dân gian, là sự biểu trưng của sự hội tụ và chắt lọc, vừa dung dị, hồn hậu lại vừa mới mẻ, tươi vui bởi sự sôi động, nhộn nhịp vốn có Các chợ truyền thống không chỉ là những hình ảnh làm nên thương hiệu du lịch cho Việt Nam, mà còn là nét đẹp văn hóa, con người của đất nước Việt Nam Vì thế, chợ truyền thống luôn có sức hút không chỉ với cư dân địa phương, mà còn với cả du khách trong, ngoài nước, mang đến cho du khách những trải nghiệm riêng biệt

Chợ truyền thống là nơi kinh doanh đem đến cuộc sống cho người dân mà còn là nơi kích cầu tiêu dùng Khác với những khu trung tâm mua sắm hiện đại, chợ truyền thống có kiến trúc cổ xưa, toát lên nét đẹp dân dã nhưng cũng không kém phần tinh tế, thoáng chút hiện đại, song vẫn mang được nét đẹp cổ kính đầy dư vị thời gian

Song song với những khu chợ lâu đời có tuổi tho ̣ hàng trăm năm còn có những khu chợ nhỏ được hình thành từ mô ̣t vài cu ̣m dân cư Không khí mua bán không hề thua kém các chợ lớn sầm uất, kẻ mă ̣c cả, người trả giá ầm ĩ Các khu chợ này chủ yếu phu ̣c vu ̣ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày của người dân xung quanh

Chợ được phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưng đặc trưng có hai loại chính:

- Chợ bán buôn: Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao trên 70%, thường tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động lớn tập trung khối lượng hàng hoá lớn Ví dụ: chợ Bến Thành (Quận 1), chợ An Đông (Quận 5), chợ Tân Định (Quận 1),

Trang 36

60 Chợ bán lẻ: là những chợ thuộc cấp xã, phường (liên xã, liên phường), cụm dân

cư hàng hoá qua chợ chủ yếu là bán lẻ, bán chủ yếu cho người tiêu dùng trực tiếp hàng ngày

Ở mô ̣t số tỉnh miền Tây Nam Bô ̣ còn có mô ̣t loa ̣i chợ khá đă ̣c biê ̣t chuyên buôn bán các mă ̣t hàng của ngành hàng tiêu dùng đó là chợ nổi Ví du ̣ như chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), Ngã Bảy (Hâ ̣u Giang),

2.2.1.2 Các thương hiệu Chợ truyền thống

Chợ Bến Thành (Quận 1):

Chợ Bến Thành được xem là một trong những biểu tượng đặc trưng của Sài Gòn Chợ được khởi công từ năm 1912 cho đến cuối tháng 3/1914 mới hoàn tất và hoạt động liên tục kể từ đó cho đến nay Không chỉ là nơi buôn bán, hơn một trăm năm qua, chợ Bến Thành đã trở thành một chứng nhân lịch sử chứng kiến nhiều biến đô ̣ng, thăng trầm của thành phố, là điểm giao hòa giữa Sài Gòn xưa và nay

Chợ Bến Thành có tổng diện tích 13.056 m2 Trung bình mỗi ngày, chợ đón khoảng 10.000 lượt khách lui tới mua bán và tham quan Chợ có 1.437 sạp, 6.000 tiểu thương, 11 DN, với bốn cửa chính và 12 cửa phụ tỏa ra bốn hướng (Thanh Thúy, 2017)

Chợ Bến Thành được xem là chợ bán lẻ quy mô nhất theo nghĩa có thể tìm thấy tại nơi này đủ thứ mặt hàng, từ bình dân đến cao cấp, đặc biệt hàng thực phẩm thuộc loại chọn lọc nhất Ở đây không thiếu một thứ gì, từ hạt tiêu, ha ̣t mè, mớ rau, con cá,

đủ loại hoa quả mùa nào thức nấy, cho tới bánh kẹo, vải vóc, giày dép, túi xách, đồ điện, điện tử, hàng lưu niệm và theo lãnh đạo chợ Bến Thành thông tin, hơn 90% các mặt hàng bày bán tại chợ có xuất xứ trong nước, số còn lại là hàng nhập khẩu từ các thị trường khác

Thực ra, chợ Bến Thành có giá trị tham quan là chủ yếu, du khách thích thú khi nhìn ngắm, tham quan một ngôi chợ cộng đồng, giàu truyền thống ở một thành phố hiện đại Giá cả cao, nói thách nhiều là yếu tố khiến nhiều du khách e ngại, không dám mua vì sợ mua nhầm, mua giá cao Do đa số tiểu thương trong chợ không làm tốt khâu niêm yết giá, nói thách, ảnh hưởng đến thương hiệu chợ

Chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh):

Chợ Bà Chiểu được xây dựng trên khu đất rộng của quận Bình Thạnh vào năm

1942 Cổng chính chợ là mặt tiền đường Phan Đăng Lưu Từ ngày thành lập chợ cho

Trang 37

đến nay, đây được xem là nơi mua bán với giá cả phải chăng, phục vụ được nhu cầu của người dân quanh khu vực

Nằm ở vị trí thuận lợi nên hiện nay chợ Bà Chiểu vẫn là điểm đến tham quan, mua sắm của người dân Bình Thạnh, những quận lân cận và cả những du khách nước ngoài

Lượng người tham quan, mua sắm hàng ngày khá đông nên khu ẩm thực của chợ phục vụ rất nhiều món ăn, đủ vị 3 miền Bắc, Trung, Nam, đáp ứng đầy đủ nhu cầu ăn, chơi của khách mua Từ cơm tấm, bún, miến, mỳ, phở đến các loại chè, sâm bổ dưỡng hay bánh flan rau câu… đều có giá bán trung bình tương đương hoặc thấp hơn nhiều chợ khác Ví dụ như bún, miến, phở có giá từ 15.000-40.000 đ/tô, tùy loại, thấp hơn giá bán tại chợ Tân Định (Quận 1) Chợ hiện có 1.479 sạp với đủ các mặt hàng, ban ngày khu vực trong nhà lồng và rìa chợ buôn bán bình thường, đêm đến chợ thu hút nhiều người trẻ đến mua sắm, ăn uống với đủ các món ngon có thương hiệu như: xôi

gà Bà Chiểu, bún mắm, bún nem nướng,…

Hàng hóa tại chợ có nhiều mức độ chất lượng khác nhau, từ những mặt hàng có chất lượng tốt, giá bán cao, đến những mặt hàng có chất lượng trung bình, giá bán rẻ hơn, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng

Tuy nhiên, tiểu thương nói thách nhiều, khu ẩm thực chưa đảm bảo vệ sinh, lối đi giữa các gian hàng nhỏ, gây bất tiện trong di chuyển, ra vào chợ gặp nhiều khó khăn trong giờ cao điểm, bảo vệ ít, kẻ gian dễ lợi dụng sơ hở móc túi, Các vấn nạn này ban quản lý chợ vẫn chưa có hướng giải quyết cụ thể

Chợ Bình Tây – Chợ Lớn (Quận 6):

Chợ nằm ở cửa ngõ phía Tây thành phố này luôn là một trong điểm đến được đánh dấu trong bản đồ du lịch của rất nhiều du khách Hoạt động từ năm 1930 đến nay, ngôi chợ được xây dựng với lối kiến trúc đậm phong cách Á Đông

Khi nghe đến tên Chợ Lớn mọi người sẽ nghĩ tới hình ảnh của các xưởng sản xuất thủ công nghiệp nhộn nhịp, san sát các hàng quán, tiệm ăn mang phong vị Trung Hoa Hàng năm có trên 120.000 lượt khách du lịch người nước ngoài đến tham quan

và mua sắm tại chợ do các Công ty du lịch của cả nước đưa tới, trong đó nhiều nhất là Công ty du lịch Sài Gòn Đến với chợ Bình Tây, du khách vừa được ngắm nhìn kiến trúc cổ, tìm hiểu lịch sử của chợ và mua sắm với giá cả phù hợp

Trang 38

Ngoài ra, còn có các khu chợ nổi tiếng khác như: chợ An Đông (Quâ ̣n 5), chợ Bà Hoa (quận Tân Bình), chợ Ha ̣nh Thông Tây (quâ ̣n Gò Vấp), Là những chợ buôn sỉ lẻ nổi tiếng khắp các tỉnh phía Nam

2.2.1.3 Thực trạng phát triển Chợ truyền thống

Theo Sở Công thương, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 240 chợ truyền thống Trong định hướng phát triển hệ thống thương mại bán buôn, bán lẻ đến năm 2025, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ không xây thêm các chợ mới ở khu vực nội thành Tuy nhiên trong những năm gần đây, có thể thấy sự xâm nhâ ̣p và phát triển ma ̣nh mẽ của các hê ̣ thống siêu thi ̣, trung tâm thương ma ̣i và dày đă ̣c các chuỗi cửa hàng tiê ̣n lợi Bên ca ̣nh đó, cuô ̣c sống công nghiê ̣p nhu cầu tiê ̣n lợi, tiết kiê ̣m thời gian của người tiêu dùng được đề cao nên viê ̣c đi chợ để lựa cho ̣n mô ̣t loa ̣i thực phẩm tươi, ngon ngày càng ha ̣n chế Sự bùng nổ của thương ma ̣i điê ̣n tử làm cho viê ̣c mua sắm chỉ qua mô ̣t thao tác “click chuô ̣t”, hàng hóa được giao đến tâ ̣n nơi Thông tin từ Hội Doanh Nghiê ̣p Hàng Viê ̣t Nam chất lượng cao cho biết, nếu như kết quả khảo sát hàng Việt Nam chất lượng cao 2017 về nơi chọn mua sản phẩm cho thấy mua sắm trực tuyến mới chiếm 0,9% thì chỉ sau một năm (2018), tỷ lệ người tiêu dùng chọn mua trực tuyến đã tăng gấp 3 lần (2,7%) Ngườ i tiêu dùng trở nên “lười” đă ̣t chân đến chợ để xem, kiểm tra và mua mô ̣t món hàng Sức mua tại các chợ truyền thống liên tu ̣c tụt giảm nhanh khiến việc kinh doanh của tiểu thương bị co cụm, mất dần sức cạnh tranh Bên cạnh đó, vì lợi ích kinh doanh mà dẫn đến viê ̣c ca ̣nh tranh không lành ma ̣nh giữa các tiểu thương trong chợ Tệ nạn cân “điêu” theo kiểu “1 ký còn 800 gam” cũng không hiếm xảy ra Hoă ̣c xuất sứ, nguồn gốc của hàng hóa không rõ ràng, hàng hóa kém chất lượng, trước đủ loại tin đồn về an toàn vệ sinh thực phẩm, nhiều người tiêu dùng cũng băn khoăn khi mua hàng ở chợ Bởi lẽ rất nhiều sản phẩm ngoài chợ không

rõ về nguồn gốc xuất xứ dẫn đến giá trị của tiệm tạp hóa và chợ truyền thống không tăng trưởng trong năm qua

Nhưng theo khảo sát của Vina Research (2017) về lựa cho ̣n đi ̣a điểm mua sắm, cho thấy vẫn có đến 47% người tiêu dùng đánh giá vai trò quan trọng của chợ truyền thống trong thời gian tới Như vậy làm thế nào để nâng sức cạnh tranh của mạng lưới các chợ truyền thống, vừa tạo điều kiện cho tiểu thương mua bán vừa tránh tình trạng lãng phí đất đai, tiền của đang trở thành một trong những vấn đề bức thiết của hội nhập kinh tế, mở cửa thị trường

Trang 39

2.2.1.4 Phân tích ưu điểm và hạn chế của mô hình Chợ truyền thống

Ưu Điểm:

- Chợ truyền thống là mô ̣t phần không thể thiếu của người dân Viê ̣t Nam, gắn liền với đời sống sinh hoa ̣t thường nhâ ̣t TS Alan David Treadgold – thành viên Hội đồng tư vấn Viện Quản lý bán lẻ Oxford tại đại học Oxford (Anh), trong một cuộc trao đổi tại Diễn đàn bán lẻ Việt Nam 2014, nêu lên sự khác biệt trong thói quen mua sắm, tiêu dùng của người Việt Nam và phương Tây Ông nói, phần lớn các gia đình ở phương Tây mua đồ ăn cho gia đình từ các siêu thị hay TTTM và dùng trong cả tuần, nhưng tại Việt Nam, mọi người thích ăn đồ tươi hơn nên đi chợ hàng ngày Theo ông, chính tâm lý đó là một phần tác động đến sự tồn tại bền bỉ của chợ truyền thống trong các đô thị sầm uất Thực tế cho thấy 75% người dân giữ thói quen mua sắm tại chợ truyền thống

- Thực phẩm ta ̣i chợ luôn tươi mới mỗi ngày, không đông la ̣nh đóng kho như ta ̣i siêu thi ̣

- Ngườ i bán hàng ta ̣i chợ nhanh nhe ̣n, vui vẻ, thân thiê ̣n đó cũng là mô ̣t điểm

ma ̣nh thuyết phu ̣c người tiêu dùng mua hàng Theo TS Trần Ngọc Thêm, trong siêu thị, sản phẩm phải tự nó bán nó, nhưng tại chợ, người bán hàng chính là người bán sản phẩm Vì vậy, người tiêu dùng dễ dàng tìm thấy những dòng chữ trên sản phẩm “thêm 20%”, “ngon tuyệt”, “hảo hạng” trên sản phẩm trong siêu thị, còn tại các chợ, người bán hàng mau mắn và nhanh nhẹn sẽ giới thiệu và thuyết phục người mua hàng

- Thuận tiê ̣n trong viê ̣c đi mua sắm, thanh toán ngay khi mua sắm, không phải chờ xếp hàng thanh toán hay xếp hàng lấy xe như ta ̣i siêu thi ̣

Hạn chế

- Việc nói “thách” là mô ̣t vấn đề nan giải ta ̣i chờ truyền thống Người mua hàng

ở chợ thường phải e ngại khi xem hàng mà không mua, vì họ có thể nhận được cái nhìn không thiện cảm, hoặc tệ hơn nữa là những lời lẽ không hay từ phía người bán hàng

- Vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn chưa được đảm bảo

- Các chợ có tuổi tho ̣ lâu đời hầu như đã xuống cấp, không đảm bảo an toàn cho người bán, cũng như người mua Theo Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố có 240 chợ lớn, nhỏ Trong đó, 38,2% xây dựng trước năm 1975, hơn 61%

Trang 40

sau năm 1975 và chỉ 5% chợ xây sau năm 2009 Do quá “lớn tuổi”, hầu hết chợ đã xuống cấp, hư hỏng Giai đoạn 2016-2020, thành phố có kế hoạch sửa chữa 146 chợ với tổng kinh phí 604 tỉ đồng Việc sửa chữa hiện gặp khó khăn do theo Nghị định 02

về quản lý và phát triển chợ, kinh phí sửa chữa không được lấy từ ngân sách mà phải

là nguồn kinh phí xã hội hóa, lấy từ nguồn thu của chợ hoặc các hình thức khác

- Môi trườ ng bi ̣ ô nhiễm bởi rác thải từ chợ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân xung quanh cũng như người tiêu dùng Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn phát sinh tại các chợ Thủ Đức là 80 tấn/ngày, chợ Hóc Môn là 50 tấn/ ngày, chợ Bình Điền là 40 tấn/ ngày, chủ yếu là thành phần rác hữu cơ

2.2.2 Mô hình Siêu thị

2.2.2.1 Đặc điểm và phân loại

Mặc dù siêu thị là mô hình nhiều tiềm năng, có sức mua khá lớn, nhưng tại Việt Nam hiện nay các mô hình bán lẻ truyền thống vẫn chiếm đại đa số (chủ yếu là các cửa hàng chuyên doanh, tạp hóa), trong khi các kênh bán lẻ hiện đại như siêu thị, TTTM chỉ chiếm tỷ lệ tương đối thấp (TTTM là 8%, siêu thị là 17%) trên tổng số các mô hình bán lẻ hiện nay

Siêu thị tổng hợp: Trong năm 2017, theo đánh giá của Vietnam Report -Công ty

Cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam, có 10 công ty, nhà phân phối bán lẻ hàng đầu điều hành các hệ thống siêu thị được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng phục

vụ cũng như uy tín trên thị trường Thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, BigC, Vinmart (Vincommerce), Co.op Mart hiện đang là 3 nhà bán lẻ được nghĩ đến nhiều nhất trong tâm trí người tiêu dùng Trong khi Saigon Co.op được biết đến là nhà bán lẻ có hệ thống siêu thị Co.op Mart lớn nhất Việt Nam nhưng chỉ tập trung ở khu vực miền Nam thì BigC phủ rộng thương hiệu trên toàn 3 miền và phát triển đồng đều Bên cạnh đó thì một tên tuổi khác là Vinmart đang có những bước phát triển vượt bậc và mạnh mẽ

mở rộng sau 2 năm gia nhập thị trường bán lẻ, đồng thời chiếm lĩnh vị trí thứ 2 trong kết quả khảo sát người tiêu dùng về thương hiệu bán lẻ nổi tiếng thực hiện vào tháng

9/2017 với 17%, xếp sau thương hiệu BigC (30%)

Siêu thị chuyên doanh: những thương hiệu đã quen thuộc và đi vào tâm trí người

tiêu dùng như Điện Máy Xanh, Nguyễn Kim, PNJ, Xu hướng phát triển bán lẻ trên

Ngày đăng: 04/03/2021, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w